- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS Việt Nam trong việc thực hiện một số hoạt động KSVTTPL trong TTHS từ giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH VIỆT HÀ
KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG
VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRỊNH VIỆT HÀ
KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG
VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số : 838.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM MẠNH HÙNG
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Học viện Khoa học xã hội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trịnh Việt Hà
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 7
1.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng và hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng 71.2 Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hủy hoại rừng 15
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI 31
2.1 Khái quát chung về tỉnh Gia Lai, tình hình tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai 312.2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hủy hoại rừng 372.3 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hủy hoại rừng 392.4 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử vụ án hủy hoại rừng50
Chương 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM 60
3.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 603.2 Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hủy hoại rừng 64
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Diện tích rừng toàn tỉnh tính đến ngày 31.12.2016 34 Bảng 2.2 Thống kê diện tích rừng của tỉnh Gia Lai bị phá giai đoạn 2003 - 2018 37
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; cùng với
đó, hệ thống pháp luật của nước ta cũng đã có những bước tiến vượt bậc, đáng ghi nhận Hệ thống pháp luật hình sự ngày càng tiến bộ, nội dung của các quy định trong đó có quy định về tội phạm hủy hoại rừngcũng từng bước được hoàn thiện và phát triển, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Có thể thấy vấn đề bảo vệ và phát triển rừng đã và đang là vấn đề cấp bách được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong việc thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Từ xưa đến nay, không chỉ riêng nước ta mà cả thế giới luôn xem rừng là lá phổi tự nhiên vì rừng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, giữ cân bằng hệ sinh thái, môi trường, ổn định khí hậu, ngăn ngừa thiên tai và giúp ngăn chặn tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra hết sức khốc liệt Mặc dù có vai trò rất quan trọng nhưng tình trạng phá rừng, hủy hoại rừng vẫn tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp, gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng, làm mất cân bằng hệ sinh thái, sự đa dạng sinh học, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của loài người, cũng như ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trong đó có Việt Nam
Ở nước ta, diện tích rừng cả nước và ở khu vực Tây Nguyên đang bị suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng Tính đến cuối năm 2014, Tây Nguyên còn hơn 2.567.118 ha đất có rừng, giảm 180.000 ha so với năm 2010; trong đó, diện tích rừng giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng 110.000 ha, quy hoạch địa phương 37.800 ha, phá rừng và lấn chiếm đất rừng 122.900 ha (chiếm 45%)… Trong vòng 5 năm (từ năm 2010 - 2014), trữ lượng rừng Tây Nguyên cũng giảm hơn 57 triệu m³ (giảm từ 327 triệu m³ năm 2010 xuống 270 triệu m³ năm 2015); diện tích rừng giảm tới 6,1%, đưa độ che phủ của rừng từ 51,8 % xuống chỉ còn hơn 45%; tỉ lệ rừng gỗ loại giàu chỉ còn 10,4%, loại trung bình là 22,7%, còn lại gần 67% là loại nghèo kiệt; các loại gỗ quý có giá trị cao còn rất hiếm, chỉ có ở các vùng xa xôi hiểm trở,
Trang 8các loại thảo dược quý hiếm bị khai thác cạn kiệt, số lượng động vật rừng cũng giảm mạnh; chất lượng rừng nhất là trữ lượng gỗ đã giảm tới 17,4% Chỉ riêng tại địa bàn tỉnh Gia Lai, trong vòng 10 năm qua (từ 2010 - 2018), tổng diện tích rừng
đã giảm tới hơn 111.755 ha; cụ thể từ 2010 – 2013, diện tích rừng giảm 75.213 ha,
từ 2014 – 2018 giảm 36.542 ha Một trong những nguyên nhân trực tiếp làm cho diện tích rừng tại Gia Lai bị suy giảm nghiêm trọng như trên là do tình trạng chặt phá rừng, đốt rừng, hủy hoại rừng tại đây đã và đang diễn biến theo chiều hướng tinh vi hơn, phức tạp hơn; chỉ trong giai đoạn 2014 - 2018 trên địa bản tỉnh đã phát hiện 3.590.112 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng trong đó số vụ án đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo thống kê của VKSND tỉnh Gia Lai và TAND tỉnh Gia Lai là 142 vụ, diện tích rừng bị lấn chiếm trái phép theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai là khoảng 316 ha
Nguyên nhân của tình trạng này là do công tác quản lý bảo vệ rừng yếu kém, hiện tượng cán bộ “tiếp tay” cho các đối tượng phá rừng, vận chuyển gỗ lậu; công tác quản lý đối với các cơ sở chế biến gỗ, tụ điểm mua, bán gỗ kém hiệu quả; việc sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; cơ chế chính sách đặc thù cho phát triển lâm nghiệp còn nhiều bất cập, hạn chế Bên cạnh
đó, hiện nay quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hủy hoại rừng còn tồn tại nhiều bất cập; có lúc, có nơi vẫn còn hiện tượng vi phạm pháp luật của chính các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Đó là những vi phạm về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn tố tụng; thậm chí tồn tại những hiện tượng vi phạm pháp luật nghiêm trọng như cố ý không xử lý về hình sự, không thực hiện đầy
đủ các hoạt động điều tra nhằm thu thập những chứng cứ quan trọng, không đảm bảo các quyền bào chữa cơ bản của người bị buộc tội Đáng lo ngại hơn khi số lượng các vi phạm pháp luật trên bị phát hiện và xử lý quá muộn, quá ít, chưa tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm Để xảy ra tình trạng trên, VKS có một phần trách nhiệm không nhỏ vì VKS có quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp, và đây là một chức năng hiến định của VKS và được BLTTHS quy định cụ thể Thực sự cần phải đặt ra câu hỏi là tại sao dù có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như vậy nhưng
Trang 9công tác KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng của VKS vẫn chưa thật sự hiệu quả? Xuất phát từ những bất cập, hạn chế gì? Và cần phải có những giải pháp nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng để hoạt động này thực sự trở thành một trong những giải pháp “cầm máu” cho rừng tự nhiên? Theo chúng tôi, đây thực sự là những vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ thực trạng tội phạm hủy hoại rừng tại tỉnh Gia Lai vẫn còn diễn biến phức tạp, gây nhức nhối trong khi hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng còn hạn chế nên tác giả đã lựa chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình với mong muốn góp phần đấu tranh phòng ngừa, xử lý tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Qua nghiên cứu một số công trình có liên quan đến đề tài thì có thể thấy đề tài KSVTTPL trong TTHS là một đề tài khá quen thuộc trong khoa học luật tố tụng hình sự, nhất là trong giới khoa học kiểm sát Có thể khái quát một số công trình khoa học đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn như: Bài viết của GS.TSKH Lê Cảm (2011), “Viện kiểm sát Việt Nam”, đã đề cập một cách sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, thiết chế về Viện Công tố, Viện kiểm sát nhân dân các nước trên thế giới; vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta; phân tích
sự cần thiết phải tiếp tục duy trì các chức năng của Viện kiểm sát nhân dân như quy định của Hiến pháp hiện hành; sách do GS.TS Nguyễn Đăng Dung chủ biên (xuất
bản năm 2012), “Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”, đề cập đến sự
ra đời và phát triển VKS, cơ cấu tổ chức VKS qua các bản Hiến pháp, làm rõ sự cần thiết thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong từng thời
kỳ lịch sử; sách chuyên khảo do TS Lê Hữu Thể làm chủ biên (năm 2008), “Thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra”,
NXB Tư pháp, đã đề cập các quan điểm và lý luận chung về chức năng, nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, đối tượng, phạm vi quyền công tố
và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra; đề tài “Vai trò của
Trang 10Viện kiểm sát trong việc THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” năm 2002 của Viện Khoa học Kiểm sát –
VKSNDTC; “Những biện pháp chủ yếu về nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động
tƣ pháp và THQCT trong năm 2002” của Hoàng Công Huấn trên Tạp chí Kiểm sát
số 2/2002… Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu một hoặc một số nội dung của KSVTTPL trong TTHS như hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự hoặc KSVTTPL trong giai đoạn khởi tố - điều tra của TTHS
Hiện nay, đối với đề tài KSVTTPL trong vụ án hình sự với một tội danh cụ thể theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt ở bậc cao học Do vậy, có thể coi đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Gia Lai” là một công trình nghiên cứu chuyên sâu ở bậc cao học về đề tài KSVTTPL trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự với một tội danh cụ thể từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình sự trong bối cảnh kinh
tế, xã hội của tỉnh Gia Lai thời gian qua
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận
về KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật TTHS và các quy định của pháp luật liên quan đến tội hủy hoại rừng Bên cạnh đó, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS từ thực trạng, số liệu khởi tố, điều tra, truy tố đến xét
xử đối với tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai; luận văn tập trung đánh giá thực trạng, xác định các nguyên nhân, điều kiện tác động tới quá trình triển khai thực hiện; để từ đó, góp ý một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật TTHS Việt Nam; góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Gia Lai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về KSVTTPL trong TTHS và các vấn đề lý luận liên quan đến tội hủy hoại rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 11- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS Việt Nam trong việc thực hiện một số hoạt động KSVTTPL trong TTHS từ giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử
vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai để từ đó rút ra những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của hoạt động KSVTTPL trong các vụ án liên quan đến loại tội phạm này
- Đưa ra các giải pháp, đề xuất về hoàn thiện pháp luật, cũng như các giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao vai trò, hiệu quả của hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật TTHS
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
liên quan đến hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Gia Lai
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về
hoạt động KSVTTPL tố tụng hình sự trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét
xử vụ án hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2014 - 2018
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đấu tranh
và phòng ngừa tội phạm ở nước ta Đồng thời, để phù hợp với nội dung nghiên cứu
và giải quyết được các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thông qua các nội dung nghiên cứu, luận văn góp phần làm rõ về mặt lý luận
và thực tiễn về hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng Luận văn cũng sẽ
là tài liệu bổ ích không những cho cán bộ làm công tác nghiên cứu khoa học tham khảo, mà còn giúp cho KSV những kiến thức cơ bản, thao tác nghiệp vụ kiểm sát cụ thể khi THQCT, KSVTTPL trong tố tụng hình sự Những đề xuất trong luận văn sẽ
Trang 12góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm hủy hoại rừng trong thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
hình sự và các vấn đề lý luận liên quan đến tội hủy hoại rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ
án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Chương 3: Một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hủy hoại rừng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 13Chương 1
LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng và hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng
1.1.1 Các dấu hiệu pháp lý
1.1.1.1 Khách thể của tội hủy hoại rừng
Khách thể của tội hủy hoại rừng là chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển rừng được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi hủy hoại rừng xâm hại đến Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 (Luật BVMT 2014) quy định “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Các tội phạm môi trường được quy định tại BLHS năm 2015; trong đó có tội hủy hoại rừng đều dẫn chiếu tới việc điều chỉnh các hành vi nhằm đáp ứng yêu cầu của các quy định của các công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia như: Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp và các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự được chia nhỏ với khung hình phạt tương ứng
Đồng thời, cần phân biệt rừng là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng với rừng là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu Theo quy định tại Điều 4; Khoản 4, Khoản 5 Điều 3; Khoản 4 Điều 6 Luật Bảo vệ và phát triển rừng
2004 (Luật BV&PTR) và Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định trao quyền sử dụng rừng cho chủ rừng thông qua hình thức giao rừng; cho thuê rừng; công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá nhân trở thành chủ rừng và có quyền sỡ hữu đối với diện tích đã được giao với ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6; Khoản 2 Điều 11 Luật
Trang 14BV&PTR, trên phần diện tích rừng đã được Nhà nước công nhận quyền sở hữu, nguồn vốn đế chăm sóc, trồng trọt, bảo vệ và phát triển rừng không từ nguồn vốn ngân sách của Nhà nước mà do chính tập thể, tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân bỏ vốn đầu tư và phát triển Trong trường hợp này, nếu có hành vi hủy hoại rừng mà không phải do chủ rừng thực hiện thì sẽ tác động đến quyền sở hữu tài sản của chủ rừng, lúc này rừng trở thành đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm về sở hữu, thì hành vi phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS theo các điều luật tương ứng quy định tại chương XIV – Các tội xâm phạm sở hữu của BLHS, cụ thể là tội “Hủy hoại tài sản” Như vậy, đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng ở đây là rừng nói chung,
do Nhà nước quản lý, hoặc giao cho cơ quan, tổ chức quản lý như chính quyền địa phương, các lâm trường, cá nhân, hộ gia đình, tổ chức chăm sóc, bảo vệ, nguồn vốn đầu tư chăm sóc, trồng trọt và bảo vệ là từ nguồn ngân sách của Nhà nước hoặc do các nhân, tổ chức, hộ gia đình bỏ ra đầu tư Trong trường hợp này, nếu có hành vi hủy hoại rừng thì đã tác động xấu đến sự ổn định và tồn tại, phát triển bình thường của môi trường, đến sự quản lý của Nhà nước về rừng nên sẽ thuộc đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng
1.1.1.2 Mặt khách quan của tội hủy hoại rừng
Trong mặt khách quan của tội hủy hoại rừng có hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội hủy hoại rừng có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan gây nguy hiểm cho xã hội gồm: hành vi đốt rừng trái phép; hành vi phá rừng trái phép; hành vi khác hủy hoại rừng Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đốt, phá rừng trái pháp luật hoặc các hành vi khác hủy hoại rừng phải đáp ứng đầy đủ các cấu thành cơ bản của tội phạm này, các điều kiện cần và đủ là hành vi hủy hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng mà cụ thể việc gây hậu quả thế nào là nghiêm trọng, tiêu chí nào đánh giá BLHS năm 2015 không quy định chung là gây hậu quả nghiêm trọng mà quy định cụ thể hóa về hậu quả số
lượng diện tích rừng và giá trị lâm sản bị thiệt hại ngay trong điều luật [16, Khoản 1
Điều 243] Bên cạnh đó, hành vi phạm tội hủy hoại rừng chưa gây hậu quả nghiêm
trọng nhưng vẫn phải chịu TNHS trong trường hợp người phạm tội gây thiệt hại đối
Trang 15với diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản tuy dưới mức quy định nhưng đã bị XPVPHC về một trong các hành vi được quy định tại Điều 243 BLHS 2015 hoặc đã
bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cũng bị xử lý hình sự
về tội danh hủy hoại rừng Trường hợp được xem là đã bị XPVPHC được hướng dẫn tại mục 1, phần I Thông tư số 19/2007/TTLT: “Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS nếu trước đó đã bị XPVPHC về một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 Điều 189 BLHS nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị XPVPHC theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong các hành
vi quy định tại khoản 1 của Điều luật tương ứng đó” Khoản 2 Điều 7 Nghị định 157/2013/NĐ-CP cũng quy định các hành vi vi phạm được xem xét để truy cứu TNHS dựa trên mức tối đa XPVPHC khi người có hành vi vi phạm các điều luật được viện dẫn
Giữa hành vi vi phạm với hậu quả của hành vi phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, hành vi phạm tội là tiền đề của hậu quả trong trường hợp hậu quả là cấu thành cơ bản của hành vi phạm tội Do đó, để buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội hủy hoại rừng phải chịu TNHS thì cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh được giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra có mối quan hệ nhân quả, nội tại và tất yếu với nhau Ngoài ra, trong trường hợp hủy hoại rừng không những chỉ gây thiệt hại về rừng mà còn gây ra các thiệt hại khác như thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe của người khác, tài sản của Nhà nước, tập thể, của cá nhân đến mức phải truy cứu TNHS thì ngoài việc bị xử lý về tội hủy hoại rừng còn bị xử
lý về tội tương ứng quy định trong BLHS
1.1.1.3 Mặt chủ quan của tội hủy hoại rừng
Về lý trí: người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi hủy hoại rừng do mình thực hiện Người phạm tội nhận thức được rằng khi thực hiện hành vi đó thì rừng sẽ bị hủy hoại, do đó, sẽ xâm hại đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường mà cụ thể là bảo vệ rừng; từ đó sẽ gây thiệt hại về tài sản, tiền của của Nhà nước, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái dẫn tới
Trang 16ảnh hưởng đến cuộc sống của con người
Về ý chí: Người phạm tội khi thực hiện hành vi hủy hoại rừng có thể mong muốn hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Về động cơ, mục đích phạm tội: Trong mặt chủ quan của tội hủy hoại rừng, động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội hủy hoại rừng
1.1.1.4 Chủ thể của tội hủy hoại rừng
Chủ thể của tội hủy hoại rừng là chủ thể thường; điều đó có nghĩa là bất kỳ
ai, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS (đủ 16 tuổi trở lên) và pháp nhân thương mại đều có thể là chủ thể của tội hủy hoại rừng
Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ bốn điều
kiện sau đây [16, Khoản 1 Điều 75]: (i) hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh
pháp nhân thương mại; (ii) hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (iii) hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; (iv) chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 27 của BLHS 2015
1.1.2 Hình phạt đối với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng
1.1.2.1 Hình phạt đối với cá nhân phạm tội
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, Điều 243 BLHS 2015 quy định tội hủy hoại rừng có hai khung hình phạt:
Thứ nhất, về khung hình phạt cơ bản: Khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 quy
định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; Khoản 2 Điều 243 BLHS 2015 quy định phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; Khoản 3 Điều BLHS 2015 quy định phạt tù
từ 07 năm đến 15 năm Theo đó, các dấu hiệu định khung hình phạt của tội hủy hoại rừng như sau:
- Một là, về định khung cơ bản:
+ Trưởng hợp thứ nhất là hành vi hủy hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng: Khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hành vi hủy hoại
Trang 17cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ trên 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2); rừng sản xuất có diện tích từ trên 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2); rừng phòng hộ có diện tích từ trên 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2); rừng đặc dụng có diện tích từ trên 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2) thì bị xử lý TNHS về tội hủy hoại rừng Như vậy, Điều 243
đã cụ thể hóa dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại BLHS năm 1999 bằng các định lượng cụ thể như gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích hoặc gây thiệt hại về thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá từ 40.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng
+ Trưởng hợp thứ hai là hành vi hủy hoại rừng tuy chưa gây hậu quả nghiêm trọng nhưng đã bị XPVPHC về một trong các hành vi quy định tại Điều 243 BLHS hoặc đã bị kết án về tội hủy hoại rừng, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn phải chịu TNHS được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017: “Diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ và e khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính
về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” Trước đây, tại Khoản 2 Điều 7 Nghị định 157/2013/NĐ-CP đã quy định các hành vi vi phạm được xem xét để truy cứu TNHS
là dựa trên mức tối đa XPVPHC Trong mục 1, phần I Thông tư số 19/2007/TTLT
có giải thích về trường hợp này như sau: “Bị coi là đã bị XPVPHC về hành vi này
mà còn vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS nếu trước đó đã bị XPVPHC
về một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 Điều 189 BLHS nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị XPVPHC theo quy định của pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 của
Trang 18Điều luật tương ứng đó” Như vậy, theo BLHS 2015 thì hành vi phạm tội hủy hoại rừng với diện tích rừng hoặc giá trị lâm sản bị hủy hoại tuy dưới mức định lượng của pháp luật nhưng chỉ cần chủ thể đó đã bị XPVPHC hoặc chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm thì vẫn phải chịu TNHS
- Hai là, về định khung tăng nặng:
+ Khoản 2 Điều 243 BLHS 2015 đã quy định các tình tiết định khung tăng nặng như sau: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa
cơ quan, tổ chức; Tái phạm nguy hiểm; Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ 50.000 mét vuông (m2) đến dưới 100.000 mét vuông (m2); Rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2); Rừng phòng hộ có diện tích từ 7.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2); Rừng đặc dụng có diện tích từ 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 5.000 mét vuông (m2); Gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích; Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá từ 60.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá
từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng Có thể thấy, BLHS 2015 đã xây dựng các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội hủy hoại rừng trên cơ sở định lượng hóa các tình tiết “Huỷ hoại diện tích rừng rất lớn”, “Chặt phá các loại thực vật quý hiếm thuộc danh mục quy định của Chính phủ”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng” quy định tại Khoản 2 Điều 189 BLHS 1999 theo hướng cụ thể hơn,
rõ ràng hơn, phù hợp hơn và đặc biệt là không còn phụ thuộc vào văn bản dưới luật (Thông tư 19) với các căn cứ định tội định khung “tái phạm nguy hiểm” lần đầu tiên quy định trong tội hủy hoại rừng và diện tích các loại rừng cụ thể bị thiệt hại (cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi, tái sinh; rừng sản xuất; rừng phòng hộ; rừng đặc dụng); giá trị lâm sản và thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm
Trang 19+ Khoản 3 Điều 243 BLHS 2015 quy định các tình tiết định khung tăng nặng như sau: Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích 100.000 mét vuông (m2) trở lên; Rừng sản xuất có diện tích 50.000 mét vuông (m2) trở lên; Rừng phòng hộ có diện tích 10.000 mét vuông (m2) trở lên; Rừng đặc dụng có diện tích 5.000 mét vuông (m2) trở lên; Gây thiệt hại về lâm sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích; Thực vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA trị giá 100.000.000 đồng trở lên; thực vật thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA trị giá 200.000.000 đồng trở lên Tương tự như Khoản 2, Khoản 3 Điều 243 BLHS 2015 đã sửa đổi, bổ sung mới hoàn toàn các tình tiết định khung tăng nặng, theo đó xây dựng mới các điểm a, b, c,
d, đ, e, trên cơ sở định lượng các tình tiết tiết định khung tăng nặng như “Huỷ hoại diện tích rừng đặc biệt lớn”, “Hủy hoại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại Khoản 3 Điều 189 BLHS 1999 Khoản 3 Điều 243 thể hiện kỹ thuật lập pháp cao của BLHS năm 2015 khi căn cứ vào diện tích cụ thể của rừng bị thiệt hại, giá trị cụ thể của lâm sản bị thiệt hại và thực vật thuộc danh mục quy định để làm căn cứ định tội theo khung tăng nặng
Thứ hai, về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 243 BLHS 2015 quy định về
hình phạt bổ sung đối với người phạm tội hủy hoại rừng như sau: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” So với BLHS 1999 thì BLHS 2015 đã tăng mức phạt tiền lên từ “20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng” so với mức phạt tiền từ “5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng” được quy định tại Khoản 4 Điều 189 BLHS 1999 Đây là mức phạt tiền phù hợp, đảm bảo tính răn đe khi tác động vào mặt vật chất của người phạm tội
1.1.2.2 Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Khoản 5 Điều 243 BLHS 2015 quy định về hình phạt đối với pháp nhân
Trang 20thương mại phạm tội như sau: “Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1
Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, c, d, đ, e, g, h và i khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 2.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 5.000.000.000 đồng đến 7.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến
03 năm; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một
số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm”
Sở dĩ BLHS cần quy định pháp nhân thương mại phải là một trong những chủ thể chịu TNHS đối với tội hủy hoại rừng là vì các loại tội phạm về môi trường nói chung và tội phạm hủy hoại rừng nói riêng có đặc điểm là khả năng bị phát hiện,
xử lý là không cao so với các tội phạm khác do việc thu thập chứng cứ và chứng minh rất khó, biểu hiện về hậu quả lại thường không tức thời, rõ ràng; bên cạnh đó, hành vi phạm tội thường lặp đi lặp lại nhiều lần, trong thời gian dài, đặc biệt là ở các tội như tội gây ô nhiễm môi trường, tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản thêm vào
đó, lợi nhuận từ hành vi gây ô nhiễm môi trường là khá lớn, có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất; qua đó, thu về nguồn lợi nhuận cao Chính vì những nguyên nhân trên nên nếu hình phạt không đủ mạnh để răn đe thì tổ chức, cá nhân
có hành vi vi phạm sẵn sàng tái phạm nhiều lần Do đó, BLHS 2015 đã thay đổi cách xác định hình phạt; theo đó, xác định hình phạt tiền là hình phạt chính được áp dụng chủ yếu đối với các tội phạm môi trường nói chung Bên cạnh đó, mức phạt tiền theo quy định của BLHS 2015 cao hơn rất nhiều so với quy định của BLHS
1999 Nếu như cá nhân phạm tội thì hình phạt chính có thể bị áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hoặc phạt tù; ngoài ra còn có thể bị áp dụng hình phạt
bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nhưng đối với trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội, hình phạt chính chỉ áp dụng hình thức phạt tiền với mức thấp nhất là 50 triệu đồng và cao nhất
Trang 21lên đến 20 tỷ đồng; ngoài ra pháp nhân thương mại còn bị bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh trong một số lĩnh vực, cấm hoạt động trong một thời hạn, cấm huy động vốn nếu phạm các tội về môi trường Do có sự thay đổi trong cách xác định chung về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội nên hiện nay nếu pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng thì hình phạt chính được áp dụng là hình thức phạt tiền với mức phạt thấp nhất là 500 triệu đồng còn cao nhất lên đến 07 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm Bên cạnh đó, nếu pháp nhân thương mại rơi vào trường hợp được quy định tại Điều
“VKSND là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam VKSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”; như vậy, VKSND có chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp BLTTHS năm 2015 tiếp tục cụ thể hóa chức năng này của VKSND tại Điều 20 và nâng các chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND lên thành trách nhiệm của VKSND trong hoạt động TTHS Theo pháp luật Việt Nam thì TTHS là toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành án Nói cách khác, TTHS là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ
Trang 22án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng quy định của pháp luật Theo đó, các hoạt động trong TTHS bao gồm:
+ Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự, gồm có:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án – là những các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự
+ Hoạt động của những người tiến hành tố tụng: theo đó, người tiến hành tố tụng là những công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự
+ Hoạt động của những người tham gia tố tụng, theo đó, hoạt động của những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của những người tham gia tố tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)
Tất cả các hoạt động nêu trên đều phát sinh trong lĩnh vực TTHS, có thể coi
là các hoạt động TTHS; do đó, KSVTTPL trong TTHS là kiểm sát tất cả các hoạt động nêu trên, của các chủ thể nêu trên
Về khái niệm “hoạt động tư pháp”, chúng ta có thể tìm hiểu thông qua quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND được quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức VKSND năm 2014: “Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động
Trang 23tư pháp khác theo quy định của pháp luật” Qua quy định trên, có thể thấy hoạt động
tư pháp bao gồm các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động
tư pháp khác theo quy định của pháp luật Có thể thấy, hoạt động tư pháp được thực hiện không chỉ là hoạt động xét xử của TA mà còn bao gồm hoạt động của các cơ quan khác, tổ chức khác được Nhà nước thành lập, trực tiếp liên quan hoặc phục vụ cho việc xét xử của TA và TA sẽ sử dụng công khai các kết quả của các cơ quan đó thông qua các hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định tư pháp, áp dụng các thủ tục tư pháp theo luật định để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng
Do đó, hoạt động tư pháp có thể được hiểu là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện, bổ trợ cho công tác xét xử của TA, được thực hiện trong quá trình tố tụng và được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, trực tiếp liên quan tới quá trình giải quyết các vụ án Như vậy, hoạt động tư pháp trong TTHS chính là các hoạt động do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình TTHS, được điều chỉnh bằng pháp luật TTHS, trực tiếp liên quan tới quá trình giải quyết các vụ án hình sự
Về khái niệm vụ án hình sự, pháp luật hiện hành không quy định như thế nào
là vụ án hình sự nhưng chúng ta có thể căn cứ theo quy định tại Điều 18 BLTTHS
2015 về trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự để xác định nội hàm của khái niệm vụ án hình sự; cụ thể: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội Không được khởi tố vụ
án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định” Từ quy định trên, có thể nhận thấy vụ án hình sự phát sinh khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và
Trang 24CQĐT, VKS, TA khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp được quy định trong BLTTHS để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội Với cách hiểu trên thì có
thể khái quát về khái niệm của vụ án hủy hoại rừng như sau: “Vụ án hủy hoại rừng
là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu của tội hủy hoại rừng đã được quy định trong BLHS, đã được CQĐT ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét
xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định tại BLTTHS Người phạm tội bị khởi
tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các quy định của BLTTHS và
có thể bị phạt tù, bị cấm hành nghề nếu qua xét xử tòa án đã đủ chứng cứ chứng minh là phạm tội và đã ra quyết định bằng một bản án hình sự”
Như vậy, qua việc phân tích về các hoạt động trong TTHS, hoạt động tư pháp trong TTHS; các quy định của pháp luật về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND và khái niệm về vụ án hủy hoại rừng thì có thể rút ra khái niệm
về KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng như sau: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong vụ án hủy hoại rừng là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân (bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác có liên quan) trong hoạt động TTHS để giải quyết vụ án hủy hoại rừng, được thực hiện từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình giải quyết
vụ án hủy hoại rừng
Hoạt động KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng theo khái niệm trên có một
số đặc điểm cơ bản sau:
- Về chủ thể KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng: Do pháp luật thực định chỉ quy định chỉ có một loại chủ thể thực hiện KSVTTPL trong TTHS là VKS theo quy định tại Điều 20 BLTTHS 2015: “…VKS thực hành quyền công tố và KSVTTPL trong TTHS, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
Trang 25phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội” nên chủ thể KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng chính là Viện kiểm sát
- Về đối tượng, phạm vi và mục đích KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng: + Đối tượng kiểm sát: Đối tượng KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng là các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân (bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan) trong hoạt động TTHS để giải quyết vụ án hủy hoại rừng
+ Phạm vi kiểm sát: Phạm vi KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng bắt đầu
từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hủy hoại rừng
Để KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng với phạm vi kiểm sát như trên thì phương thức KSVTTPL trong vụ án hủy hoại rừng được VKS thể hiện bằng việc kiểm tra, giám sát một cách liên tục – cụ thể – trực tiếp đối với các hoạt động tố tụng Theo
đó, tính liên tục thể hiện ở chỗ: trong toàn bộ quá trình giải quyết một vụ án hình
sự, VKS có quyền và nghĩa vụ có mặt tại tất cả các giai đoạn; tính cụ thể của phương thức kiểm sát chính là việc VKS có quyền giám sát chi tiết, tỉ mỉ các hoạt động cụ thể: khám nghiệm hiện trường, hỏi cung, lấy lời khai, thực nghiệm điều tra… VKS kiểm sát một cách trực tiếp đối với các hoạt động tố tụng thể hiện ở việc
có mặt, theo sát các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thực hiện các hoạt động giải quyết vụ án hủy hoại rừng
+ Mục đích kiểm sát: Mục đích KSVTTTPL trong vụ án hủy hoại rừng là để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân (bao gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan) trong hoạt động TTHS để giải quyết vụ án hủy hoại rừng
Xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng kể từ khi khởi tố, điều tra đến truy tố, xét xử vụ án hủy hoại rừng, VKS có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để tác động trực tiếp tới các đối tượng bị kiểm sát nhằm đảm bảo cho hoạt động giải quyết vụ án hủy hoại rừng được theo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải
Trang 26quyết vụ án hủy hoại rừng Để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động TTHS để giải quyết vụ án hủy hoại rừng, pháp luật đã trao cho VKS các nhóm quyền năng pháp lý sau: (i) Nhóm các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật; đó là các quyền kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, hoạt động xét xử, hoạt động tạm giữ, tạm giam, quản lý vào giáo dục người chấp hành án phạt tù, hoạt động thi hành án hình sự (kiểm tra, giám sát việc tiến hành những hoạt động tố tụng cụ thể, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cung cấp thông tin về vi phạm của ĐTV, thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, yêu cầu thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam, quản lý vào giáo dục người chấp hành án phạt tù…) và (ii) Nhóm các quyền nhằm khắc phục, xử lý vi phạm gồm: quyền yêu cầu khắc phục các vi phạm; quyền yêu cầu xử lý nghiêm minh ĐTV và những người có thẩm quyền khác đã vi phạm pháp luật; quyền kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện vi phạm pháp luật; quyền yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo…
1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các vụ án hình sự nói chung, đối với các vụ án hủy hoại rừng nói riêng
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong KSVTTPL đối với các vụ án hình sự nói chung và vụ án hủy hoại rừng nói riêng trong hoạt động TTHS bắt đầu từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đến giai đoạn điều tra vụ án hình sự và cuối cùng là giai đoạn xét xử vụ án hình sự; cụ thể như sau:
Thứ nhất, về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong kiểm sát điều tra vụ án
hình sự [17, Điều 166] Theo Điều 166 BLTTHS 2015, khi kiểm sát điều tra vụ án
hủy hoại rừng VKSND có nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Một là, KSVTTPL trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án hủy hoại rừng của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Hai là, kiểm sát hoạt động TTHS của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến
Trang 27nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật
Ba là, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra Theo quy định của pháp luật thì VKS là cơ quan duy nhất có trách nhiệm giải quyết việc tranh chấp thẩm quyền về điều tra vụ án hình sự
Bốn là, yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để KSVTTPL trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết
Năm là, khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động: tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật; kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho VKS; cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra
Sáu là, kiến nghị, yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra
Bảy là, thực hiện việc kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật
Qua hoạt động KSĐT, VKS sơ hở, thiếu sót; những sơ hở đó có thể là nguyên nhân của tội phạm để các cơ quan, tổ chức có những biện pháp chủ động ngăn ngừa vi phạm và tội phạm
Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong KSVTTPL đối với một
số hoạt động trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Theo quy định của pháp luật, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc TTPL trong xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc xét xử được tiến hành chính xác, khách quan, liên tục, bảo đảm việc
ra bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải trên cơ sở những chứng cứ đã được điều tra, đánh giá và tranh luận công khai tại phiên toà Trên thực tế, VKS thường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trên qua việc kiểm sát các nội dung sau: kiểm sát hoạt động chuẩn bị xét xử, thành phần và sự có mặt của những người tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên toà; kiểm sát việc thực hiện giới hạn của việc xét xử của
Trang 28Hội đồng xét xử; KSVTTPL của Hội đồng xét xử trong quá trình điều khiển phiên toà; KSVTTPL sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm; kiểm sát xét xử phúc thẩm
1.2.3 Các hoạt động của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong vụ án hủy hoại rừng
1.2.3.1 Giai đoạn khởi tố vụ án
“Khởi tố” vụ án trong tố tụng hình sự, hiểu theo nghĩa Hán Việt, là sự khởi đầu của tố tụng, của quá trình giải quyết vụ án Nhiệm vụ của hoạt động KSVTTPL trong việc khởi tố vụ án hình sự là góp phần bảo đảm cho mọi tội phạm phát hiện đều phải được khởi tố thông qua kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố Căn cứ theo Điều 143 BLTTHS 2015, thì căn cứ để khởi tố vụ án hủy hoại rừng khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm hủy hoại rừng phải dựa trên những cơ sở sau đây: tố giác của công dân; tin báo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm (CQĐT, VKS, bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm); người phạm tội tự thú
Khi nhận được tin báo, tố giác về tội phạm, thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và
ra một trong các quyết định: Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố [17, Khoản 1 Điều 147] Quy định này cũng được hướng
dẫn tại Điều 9 và Điều 11 Thông tư liên tịch BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 29/12/2017 do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành (sau đây gọi tắt là Thông tư 01) VKSND có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của các cơ quan điều tra đối với việc tiếp nhận
Trang 2901/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-và kiến nghị khởi tố [17, Điều 152] Do đó,
trong các vụ án hủy hoại rừng thì căn cứ để xác định có dấu hiệu tội phạm hủy hoại rừng thường dựa trên những cơ sở có được từ sự phối hợp liên ngành Công an – Viện kiểm sát – Chi cục Kiểm lâm Sau khi có vụ việc hủy hoại rừng xảy ra, Hạt kiểm lâm các huyện tiến hành các thủ tục điều tra xác minh sơ bộ ban đầu theo chức năng, nhiệm vụ được giao, nếu xác định có dấu hiệu tội phạm thì thông báo bằng văn bản và phối hợp với CQĐT, VKS để kịp thời tiến hành khám nghiệm hiện trường Trong quá trình điều tra xác minh sơ bộ, Hạt kiểm lâm các huyện chủ động phối hợp với CQĐT trong việc triệu tập, xử lý đối tượng và lập hồ sơ và bàn giao cho CQĐT khởi tố, điều tra theo quy định
Khoản 1 Điều 153 BLTTHS 2015 quy định: “khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì CQĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Hội đồng xét
xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này” Đối với các
cơ quan là Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thì việc tiến hành ra quyết định khởi tố vụ án hình sự phải thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 164 của BLTTHS 2015 Ngoài các CQĐT quy định tại Điều 163 của BLTTHS 2015, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố
vụ án hình sự của CQĐT, hoặc trong trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trường hợp VKS trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện
Trang 30có việc bỏ lọt tội phạm Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, VKS phải gửi CQĐT quyết định khởi tố vụ án hình sự kèm theo các tài liệu
có liên quan để CQĐT tiến hành hoạt động điều tra Quyết định khởi tố vụ án hình
sự cùng các tài liệu có liên quan của các cơ quan điều tra khác như: bộ đội biên phòng, hải quan, kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được gửi tới VKS để kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan này trong thời hạn 24 giờ Quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử phải được gửi tới VKS để xem xét, quyết định việc điều tra; yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử được gửi tới VKS để xem xét quyết định việc khởi tố
vụ án hình sự trong thời hạn 24 giờ Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của BLHS áp dụng, họ tên, chức vụ của người
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 143 BLTTHS 2015 thì chỉ khởi tố vụ án hình sự khi
đã xác định có dấu hiệu tội phạm Mục đích của việc khởi tố vụ án hình sự là việc xác nhận về mặt pháp lý một vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật Do đó, khi xác định không có dấu hiệu tội phạm xảy ra thì không được khởi tố vụ án hình sự Những căn cứ không được khởi tố vụ
án hình sự được quy định tại Điều 157 của BTTHS 2015; khi đã kiểm tra xác minh nguồn tin làm rõ có các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự nêu trên thì thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên qua quá trình xác minh, xem xét vụ việc nếu thấy không phải là tội phạm nhưng cần xem xét xử lý về mặt hành chính, về mặt dân sự thì chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan để giải quyết theo thẩm quyền Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, người có thẩm quyền ra quyết định
Trang 31không khởi tố vụ án hình sự phải gửi quyết định và các tài liệu kèm theo cho VKS cùng cấp hoặc VKS có thẩm quyền để VKS xem xét quyết định không khởi tố vụ án hình sự có đúng luật hay không
1.2.3.2 Giai đoạn điều tra
Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.” [17, Điều 15] Để xác
định sự thật của vụ án thì phải trải qua giai đoạn điều tra vụ án hình sự; có thể nói, trong các bước của quá trình tố tụng thì đây là giai đoạn rất quan trọng, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra phải tiến hành áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự
do BLTTHS quy định để chứng minh hành vi phạm tội đã xảy ra do ai thực hiện, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội đó Từ đó làm rõ động cơ mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội nhằm đảm bảo các chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 166 BLTTHS 2015, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 9 Luật Tổ chức VKSND 2014, Điều 15 Luật tổ chức VKSND 2014; Khoản 5 Điều 59 Luật tổ chức VKSND năm 2014 Có Như vậy, toàn bộ hoạt động điều tra của CQĐT đều nằm dưới sự kiểm sát chặt chẽ của VKS Trong phạm vi Luận văn này, chúng tôi sẽ phân tích một số hoạt động kiểm sát thể hiện chức năng KSVTTPL trong hoạt động điều tra của VKS để giúp chúng ta có một cái nhìn chi tiết, cụ thể hơn về chức năng kiểm sát điều tra vụ án hình sự của VKS Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, kiểm sát khám nghiệm hiện trường Khám nghiệm hiện trường là
một hoạt động điều tra quan trọng để phát hiện và thu thập các dấu vết của tội phạm, làm sáng tỏ diễn biến của hành vi phạm tội Do đặc thù của đối tượng khám nghiệm, hoạt động khám nghiệm phải được tiến hành nhanh chóng, chính xác để tìm kiếm chứng cứ trước khi hiện trường bị xáo trộn hoặc hư hỏng dấu vết và khi
Trang 32khám nghiệm hiện trường phải có mặt KSV Khoản 2 Điều 201 và Khoản 1 Điều
202 BLTTHS 2015 quy định: “trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, ĐTV phải thông báo cho VKS cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử KSV kiểm sát khám nghiệm hiện trường KSV phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường” Đối với các vụ án hủy hoại rừng, vai trò của VKS trong kiểm sát khám nghiệm hiện trường là rất quan trọng, bảo đảm cho hoạt động khám nghiệm được tiến hành khách quan, toàn diện và đúng pháp luật; từ đó, giúp đẩy nhanh tiến độ điều tra vụ án
- Thứ hai, kiểm sát các hoạt động hỏi cung, lấy lời khai của những người
tham gia tố tụng Theo quy định tại Điều 87 BLTTHS 2015, lời khai, lời trình bày là một trong bảy loại nguồn chứng cứ Thực tế hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hủy hoại rừng hiện nay cho thấy, lời khai nhận tội của bị can được coi là chứng cứ
có giá trị chứng minh đặc biệt Do đó, đấu tranh để bị can nhận tội là một trong những trọng tâm của hoạt động điều tra và hỏi cung bị can là hoạt động dễ xuất hiện
vi phạm tố tụng của CQĐT Vì thế, đây cũng là hoạt động mà VKS phải quan tâm kiểm sát
- Thứ ba, kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn
Biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự do cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi
tố khi có các căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án hoặc tiếp tục phạm tội
- Thứ tư, kiểm sát việc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra Đình chỉ điều tra là
biện pháp tố tụng do CQĐT áp dụng ở giai đoạn điều tra vụ án khi có một trong những căn cứ do pháp luật TTHS quy định VKS kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, bảo đảm các trường hợp tạm đình chỉ điều tra thực hiện theo đúng quy định tại Điều 229 BLTTHS 2015 Nếu thấy quyết định tạm đình chỉ điều tra không
có căn cứ thì báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT và yêu cầu
Trang 33CQĐT phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 235 BLTTHS 2015 Khi phát hiện
bị can trốn hoặc không xác định được bị can ở đâu thì KSV báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền yêu cầu CQĐT ra quyết định truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ điều tra theo quy định tại Điều 231 BLTTHS 2015 Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra phải phân công KSV thường xuyên theo dõi, quản lý các vụ án đã tạm đình chỉ Khi thấy lý do tạm đình chỉ không còn thì KSV được phân công thụ lý giải quyết vụ
án phải báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc KSV được Viện trưởng uỷ quyền ra văn bản yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra vụ án để tiến hành điều tra
1.2.3.3 Giai đoạn xét xử
Theo quy định của pháp luật, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn KSVTTPL trong xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc xét xử được tiến hành chính xác, khách quan, liên tục, bảo đảm việc ra bản án, quyết định của Hội đồng xét xử phải trên cơ
sở những chứng cứ đã được điều tra, đánh giá và tranh luận công khai tại phiên toà VKS thường kiểm sát các nội dung sau:
- Thứ nhất, kiểm sát hoạt động chuẩn bị xét xử, thành phần và sự có mặt của
những người tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên tòa Theo quy chế của ngành kiểm sát, KSV phải kiểm sát thời hạn chuẩn bị xét xử, thẩm quyền xét xử, việc giao các quyết định, việc chuyển vụ án KSV thực hiện việc kiểm sát thành phần Hội đồng xét xử nhằm đảm bảo các yêu cầu của Điều 254 BLTHS 2015, đặc biệt là trong các vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình, bị cáo là người chưa thành niên Nếu có các căn cứ cho thấy thành phần Hội đồng xét xử không đáp ứng được các quy định của pháp luật về số lượng, thành phần… thì đề nghị hoãn phiên toà
- Thứ hai, kiểm sát việc thực hiện giới hạn xét xử của Hội đồng xét xử TA
không được xét xử người mà VKS không truy tố; TA không được xét xử hành vi
mà VKS không truy tố; TA chỉ được xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh
mà VKS đã truy tố khi có đủ căn cứ và tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định Đối với trường hợp TA trả hồ sơ để VKS truy tố lại
Trang 34khi có căn cứ cho rằng bị can hoặc bị cáo phạm tội khác nặng hơn tội danh mà VKS
đã truy tố theo quy định tại Khoản 3 Điều 298 của BLTTHS 2015 thì thực hiện theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 về Quy định việc phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung do Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng ban hành
- Thứ ba, KSVTTPL của Hội đồng xét xử trong quá trình điều khiển phiên
tòa KSV phải kiểm sát việc điều khiển phiên toà để không xảy ra những vi phạm như không đảm bảo đúng trình tự xét hỏi, công bố lời khai tại CQĐT không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 308 BLTTHS 2015, vi phạm về cách khiển phần tranh luận
- Thứ tư, KSVTTPL sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm Hoạt động
KSVTTPL sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm đảm bảo cho nội dung xét hỏi, luận tội, bào chữa, bị cáo nói lời sau cùng, nhận định của bản án, việc áp dụng điều luật tại các văn bản trên phản ánh đầy đủ, chính xác, khách quan, trung thực với diễn biến tại phiên toà
- Thứ năm, kiểm sát xét xử phúc thẩm VKS thực hiện hoạt động kiểm sát xét
xử trong đó có kiểm sát xét xử phúc thẩm, bao gồm: kiểm sát phạm vi, thời hạn xét
xử phúc thẩm, kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, kiểm sát các căn cứ huỷ án để điều tra lại, để xét xử lại, kiểm sát việc sửa án, giữ nguyên án sơ thẩm
1.2.4 Mối quan hệ giữa hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật với hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong vụ án hủy hoại rừng
Theo quy định của BLTTHS 2015, VKS có chức năng THQCT và kiểm sát việc TTPL trong TTHS Do đó, căn cứ vào các quy định của pháp luật thực định, chúng ta sẽ đi vào phân tích về mối quan hệ giữa hai chức năng trên trong quá trình giải quyết vụ án hủy hoại rừng; từ đó, khái quát về tính chất, đặc điểm của mối quan
hệ này theo mô hình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 35Trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hủy hoại rừng, mối quan hệ giữa hai chức năng của VKS được thể hiện cụ thể ở những nội dung sau:
- Khi vụ án được khởi tố, VKS bắt đầu tiến hành KSVTTPL gồm: kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT… Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, khi chưa khởi tố vụ án hủy hoại rừng cũng đã xuất hiện hoạt động kiểm sát; ví dụ hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường rừng bị hủy hoại, chặt phá Tiếp theo, VKS sẽ kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án; VKS có thể tán thành quyết định của CQĐT hay ra quyết định huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan này để trực tiếp khởi tố vụ án
- Sau khi có quyết định khởi tố vụ án hủy hoại rừng làm tiền đề để một loạt các hoạt động điều tra của CQĐT được chính thức thực hiện Để thực hiện các hoạt động điều tra, CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp cuỡng chế tố tụng như các biện pháp ngăn chặn, khám xét, thu giữ, kê biên… VKS sẽ kiểm sát các hoạt động điều tra và cả các hoạt động thực hiện những biện pháp cưỡng chế tố tụng nêu trên Đồng thời, VKS cũng KSVTTPL của những người tham gia tố tụng trong vụ án đó… Nhờ có các hoạt động kiểm sát này, việc tiến hành một loạt các hoạt động thuộc nhóm quyền THQCT như đề ra yêu cầu điều tra, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT, yêu cầu CQĐT truy nã bị can… sẽ đạt được những hiệu quả cần thiết Ngược lại, các hoạt động THQCT cũng sẽ tác động trở lại, mang tính chất hỗ trợ các hoạt động kiểm sát, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm sát Kiểm sát tốt các hoạt động TTPL trong giai đoạn điều tra cũng là cơ sở cho hoạt động truy
tố trong giai đoạn truy tố
- Trong giai đoạn xét xử các vụ án hủy hoại rừng, VKS kiểm sát việc TTPL trong việc xét xử, THQCT với việc KSV đọc cáo trạng, xét hỏi, trình bày lời luận tội, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia tố tụng tại phiên toà Để bảo vệ quyết định truy tố, bảo vệ nội dung buộc tội, VKS cần dựa trên các kết quả của hoạt động điều tra của vụ án được tiến hành một
Trang 36cách có căn cứ và hợp pháp từ các giai đoạn tố tụng trước đó Nếu VKS thực hiện tốt hoạt động KSVTTPL thì sẽ là tiền đề cho việc thực hiện tốt hoạt động THQCT tại phiên toà
Như vậy, chức năng KSVTTPL của VKS nhằm bảo đảm cho các hoạt động
tố tụng được hợp pháp, khách quan, đầy đủ, tương hỗ cho chức năng THQCT, cả hai chức năng đều có chung mục đích cao nhất là giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và công bằng Theo đó, việc VKS thực hiện tốt chức năng KSVTTPL không những là điều kiện quan trọng nhằm loại trừ các vi phạm pháp luật có thể xảy
ra trong quá trình thực hiện một loạt các hành vi TTHS của các cơ quan điều tra (như khởi tố và hỏi cung bi can, lấy lời khai người làm chứng, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản, ) mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc truy tố được khách quan, đúng tội, đúng người và đúng pháp luật Với vai trò hỗ trợ rất đắc lực cho chức năng THQCT nên chức năng KSVTTPL không thể tách biệt với chức năng THQCT Có nhiều quan điểm cho rằng KSVTTPL không thể tồn tại với tư cách một chức năng độc lập
mà chỉ là một nội dung, một yêu cầu, một nhiệm vụ lớn của VKS và phái sinh từ chức năng THQCT Theo quan điểm của tác giả, nếu căn cứ vào luật thực định thì KSVTTPL trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự là một chức năng của VKS; tuy nhiên về mặt học thuật thì “chức năng” có thể được hiểu là một phương diện hoạt động cơ bản, một lĩnh vực tồn tại độc lập tương đối với các lĩnh vực khác Trong khi đó, KSVTTPL trong tố tụng hình sự, như đã phân tích ở phần trên, chưa phải là một phương diện hoạt động cơ bản, một lĩnh vực độc lập KSVTTPL bao gồm những hoạt động bảo đảm các điều kiện cần thiết cho hoạt động THQCT; hoạt động THQCT chỉ có thể dựa trên các chứng cứ được thu thập hợp pháp và kiểm sát việc TTPL chính là công cụ đảm bảo tính hợp pháp của các hoạt động thu thập chứng cứ và các hoạt động khác liên quan đến việc giải quyết vụ
án Do vậy, dù không quy định KSVTTPL là một chức năng của VKS nhưng để có thể THQCT, VKSND vẫn phải thực hiện hoạt động KSVTTPL
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH GIA LAI
2.1 Khái quát chung về tỉnh Gia Lai, tình hình tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai
2.1.1 Khái quát chung về tỉnh Gia Lai
2.1.1.1 Đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Gia Lai
Gia Lai thuộc vùng khí hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, dồi dào về độ ẩm,
có lượng mưa lớn, không có bão và sương muối, mùa mưa và mùa khô chia rõ rệt Trong đó, mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 22 – 250C Vùng Đông Trường Sơn từ 1.200 – 1.750 mm, vùng Tây Trường Sơn có lượng mưa trung bình năm từ 2.200 – 2.500 mm Khí hậu và thổ nhưỡng Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nhiều loại cây công nghiệp ngắn và dài ngày, chăn nuôi và kinh doanh tổng hợp nông lâm nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao Gia Lai có 17 đơn vị hành chính bao gồm: thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa và 14 huyện,
222 đơn vị hành chính cấp xã, 2.160 thôn làng, tổ dân phố Dân số hơn 1,3 triệu người, bao gồm 34 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có hơn 44% dân số là người đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Jrai, chiếm tỷ lệ 29,2% và dân tộc Bahnar, chiếm tỷ lệ 11,9%) Đồng bào các dân tộc thiểu số có thói quen du canh, du
cư, bởi đất canh tác ở đây chủ yếu trên địa hình triền đồi, nên khi mưa dễ bị sụt, lở, trôi nhanh, bị bạc màu và nếu chỉ làm trên một rẫy thì năng suất năm thứ hai chỉ bằng một nữa và năm thứ ba chỉ bằng một phần tư năm đầu; phương thức canh tác
cơ bản vẫn là “phát, đốt, chọt, tỉa”, kinh tế còn mang nặng về tự cung, tự cấp Đất đai và khí hậu của tỉnh Gia Lai rất thích hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp
Kinh tế của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bình quân hàng năm giai đoạn 2011 - 2015 tăng 12,81%; quy mô nền kinh tế năm 2015 gấp 2,54 lần so vớ i
Trang 38năm 2010 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch hợp lý với điều kiện thực tiễn của tỉnh; đến năm 2015 tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 40,05%, công nghiệp - xây dựng chiếm 26,7% và dịch vụ chiếm 30,19% GRDP bình quân đầu người đạt
35 triệu đồng/người, gấp 2,37 lần so với năm 2010
2.1.1.2 Khái quát về vị trí địa lý, tài nguyên rừng của tỉnh Gia Lai
*Vị trí địa lý
Gia Lai là một tỉnh vùng cao nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao trung bình 700 - 800 mét so với mực nước biển Tỉnh Gia Lai trải dài từ 12°58'20" đến 14°36'30" vĩ bắc, từ 107°27'23" đến 108°54'40"kinh đông; với diện tích tự nhiên là 15.495,7 km2 (lớn thứ hai cả nước); phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Tây giáp Campuchia với 90 km đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Gia Lai có vị trí khá thuận lợi
về giao thông với 3 trục quốc lộ: quốc lộ 14 nối Gia Lai với các tỉnh Quảng Nam,
Đà Nẵng, Tây Nguyên với Tp.Hồ Chí Minh, Đông Nam Bộ vùng Đồng bằng sông Cửu Long; quốc lộ 19 nối tỉnh với cảng Quy Nhơn và Campuchia; quốc lộ 25 nối Gia Lai với tỉnh Phú Yên và Duyên Hải Miền Trung Gia Lai nằm ở vị trí trung tâm của khu vực, là cửa ngõ đi ra biển của phần lớn các tỉnh trong khu vực, nằm trong khu vực tam giác phát triển kinh tế Việt Nam, Lào, Campuchia nên đây là điều kiện
để Gia Lai cùng các tỉnh bạn đẩy mạnh hợp tác phát triển và phát huy các lợi thế vốn có của mình nhằm tăng năng lực sản xuất và hạ tầng kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo khâu đột phá để thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng hướng, tạo lợi thế cho Gia Lai trở thành vùng kinh tế động lực trong khu vực thúc đẩy các tỉnh khác trong vùng cùng phát triển
Trang 39triệu m3 So với cả vùng Tây Nguyên, Gia Lai chiếm 28% diện tích lâm nghiệp, 30% diện tích có rừng và 38% trữ lượng gỗ Sản lượng gỗ khai thác hàng năm cả rừng tự nhiên và rừng trồng từ 160.000 – 180.000 m3 sẽ đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho chế biến gỗ, bột giấy với quy mô lớn và chất lượng cao Ngoài ra, Gia Lai còn có quỹ đất lớn để phục vụ trồng rừng, trồng cây nguyên liệu giấy
Rừng của tỉnh Gia Lai liên quan mật thiết với những đặc trưng địa lý tự nhiên và quá trình diễn biến tài nguyên rừng, thảm rừng của vùng Tây Nguyên Nằm trong vùng có điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai nhiều thuận lợi nên thảm thực vật ở đây phát triển rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều loại khác nhau:
- Thảm thực vật rừng: Rừng tự nhiên ở Gia Lai chiếm khoảng 78,3% diện tích đất lâm nghiệp, có nhiều loại cây quý hiếm, gỗ tốt như: sao, giáng hương, gội, trắc, kiền kiền, bằng lăng, chò sót… Rừng Gia Lai phát triển chủ yếu trên địa hình núi cao, các khe suối và hợp thuỷ có nhiều tầng và nhiều loại độ che phủ tốt, tầng thảm mục dày, đất tơi xốp Loại rừng này có diện tích rất lớn, đây là nguồn tài nguyên quý không chỉ riêng của tỉnh, của vùng Tây Nguyên nói chung mà của cả nước Rừng non tái sinh và cây bụi phân bố ở khắp các vùng trên địa bàn tỉnh, trên các dạng địa hình và các loại đất khác nhau với thảm thực vật chủ yếu là cây họ dầu, họ đậu, họ xoan, họ dẻ… ngoài ra còn có thảm cỏ tự nhiên, thực vật trồng và nhiều loại cây lương thực khác
- Động vật rừng: Theo kết quả nghiên cứu của Viện sinh thái tài nguyên sinh vật thì hệ động vật rừng gồm: 375 loài chim thuộc 42 họ, 18 bộ; 107 loài thú thuộc
30 họ, 12 bộ; 94 loài bò sát thuộc 16 họ, 3 bộ; 48 loài lưỡng cư thuộc 6 họ, 2 bộ; 96 loài cá và hàng ngàn loài côn trùng, động vật đất….Đặc biệt có những loài thú quý hiến như: tê giác, bò tót, hổ beo, gấu ngựa, cầy bay, sóc bay, culi lùn, vượn đen, dơi đốm hoa, các loài chim như hạc cổ trắng, công, trở sao, gà lôi vằn, gà tiên mặt đỏ, các loài bò sát như: tắc kè, thằn lằn giun, trăn hoa…
Trang 40Bảng 2.1 Diện tích rừng toàn tỉnh tính đến ngày 31.12.2016
Nguồn: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai
2.1.2 Tình hình tội phạm hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Như Luận văn đã trình bày, Gia Lai là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn nhất cả nước, địa hình trải rộng trên nhiều vùng khí hậu, có hệ sinh thái rừng phong phú, đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm, đặc biệt là nhiều loài gỗ quý nên Gia Lai luôn phải đối mặt với tình trạng khai thác lâm sản trái phép, hủy hoại và lấn chiếm đất rừng Hoạt động khai thác, hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng không chỉ làm giảm độ che phủ rừng mà còn kéo theo nhiều hệ lụy, gây ra hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm nguồn nước, mật độ các đợt lũ lụt, sạt
lở đất ngày một tăng lên Mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và sự cố gắng, nỗ lực của các ngành chức năng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh nhưng sự tác động từ các yếu tố khác nhau khiến cho công tác này đến nay vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức Theo thống kê từ năm 2005 đến nay, diện tích rừng Gia Lai giảm gần 135.000
ha, từ năm 2011 đến cuối năm 2016 đã xảy ra hơn 6.800 vụ vi phạm lâm luật; chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, các cơ quan chức năng đã xử lý hình sự 15 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng Tình hình tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 2013 đến nay diễn biến như sau:
+ Năm 2013, Cơ quan chức năng đã khởi tố mới tội “Hủy hoại rừng” với 19 vụ/14 bị can Nguyên nhân chủ yếu phát sinh tội “Hủy hoại rừng” là do một số
người dân đã tự ý phá hủy rừng để làm nương rẫy [39];
+ Năm 2014, Cơ quan chức năng khởi tố mới 22 vụ/25 bị can, về tội “Hủy hoại rừng” (tăng 02 vụ và tăng 04 bị can so với năm 2013) Nguyên nhân chủ yếu