Việc sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 cũng ch-a giải quyết thấu đáo đ-ợc những v-ớng mắc về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật có l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRƯƠNG TÍN
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TOÀ HÌNH SỰ SƠ THẨM
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 60.38.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Luật học Nguyễn Thái Phúc
TP Hồ Chí Minh - Năm 2007
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Trương Tín
Trang 4NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5Mục lục
Trang Phần mở đầu
Ch-ơng 1 MộT Số VấN Đề Lý LUậN
Về TRANH TụNG TRONG TTHS Và PHIÊN TOà HSST
1.1 Một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong TTHS 1
Ch-ơng 2 CáC BÊN TRANH TụNG Và VAI TRò CủA TOà áN TRONG QUá TRìNH TRANH TụNG TạI PHIÊN TOà HSST
2.3.1 Chức năng xét xử của Toà án 71
PHầN KếT LUậN DANH MụC TàI LIệU THAM KHảO
Trang 61
Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (đã đ-ợc sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định:
“Nhà n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà n-ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Quyền lực Nhà n-ớc là thống nhất, có
sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà n-ớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, t- pháp”
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà n-ớc, hệ thống pháp luật để góp phần bảo
vệ quyền con ng-ời, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm mà Đảng, Nhà n-ớc và nhân dân ta đang ra sức thực hiện Đến giai đoạn hiện nay, về cơ bản, chúng ta đã đạt đ-ợc những thành tựu nhất định trong lĩnh vực cải cách t- pháp, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa nh- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đặt ra và
đ-ợc tiếp tục khẳng định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà chúng ta đang ra sức thực hiện, đó là hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam hiện hành có hay không có các quy định về tranh tụng? Nếu có thì những quy định đó đ-ợc thể hiện ở mức độ nào và có phải là nội dung của nguyên tắc tranh tụng hay không? Chúng ta có thể thừa nhận sự hiện diện của nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam đ-ợc hay không? Tranh tụng trong tố tụng hình sự là gì? Phiên toà hình sự sơ thẩm là gì? Các bên tranh tụng là ai và họ tham gia tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm nh- thế nào? Vai trò của Toà án trong quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm đ-ợc thể hiện ra sao? Việc nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn về quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm sẽ góp phần mở ra một h-ớng đi mới trong việc vận dụng
và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự ở n-ớc ta trong giai đoạn hiện nay
Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung -ơng Đảng đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t- pháp trong thời
gian tới, định h-ớng: “ Nâng cao chất l-ợng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà,
đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật s-, ng-ời bào chữa và những ng-ời tham gia tố tụng khác Khi xét xử, các Toà án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng tr-ớc pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của ng-ời bào chữa, bị cáo, nguyên đơn, bị đơn và những ng-ời có quyền, lợi ích
Trang 72
hợp pháp để đ-a ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong hạn pháp luật quy định ” Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung
-ơng Đảng ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến l-ợc Cải cách t- pháp đến
năm 2020, tiếp tục định h-ớng: “ Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời tham gia tố tụng theo h-ớng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động t- pháp ”
Tranh tụng trong tố tụng hình sự nói chung và tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm nói riêng không phải là vấn đề mới của khoa học pháp lý tố tụng hình sự Việt Nam Tuy nhiên, nếu đi sâu nghiên cứu vấn đề này thì còn rất nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, gây nhiều tranh luận không chỉ về lý luận mà cả trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Vấn đề lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật về tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm đã đ-ợc đề cập nhiều trong khoa học pháp lý tố tụng hình
sự trong những năm qua và trong giai đoạn nhiện nay với nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau Sau khi có Nghị quyết 08 năm 2002 của Bộ Chính trị và sau khi Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam đ-ợc sửa đổi, bổ sung năm 2003, gần đây nhất là Nghị quyết 49 năm 2005 của Bộ Chính trị ra đời thì vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự, tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm đã thu hút đ-ợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhiều ng-ời làm công tác giảng dạy cũng nh- nhiều nhà hoạt động thực tiễn vào việc nghiên cứu, trao đổi, tranh luận vấn đề này Việc sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật theo Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 cũng ch-a giải quyết thấu đáo đ-ợc những v-ớng mắc về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật có liên quan đến quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện trong thời gian tới
Từ những yêu cầu trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Tranh tụng tại phiên
toà hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” để làm
Đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học, với mong muốn đi sâu nghiên cứu, đóng góp một phần nhỏ làm sáng tỏ các vấn đề thuộc về bản chất của quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm mà hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm là một trong những nội dung cơ bản, quan trọng của công cuộc cải cách t- pháp và xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý tố tụng hình sự Việt Nam, vấn đề tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm mặc dù đã có sự quan tâm nh-ng ch-a đúng mức Trong
Trang 8Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi và nguyên tắc tranh tụng của tác giả Nguyễn Thái Phúc; Tố tụng tranh tụng và vấn đề cải cách t- pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây
dựng Nhà n-ớc pháp quyền của tác giả Nguyễn Ngọc Chí; Tố tụng “tranh tụng” và tố tụng “thẩm cứu” của tác giả Trần Đại Thắng; Một số bất cập của các quy định pháp luật
về tranh tụng và h-ớng khắc phục của tác giả Cao Xuân Phong; Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng hình sự của tác giả Lê Tiến Châu; Bản chất tranh tụng tại phiên toà của tác giả Trần Văn Độ; Bàn về tranh tụng tại phiên toà của tác giả Nguyễn Duy Giảng; Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Nông; Nguyên tắc tranh tụng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam (Đề tài Luận văn Thạc sĩ Luật học - Tr-ờng Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2004) của tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh; Cải cách t- pháp và vấn đề tranh tụng của tác giả Nguyễn Mạnh Kháng; Tìm hiểu về tranh tụng tại phiên toà hình sự của tác giả Trịnh Tiến Việt; Những quy định về tranh tụng trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi của tác giả Trần Văn Trung; Về tranh tụng trong tố tụng hình sự của tác giả Nguyễn Thị Bắc; Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự Việt Nam theo kiểu tranh tụng của tác giả Phạm Hồng Hải;
Đổi mới thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại phiên toà hình sự của tác giả Từ Văn Nhũ; Vấn đề nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại phiên toà của tác giả Ngô Hồng Phúc; Vai trò của Hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm hình sự của tác giả Đinh Văn Quế; Vai trò của Kiểm sát viên trong hoạt động tranh tụng tại phiên toà của tác giả Lê Hữu Thể; Tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà nhìn từ khía cạnh luật s- của tác giả Phan Trung Hoài và nhiều công trình khác
Nhìn chung, các công trình nêu trên chủ yếu là những bài viết đ-ợc đăng trên các Tạp chí khoa học chuyên ngành nh-: Nhà n-ớc và pháp luật, Nghiên cứu lập pháp, Toà
án nhân dân, Kiểm sát, Dân chủ và pháp luật Các tác giả đã đặt vấn đề cũng nh- tiếp cận và sử dụng nhiều ph-ơng pháp nghiên cứu khác nhau nên đã đề cập, xem xét vấn đề tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm ở những khía cạnh và mức độ nhất định Theo chúng tôi, cho đến nay ch-a có một công trình khoa học nghiên cứu một cách toàn diện,
đi sâu vào bản chất, cội nguồn mang tính hệ thống, chặt chẽ của quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trang 9* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đ-ợc
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề mang tính lý luận, các quy định của pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài đ-ợc nghiên cứu trên cơ sở những chủ tr-ơng, đ-ờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà n-ớc ta trong công cuộc cải cách t- pháp và xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ph-ơng pháp nghiên cứu của đề tài này là ph-ơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mác - Lênin Đồng thời, đề tài đ-ợc thực hiện bằng các ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh luật học và đánh giá các quy định của pháp luật, các quan điểm khoa học khác nhau về những vấn đề có liên quan đến đề tài để làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu
5 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 105
Nghiên cứu đề tài “Tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” trên các ph-ơng diện lý luận, pháp luật thực định
và thực tiễn áp dụng pháp luật sẽ đóng góp một phần nhỏ vào việc nhận thức đúng đắn, toàn diện bản chất của quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm ở n-ớc ta hiện nay và trong t-ơng lai Thông qua đề tài này, tác giả cũng mong muốn rằng, công trình nghiên cứu của mình sẽ trở thành một tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
6 Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn đ-ợc trình bày trong hai ch-ơng, cụ thể nh- sau:
- Ch-ơng 1: Một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong tố tụng hình sự và phiên toà hình sự sơ thẩm
- Ch-ơng 2: Các bên tranh tụng và vai trò của Toà án trong quá trình tranh tụng tại phiên toà hình sự sơ thẩm
Trang 116
Ch-ơng 1:
Một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong tố tụng hình sự và phiên toà hình sự sơ thẩm
1.1 Một số vấn đề lý luận về tranh tụng trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm tranh tụng trong tố tụng hình sự
1.1.1.1 Khái niệm
Thuật ngử “tranh tụng” trong tố túng gắn liền với lịch sừ hình th¯nh, tồn t³i v¯
phát triển các t- t-ởng dân chủ, tiến bộ trong xã hội loài ng-ời Tranh tụng không chỉ là thành tựu pháp lý đơn thuần mà cao hơn nó là thành tựu phát triển cuỷa t- t-ởng tieỏn boọ trong nền văn minh nhân loại Tranh tụng không phải là vấn đề mới trong khoa học
ph²p lý Tư tưởng tranh túng xuất hiện tụ thời cổ đ³i Kh²i niệm “tranh tụng” được nói
đến ở Nhà n-ớc Hy Lạp cổ đại, sau đó các luật gia La Mã cổ đại và tiếp theo là các luật gia ở các n-ớc Châu Âu sử dụng chủ yếu trong tố tụng hình sự (TTHS) và tố tụng dân
sự Cho đến nay, khái niệm này đ-ợc sử dụng phổ biến ở hầu hết các n-ớc trên thế giới, nhất là các n-ớc theo truyền thống pháp luật án lệ nh- Anh, Mỹ, úc, Canada và một số quốc gia khác chịu ảnh h-ởng của hệ thống pháp luật án lệ (Anh - Mỹ)
D-ới góc độ ngôn ngữ, theo nghĩa Hán - Việt, “tranh tụng” l¯ sứ kết hợp cða hai
từ “tranh luận” v¯ “tố tụng” Tranh túng l¯ tranh luận trong tố túng Tranh luận l¯ b¯n
cãi để tìm ra lẽ phải, tố tụng đ-ợc coi là việc giải quyết tranh chấp giữa các bên theo
quy định cða ph²p luật Theo Tụ điển tiếng Việt, tranh túng l¯ “th-a kiện nhau để giành
lẽ phải”1 Tìm hiểu ngôn ngử cða một số nước; trong tiếng Anh, tranh túng l¯ “institute proceedings against someone”2, tức là thủ tục tiến hành chống lại ai đó; trong tiếng
Ph²p, tranh túng l¯ “procédure acensatoir”3, tức là các bên cáo buộc lẫn nhau Nh- vậy,
ở góc độ chung nhất về ngôn ngữ, tranh tụng là sự kiện tụng hay cáo buộc lẫn nhau giữa hai bên có lợi ích đối lập nhau, đ-ợc bắt đầu từ khi bên này khởi kiện hay khởi tố bên kia và kết thúc khi có bản án hay quyết định giải quyết tranh chấp của cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
D-ới góc độ thuật ngữ pháp lý, tranh tụng chỉ diễn ra trong quá trình tố tụng, có thể là tố tụng dân sự (nghĩa rộng bao gồm các lĩnh vực: dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, th-ơng mại, lao động), có thể là tố tụng hành chính và cũng có thể là TTHS Hoạt động tố tụng trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều mang tính tranh tụng, vì
1 Ban Biên soạn chuyên từ điển: New Era, Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2005, trang 1966
2 Bùi Phụng, Từ điển Việt Anh (Vietnamese English Dictionary), Nxb Thế giới, 2004, trang 2083
3 Lê Kim Quế, Hai loại hình tố tụng và nguyên tắc tranh tụng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 10/2002, trang 12
Trang 127
nó xuất hiện khi có sự xung đột lợi ích giữa hai chủ thể trong một quan hệ pháp lý nhất
định mà bản thân họ không tự giải quyết, phải cần đến ng-ời thứ ba - trọng tài phân xử
Cuộc “tranh đấu” ph²p lý giửa c²c chð thể có cơ hội ngang nhau trong việc b°o quyền
và lợi ích hợp pháp của mình tr-ớc trọng tài vô t-, không thiên vị chính là yếu tố làm cho hoạt động tố tụng có tính tranh tụng Chỉ có tranh tụng mới có cơ hội đạt đến chân
lý, khi ch-a có tranh tụng tại các phiên toà thì ch-a thể nói đến chân lý, dân chủ và các bản án công minh, đúng ng-ời, đúng tội và đúng pháp luật
Hiện nay, trong giới những nhà làm công tác nghiên cứu, giảng dạy cũng nh- hoạt động thực tiễn có nhiều quan điểm rất khác nhau về khái niệm tranh tụng
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, tranh tụng là “một quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án, đồng thời cũng chính là ph-ơng tiện để đạt đ-ợc mục đích, các nhiệm vụ đặt ra của luật TTHS và bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quá trình TTHS có thể thực hiện một cách có hiệu quả nhất chức năng của mình ở tất cả các giai
đoạn của quá trình TTHS”4
Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này ch-a đủ cơ sở thuyết phục Bởi lẽ, quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án thực chất là quá trình chứng minh tội phạm Còn tranh tụng là một trong những tiền đề quan trọng để xác định sự thật khách quan về vụ
án nhằm đạt đ-ợc mục đích của TTHS Do đó, không thể đồng nhất quá trình tranh tụng với quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án đ-ợc Chúng ta có thể xem tranh tụng nh- là điều kiện và hình thức cần thiết cho các chủ thể tham gia hoạt động chứng minh làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án
- Quan điểm thứ hai cho rằng, tranh tụng trong TTHS là “quá trình cọ sát các quan điểm, lập luận về vụ án giữa các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa tham gia vào quá trình TTHS nhằm xác định sự thật khách quan về vụ án ” và “ quá trình tranh tụng chỉ thực sự đ-ợc tiến hành khi có sự hiện diện đầy đủ các bên buộc tội, bên bào chữa d-ới sự kiểm tra, giám sát của Toà án ”5
Theo đánh giá của chúng tôi, quan điểm này không thuyết phục ở góc độ lý luận cũng nh- luật thực định Bởi lẽ, quá trình tranh tụng chỉ thực sự đ-ợc tiến hành khi có
sự hiện diện đầy đủ bên buộc tội và bào chữa d-ới sự kiểm tra, giám sát của Toà án là ch-a đầy đủ, nó phủ nhận sự tranh tụng thực tế giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa
ở các giai đoạn tr-ớc khi xét xử Tranh tụng là một quá trình và sự xuất hiện của Toà án trong quá trình này chỉ là sự xác nhận tranh tụng đã lên đến đỉnh điểm - đòi hỏi phải có trọng tài quyết định ai là ng-ời chiến thắng trong cuộc tranh đấu về chân lý
4 Nguyễn Đức Mai, Nguyên tắc tranh tụng trong Tố tụng hình sự, Tạp chí Luật học số 1/1996, trang 23-24
5 Lê Tiến Châu, Một số vấn đề về tranh tụng trong TTHS, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2003, trang 41-42
Trang 138
- Quan điểm thữ ba cho r´ng, tranh túng “đ-ợc dùng theo nghĩa Hán nôm để chỉ một cuộc tranh luận (tranh cãi) về một vụ án bằng cách các bên tham gia đ-a ra các lý
lẽ, chứng cứ và các văn bản pháp luật làm cơ sở cho sự buộc tội hay bào chữa của mình
để ng-ời thứ ba đứng giữa hai bên là Toà án làm trọng tài phân xử”6
Theo ý kiến của chúng tôi, quan điểm này đã có sự nhầm lẫn khi đồng nhất khái niệm tranh tụng và khái niệm tranh luận Tranh luận chỉ là một thủ tục tại phiên toà sơ thẩm, theo đó các bên tham gia thông qua phần trình bày của mình, tổng hợp và đánh giá kết quả của phần xét hỏi, phân tích và đánh giá các chứng cứ của vụ án để thuyết phục Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận những đề xuất của mình và bác bỏ các đề xuất của đối ph-ơng Do vậy, tranh luận là sự thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất và là
đỉnh điểm của quá trình tranh tụng chứ không phải là tranh tụng
- Quan điểm thữ tư cho r´ng, tranh túng l¯ “hoạt động tố tụng đ-ợc thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên bị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đ-a ra chứng cứ bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”7
Chúng tôi chia sẻ với quan điểm này nh-ng không hoàn toàn đồng tình Khái niệm nêu ra ch-a đầy đủ, ch-a thấy đ-ợc tranh tụng là một quá trình đối trọng giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa mà chỉ dừng lại ở hoạt động tố tụng của hai bên buộc tội và bị buộc tội Quá trình tố tụng là tập hợp nhiều hoạt động tố tụng nối tiếp nhau trong thời gian theo một trình tự nhất định, còn hoạt động tố tụng của các bên buộc tội
và bị buộc tội thực chất là hoạt động do các chủ thể của hai chức năng buộc tội và bào chữa thực hiện Quan điểm này cũng ch-a làm rõ một dấu hiệu cơ bản nữa của tranh tụng là sự bình đẳng giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa Mặc dù ch-a đầy đủ nh-ng cách tiếp cận của quan điểm này cũng có nhiều yếu tố hợp lý
- Quan điểm thứ năm cho rằng, tranh tụng là “quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa”8
Theo chúng tôi và cũng là quan điểm của nhiều tác giả, khái niệm tranh tụng trong khoa học luật TTHS đ-ợc hiểu theo ba nghĩa: quá trình tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng và mô hình tranh tụng ở nghĩa quá trình tranh tụng, cách tiếp cận của quan ủieồm thứ năm có nhiều yếu tố hợp lý với lý luận, luật thực định cũng nh- thực tiễn áp dụng pháp luật Tranh tụng là một quá trình tố tụng để đi đến chân lý khách quan, đồng
6 Nguyễn Đức Mai, Tranh tụng trong Tố tụng hình sự, Tạp chí Nhà n-ớc và pháp luật số 1/1995, trang 32
7 Viện Khoa học pháp lý (Bộ T- pháp), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách khoa và Nxb T- pháp, Hà Nội, 2006,
trang 807-808
8 Nguyễn Thái Phúc, Dự thảo Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi và nguyên tắc tranh tụng, Tạp chí Nhà n-ớc và pháp
luật số 9/2003, trang 7
Trang 149
thời tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản phản ánh tính khách quan của quá trình đó,
ngo¯i ra tranh túng còn l¯ “một mô hình tố tụng trong đó có sự tranh luận bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bị buộc tội để tìm ra sự thật khách quan của vụ án”9 Tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Quá trình này là một quy luật khách quan và đây chính là nguyên tắc cơ bản của TTHS Vì nguyên tắc cơ bản tr-ớc hết là khách quan, sự tồn tại và vận động của nó không phụ thuộc vào con ng-ời Nh-ng nguyên tắc cơ bản còn có tính chủ quan - kết quả nhận thức của chúng ta về quy luật khách quan đó đến đâu, nhanh hay chậm và đã
đầy đủ hay ch-a? Thí dụ nh- ở Việt Nam hiện nay, các nhà lập pháp ch-a nhận thức
đ-ợc đầy đủ về nguyên tắc tranh tụng nh- là một quy luật khách quan nên ch-a thừa nhận tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Tranh tụng còn là một hình thức (mô hình) tố tụng mà ở đó có sự thừa nhận nguyên tắc tranh tụng nh- là nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTHS xuyên suốt các giai đoạn của nó, các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng bình đẳng với nhau, đ-ợc tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện các chức năng t-ơng ứng của mình nhằm đạt đ-ợc mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra
Tham gia vào quá trình tranh tụng luôn có sự hiện diện của các chủ thể bên buộc tội và bên bị buộc tội (còn gọi là bên gỡ tội hay bên bào chữa) để thực hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, mỗi chủ thể có địa vị pháp lý và t- cách tố tụng khác nhau Hai chức năng này có vai trò đối trọng và phủ định lẫn nhau, bình đẳng với nhau trong hoạt động chứng minh, trong việc đ-a ra yêu cầu và giải quyết những yêu cầu đó tr-ớc Toà án Theo nhận xét của chúng tôi, tranh tụng là quá trình thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập (chức năng buộc tội và chức năng bào chữa), tạo thành những mâu thuẫn và là cơ sở cho sự phát triển, ra đời cái mới (chân lý, sự thật khách quan của
vụ án) Sự tồn tại, vận động của chức năng buộc tội làm tiền đề, cơ sở cho sự tồn tại, vận
động của chức năng bào chữa và ng-ợc lại chính là quá trình thống nhất giữa hai mặt
đối lập Chức năng buộc tội và chức năng bào chữa tác động qua lại theo xu h-ớng bài trừ và phủ định lẫn nhau chính là quá trình đấu tranh giữa hai mặt đối lập
9 Cao Xuân Phong, Một số bất cập của các quy định pháp luật về tranh tụng và h-ớng khắc phục, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật số 8/2003, trang 14
Trang 1510
quyết định, đó là Toà án với chức năng xét xử Theo tác giả này, tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, quá trình tranh tụng vẫn tồn tại song bị hạn chế hơn cả về nội dung, chủ thể tham gia và các chức năng đ-ợc thực hiện; phạm vi tranh tụng
bị giới hạn bởi nội dung kháng cáo, kháng nghị10
- Quan điểm thứ hai cho rằng, việc tranh tụng đ-ợc thực hiện trong giai đoạn
điều tra và tại phiên toà, nh-ng tại phiên toà là quan trọng nhất11 Có tác giả cho rằng,
tranh tụng th-ờng bắt đầu khi có quyết định khởi tố bị can và kết thúc khi bản án về vụ
án đã có hiệu lực pháp luật12
Theo chúng tôi, quan điểm thứ nhất giống với quan điểm trong lý luận TTHS của Liên Xô tr-ớc đây, họ thừa nhận nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS nh-ng chỉ thừa nhận quá trình tranh tụng thực sự bắt đầu tại phiên toà hình sự sơ thẩm
(HSST) Theo đó, nguyên tắc tranh tụng đ-ợc hiểu là cách thức tổ chức phiên toà sơ thẩm, trong đó có sự tham gia của các bên buộc tội và bào chữa có quyền ngang nhau
để bảo vệ các ý kiến, luận điểm của mình và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên đối trọng d-ới vai trò điều khiển và quyết định của Toà án13 Nh- đã phân tích, quan điểm này không đủ cơ sở thuyết phục ở góc độ lý luận cũng nh- pháp luật thực định, bỡi lẽ
nó đã phủ nhận sự tranh tụng thực tế giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa ở những giai đoạn tr-ớc khi xét xử Sự tranh tụng đó có diễn ra trong điều kiện công khai, có thật
sự bình đẳng hay không lại là chuyện khác Sự tranh tụng ở những giai đoạn điều tra, truy tố đều trên cơ sở các quy định của pháp luật TTHS nên không thể nói là không chính thức Kết quả tranh tụng ở những giai đoạn này đều dựa trên kết quả hoạt động tố tụng ở các giai đoạn đó nên không thể khẳng định là phiến diện Ví dụ, ở giai đoạn điều tra, khi một ng-ời bị khởi tố bị can về tội cố ý gây th-ơng tích theo khoản 1 điều 104
Bộ luật Hình sự, tự bản thân bị can hoặc ng-ời bào chữa (NBC) khiếu nại cho rằng việc khởi tố bị can của Cơ quan điều tra là không có cơ sở vì ng-ời bị hại (NBH) không có yêu cầu khởi tố vụ án theo điều 105 BLTTHS hoặc NBH bị th-ơng tích với tỉ lệ th-ơng tật d-ới 11% nh-ng không thuộc một trong các tr-ờng hợp quy định tại khoản 1 điều
104 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra chấp nhận khiếu nại và quyết định đình chỉ điều tra; ở giai đoạn truy tố, sau khi có kết luận điều tra của Cơ quan điều tra đề nghị truy tố
bị can về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự, và cũng tự bản thân bị can hay NBC khiếu nại cho rằng tài sản mà bị can chiếm đoạt d-ới 500.000
đồng nh-ng ch-a gây hậu quả nghiêm trọng hoặc ch-a bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc ch-a bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, VKS chấp nhận khiếu nại và
10 Lê Tiến Châu, Một số vấn đề về tranh tụng trong TTHS, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2003, trang 41-42
11 Trần Văn Độ, Bản chất tranh tụng tại phiên toà, Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2004, trang 22
12 Nguyễn Đức Mai, Vấn đề tranh tụng hình sự, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Khoa học kiểm sát-Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1995, trang 29-30
13 M X Xtrogovich, Giáo trình Tố tụng hình sự Xô Viết, Matxcơva, 1968 (tiếng Nga)
Trang 1611
quyết định đình chỉ vụ án Qua hai ví dụ trên cho thấy, không có lý do gì để kết luận tranh tụng ở các giai đoạn tr-ớc khi xét xử là không chính thức hay phiến diện Tranh tụng là một quá trình và sự xuất hiện của Toà án trong quá trình này chỉ là sự xác nhận tranh tụng đã lên đến đỉnh điểm, đòi hỏi phải có trọng tài để giải quyết
Nh- chúng ta đã biết, tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Khi xuất hiện chức năng buộc tội thì tất yếu đòi hỏi xuất hiện chức năng bào chữa, đó chính là thời điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai cho rằng, phạm vi tranh tụng đ-ợc thực hiện trong cả giai đoạn điều tra và tại phiên toà, thời điểm bắt đầu tranh tụng là thời điểm khởi tố
bị can nh-ng không đồng tình với ý kiến cho rằng tranh tụng kết thúc khi bản án về vụ
án đã có hiệu lực pháp luật hoặc không đồng tình với quan điểm thứ nhất cho rằng, tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm thì quá trình tranh tụng vẫn tồn tại Theo quan điểm của chúng tôi, tranh tụng kết thúc tại phiên toà HSST mà cụ thể là khi kết thúc thủ tục tranh luận tại phiên toà Chức năng buộc tội xuất hiện từ khi cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) ra quyết định khởi tố bị can (buộc tội chính thức nhằm vào
một con người cú thể) như nhận định: “ khi có đủ căn cứ cần thiết để cho rằng một ng-ời cụ thể nào đó (hoặc nhiều ng-ời) đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm đ-ợc quy định trong Bộ luật Hình sự, cơ quan THTT ra quyết định khởi
tố bị can Kể từ lúc đó, hoạt động TTHS chính thức đ-ợc tiến hành nhằm chống lại bị can (hay nhiều bị can) Nói cách khác, kể từ lúc đó chức năng buộc tội bắt đầu đ-ợc thực hiện ”14 Ngoài ra, có một số tr-ờng hợp đặc biệt thì chức năng buộc tội sẽ xuất hiện sớm hơn khi có quyết định tạm giữ ng-ời bị tình nghi của cơ quan có thẩm quyền (lúc này các căn cứ, lý do tạm giữ thể hiện trong quyết định tạm giữ chính là buộc tội không chính thức) quy định tại điều 81, 82, 86 BLTTHS năm 2003 Khi xuất hiện chức năng buộc tội thì kéo theo sự xuất hiện của chức năng bào chữa và đó là thời điểm bắt
đầu của quá trình tranh tụng Tại phiên toà HSST, khi kết thúc thủ tục tranh luận tại phiên toà thì chức năng buộc tội cũng kết thúc, nó kéo theo sự mất đi của chức năng bào chữa và đó là thời điểm kết thúc của quá trình tranh tụng Ngoài ra, có một số tr-ờng hợp ngoại lệ thì quá trình tranh tụng sẽ kết thúc sớm hơn khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chức năng buộc tội mất đi và dẫn đến hệ quả tất yếu là không còn tồn tại chức năng bào chữa thuộc những tr-ờng hợp Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra hoặc VKS hay Toà án đình chỉ vụ án ở cấp phúc thẩm và các thủ tục đặc biệt giám đốc thẩm, tái thẩm thì không có chức năng buộc tội, lúc này chỉ có chức năng kiểm sát tuân
14 Nguyễn Thái Phúc, Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện
Khoa học kiểm sát-Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1999, trang 25
Trang 1712
theo pháp luật trong TTHS, chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia tố tụng (TGTT) Đối t-ợng và phạm vi xét xử của phiên toà HSST là bản cáo trạng của Viện kiểm sát (VKS), còn đối t-ợng và phạm vi xét xử của phiên toà phúc thẩm là bản
án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án ch-a có hiệu lực pháp luật, đối t-ợng và phạm vi xét xử của phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm là bản án hoặc quyết định của Toà án đã
có hiệu lực pháp luật Vì vậy, vấn đề nào đó ch-a đ-ợc xem xét ở phiên toà sơ thẩm thì cũng sẽ không đ-ợc xem xét ở các phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Mặt khác, căn cứ để mở phiên toà sơ thẩm là bản cáo trạng của VKS, căn cứ để mở phiên toà phúc thẩm là kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật, căn cứ
để mở phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm là kháng nghị của ng-ời có thẩm quyền Cho nên, Kiểm sát viên (KSV) tham gia phiên toà sơ thẩm có chức năng hoàn toàn khác với chức năng ở phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Tại phiên toà HSST, KSV thực hiện đồng thời hai chức năng là buộc tội và kiểm sát hoạt động t- pháp tại phiên toà, khi thực hiện chức năng buộc tội thì KSV thực hành quyền công tố, thực hiện các hoạt động để bảo vệ cáo trạng của VKS Tại phiên toà phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, KSV tham gia để thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động t- pháp tại phiên toà, chức năng bảo vệ quyền và lợi ích của các bên TGTT, các hoạt động này không nhằm mục đích bảo vệ quan điểm truy tố của VKS mà chỉ nhằm xác định tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hoặc quyết định của Toà án cấp d-ới
1.1.2 Khái niệm mô hình tranh tụng
1.1.2.1 Khái niệm
Theo lý luận chung về Nhà n-ớc và pháp luật thì “Kiểu Nhà n-ớc là tổng thể những dấu hiệu (đặc điểm) cơ bản của Nhà n-ớc thể hiện bản chất giai cấp, vai trò xã hội và những điều kiện phát sinh, tồn tại và phát triển của Nhà n-ớc trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”15, còn “Hình thức Nhà n-ớc là cách tổ chức quyền lực Nhà n-ớc và những ph-ơng pháp để thực hiện quyền lực Nhà n-ớc”16 Trong mối quan
hệ giữa kiểu Nhà n-ớc và hình thức Nhà n-ớc thì kiểu Nhà n-ớc quy định và quyết định hình thức Nhà n-ớc
Trong lý luận về TTHS, ng-ời ta phân biệt kh²i niệm “kiểu” (type) TTHS với kh²i niệm “hình thức” (form) hay còn gọi l¯ “mô hình” (model) TTHS ở n-ớc ta,
không có sự phân biệt này, nhiều tác giả th-ờng đồng nhất hai khái niệm này là một Có
ý kiến cho rằng, tranh tụng là một kiểu tố tụng tiến bộ trên thế giới, đ-ợc nhiều n-ớc áp dụng Do vậy, trong lần sửa đổi này, tranh tụng cần phải quy định thành nguyên tắc
Trang 1813
trong TTHS17 ý kiến này đã nhầm lẫn khái niệm kiểu tố tụng với mô hình tố tụng, đồng nhất khái niệm mô hình tranh tụng với nguyên tắc tranh tụng, coi nguyên tắc tranh tụng nh- là một nội dung quyết định của mô hình tố tụng tranh tụng, không có nguyên tắc tranh tụng là không có mô hình tranh tụng
Theo quan điểm khoa học TTHS Xô Viết, TTHS cũng nh- các chế định pháp lý khác gắn liền với Nhà n-ớc, chịu tác động của quy luật tiến hoá, cùng vận động và phát triển với Nhà n-ớc T-ơng ứng với mỗi kiểu Nhà n-ớc là các kiểu TTHS nhất định Cũng nh- kiểu Nhà n-ớc, kiểu TTHS là tập hợp toàn bộ các dấu hiệu của nó đặc tr-ng cho một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Bản chất, nội dung của TTHS luôn gắn liền với bản chất Nhà n-ớc Những ng-ời theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà n-ớc và pháp luật đã phân chia các kiểu TTHS t-ơng ứng với các kiểu Nhà n-ớc khác nhau, thay thế lẫn nhau trong lịch sử phát triển tự nhiên của xã hội loài ng-ời nh-: TTHS kiểu chiếm hữu nô lệ, TTHS kiểu phong kiến, TTHS kiểu t- sản và TTHS kiểu xã
hội chủ nghĩa Khác với cách tiếp cận trên, các học giả t- sản khi nghiên cứu TTHS ở một quốc gia th-ờng dựa vào truyền thống pháp luật của quốc gia đó và các đặc điểm của TTHS đang tồn tại18 ở cách tiếp cận thứ nhất, chúng ta thấy đ-ợc mối quan hệ có tính phụ thuộc, bị chi phối về bản chất của TTHS trong quan hệ với chế độ xã hội Nhà n-ớc mà nó tồn tại trong đó, vai trò của TTHS nh- là một chế định công bảo vệ các
quan hệ xã hội thống trị trong Nhà n-ớc Vì vậy, trong cùng một kiểu TTHS có thể có những hình thức (mô hình) TTHS khác nhau (cũng giống nh- trong cùng một kiểu Nhà n-ớc có thể có nhiều hình thức Nhà n-ớc khác nhau) Các điều kiện lịch sử cùng các yếu tố khác (nh- dân tộc, văn hoá, tôn giáo, kinh tế, truyền thống pháp lý ) trong từng quốc gia cụ thể đã hình thành cách thức giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu của TTHS khác nhau Đó chính là lời giải thích cho sự hình thành các mô hình TTHS khác nhau ở các quốc gia có cùng một kiểu Nhà n-ớc hoặc các quốc gia có kiểu Nhà n-ớc khác nhau nh-ng có thể có mô hình TTHS giống nhau19
Chũng ta có thể hiểu, “Mô hình TTHS là cách thức tổ chức, cấu trúc hoạt động tố tụng phù hợp với những đặc thù của tổ chức chính trị, phù hợp với bản chất và cách thức tổ chức quyền lực Nhà n-ớc cũng nh- các yếu tố khác trong phạm vi một kiểu Nhà n-ớc nhất định”20 Nh- vậy, mô hình TTHS là hình thức thể hiện ra bên ngoài những quy định, nguyên tắc, cách thức tổ chức và trình tự tiến hành quá trình TTHS của một
19 K Ph Gusenco, Giáo trình TTHS, Tr-ờng Đại học Tổng hợp Quốc gia Mátxcơva-Liên bang Nga, 1999 (tiếng Nga)
20 Phan Thị Mỹ Hạnh, Nguyên tắc tranh tụng trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học-Tr-ờng
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2004, trang 23
Trang 19hình thức bên ngoài của TTHS Theo lý luận của Triết học Mác - Lênin thì: “ một nội dung trong quá trình phát triển có thể có nhiều hình thức thể hiện, ng-ợc lại, một hình thức có thể thể hiện nhiều nội dung khác nhau ”21 Đó là cách giải thích vì sao các mô hình TTHS khác nhau lại tồn tại ở các quốc gia có cùng một kiểu TTHS, hay các quốc gia có kiểu TTHS khác nhau nh-ng lại tồn tại mô hình TTHS giống nhau, không nh- một số tác giả đã nhầm lẫn khi đồng nhất mô hình tố tụng với kiểu tố tụng
Khoa học luật TTHS đã có sự thống nhất với bốn mô hình TTHS đã tồn tại ở các thời kỳ khác nhau trong lịch sử là: tố tụng buộc tội (tố cáo), tố tụng xét hỏi (thẩm vấn),
tố tụng tranh tụng, và tố tụng pha trộn (hỗn hợp)
Mô hình TTHS tranh tụng là cách thức tổ chức hoạt động TTHS trên cơ sở thừa nhận tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của hoạt động TTHS xuyên suốt các giai đoạn của
nó Mô hình TTHS không phải tranh tụng hoặc không thừa nhận tranh tụng là nguyên tắc cơ bản hay chỉ thừa nhận nó triệt để ở giai đoạn xét xử, còn ở các giai đoạn khác nhất là giai đoạn điều tra thì sự thừa nhận nguyên tắc tranh tụng còn hạn chế Vì khả năng nhận thức của nhà lập pháp là khác nhau và vì sự chi phối của những yếu tố khác bên ngoài tác động đến việc tổ chức hoạt động TTHS nh-: yếu tố lịch sử, truyền thống pháp lý, dân tộc, văn hoá trong từng quốc gia cụ thể đã hình thành cách thức giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu của TTHS khác nhau
Mô hình tố tụng tranh tụng có các đặc tr-ng sau: Hoạt động tố tụng đ-ợc bắt đầu theo ý chí của ng-ời buộc tội (có thể là NBH hoặc một cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền); có sự tách biệt chức năng buộc tội với xét xử; sự tham gia tích cực và ngang quyền của bên buộc tội và bào chữa ở tr-ớc Toà; Toà án có vai trò thụ động (so với mô
hình tố tụng xét hỏi) - l¯ “trọng tài”; xét xừ b´ng lời nói, công khai, có sứ tham gia cða
đoàn bồi thẩm; có ba hệ quy tắc chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng: quy tắc tố tụng (rules of proceduers), quy tắc chứng cứ (rules of evidence) và quy tắc ứng xử của luật s- (rules of counsel), trong đó quy tắc về chứng cứ có ảnh h-ởng lớn nhất vì nó kiểm soát loại chứng cứ nào có thể đ-ợc đ-a ra tr-ớc những ng-ời có thẩm quyền quyết định (decision-maker), tức là nó quyết định chứng cứ có đ-ợc chấp thuận hay không22, và các chứng cứ này do các bên thu thập, đề xuất, đánh giá tự do, không bị phụ thuộc bởi
21 Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo trình Triết học Mác-Lênin (dùng cho các Tr-ờng đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2003, trang 246
22 Trần Đại Thắng, Tố tụng “tranh tụng” và tố tụng “thẩm cứu”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9 (9/2003), trang 52
Trang 20đ-ợc tham gia từ khi có quyết định tạm giữ hay từ khi khởi tố bị can
Có quan điểm khi nhận định về h³n chế cða mô hình tranh túng cho r´ng, “Với nh-ợc điểm là một hệ tố tụng dễ bỏ lọt tội phạm lại có sự hỗ trợ từ các luật s- giỏi nên nền công lý của xã hội khó đ-ợc thiết lập và các cơ quan t- pháp không còn đ-ợc coi là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân với một nền pháp luật dân chủ, một cơ chế bình quyền giữa Nhà n-ớc và bị cáo, các cơ quan t- pháp gặp nhiều khó khăn khi muốn phát huy vai trò của mình, bởi trong một phiên toà chiến thắng luôn thuộc về kẻ mạnh mà kẻ mạnh ch-a hẳn đã là Nhà n-ớc”23
Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này Bởi
lẽ, sự hỗ trợ từ các luật s- giỏi, cơ chế bình đẳng giữa Nhà n-ớc và công dân chính là việc thiết lập một nền công lý dân chủ cho xã hội Vì lúc này, các cơ quan và ng-ời THTT mới nâng tầm của mình lên, đề cao quyền con ng-ời, phát huy tối đa tính dân chủ trong hoạt động tố tụng, hạn chế các tr-ờng hợp oan, sai trong TTHS Có nh- vậy, các cơ quan t- pháp sẽ nâng cao uy tín của mình, là chỗ dựa đáng tin cậy cho nhân dân Quyền con ng-ời là một trong những nội dung quan trọng và cũng là mục đích của việc
xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền Theo PGS TS Ho¯ng Thị Kim Quế thì: “Mục đích cao cả, nhiệm vụ th-ờng trực của Nhà n-ớc pháp quyền không gì khác hơn là vì quyền con ng-ời Tất cả vì con ng-ời, theo h-ớng có lợi cho con ng-ời cần đ-ợc trở thành hiện thực - đây cũng là một trong những tiêu chí để nhận diện Nhà n-ớc pháp quyền Nhà n-ớc pháp quyền đ-ợc hiểu là sự đối lập với Nhà n-ớc cực quyền, chuyên chế, độc tài,
do vậy xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền không thể thiếu đ-ợc quá trình dân chủ hoá
Sự bình đẳng pháp lý, đạo đức, đồng trách nhiệm giữa Nhà n-ớc, cá nhân vừa là yêu cầu, vừa là tiêu chí nhận diện Nhà n-ớc pháp quyền ”24
1.1.2.2 Mô hình tranh tụng với TTHS Việt Nam
Tìm hiểu TTHS Việt Nam, một số tác giả cho rằng, TTHS Việt Nam là tố tụng
xét hài (thẩm vấn) với lý do, “truyền thống án lệ th-ờng sử dụng hệ tranh tụng còn truyền thống luật lục địa lại chọn hệ thẩm vấn Do có nguồn gốc từ truyền thống luật
23 Nguyễn Ngọc Chí, Tố tụng tranh tụng và vấn đề cải cách t- pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà n-ớc
pháp quyền, Tạp chí Nhà n-ớc và pháp luật số 11/2003, trang 56
24 Hoàng Thị Kim Quế, Nhận diện Nhà n-ớc pháp quyền, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 5 (5/2004), trang 22-23
Trang 21Mô hình tố tụng xét hỏi có các đặc tr-ng sau: Thẩm phán có thể tự mình điều tra
và xét xử ng-ời phạm tội Kết quả của hoạt động điều tra đ-ợc l-u trong hồ sơ chính thức Khi xét xử, Toà án cần phải nghiên cứu tr-ớc hồ sơ Đặc tr-ng cơ bản nhất của mô hình này là đề cao vai trò chủ động, tích cực của Thẩm phán trong việc điều tra xác
định sự thật khách quan của vụ án nh-: Thẩm phán có thể quyết định đ-a chứng cứ này
mà không đ-a chứng cứ khác ra xem xét trong quá trình xét xử, Thẩm phán tham gia tích cực vào việc xét hỏi bị cáo, NBH hoặc nhân chứng Các Thẩm phán gồm: Thẩm phán điều tra (còn gọi là dự thẩm), Thẩm phán công tố và Thẩm phán xét xử Thẩm phán điều tra tiến hành thu thập chứng cứ, có thể tham gia phiên toà nh-ng không đ-ợc quyền đ-a ra phán quyết Thẩm phán công tố giữ vai trò là ng-ời buộc tội thông qua quá trình thẩm tra tại phiên toà Thẩm phán xét xử tiếp tục điều tra, xác minh chứng cứ tại phiên toà, đánh giá chứng cứ bằng cách xét hỏi bị cáo, NBH, nhân chứng rồi đ-a ra phán quyết dựa trên niềm tin nội tâm của mình một cách công khai để đảm bảo rằng những chứng cứ đã đ-ợc xác lập trong quá trình điều tra và đ-ợc kiểm tra tại phiên toà
là hoàn toàn đúng đắn, khách quan và trung thực Trong những vụ án nghiêm trọng, Thẩm phán xét xử còn có quyền chỉ đạo việc điều tra, ra lệnh tạm giam bị can khi cần thiết Mô hình tố tụng xét hỏi quan niệm rằng sự thật có thể và phải đ-ợc tìm ra qua quá trình thẩm tra, tất cả mọi ng-ời tham gia vào vụ án đều cố gắng để tìm ra sự thật của vụ án nên bị cáo đ-ợc mong đợi, chứ không bị bắt buộc phải hợp tác trong việc
cung cấp thông tin về tội phạm Trong mô hình tố túng xét hài, “Công tố viên có trách nhiệm thu thập cả chứng cứ kết tội lẫn chứng cứ gỡ tội, bởi mục đích hoạt động của họ
là duy trì công lý và bảo vệ pháp luật” v¯ “Trong tr-ờng hợp ch-a đủ bằng chứng để
25 Thông tin Khoa học pháp lý (Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý-Bộ T- pháp), Chuyên đề: T- pháp hình sự so sánh,
Hà Nội, 1999, trang 120
26 Ngô Huy C-ơng, Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Nxb T- pháp, Hà Nội, 2006, trang 588
27 Nhà pháp luật Việt-Pháp, TTHS và vai trò của Viện công tố trong TTHS, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997
Trang 2217
kết tội, Toà án sẽ yêu cầu Cơ quan công tố hoặc Cảnh sát t- pháp điều tra thêm Đây là
đặc điểm rất đặc tr-ng của hệ tố tụng thẩm vấn so với hệ tố tụng tranh tụng”28
Mô hình tố tụng pha trộn có các đặc tr-ng sau: Quá trình tố tụng đ-ợc chia thành hai giai đoạn tách bạch là tr-ớc xét xử và xét xử Giai đoạn tr-ớc xét xử gồm khởi tố và
điều tra, các hoạt động điều tra đ-ợc tiến hành công khai nh-ng kết quả điều tra là bí mật nếu ch-a kết thúc điều tra, hoạt động tranh tụng giữa các bên buộc tội và bào chữa
đã diễn ra nh-ng sự bình đẳng giữa các bên còn nhiều hạn chế, quyền hạn của Cơ quan
điều tra rất lớn, những ng-ời TGTT chỉ biết đ-ợc những vấn đề liên quan đến họ, hạn chế sự tham gia của những ng-ời liên quan, việc thu thập chứng cứ đều đ-ợc thể hiện bằng văn bản, đ-ợc Cơ quan điều tra tập hợp và xây dựng thành hồ sơ vụ án dùng làm cơ sở cho việc tranh tụng tr-ớc Toà sau này Giai đoạn xét xử, tranh tụng rõ nét nhất là tại phiên toà HSST, phiên toà đ-ợc tiến hành công khai, các quyền con ng-ời, quyền công dân đ-ợc đảm bảo nh-: quyền bình đẳng tr-ớc Toà án, quyền đ-ợc bào chữa và nhờ ng-ời khác bào chữa, đảm bảo bình đẳng giữa bên buộc tội và bào chữa trong việc
đ-a ra chứng cứ, trình bày lý lẽ của mình, Thẩm phán có vai trò năng động hơn so với Thẩm phán trong mô hình tranh tụng nh-ng không tham gia vào quá trình điều tra trong giai đoạn tr-ớc xét xử nh- Thẩm phán trong mô hình xét hỏi, họ không đ-ợc quyền quyết định đ-a hay không đ-a chứng cứ nào ra xem xét tr-ớc Toà mà chỉ có quyền kiểm tra tính xác thực, hợp pháp của các chứng cứ có trong hồ sơ, Thẩm phán đ-ợc nghiên cứu hồ sơ tr-ớc khi xét xử, là trọng tài giữa bên buộc tội và bào chữa, là ng-ời
điều khiển và duy trì trật tự phiên toà, ngoài ra họ còn tham gia vào quá trình xét hỏi nhằm làm rõ các tình tiết của vụ án rồi đ-a ra phán quyết của mình
Tr-ớc năm 1988, về cơ bản, pháp luật thực định trong thủ tục TTHS ở n-ớc ta cũng đ-ợc thể hiện đồng thời hai nội dung là xét hỏi và tranh tụng Tại điều 5 Sắc lệnh
số 33/SL ng¯y 13/9/1945 về việc thiết lập To¯ ²n quân sứ quy định: “ Đứng buộc tội là một uỷ viên quân sự hay một uỷ viên của các VKS Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ ng-ời khác bênh vực cho ” Sau đó, t³i điều 11 Sắc lệnh số 13/SL ng¯y 24/01/1946 về
tổ chữc c²c To¯ ²n v¯ ng³ch Thẩm ph²n quy định: “ Sau khi nghe bị can, ng-ời làm chứng, cáo trạng của ông biện lý và sau cùng nghe lời cãi của các bị can, ông Chánh
án, hai Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân lui vào phòng nghị xử để cùng xét xử về tất cả các vấn đề thuộc về tội trạng, hình phạt, tr-ờng hợp tăng tội và tr-ờng hợp giảm tội Nghị án xong, Toà lại họp và ông Chánh án tuyên đọc công khai bản án ” Tiếp
theo, Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định về chế định bào chữa viên nhân dân
đã cho phép những ng-ời không phải là luật s- cũng có quyền bào chữa cho bị cáo Cùng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 là Luật Tổ chức Toà án nhân dân và Luật
Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, lúc này chức năng xét xử đã hoàn toàn tách
28 Lê Hữu Thể, Vai trò của KSV trong hoạt động tranh tụng tại phiên toà, Tạp chí Kiểm sát số 12 (6/2005), trang 39
Trang 2318
ra khỏi chức năng buộc tội, cơ quan công tố đ-ợc tách ra khỏi Chính phủ Sau khi thống nhất đất n-ớc năm 1975, một số văn bản pháp luật tiếp tục ghi nhận quyền bào chữa của
bị can, bị cáo nh- điều 133 Hiến pháp năm 1980, điều 9 Luật Tổ chức Toà án nhân dân
quy định: “ Quyền bào chữa của bị cáo đ-ợc đảm bảo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ luật s-, bào chữa viên nhân dân bào chữa cho mình Trong tr-ờng hợp thực hiện pháp luật quy định, Toà án nhân dân cử ng-ời bào chữa cho bị cáo ” Ph²p lệnh Luật
s- năm 1987 cũng là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo nói riêng và phần nào đã đảm bảo cho hoạt động tranh tụng của các bên tranh tụng trong TTHS nói chung
BLTTHS năm 1988 đã có nhiều quy định tiến bộ, điển hình là có nhiều nguyên tắc mới nh-: nguyên tắc suy đoán vô tội (tên gọi khác: không ai có thể bị coi là có tội, nếu ch-a có bản án kết tội đã có hiệu lực của Toà án) (điều 10), nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (điều 11), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (điều 12), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng tr-ớc Toà án (điều 20) và cùng với các quy
định t³i Chương XX về “Tranh luận tại phiên toà” cða Bộ luật l¯ c²c nội dung phần n¯o
đã thể hiện những yếu tố tranh tụng trong TTHS của n-ớc ta
BLTTHS năm 2003 càng làm rõ thêm mô hình TTHS mà chúng ta đang xây dựng
là mô hình tố tụng pha trộn, yếu tố tranh tụng theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đã đ-ợc chú trọng và đ-ợc thể chế vào Bộ luật mặc dù còn nhiều hạn chế Cụ thể BLTTHS 2003 quy định quyền và nghĩa vụ của cơ quan THTT, ng-ời THTT và TGTT nh-: ng-ời bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ ng-ời khác bào chữa cho mình (điều 11, 48, 49 và 50); NBC đ-ợc TGTT từ khi khởi tố bị can hoặc
từ khi có quyết định tạm giữ, đ-ợc quyền có mặt khi lấy lời khai, khi hỏi cung, đ-ợc thu thập tài liệu, chứng cứ, đồ vật có liên quan đến việc bào chữa, đ-ợc đọc, sao chép những tài liệu phục vụ cho việc bào chữa, đ-ợc tham gia tranh luận tại phiên toà (điều 56 và 58) Mặt khác, BLTTHS năm 2003 quy định chặt chẽ hơn về thủ tục tranh tụng tại phiên toà, quy định về nội dung, phạm vi hỏi bị cáo, NBH, ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ng-ời làm chứng của KSV, NBC (điều 209, 210 và 211), về trình tự phát biểu khi tranh luận, quyền đ-a ra ý kiến của bị cáo, NBC và những ng-ời tham gia tranh luận khác, về đối đáp tại phiên toà (điều 217 và 218) Ngoài ra, BLTTHS còn quy định, HĐXX khi nghị án chỉ đ-ợc căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã đ-ợc thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, NBC, bị cáo và những ng-ời TGTT khác (điều 222) và nhiều quy định khác trong Bộ luật
Dựa trên những đặc tr-ng về mô hình TTHS pha trộn và căn cứ vào pháp luật thực định, đủ cơ sở khẳng định mô hình TTHS Việt Nam hiện nay là mô hình TTHS pha trộn Điều đó thể hiện, tính tranh tụng trong giai đoạn điều tra còn nhiều hạn chế do có cách biệt về sự bình đẳng trong địa vị tố tụng của các bên, do hạn chế tính công khai
Trang 24đắn, phù hợp với yêu cầu cải cách t- pháp ở n-ớc ta và phù hợp với trào l-u chung của lịch sử TTHS trên thế giới
1.1.3 Khái niệm nguyên tắc tranh tụng
1.1.3.1 Tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS
Hiện nay, trong khoa học luật TTHS, có nhiều quan niệm khác nhau về nguyên
tắc cơ b°n cða TTHS Có quan điểm cho r´ng, nguyên tắc cơ b°n cða TTHS l¯ “những t- t-ởng chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động TTHS hoặc đối với một loại hoạt động nhất
định”29; một quan điểm kh²c, nguyên tắc cơ b°n cða TTHS l¯ “những quan điểm, t- t-ởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về TTHS”30; một quan điểm kh²c, nguyên tắc cơ b°n cða TTHS l¯ “những ph-ơng châm, những định h-ớng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động TTHS và đ-ợc các văn bản pháp luật TTHS ghi nhận”31 Các quan điểm nêu trên đều có những hạt nhân hợp lý nhất định mặc dù ch-a đầy đủ, mới chỉ nhấn mạnh đến tính chủ quan mà quên đi tính khách quan vốn có của nguyên tắc
ở góc độ lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật thì tranh
tụng đ-ợc xem là nguyên tắc cơ bản của TTHS Theo PGS TSKH Lê Cảm thì “Đây chính là một trong những nguyên tắc cơ bản đ-ợc thừa nhận chung của luật TTHS trong Nhà n-ớc pháp quyền và là giá trị pháp lý tiến bộ của nền văn minh nhân loại đã có cội nguồn từ rất lâu đời; khẳng định vai trò tài phán rất quan trọng của Toà án trong
29 Nguyễn Quốc Việt, Mấy vấn đề về nguyên tắc TTHS khi xây dựng BLTTHS sửa đổi, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ
của Viện Khoa học kiểm sát-Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1995, trang 17
30 Trần Thế V-ợng, Những nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam và yêu cầu của việc sửa đổi toàn diện BLTTHS, Kỷ
yếu Hội thảo của Uỷ ban pháp luật của Quốc hội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999, trang 12
31 Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, trang 27; Hoàng Thị Sơn và Bùi Kiên Điện, Những nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 1999, trang 5
Trang 2520
hoạt động TTHS và phù hợp với t- t-ởng nhân đạo về tăng c-ờng tranh tụng dân chủ tại phiên toà mà Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách t- pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền hiện nay” v¯ t- t-ởng bảo vệ các quyền con ng-ời bằng pháp luật trong BLTTHS năm 2003 còn hạn chế bởi nh-ợc điểm khi ch-a điều chỉnh về mặt lập pháp nguyên tắc tranh tụng với t- cách là nguyên tắc độc lập của luật TTHS và nội dung của nó32
Vì sao tranh tụng đ-ợc xem là nguyên tắc cơ bản của TTHS? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần xem xét nguyên tắc tranh tụng ở những góc độ sau:
- Tính khách quan của nguyên tắc tranh tụng
Hoạt động TTHS là hoạt động không tách rời của ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử, chúng có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau Sự tồn tại của chức năng này tất yếu đòi hỏi sự tồn tại của hai chức năng còn lại Mỗi một chức năng tồn tại và vận
động trong chừng mực tồn tại và vận động của hai chức năng kia Sự khác biệt giữa các mô hình TTHS chính là ở chỗ các chức năng này có tách biệt với nhau và có do các chủ thể độc lập thực hiện hay bị thâu tóm toàn bộ vào tay một chủ thể Chúng tôi hoàn toàn
đồng tình với quan điểm đũng đắn khi cho r´ng: “Có chức năng buộc tội mà không có chức năng bào chữa thì hoạt động tố tụng sẽ mang tính chất một chiều và kết buộc chứ không phải là tranh tụng TTHS không đ-ợc thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng là chức năng bào chữa”33 Chỉ có sự song song tồn tại, vận động
và đấu tranh giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa thì mới tạo ra sự tranh tụng giữa các bên Trong hai chức năng trên thì chức năng buộc tội có vai trò động lực, không có hoạt động buộc tội thì cũng không có hoạt động tố tụng hoặc hoạt động tố tụng đó sẽ không có định h-ớng Bản thân hoạt động TTHS là một quá trình nhận thức chân lý khách quan trong từng vụ án cụ thể Vì vậy, đòi hỏi khách quan của sự tranh tụng giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa là tiền đề cần thiết cho chức năng xét xử Bởi thế, ở góc độ lý luận, sự hiện diện của nguyên tắc tranh tụng trong hoạt động tố tụng xuất phát
từ chính bản chất của hoạt động đó
- Tính chủ quan của nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc tranh tụng cũng giống nh- các nguyên tắc cơ bản khác của BLTTHS,
nó là sản phẩm của hoạt động nhận thức mà hoạt động nhận thức ở đây tr-ớc hết là hoạt
động lập pháp của các nhà làm luật Nguyên tắc tranh tụng là sự phản ánh những quy luật, hiện t-ợng khách quan đang tồn tại trong hoạt động TTHS một cách tự thân, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con ng-ời, nh-ng cơ bản là chúng ta có nhận thức
32 Lê Cảm, Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định các nguyên tắc của Luật tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát số tháng 6/2004, trang 20; Lê Cảm, Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con ng-ời bằng pháp luật trong lĩnh vực t-
pháp hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân số 14 (7/2006), trang 7
33 Nguyễn Thái Phúc, Một số vấn đề về quyền công tố của Viện kiểm sát, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện
Khoa học kiểm sát-Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1999
Trang 2621
đ-ợc chúng hay không, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng nhận thức của chúng ta Nếu vào thời điểm năm 1988, khi ban hành BLTTHS đầu tiên của n-ớc ta, chúng ta ch-a nhận thức đ-ợc sự cần thiết, khách quan của nguyên tắc tranh tụng thì
đúng ra vào thời điểm năm 2003 khi thông qua BLTTHS hiện hành là thời điểm thích hợp nhất để hoàn thiện nhận thức của chúng ta, tức là phải ghi nhận tranh tụng thành nguyên tắc cơ bản của BLTTHS Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 đ-ợc xác định là sửa
đổi “cơ bản, toàn diện”34 nh-ng không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS Tiếp cận nguyên tắc tranh tụng ở góc độ này cho thấy, sự thừa nhận hoặc không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động lập pháp của Quốc hội và sự phát triển của khoa học pháp lý về TTHS ở n-ớc
ta Chúng tôi thấy rằng, BLTTHS năm 2003 đ-ợc sửa đổi, bổ sung là toàn diện nh-ng không sửa đổi cơ bản nên không có những sửa đổi mang tính đột phá hay ít nhất là những thay đổi lớn nh- chúng ta mong đợi trong hoạt động TTHS PGS TS Nguyễn
Thái Phúc cũng thẳng thắn rằng, BLTTHS hiện ch-a thể chế hoá đ-ợc yêu cầu tranh tụng theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị về cải cách t- pháp35
- Tính quy phạm của nguyên tắc tranh tụng
Khác với pháp luật của một số n-ớc trên thế giới thừa nhận cả các t- t-ởng, quan
điểm và học thuyết pháp lý là các nguồn của luật, pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận văn bản quy phạm pháp luật là nguồn của luật Do đó, các nguyên tắc cơ bản của một ngành luật không thể tồn tại d-ới dạng các học thuyết, t- t-ởng, quan điểm mà chúng phải
đ-ợc thể hiện bằng các quy phạm pháp luật Khi đó, các nguyên tắc mới thật sự có vai trò định h-ớng cho hành vi của các chủ thể tham gia vào hoạt động tố tụng Nh- đã phân tích, việc thể hiện nguyên tắc tranh tụng phụ thuộc vào kỹ thuật lập pháp của nhà làm luật Thông th-ờng, các nguyên tắc cơ bản đ-ợc xác định một cách rõ ràng về tên
gọi, nội dung chính cða nó ngay trong một điều luật cða Chương “Các nguyên tắc cơ bản” hay “Những quy định chung” Ngo¯i ra, có trường hợp chỉ có điều luật gọi tên
thừa nhận nguyên tắc cơ bản nh-ng không ghi nhận nội dung chính của nguyên tắc, các quy phạm tiếp theo mới cụ thể hoá, thể hiện nội dung của nguyên tắc cơ bản Mặt khác, cũng có tr-ờng hợp trong các văn bản pháp luật không có điều luật nào chính thức gọi tên nguyên tắc cơ bản nh-ng những nội dung chính của nguyên tắc, tinh thần của nguyên tắc đ-ợc thể hiện, ghi nhận trong nhiều điều luật khác của văn bản pháp luật đó
Do vậy, trình độ lập pháp, kỹ thuật lập pháp sẽ quyết định việc thể hiện nguyên tắc cơ bản của ngành luật đó nh- thế nào trong các văn bản pháp luật
Trang 2722
Nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam, BLTTHS hiện hành ở Ch-ơng 1 quy
định “Những nguyên tắc cơ bản” không có điều luật n¯o ghi nhận về nguyên tắc tranh
tụng Tr-ớc khi có BLTTHS năm 2003, khoa học pháp lý TTHS Việt Nam đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này
Quan điểm thữ nhất, không thụa nhận nguyên tắc tranh túng c° về phần “xác” lẫn phần “hồn”, có nghĩa l¯ không thụa nhận nó c° về tên gọi củng như nhửng nội dung cða
nó trong BLTTHS Có tác giả phản đối bổ sung nguyên tắc tranh tụng vào hệ thống các
nguyên tắc vận hành của các cơ quan THTT, vì điều đó v-ợt qua khuôn khổ cải cách t- pháp và dẫn đến sự thay đổi việc phân định địa vị pháp lý giữa một chủ thể là cơ quan THTT và một chủ thể khác là những ng-ời TGTT36 Có tác giả cho rằng, nguyên tắc tranh tụng quy định một kiểu tố tụng, nâng cao tranh tụng trong xét xử không phải là thay đổi một kiểu tố tụng; hay tranh tụng mà Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị đề cập là tranh tụng tại phiên toà chứ không phải là một kiểu tố tụng mà một số n-ớc theo truyền thống luật án lệ (Common Law) đang áp dụng, vì vậy không nên quy định tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam37 Có tác giả cho rằng, không nên quy định nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS, vì đặt ra nguyên tắc tranh tụng thì gần nh- là một sự chuyển đổi mô hình tố tụng, liên quan đến nhiều yếu tố nh- tổ chức bộ máy các cơ quan THTT, thủ tục tố tụng từ giai đoạn điều tra đến truy tố, xét xử mà trong bối cảnh n-ớc ta là không phù hợp cả về truyền thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế xã hội, chế độ chính trị, tạo nên một sự xáo trộn không cần thiết38
Quan điểm thứ hai, đối lập với quan điểm thứ nhất, các tác giả của quan điểm này
đã đặt vấn đề và tiếp cận nguyên tắc tranh tụng ở một góc độ khác, họ thừa nhận
nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của TTHS, mặc dù BLTTHS ch-a ghi nhận
là một nguyên tắc cơ bản nh-ng tinh thần của nó đ-ợc quy định rãi rác tại các điều luật trong Bộ luật, rất nhiều quy định thể hiện những khía cạnh, nội dung của nguyên tắc tranh tụng và đồng thời kiến nghị cần chính thức ghi nhận nguyên tắc này trong Dự thảo BLTTHS sửa đổi39
Theo chúng tôi, quan điểm thứ nhất không có sức thuyết phục, vì các tác giả này ngay từ đầu đã bỏ qua, không xem xét đến các quy định cụ thể của BLTTHS tr-ớc khi
36 Khuất Văn Nga, Cải cách t- pháp và việc xây dựng BLTTHS sửa đổi, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Khoa
học kiểm sát-Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1995
37 Trần Văn Trung, Những quy định về tranh tụng trong Dự thảo BLTTHS, Tạp chí Kiểm sát Chuyên đề tháng 6/2003, trang 22; Nguyễn Nông, Bàn về vấn đề tranh tụng trong TTHS Việt Nam, Tạp chí Kiểm sát số 9/2003, trang 34
38 Nguyễn Duy Giảng, Bàn về tranh tụng tại phiên toà, Tạp chí Kiểm sát số 10/2003, trang 38
39 Nguyễn Quốc Việt, Bàn về nguyên tắc TTHS khi xây dựng BLTTHS sửa đổi, Tạp chí Luật học số 3/1996, trang 51; Nguyễn Cảnh Hợp, Các nguyên tắc của TTHS trong điều kiện xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền, Tạp chí Khoa học pháp
lý số 1/2001, trang 15; Trịnh Tiến Việt, Nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại phiên toà hình sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 7 (7/2003), trang 66; Nguyễn Đức Mai, Vấn đề tranh tụng trong Dự thảo BLTTHS sửa đổi, Tạp chí Nhà n-ớc
và pháp luật số 10/2003, trang 39
Trang 2823
sửa đổi, bổ sung năm 2003 ở phần quy định về thủ tục tranh luận tại phiên toà sơ thẩm
và nhiều quy định khác trong Bộ luật; thậm chí có tác giả nhầm lẫn khi đồng nhất nguyên tắc tranh tụng với mô hình tranh tụng, nhầm lẫn giữa khái niệm kiểu tố tụng với mô hình tố tụng, coi nguyên tắc tranh tụng nh- một nội dung quyết định kiểu tố tụng và quyết định mô hình tranh tụng
Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai Nghiên cứu quy định tại các điều 12,
20, 34, 36, 39, 40, 41, 49, 103, 104, 181, 187, 188, 189, 191, 192 của BLTTHS năm
1988 và quy định tại các điều 11, 19, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 207, 217, 218 của BLTTHS năm 2003 thì dễ dàng nhận thấy, mặc dù BLTTHS năm 1988 và 2003 ch-a có một điều luật gọi đích danh nguyên tắc tranh tụng nh-ng nội dung và tinh thần của nguyên tắc tranh tụng đã hiện diện trong nhiều quy định của pháp luật, tuy rằng còn nhiều hạn chế mà chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện
- Tính đặc thù của nguyên tắc tranh tụng
Nói đến tố tụng là nói đến tranh tụng, bởi vì hoạt động tố tụng trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều mang tính tranh tụng, nó xuất hiện khi có sự xung đột lợi ích giữa hai chủ thể trong quan hệ pháp lý nhất định mà bản thân họ không tự giải quyết, phải cần
đến trọng tài Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS có những đặc thù riêng Tranh tụng ở
đây là tranh tụng giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa chỉ xuất hiện, tồn tại trong lĩnh vực TTHS, không giống với tranh tụng trong các lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính Tranh tụng trong TTHS tách bạch các chức năng cơ bản thành chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử; còn tranh tụng trong tố tụng dân sự tách bạch các chức năng cơ bản thành chức năng bảo vệ, hỗ trợ và xét xử Sự bình đẳng giữa các bên tranh tụng trong TTHS là việc thừa nhận khả năng nh- nhau trong hoạt động chứng minh, còn về
địa vị tố tụng thì không có sự bình đẳng Bởi lẽ, TTHS có sự phân biệt giữa quyền bào chữa của bị cáo với quyền công tố của Nhà n-ớc, giữa một bên là bị cáo (cá nhân công dân) - ng-ời bị buộc tội với một bên là Công tố viên - ng-ời đại diện cho Nhà n-ớc thực hiện việc buộc tội Mặt khác, trên thực tế thì bên bào chữa thiếu những điều kiện, ph-ơng tiện và khả năng để có thể tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội, vì bên buộc tội có sự tham gia từ phía Nhà n-ớc với các chủ thể đặc thù nh- Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố Trong khi đó, nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự đảm bảo sự bình
đẳng hoàn chỉnh và triệt để cả địa vị tố tụng lẫn sự thừa nhận khả năng nh- nhau trong hoạt động chứng minh của các đ-ơng sự Ngoài ra, bị cáo trong TTHS là chủ thể của một bên tranh tụng - bên bị buộc tội, họ có quyền chứ không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội, còn các bên tranh tụng trong tố tụng dân sự phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình và phản bác yêu cầu của phía bên kia
Trang 2924
Với lý do trên, chúng ta có thể khẳng định nguyên tắc tranh tụng trong TTHS là nguyên tắc phản ánh quy luật khách quan, thể hiện bản chất, đặc tr-ng của hoạt động TTHS và cần phải đ-ợc ghi nhận chính thức, cụ thể trong BLTTHS
1.1.3.2 Nội dung của nguyên tắc tranh tụng
Khi bàn về nội dung của nguyên tắc tranh tụng, trong khoa học luật TTHS hầu nh- có sự thống nhất với các nội dung sau:
- Tranh tụng đòi hỏi phải có sự tách bạch giữa các chức năng cơ bản của TTHS,
đó là các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử Tranh tụng đòi hỏi các chức năng khác nhau phải do các chủ thể khác nhau thực hiện, một chủ thể không thể đồng thời thâu tóm trong tay nhiều chức năng khác nhau Trong các chức năng đó thì chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là những chức năng đối trọng với nhau, tranh tụng là tranh tụng giữa hai bên buộc tội và bào chữa Toà án không phải là một trong các bên tranh tụng mà Toà án thông qua việc thực hiện chức năng xét xử của mình, là trọng tài
ra phán quyết trong quá trình tranh tụng giữa các bên
- Tranh tụng yêu cầu phải có sự kết hợp giữa tính tích cực của các bên với vai trò lãnh đạo của Toà án Chúng tôi không hoàn toàn đồng tình với quan điểm cho rằng,
“ Toà án chỉ đóng vai trò trọng tài, không buộc tội, không gỡ tội là ch-a phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh n-ớc ta và cũng không phù hợp với quan điểm xây dựng Nhà n-ớc
ta là quyền lực tập trung thống nhất, có sự phân công và phối hợp ”40 Khi Toà án giảm sự can thiệp không đúng chức năng của mình vào quá trình tranh tụng và chỉ thực hiện chức năng xét xử thì vai trò, vị trí, uy tín của Toà án đ-ợc tăng lên Nếu không hiểu rõ bản chất chức năng xét xử thì sẽ khó chấp nhận hình ảnh Toà án trong Nhà n-ớc của chúng ta nh- một trọng tài Chúng ta đều biết rằng, vụ án hình sự (VAHS) cũng chỉ
là xung đột lợi ích pháp lý giữa công dân với cơ quan Nhà n-ớc, ở đây là giữa Nhà n-ớc
mà đại diện là các cơ quan thực hiện chức năng buộc tội nh- Cơ quan điều tra, VKS và một bên là công dân, ng-ời đã bị truy tố về những hành vi có dấu hiệu của tội phạm Toà án cũng giống nh- những cơ quan bảo vệ pháp luật khác có nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm nh-ng Toà án thực hiện nhiệm vụ này thông qua chức năng xét
xử với vai trò trọng tài Bản án hoặc quyết định của Toà án phải chủ yếu dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên toà
- Tranh tụng yêu cầu phải có sự bình đẳng giữa các bên trong tiến trình tố tụng
Đó là, các bên phải đ-ợc triệu tập để đ-ợc biết những yêu cầu, chứng cứ và lý lẽ của bên kia; đ-ợc đ-a ra chứng cứ, yêu cầu và phản bác yêu cầu, chứng cứ, lý lẽ của đối ph-ơng41 Đối với mô hình pha trộn thì sự bình đẳng thực sự giữa các bên chỉ đ-ợc thừa nhận tại Toà án, đây chính là nét đặc thù của nguyên tắc tranh tụng trong mô hình tố
40 Nguyễn Thị Bắc, Về tranh tụng trong Tố tụng hình sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 9 (9/2003), trang 62-63
41 Lê Kim Quế, Hai loại hình tố tụng và nguyên tắc tranh tụng, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số 10/2002, trang 12
Trang 3025
tụng pha trộn Điều này có nghĩa là ở giai đoạn tr-ớc khi xét xử, sự bình đẳng giữa các bên có những hạn chế nhất định và hệ quả của nó là tính tranh tụng cũng có những hạn chế t-ơng tự Sự bình đẳng của các bên là sự thừa nhận những khả năng nh- nhau của các bên trong hoạt động chứng minh, trong vệc đ-a ra những yêu cầu và giải quyết những yêu cầu đó tại Toà án Điều này hoàn toàn khác với bình đẳng về địa vị pháp lý giữa các bên, bởi vì địa vị tố tụng của KSV, ng-ời đại diện và nhân danh lợi ích Nhà n-ớc là hoàn toàn khác với địa vị tố tụng của NBC, ng-ời đại diện và nhân danh lợi ích cá nhân trên cơ sở uỷ quyền của cá nhân
1.1.4 Phân biệt tranh tụng và tranh luận
Có nhiều tác giả đã đồng nhất khái niệm tranh tụng và tranh luận nh-: Nếu tranh tụng đ-ợc xác định kể từ khi mở phiên toà đến khi kết thúc phiên toà thì cũng có nghĩa
là tranh tụng và tranh luận có khi là một42, hay “tranh tụng cần phải đ-ợc hiểu là sự tranh luận theo thủ tục quy định của luật tố tụng”43 Theo chúng tôi, trong Nghị quyết
08 và Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị có sự phân biệt khái niệm tranh tụng và tranh luận, việc đồng nhất hai khái niệm này là sự nhầm lẫn về lý luận cũng nh- pháp luật thực định Tranh tụng và tranh luận có mối quan hệ chặt chẽ nhau nh-ng không đồng nhất với nhau, tranh tụng và tranh luận còn xảy ra trong các lĩnh vực pháp luật dân sự, th-ơng mại, lao động, hành chính ở đây, chúng tôi chỉ phân biệt tranh tụng và tranh luận trong phạm vi khoa học luật TTHS
Khi phân biệt tranh tụng và tranh luận, có tác giả cho rằng: Tranh tụng là quá trình tố tụng khi có đồng thời ba chủ thể là bên buộc tội, bên bào chữa và Toà án thực hiện ba chức năng tố tụng là buộc tội, bào chữa và xét xử, là nguyên tắc tố tụng đòi hỏi phân định rõ ràng các chức năng tố tụng truyền thống là buộc tội, bào chữa và xét xử,
đ-ợc tiến hành tại phiên toà xét xử và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án; còn tranh luận là bằng cách các bên tham gia đ-a ra lý lẽ, chứng cứ
và các văn bản pháp luật làm cơ sở cho sự buộc tội hay bào chữa của mình để ng-ời thứ ba đứng giữa hai bên là Toà án làm trọng tài phân xử44 Theo chúng tôi, quan điểm này không thuyết phục cả góc độ lý luận và luật thực định, bởi lẽ nó đã phủ nhận sự tranh tụng thực tế giữa hai chức năng buộc tội và bào chữa ở những giai đoạn tr-ớc khi xét xử Mặt khác, quan điểm này lại quá mở rộng phạm vi tranh tụng khi cho rằng quá trình tranh tụng kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án Ngoài
ra, khi bàn về tranh luận, tác giả này đã không thấy đ-ợc tranh luận là một thủ tục độc
42 Ngô Hồng Phúc, Vấn đề nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại phiên toà hình sự, Tạp chí Toà án nhân dân số 2/2003,
trang 1
43 Từ Văn Nhũ, Đổi mới thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại phiên toà hình sự, Tạp chí Toà án nhân
dân số 11/2002, trang 4
44 Nguyễn Hữu Hậu, Cần nhận thức đúng đắn về “tranh tụng” và “tranh luận” để nâng cao kỹ năng tranh luận của
KSV tại các phiên toà hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 8 (4/2006), trang34
Trang 31đến chân lý khách quan và là nguyên tắc cơ bản phản ánh tính khách quan của quá trình
đó, đồng thời là một mô hình tố tụng thể hiện cách thức tổ chức, hoạt động TTHS phù hợp với quy luật khách quan của nó là tranh tụng và thừa nhận tranh tụng là nền tảng xuyên suốt toàn bộ hoạt động TTHS Nh- đã phân tích, tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập luận, lợi ích của
phía bên kia, đó là chức năng buộc tội và bào chữa Còn tranh luận là một thủ tục, một phần độc lập của phiên toà HSST, trong đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua phần trình bày bằng lời nói của mình tổng hợp và đánh giá kết quả của phần xét hỏi, phân tích và đánh giá các chứng cứ của vụ án, đ-a ra những đánh giá chính trị - xã hội
và đánh giá pháp lý đối với các hành vi của bị cáo bị truy tố, đề nghị hình phạt, mức hình phạt cùng những vấn đề liên quan mà Toà án phải giải quyết khi nghị án45
Thủ tục tranh luận tạo cơ hội để các bên tranh tụng trình bày những đánh giá có tính kết luận của mình về các vấn đề của vụ án nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận những đề nghị của mình và bác bỏ những đề nghị của phía bên kia Thủ tục tranh luận
là sự thể hiện đậm nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng Không
có sự tranh luận bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa thì không thể nói đến nguyên tắc tranh tụng đ-ợc Nguợc lại, khi đã thừa nhận nguyên tắc tranh tụng nh- một nguyên tắc cơ bản của TTHS thì không thể không đề cập đến sự bình đẳng của các bên tranh tụng trong thủ tục tranh luận tại phiên toà HSST
Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của quá trình tranh tụng,
là sự thể hiện tập trung nhất của quá trình tranh tụng Chức năng buộc tội xuất hiện kéo theo sự xuất hiện chức năng bào chữa và đây là thời điểm bắt đầu của quá trình tranh tụng Quá trình tố tụng lúc này mang tính tranh tụng, trải qua nhiều giai đoạn với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có phiên toà HSST, trong phiên toà HSST có thủ tục tranh luận Tranh tụng là một quá trình và sự xuất hiện của Toà án tại thủ tục tranh luận của phiên toà sơ thẩm là sự xác nhận tranh tụng đã lên
đến đỉnh điểm, đòi hỏi phải có trọng tài - HĐXX giải quyết
BLTTHS hiện hành quy định thủ tục tranh luận tại Ch-ơng XXI từ điều 217 đến
điều 221, là một thủ tục độc lập của phiên toà HSST, nó là sự nối tiếp của thủ tục xét hỏi Khi các tài liệu, chứng cứ và các vấn đề liên quan của vụ án đã đ-ợc kiểm tra, xem
45 Nguyễn Thái Phúc, Vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên và thủ tục tranh luận tại phiên toà sơ thẩm, Tạp chí
Kiểm sát số 9/2003, trang 18
Trang 3227
xét đầy đủ thì phiên toà sẽ đ-ợc chuyển từ thủ tục xét hỏi sang thủ tục tranh luận Thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết quả của thủ tục xét hỏi là cơ sở, nền tảng quan trọng cho hoạt động tranh tụng của các bên trong thủ tục tranh luận Thông qua hoạt động tranh luận của các bên tranh tụng, kết quả xét hỏi đ-ợc kiểm tra và khi thấy còn những chứng cứ ch-a đ-ợc xem xét rõ ràng hoặc những tình tiết ch-a đ-ợc làm rõ thì phiên toà trở lại thủ tục xét hỏi
1.2 Một số vấn đề lý luận về phiên toà HSST
1.2.1 Khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm
Quá trình giải quyết một VAHS phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai
đoạn thực hiện một hay nhiều nhiệm vụ nhất định của TTHS Hiện nay, trong khoa học luật TTHS Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về phân kỳ TTHS
- Quan điểm thứ nhất, có bốn giai đoạn TTHS, đó là: khởi tố VAHS, điều tra VAHS và truy tố, xét xử VAHS và thi hành án46
- Quan điểm thứ hai, có bảy giai đoạn TTHS, đó là: khởi tố VAHS, điều tra VAHS, truy tố, xét xử sơ thẩm VAHS, xét xử phúc thẩm VAHS, thi hành án và giai đoạn
đặc biệt (giám đốc thẩm hoặc tái thẩm)47 Theo chúng tôi, quan điểm này cũng giống với quan điểm của một số luật gia Xô Viết tr-ớc đây48
Vấn đề phân kỳ TTHS là vấn đề lý luận nh-ng có ý nghĩa to lớn cho hoạt động thực tiễn Trên cơ sở lý luận và căn cứ vào BLTTHS Việt Nam, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ hai và cho rằng, giai đoạn TTHS là những b-ớc trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng Mỗi giai đoạn tuy độc lập nh-ng vẫn nằm trong mối quan hệ biện chứng, khăng khít với nhau và tạo thành một quá trình thống nhất Giai đoạn tr-ớc là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn tr-ớc Cứ kết thúc một giai đoạn phải có kết luận d-ới hình thức văn bản TTHS để giải quyết vụ án hay chuyển sang giai đoạn kế tiếp Và tất cả các hoạt động tố tụng trong các giai đoạn TTHS phải đ-ợc tiến hành theo quy định của pháp luật TTHS
Mặc dù còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn TTHS nh-ng hầu nh- đã có sự thống nhất trong khoa học luật TTHS Việt Nam khi cho rằng, xét xử sơ thẩm là một giai đoạn độc lập của TTHS Trong đó, Toà án tiến hành giải quyết và xử lý
vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định sơ thẩm cần thiết khác Giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS là giai đoạn trung tâm của TTHS Bỡi lẽ, giai đoạn này giải quyết vấn đề
bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì tội gì và áp dụng hình phạt đối với ng-ời phạm tội nh- thế nào, tức là giải quyết vấn đề cơ bản nhất của TTHS Giai đoạn này bắt
46 Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội,
2001, trang 165
47 Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2005, trang 10-11
48 Luật TTHS Xô Viết, Nxb Tr-ờng Đại học tổng hợp Lêningrat, Lêningrat, 1989, trang 10-11 (tiếng Nga)
Trang 3328
đầu từ khi Toà án nhận đ-ợc hồ sơ vụ án và kết thúc khi Toà án ra bản án hoặc quyết
định sơ thẩm So với các giai đoạn khác, giai đoạn này có sự tham gia của hầu hết những ng-ời TGTT và thực hiện gần nh- tất cả những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS,
đặc biệt nhất là nguyên tắc tranh tụng
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể nêu ra một số đặc tr-ng của giai đoạn xét xử sơ thẩm để chứng minh nó là một giai đoạn độc lập, trung tâm, cơ bản và có tính chất quyết định đối với quá trình TTHS, cụ thể nh- sau:
- Đặc tr-ng về thời gian tố tụng: Pháp luật TTHS quy định cho mỗi giai đoạn có một khoảng thời gian hợp lý để thực hiện nhiệm vụ của mình Pháp luật Nhà n-ớc ta quy định thời gian tố tụng của giai đoạn xét xử sơ thẩm là từ khi Toà án nhận hồ sơ do VKS chuyển tới cho đến khi kết thúc phiên toà HSST
- Đặc tr-ng về chủ thể tố tụng: Đây cũng là đặc tr-ng nổi bật của giai đoạn này
ở các giai đoạn tr-ớc, các chủ thể TGTT còn mang tính đơn lẻ, ch-a có sự hiện diện của những chủ thể tiêu biểu Đến giai đoạn này có sự tham gia của hầu hết các chủ thể
đại diện cho các chức năng cơ bản và chức năng không cơ bản của TTHS, đặt biệt là sự xuất hiện của Toà án, chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử Địa vị pháp lý của những ng-ời TGTT có sự thay đổi nhất định, nh- bị can chuyển thành bị cáo Bị cáo, NBH và những ng-ời TGTT khác đ-ợc coi là chủ thể của một trong các bên tranh tụng,
họ bình đẳng với nhau trong quan hệ tố tụng tại phiên toà
- Đặc tr-ng về hoạt động tố tụng: Đó là sự khác biệt giữa việc lấy lời khai ở giai
đoạn điều tra và lấy lời khai ở phiên toà sơ thẩm Hoạt động xét hỏi tại phiên toà sơ thẩm về bản chất giống nh- hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra, nh-ng đây là hoạt
động điều tra chính thức tại phiên toà để xác định sự thật khách quan của vụ án ở giai
đoạn điều tra, việc lấy lời khai bị can và những ng-ời TGTT khác mang tính bán công khai, còn giai đoạn xét xử sơ thẩm mà cụ thể là tại phiên toà sơ thẩm, việc lấy lời khai tại thủ tục xét hỏi diễn ra công khai với sự hiện diện của tất cả những ng-ời TGTT cùng những ng-ời tham dự phiên toà
- Đặc tr-ng về văn bản tố tụng: Mỗi giai đoạn tố tụng đều có một hay nhiều loại văn bản tố tụng đặc tr-ng cho giai đoạn đó nh-: kết thúc giai đoạn điều tra là Bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, kết thúc giai đoạn truy tố là Bản cáo trạng truy tố của VKS Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm, nhiều văn bản tố tụng đ-ợc Toà án ban hành nh-ng đặc tr-ng nhất đó là Bản án HSST của Toà án đ-ợc tuyên công khai, đây là hình thức phản ánh việc thực hiện chức năng xét xử của Toà án
Giai đoạn xét xử sơ thẩm có mối quan hệ biện chứng với giai đoạn điều tra, đặc
biệt là kết quả hoạt động điều tra cða Cơ quan điều tra Mặc dù “ giữa Cơ quan điều tra và Toà án không phản ánh quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, không có tính chế -ớc nhau trong hoạt động tố tụng, Cơ quan điều tra không thể tự mình đ-a vụ án và đề nghị Toà
Trang 3429
án xét xử Ng-ợc lại, Toà án không buộc Cơ quan điều tra phải làm hay không làm một việc trong hoạt động tố tụng Tất cả sự tác động qua lại giữa Cơ quan điều tra và Toà
án đều phải thông qua VKS ”49 nh-ng điều đó không có nghĩa là giữa Cơ quan điều tra
và Toà án không có mối quan hệ với nhau Kết quả của giai đoạn điều tra là cơ sở, nền tảng cho thủ tục xét hỏi tại phiên toà HSST Thông qua xét xử, Toà án kiểm tra công khai kết quả hoạt động điều tra Cơ quan điều tra thu thập các tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và ng-ời phạm tội không chỉ phục vụ trực tiếp cho hoạt động truy tố của VKS mà còn giúp cho Toà án quyết định đ-a vụ án ra xét xử công khai tại phiên toà HSST Tuy rằng khi xét xử, bản án của Toà án không đ-ợc chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ mà còn phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã đ-ợc xem xét công khai tại phiên toà, nh-ng thông qua hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, Toà án kiểm tra lại tính xác thực của những tài liệu, chứng cứ đó để từ đó đ-a ra những phán quyết khách quan, đúng pháp luật Tại phiên toà HSST, Toà án không thể tự mình thực hiện đ-ợc các hoạt động điều tra đặc thù nh-: khám nghiệm hiện tr-ờng, giám định tử thi, thực nghiệm điều tra Vì vậy, các hoạt động này chỉ đ-ợc thực hiện duy nhất ở giai
đoạn điều tra và kết quả của nó là những tiền đề quan trọng cho hoạt động xét hỏi tại phiên toà HSST Nếu kết quả điều tra là toàn diện, khách quan, đúng pháp luật thì hoạt
động xét hỏi tại phiên toà sẽ dễ dàng, thuận lợi, nhanh chóng, phiên toà lúc này sẽ không tốn nhiều thời gian cho thủ tục xét hỏi mà tập trung thời gian cho thủ tục tranh luận tiếp theo để nhận xét và đánh giá chứng cứ
Căn cứ vào BLTTHS Việt Nam thì giai đoạn xét xử sơ thẩm gồm hai phần, đó là chuẩn bị xét xử và phiên toà sơ thẩm, trong đó phiên toà sơ thẩm là sự thể hiện đậm nét
nhất, đặc tr-ng nhất của giai đoạn này ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng, chuẩn bị xét xử sơ thẩm là một giai đoạn độc lập trong TTHS50 Quan điểm này đã tồn tại ở một
số n-ớc trong đó có Liên Xô (cũ), họ coi chuẩn bị xét xử là một giai đoạn độc lập của TTHS vì nó đủ các dấu hiệu cần thiết cho một giai đoạn Theo quan điểm của chúng tôi,
có thể coi nó là một giai đoạn nh-ng không thể là một giai đoạn độc lập của TTHS
đ-ợc, bởi vì trong một giai đoạn lớn có thể phân chia thành nhiều giai đoạn nhỏ, còn giai đoạn TTHS đó có độc lập hay không cần phải dựa vào những đặc tr-ng của một giai đoạn đ-ợc xem là độc lập trong TTHS
Theo pháp luật TTHS Việt Nam, chuẩn bị xét xử chỉ đ-ợc coi là một phần (có thể gọi là b-ớc hay thủ tục) của giai đoạn xét xử sơ thẩm Tại thủ tục này, Thẩm phán chủ toạ phiên toà nghiên cứu hồ sơ, xem xét để đ-a ra một trong các quyết định nh-: đ-a vụ
án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Trang 3530
Phiên toà sơ thẩm là hình thức đặc tr-ng của giai đoạn xét xử sơ thẩm, đ-ợc tổ chức công khai (trừ một số tr-ờng hợp xử kín theo quy định) với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau và ở đây, vụ án chính thức đ-ợc giải quyết Kết quả của phiên toà sơ thẩm là Toà án tuyên bố bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì tội gì, hình phạt nh- thế nào và quyết định các vấn đề khác có liên quan
1.2.2 Khái niệm phiên toà HSST
ở góc độ ngôn ngử, phiên to¯ l¯ “lần họp để xét xử của Toà án”51 Nh- vậy, ở góc độ chung nhất về mặt ngôn ngữ, chúng ta có thể hiểu phiên toà là lần họp của Toà
án để xét xử một vụ việc nào đó
ở góc độ thuật ngử ph²p lý, phiên to¯ l¯ “hình thức hoạt động xét xử của Toà
án”52 Hình thức xét xử này rất đặc thù, đ-ợc tiến hành theo một trình tự, thủ tục rất chặt chẽ của pháp luật Tuỳ thuộc vào loại tranh chấp pháp lý mà chúng ta có thể phân ra phiên toà xét xử đối với các vụ án hình sự, dân sự, hành chính
Theo BLTTHS hiện hành, phiên toà hình sự đ-ợc phân thành bốn loại: phiên toà sơ thẩm, phiên toà phúc thẩm, phiên toà giám đốc thẩm và phiên toà tái thẩm Trong đó, phiên toà sơ thẩm và phiên toà phúc thẩm là hai cấp xét xử của Toà án
Phiên toà sơ thẩm là hình thức thực hiện chức năng xét xử của Toà án Sau khi có quyết định đ-a vụ án ra xét xử, trong hạn luật định, Toà án phải mở phiên toà sơ thẩm
để xét xử vụ án Tại đây diễn ra toàn bộ quá trình xem xét, đánh giá chứng cứ và ra quyết định giải quyết vụ án Bắt đầu từ việc chủ toạ phiên toà đọc quyết định đ-a vụ án
ra xét xử, kiểm tra căn c-ớc những ng-ời đ-ợc triệu tập, giải thích quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà cho đến khi tuyên án Tại phiên toà sơ thẩm, chủ toạ chủ trì việc thẩm vấn, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ và điều khiển quá trình tranh luận tại phiên toà Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đ-ợc thẩm tra tại phiên toà, HĐXX tiến hành nghị án, ra quyết định giải quyết vụ án và tuyên án Phiên toà sơ thẩm chính
là hình thức thích hợp nhất của chức năng xét xử Mối quan hệ giữa phiên toà sơ thẩm
và chức năng xét xử là biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa hình thức và nội dung Chức năng xét xử có vai trò quyết định đối với phiên toà sơ thẩm và phiên toà sơ thẩm cũng tác động trở lại đối với chức năng xét xử Theo quan điểm của chúng tôi, chức năng xét xử chỉ có thể đ-ợc thực hiện một cách tốt nhất thông qua hình thức phiên toà,
đặc biệt là phiên toà sơ thẩm
Phiên toà sơ thẩm đ-ợc coi là cấp xét xử thứ nhất và là trung tâm của quá trình tố tụng, có nhiệm vụ giải quyết toàn bộ những vấn đề cơ bản của vụ án Tại đây diễn ra các hoạt động quan trọng nhất của toàn bộ tiến trình TTHS, bởi vì:
51 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học, Hà Nội, 2006, trang 779
52 Viện Khoa học pháp lý (Bộ T- pháp), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa và Nxb T- pháp, Hà Nội, 2006,
trang 620
Trang 3631
- Các hoạt động tố tụng diễn ra tr-ớc khi mở phiên toà sơ thẩm nh- khởi tố, điều tra, truy tố đều nhằm mục đích đ-a ng-ời thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có dấu hiệu tội phạm ra xét xử bằng một phiên toà và mong muốn có một bản án nghiêm minh, đúng ng-ời, đúng tội và đúng pháp luật Toà án là chủ thể duy nhất đ-ợc pháp luật giao thực hiện chức năng xét xử mà cụ thể là việc tổ chức phiên toà Các hoạt động tr-ớc khi mở phiên toà là sự chuẩn bị, là những giả thiết cho phiên toà và phiên toà sơ thẩm kiểm tra, đánh giá những kết quả đạt đ-ợc của giai đoạn tr-ớc
- Phiên toà sơ thẩm là nơi hội tụ đầy đủ cả ba chức năng cơ bản của TTHS là buộc tội, bào chữa và xét xử một cách rõ nét nhất Phiên toà sơ thẩm là nơi giải quyết sự xung đột pháp lý giữa hai bên tranh tụng buộc tội và bào chữa, Toà án là ng-ời trọng tài
đứng giữa hai bên để phân xử Trên cơ sở kết quả tranh tụng của hai bên, Toà án căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và TTHS, lựa chọn ph-ơng án áp dụng pháp luật chính xác để ra phán quyết Có thể nói rằng, phiên toà sơ thẩm là nơi có điều kiện tốt nhất để thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật
- Chỉ thông qua phiên toà và chỉ có chủ thể duy nhất là Toà án thực hiện chức năng xét xử thì bị cáo mới bị tuyên bố có tội hay không có tội, nếu có tội thì tội gì, hình phạt đ-ợc áp dụng nh- thế nào và quyết định các vấn đề khác có liên quan Điều này
thể hiện phiên to¯ l¯ nơi thức hiện triệt để nhất nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi ch-a có bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật” quy
định tại điều 72 Hiến pháp năm 1992 và điều 9 BLTTHS hiện hành
- Tại phiên toà HSST, mọi tài liệu, chứng cứ đã thu thập ở giai đoạn điều tra phải
đ-ợc đ-a ra kiểm tra, xem xét công khai mặc dù các tài liệu, chứng cứ này là cơ sở để Toà án đ-a vụ án ra xét xử nh-ng đó không phải là chuẩn mực và cái tất yếu Những tài liệu, chứng cứ nếu không đ-ợc kiểm tra, xem xét công khai tại phiên toà thì không đ-ợc dùng làm căn cứ để HĐXX quyết định khi nghị án và tuyên án
- Thông qua hoạt động xét xử tại phiên toà sơ thẩm, Toà án phát hiện ra những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác ở địa ph-ơng nh- Cơ quan điều tra, VKS có biện pháp đấu tranh phòng, chống hoặc kiến nghị đến các cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền để tiến hành dự báo, đ-a ra những biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm ở tầm vĩ mô Mặt khác, qua việc xét
xử, Toà án phát hiện ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan, những thiếu sót trong công tác tố tụng cũng nh- quản lý của các chủ thể khác để kiến nghị đến cơ quan Nhà n-ớc có thẩm quyền xử lý Ngoài ra, phiên toà HSST còn là hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân
Phiên toà sơ thẩm là phần tiếp nối sau thủ tục chuẩn bị xét xử của giai đoạn xét
xử sơ thẩm VAHS, sự tiếp nối này không phải là sự tiếp nối cơ học đơn thuần mà là sự
Trang 37sở để mở phiên toà Do vậy, tại thủ tục xét hỏi sẽ không tốn nhiều thời gian cho việc xác định tính chân thực của các tài liệu, chứng cứ, tình tiết mà Cơ quan điều tra đã thu thập đ-ợc có tại hồ sơ vụ án
- Trong thủ tục chuẩn bị xét xử, việc Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho VKS
để yêu cầu điều tra bổ sung, đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án chính là sự khẳng định không đủ cơ sở để mở phiên toà hoặc cần phải bổ sung những điều kiện cần thiết khác cho việc mở phiên toà sau đó hay tránh đ-ợc việc HĐXX quyết định trả hồ sơ cho VKS
để yêu cầu điều tra bổ sung tại phiên toà Nếu tiến hành mở phiên toà trong các tr-ờng hợp này chắc chắn sẽ vi phạm pháp luật hoặc phiên toà sẽ không thành công, sẽ không
đạt đ-ợc mục đích của TTHS đã đặt ra
- Trong thủ tục chuẩn bị xét xử, HĐXX có trách nhiệm xác định đầy đủ danh sách những ng-ời cần triệu tập đến phiên toà để TGTT và tiến hành triệu tập họ đến
đúng thời gian, địa điểm mở phiên toà Việc làm này sẽ đảm bảo cho các thủ tục từ bắt
đầu phiên toà, xét hỏi cho đến tranh luận đ-ợc toàn diện, khách quan, đúng pháp luật, tránh việc hoãn phiên toà vì thiếu những ng-ời TGTT và hạn chế việc phải triệu tập thêm những ng-ời TGTT đến phiên toà
- Tại phiên toà sơ thẩm, thông qua phần thủ tục bắt đầu phiên toà hoặc thông qua xét hỏi, nếu những ng-ời tham gia xét hỏi thấy cần phải triệu tập thêm những ng-ời TGTT nh-: NBH, ng-ời làm chứng, ng-ời giám định để làm rõ các tình tiết khách quan của vụ án và Toà án thấy có căn cứ thì phải hoãn phiên toà Và nh- vậy, vụ án trở
về thủ tục chuẩn bị xét xử, lúc này thời gian chuẩn bị xét xử và công việc ít hơn vì phụ thuộc vào thời gian hoãn phiên toà nh-ng đây là sự hoàn thiện các thủ tục để vụ án đ-ợc giải quyết đúng pháp luật và đạt hiệu quả cao nhất Đó chính là sự tác động trở lại của phiên toà sơ thẩm đối với thủ tục chuẩn bị xét xử
1.2.3 Bản chất của phiên toà HSST
Theo pháp luật TTHS n-ớc ta, tiếp nối ngay sau thủ tục chuẩn bị xét xử là phiên toà sơ thẩm, đây là phần trung tâm giải quyết thực chất VAHS Tại phiên toà HSST, những câu hỏi sau đây sẽ đ-ợc trả lời nh-: bị cáo có tội hay không có tội? nếu có tội thì tội gì? điều, khoản nào trong Bộ luật Hình sự đ-ợc áp dụng? hình phạt áp dụng đối với
bị cáo nh- thế nào? vấn đề bồi th-ờng thiệt hại có đặt ra hay không? vật chứng đ-ợc xử
lý ra sao? HĐXX sẽ đ-a ra sự trả lời cho những câu hỏi nêu trên bằng cách điều tra,
đánh giá trực tiếp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và những tài liệu, chứng cứ
Trang 38có hiệu lực pháp luật nh-ng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới đ-ợc phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết
đ-ợc khi ra bản án hoặc quyết định đó (điều 290)
Có tác giả cho rằng, phiên toà hình sự là khác nhau trong các mô hình tố tụng
khác nhau Trong mô hình tranh tụng, phiên toà tranh tụng trở thành cuộc đấu giữa các bên đối lập nhau theo các quy định chặt chẽ của các quy tắc tố tụng; trong mô hình xét hỏi, phiên toà không phải là sự cạnh tranh giữa các bên đối lập mà là tiếp tục quá trình
điều tra (thẩm vấn) Các bên phải cung cấp tất cả những chứng cứ thích hợp cho Toà
án và các Thẩm phán sẽ gọi và kiểm tra một cách tích cực các nhân chứng53 Theo quan
điểm của chúng tôi, bản chất của phiên toà HSST chính là hình thức thể hiện chức năng xét xử của Toà án, là hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, áp dụng những quy định của pháp luật hình sự và TTHS vào các sự kiện pháp lý cụ thể trong
VAHS, đũng như nhận định: “Phiên toà sơ thẩm là sự áp dụng quyền lực Nhà n-ớc vào tr-ờng hợp cụ thể”54, là nơi thể hiện hoạt động của cơ quan Toà án nhân danh Nhà n-ớc
áp dụng pháp luật vào tr-ờng hợp cụ thể Toà án có điều kiện lựa chọn một ph-ơng án
áp dụng pháp luật tối -u nhất trên cở sở các ph-ơng án mà các bên tranh tụng và những chủ thể liên quan đề xuất tại phiên toà Chức năng xét xử là hoạt động tố tụng của Toà
án có thẩm quyền nhân danh Nhà n-ớc áp dụng pháp luật vào tr-ờng hợp cụ thể nh-: xem xét và phán quyết ng-ời bị buộc tội có tội hay không có tội, nếu có tội thì trách nhiệm hình sự nh- thế nào cũng nh- các vấn đề khác có liên quan Chức năng xét xử bao gồm hai nội dung chính là sự kiện (questions of facts) và pháp lý (questions of
53 Thông tin Khoa học pháp lý (Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý-Bộ T- pháp), Chuyên đề: T- pháp hình sự so sánh,
Hà Nội, 1999, trang 122; Nguyễn Mạnh Kháng, Cải cách t- pháp và vấn đề tranh tụng, Tạp chí Nhà n-ớc và pháp luật
số 10/2003, trang 33
54 Võ Thị Thuỷ Tiên, Giai đoạn xét xử sơ thẩm trong TTHS Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học-Tr-ờng Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh năm 2001, trang 48
Trang 39án thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án, có nhiệm vụ kiểm tra kết quả điều tra, khắc phục những thiếu sót, vi phạm pháp luật ở các giai đoạn tr-ớc Toà án ra bản án, quyết định sơ thẩm trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ
đ-ợc thu thập và kiểm tra công khai tại phiên toà Hoạt động chứng minh tại phiên toà HSST đ-ợc các chủ thể bên buộc tội và bên bào chữa cùng các chủ thể khác có liên quan thực hiện một cách bình đẳng và dân chủ trong thủ tục xét hỏi cũng nh- tranh luận tại phiên toà d-ới sự điều khiển của HĐXX Hoạt động chứng minh của Toà án là HĐXX phải làm rõ các tình tiết của vụ án cả các tình tiết buộc tội và gỡ tội cũng nh- toàn bộ các vấn đề cần giải quyết trong vụ án để thực hiện chức năng xét xử của mình, cuối cùng là ra một bản án hay quyết định sơ thẩm công minh, đúng pháp luật Mặt khác, phiên toà HSST là nơi đảm bảo đầy đủ nhất sự tham gia cũng nh- quyền và nghĩa
vụ tố tụng của những ng-ời TGTT bằng thủ tục tố tụng dân chủ, trực tiếp, công khai Tại đây, khó có thể xảy ra các tr-ờng hợp nh-: bức cung, mớm cung, ép cung, dụ cung, dùng nhục hình th-ờng xảy ra ở giai đoạn điều tra Ngoài ra, phiên toà HSST còn là một trong những hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật cho quần chúng nhân dân nh- chúng tôi đã đề cập ở phần trên
1.2.4 Nội dung của phiên toà HSST
Về mặt ngôn ngữ, nội dung là mặt bên trong của sự vật, cái đ-ợc hình thức chứa
đựng hoặc biểu hiện Nội dung của phiên toà HSST là mặt bên trong, đ-ợc hình thức phiên toà HSST chứa đựng hoặc biểu hiện Nội dung của phiên toà HSST đ-ợc thể hiện qua một số điều kiện chung và các thủ tục tại phiên toà
1.2.4.1 Một số điều kiện chung của phiên toà HSST
Điều kiện chung của phiên toà HSST là những điều kiện đ-ợc pháp luật quy định mang tính phổ biến, bắt buộc cho mọi phiên toà HSST, cụ thể là:
- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm
Thẩm quyền xét xử là vấn đề phức tạp không những trong pháp luật thực định mà còn trong cả thực tiễn áp dụng pháp luật Đa số các n-ớc trên thế giới dù thuộc hệ thống pháp luật Châu âu lục địa hay hệ thống pháp luật án lệ th-ờng tổ chức Toà án theo ba cấp, đó là Toà án sơ thẩm, Toà án phúc thẩm, Toà phá án và t-ơng ứng là thẩm quyền xét xử của ba cấp Toà án Toà án sơ thẩm xét xử sơ thẩm tất cả các vụ án, Toà án phúc
Trang 4035
thẩm xét xử phúc thẩm các vụ án sơ thẩm bị kháng cáo hay kháng nghị, Toà phá án thực hành quyền xét xử giám đốc thẩm Do vậy, các n-ớc này không có khái niệm thẩm quyền theo vụ việc mà chỉ có thẩm quyền theo lãnh thổ
Pháp luật TTHS Việt Nam quy định thẩm quyền xét xử của Toà án tại các điều
170, 171, 172, 173 BLTTHS Đó là thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo ng-ời và thẩm quyền theo lãnh thổ Pháp lệnh Tổ chức Toà án quân sự và Thông t- liên tịch số 01/2005/TTLT ngày 18/4/2005 của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Bộ Quốc phòng, Bộ Công an h-ớng dẫn về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự, Nghị quyết số 523/2004/NQ-UBTVQH 11 ngày 29/4/2004 của Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội về việc giao thẩm quyền xét xử theo khoản 1 điều 170 cho Toà án cấp huyện, Toà án quân sự khu vực cũng quy định về thẩm quyền xét xử BLTTHS năm 2003 và các văn bản pháp luật khác đã nhìn nhận đúng đắn hơn vai trò của Toà án cấp sơ thẩm theo h-ớng tăng thẩm quyền cho Toà án quận, huyện
là, HĐXX có Hội thẩm nhân dân (hoặc Bồi thẩm) tham gia cùng với Thẩm phán chuyên nghiệp; khi xét xử ngang quyền với Thẩm phán, cùng Thẩm phán quyết định cả vấn đề
sự kiện (questions of facts) cũng nh- vấn đề pháp lý (questions of law) Hai là, việc xét
xử đ-ợc tiến hành bởi hai thành phần riêng biệt, đó là bồi thẩm đoàn và Thẩm phán chuyên nghiệp; bồi thẩm đoàn quyết định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì Thẩm phán quyết định hình phạt cho bị cáo; bồi thẩm đoàn và Thẩm phán không nghị
án cùng nhau Ba là, việc xét xử chỉ gồm một hoặc ba Thẩm phán chuyên nghiệp, tuỳ theo tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt dự kiến áp dụng cho bị cáo là không nặng và (hoặc) theo yêu cầu của bị cáo
Tr-ớc đây, Cộng hoà Pháp là n-ớc áp dụng thành phần HĐXX cấp sơ thẩm dạng thứ ba ở Toà án cảnh sát (Tribunal de police) có thẩm quyền xét xử các vi phạm vi cảnh
và Toà án tiểu hình (Tribunal correctionnel) có thẩm quyền xét xử các tội phạm ít nghiêm trọng Toà án cảnh sát (còn gọi là Toà án sơ thẩm hẹp quyền) tiến hành xét xử bởi một Thẩm phán duy nhất; Toà án tiểu hình (còn gọi là Toà án sơ thẩm rộng quyền) tiến hành xét xử với thành phần ba Thẩm phán, trừ một số tr-ờng hợp ngoại lệ Toà án xét xử bởi một Thẩm phán duy nhất Còn ở Toà đại hình xét xử các tội phạm nặng có