2009, “Quy định của pháp luật về việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố - Thực trạng và một số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí kiểm sát; Nguyễn Hải Phong 2006, Kỹ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TỈNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIẢI QUYẾT
TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC TỈNH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIẢI QUYẾT
TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
Ngành
Mã số
: Luật Hình sự và Tố : 8.38.01.04
tụng Hình sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:GS.TS VÕ KHÁNH VINH
HÀ NỘI, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật hình
sự và tố tụng hình sự của tôi là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của tự bản thân Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong thực hiện đề tài là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm lời cam đoan của mình./.
Tác giả
Nguyễn Ngọc Tỉnh
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ
KHỞI TỐ TẠI TỈNH QUẢNG NAM 302.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến công tác thực hành quyền công tố tronggiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ở tỉnh Quảng Nam 302.2 Thực trạng thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam 37
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ TRONG GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM
VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 533.1 Dự báo các yếu tố tác động đến hoạt động thực hành quyền công tố trong
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam trong thời gian tới 533.2 Các giải pháp tăng cường thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân 57
KẾT LUẬN 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5: Điều tra viên : Kiểm sát viên : Tòa án nhân dân: Thực hành quyền công tố: Viện kiểm sát
: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố từ năm 2015 - 2018 37Bảng 2.2: Số vụ án hình sự khởi tố, không khởi tố, tạm đình chỉ và số viện kiểmsát kiến nghị khởi tố qua THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố từ năm 2015 - 2018 38Bảng 2.3: Số tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố chưa giải quyết vàquá hạn từ năm 2015 - 2018 38
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở ViệtNam hiện nay, bộ máy Nhà nước đang trong quá trình cải cách nhằm nâng cao hiệulực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, các cơ quan tư pháp nóiriêng Việc nghiên cứu để hoàn thiện các cơ chế bảo vệ pháp luật, trong đó có vấn
đề THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trongpháp luật tố tụng hình sự là một trong những nhiệm vụ cấp thiết
Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014,VKSND là cơ quan thuộc hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam VKS nhân dân cùng với các cơ quan tư pháp khác là công cụ hữuhiệu bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xãhội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất,góp phần bảo vệ công lý, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môitrường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổquốc Điều này được ghi nhận cụ thể tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: “VKS nhândân THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp”, Điều 2 Luật tổ chức VKS nhân dân
2014 quy định: “VKS nhân dân là cơ quan THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp củanước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Như vậy, theo đó VKSND vẫn giữchức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luậtđược chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đềuphải được xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phải đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tộiphạm Với tư cách là cơ quan THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp, một trongnhững chức năng quan trọng của VKSND là THQCT trong giải quyết tin báo, tốgiác về tội phạm và kiến nghị khởi tố Đây là hoạt động đầu tiên của quá trình giảiquyết vụ án hình sự nhằm kịp thời phát hiện hành vi phạm tội, các cơ quan tố tụng
có trách nhiệm sẽ dựa trên cơ sở đó để xác định việc có dấu hiệu tội phạm hay
Trang 8Trong những năm vừa qua, trên cơ sở quy định của pháp luật về chức năng,nhiệm vụ của VKSND, công tác THQCT và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm của ngành Kiểm sát cả nước nói chung và ngành Kiểm sát ở tỉnh QuảngNam nói riêng đã đạt được những kết quả nhất định như đã hạn chế tình trạng truy
tố oan sai, đã phát hiện, khởi tố, xử lý kịp thời các hành vi phạm tội và tội phạm,bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân góp phầnhiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, giữ vững an ninh trật
tự, an toàn xã hội Bên cạnh đó, thực tiễn cho thấy công tác thực hành quyền công
tố ở tỉnh Quảng Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập như: vẫn còn một số vụ ántruy tố oan, sai gây bức xúc trong nhân dân, tình trạng bỏ lọt tội phạm, còn để xảy
ra án trả hồ sơ điều tra bổ sung có liên quan đến trách nhiệm Viện kiểm sát; Trước
sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội, các loại tội phạm mới xuất hiện đặt rayêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới
Để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố trong giai đoạn tiếp theo thì việc tiếp tục nghiên cứu cácquy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về công tác THQCT trong giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm là hết sức cần thiết Với những lý do nêu trên, tác
giả đã lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ Luật học là “Thực hành quyền công tố trong
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự được quyđịnh thành một nguyên tắc tố tụng, việc nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề liên quan
về nguyên tắc này ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học pháp lý,các chuyên gia lý luận và thực tiễn quan tâm nghiên cứu Trong những năm vừaqua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS trong giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm và kiến nghị khởi tố đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quanđến vấn đề này, cụ thể như:
Nguyễn Quang Thành (2015), “Thực hành quyền công tố trong giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và khởi tố, điều tra vụ án hình sự của VKS nhân dân theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014”, Tạp chí Kiểm sát; Vũ Việt Hùng
Trang 9(2009), “Quy định của pháp luật về việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố - Thực trạng và một số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí kiểm sát;
Nguyễn Hải Phong (2006), Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Tất
Viễn (2003), "Hoạt động tư pháp và kiểm sát các hoạt động tư pháp", Kỷ yếu đề tài
cấp bộ: Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Duy Hồng (2009), Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát; Nguyễn Đình Trung (2012), Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Tạp chí kiểm sát; Nông Xuân Trường
(2014), Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm thực trạng và một số giải pháp, Trang thông tin điện tử VKSND tối cao,
Hà Nội; Nguyễn Đăng Khoa (2014), Bàn về thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, Tạp chí kiểm sát; " thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra", của Lê Hữu Thể (chủ biên), Nhà xuất
bản Tư pháp, 2005; Luận án tiến sĩ Luật học "Quyền công tố ở Việt Nam", của Lê Thị Tuyết Hoa, 2002; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Nâng cao chất lượng thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử của VKS nhân dân thành phố Hồ Chí Minh",
của Trần Văn Nam, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004; Luận văn thạc
sĩ Luật học: "Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội", của Hà Thị Minh Hạnh, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2007
Những công trình khoa học, những bài viết trên đã tập trung nghiên cứu về tổchức, hoạt động, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS nhân dân nói chung và một sốcông trình, bài viết nghiên cứu về chức năng hoạt động của VKS trong việc giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nói riêng Tuy nhiên, cho đến
Trang 10tắc THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Hơn nữa,trong cả lý luận và thực tiễn hiện nay, xung quanh vấn đề này còn chưa thực sựthống nhất về khái niệm, nội dung, phạm vi, chủ thể THQCT và kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong tố tụng hình sự; chưa có sự phân định cụ thể, rõ ràng giữa haichức năng và đánh giá mối quan hệ biện chứng giữa hai chức năng này Vì thế, cầntiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa những nội dung xoay quanh nguyên tắc này.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu, luận văn cần giải quyết cácnhiệm vụ nghiên cứu, cụ thể:
- Phân tích cơ sở lý luận, khái niệm, thẩm quyền, căn cứ pháp luật giải quyết
về tố giác, tin báo về tội phạm; nội dung hoạt động THQCT trong việc giải quyết tố giác,tin báo về tội phạm; các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động THQCT trong giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm, quy định của pháp luật về THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm trên cơ sở đó đánh giá thực tiễn thực hiện vấn đề THQCT trong việc giảiquyết tin báo, tố giác về tội phạm của VKS nhân dân tại tỉnh Quảng Nam, phân tích làm
rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân cơ bản của tồntại, hạn chế đó
- Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của phápluật về THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và nâng cao chất lượngkiểm sát hoạt này trong thực tiễn công tác của VKSND
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn THQCT trong việctiếp nhận, xử lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của VKSND trên địa bàntỉnh Quảng Nam
4.2.Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chức năngTHQCT trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố củaVKS nhân dân, các quy định của BLTTHS và những văn bản hướng dẫn khác cóliên quan, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện công tác trêncủa VKSND tại tỉnh Quảng Nam Thông qua đó, chỉ ra nguyên nhân của những tồntại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nângcao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn
Về phạm vi nghiên cứu thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực tiễn thực hiện côngtác thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm trong
04 năm (01/12/2014 – 01/12/2018) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5 1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam vềtăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, dodân, vì dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn có sự kế thừa những kết quả nghiên cứu liên quan đến hoạt độngthực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của các côngtrình nghiên cứu trước
Tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong luận văn như: Phươngpháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử cụthể, thống kê số liệu, hệ thống
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Giải quyết về mặt lý luận tổng thể, toàn diện nội dung thực hành quyền công
tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật
Tố tụng hình sự Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động thực hành quyềncông tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo phápluật tố tụng hình sự trong thực tiễn hiện nay, cũng như đưa ra các kiến nghị hoànthiện các quy phạm có liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố trong tốtụng hình sự Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo cần thiết chocán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học, cũng như góp phần phục vụhoạt động lập pháp, hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trong quátrình giải quyết án hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố
trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hành quyền công tố trong giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 13CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ
KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIÊN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của viện kiểm sát nhân dân
1.1.1 Khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm và thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của viện kiểm sát nhân dân
1.1.1.1 Khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Pháp luật quy định tố giác và tin báo về tội phạm là những cơ sở để xác định
có dấu hiệu tội phạm hay không Đây chính là một trong những nguồn thông tinquan trọng góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện dấu hiệu của tộiphạm, trên cơ sở đó kịp thời tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh để có căn
cứ tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra các vụ án hình sự Trong mỗi thời kỳ khácnhau và trong mỗi giai đoạn khác nhau, tội phạm trong xã hội luôn có sự biến đổi cả
về nội dung lẫn hình thức và mỗi quốc gia khác nhau thì cũng có những quan niệmkhác nhau về tội phạm Tại Việt Nam, khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8
BLHS 2015 trong đó xác định“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy
định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện…”.
Để có căn cứ xác định một hành vi nguy hiểm cho xã hội có được coi là tộiphạm hay không phải dựa trên kết quả xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm
BLTTHS năm 2003 quy định: " Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định
có dấu hiệu tội phạm Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây: 1 Tố giác của công dân; 2 Tin báo của cơ quan, tổ chức; 3 Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; " [14].
Bên cạnh đó là sự ra đời của Thông tư liên tịch số
Trang 1406/2013/TTLT-BCA-BQP-những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ
ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; Tin báo về
tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm trên các phương tiện
thông tin đại chúng hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân có
trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết; Kiến nghị khởi tố là việc các cơ quan nhà nước
khi thực hiện nhiệm vụ của mình phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm và có văn
bản kiến nghị CQĐT xem xét khởi tố vụ án hình sự [1].
Tuy nhiên, việc đưa ra khái niệm về tố giác, tin báo về tội phạm như quy địnhtại Thông tư liên tịch 06/2013 phần nào đó vẫn chưa đảm bảo tính chính xác, chưaphản ánh được bản chất của tố giác, tin báo về tội phạm Vì nếu theo cách giải thích
từ ngữ tại Thông tư này thì tất cả các thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do
cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp thì đều được coi là tố giác về tộiphạm, chứ không coi là tin báo về tội phạm và cá nhân cũng có thẩm quyền tiếpnhận tố giác, tin báo về tội phạm
Nhận thức được vấn đề trên, BLTTHS năm 2015 đã kế thừa các quy định củaBLTTHS năm 2003 và Thông tư liên tịch số 06, quy định rõ các khái niệm:
Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của
cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tộiphạm do cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện;
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội
phạm với cơ quan có thẩm quyền;
Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan,
tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạmtrên phương tiện thông tin đại chúng;
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị bằng văn
bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho CQĐT, VKS có thẩm quyền
xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm [15].
Từ những quy định cụ thể vừa nêu có thể thấy, về bản chất tố giác, tin báo vềtội phạm đều là những thông tin chứa đựng những dấu hiệu tội phạm mà các cơquan tiến hành tố tụng có được thông tin
Trang 15Qua những phân tích trên có thể hiểu:
- Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu về các tội phạm được quy định trong Bộ Luật hình sự, do công dân có tên, tuổi, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan hoặc cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật hình sự với các cơ quan, tổ chức đó làquyền và nghĩa vụ của công dân Công dân có quyền tố cáo về tội phạm với mọi cơquan, tổ chức và sự tố cáo của công dân về tội phạm đều được coi là tố giác Tố giáctội phạm có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như: thông qua điệnthoại, văn bản hoặc có thể tố cáo trực tiếp bằng miệng … Trường hợp người bị hạitrình báo và yêu cầu khởi tố thì bản chất của sự việc cũng là sự tố giác về tội phạm,chính vì thế điều luật không quy định riêng một khoản độc lập
- Tin báo về tội phạm là toàn bộ thông tin về những hành vi chứa đựng dấu hiệu về các tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước hoặc do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan, cá nhân
có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết.
Tố giác tội phạm là hành vi của công dân là đối với một cơ quan, tổ chức bất
kỳ nào đó Tin báo là sự phản ánh mối liên hệ giữa một bên truyền tin đi với một cơquan có quyền khởi tố vụ án hình sự Trong đó, tin báo tội phạm có thể là sự chuyểntiếp những thông tin mà cơ quan, tổ chức đã nhận được từ tố giác tội phạm của côngdân Cũng có thể là những thông tin thu được từ hoạt động nghiệp vụ của ngaychính tổ chức đó (ví dụ, qua thanh tra, kiểm tra) hoặc được phản ánh bằng chínhhoạt động truyền thông theo chức năng nghề nghiệp (các cơ quan thông tin đạichúng) Căn cứ vào Điều 144 của BLTTHS năm 2015 thì tin báo tội phạm có thểđược phân thành hai loại: Tin báo tội phạm có thể là tin do cơ quan, tổ chức gửi đếncho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự (khoản 2) trực tiếp phản ánh
về tội phạm; tin báo có thể được chính thức thông báo hoặc phản ánh trên cácphương tiện thông tin đại chúng mà các cơ quan chuyên trách đấu tranh với tộiphạm có thẩm quyền phải xem xét, nghiên cứu để rút ra những kết luận (Khoản 3)
- Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, VKS có thẩm
Trang 16Kiến nghị khởi tố chính là việc các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội,kinh tế thông qua công tác kiểm tra, thanh tra và khi thực hiện các nhiệm vụ, công táckhác phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, người có hành vi phạm tội và có văn bản,kèm theo tài liệu liên quan, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, khởi tố
vụ án hình sự, khởi tố đối với người có hành vi phạm tội để điều tra, xử lý
1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm công tác thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
VKSND có chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đảmbảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất Chức năng của
VKSND được thể hiện tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013: “ Viện kiểm sát nhân dân
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” và Điều 2 Luật Tổ chức Viện
KSND năm 2014: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố,
kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[20].
Xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là THQCT sẽ làm rõ hơn vai trò,
vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước, đặc biệt là trong các cơ quan tưpháp; xác định rõ chức năng của VKS, nhất là trong TTHS Vấn đề khái niệm quyềncông tố và THQCT đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lí nước ta với cácmức độ khác nhau và nó vẫn đang là vấn đề với nhiều ý kiến khác nhau
Có quan điểm cho rằng: Quyền công tố là quyền của VKS thay mặt nhà nướcbảo vệ lợi ích công (nhà nước, xã hội và công dân) khi có các vi phạm pháp luật Vìvậy, VKS THQCT không chỉ trong TTHS mà cả trong lĩnh vực tố tụng khác như
dân sự, kinh tế và các hoạt động tư pháp khác [5].
Có quan điểm khác cho rằng: Quyền công tố là quyền của nhà nước giao chocác cơ quan nhất định khởi tố, điều tra và truy tố người phạm tội ra trước tòa án để
xét xử và thực hiện việc buộc tội trước phiên tòa [23].
Có quan điểm khác lại cho rằng: Công tố không phải là chức năng độc lập củaVKS mà chỉ là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong TTHS
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng chúng đều ít nhiều có sự hợp lý,bởi các quan điểm này đều dựa trên quy định của pháp luật và thực tiễn
Từ những phân tích trên, khái niệm quyền công tố được hiểu như sau: Quyền
Trang 17công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự thuộc về Nhà nước, cơ quan được nhà nước giao cho quyền này (ở nước ta là VKSND) thực hiện các hoạt động nhằm phát hiện, điều tra tội phạm, truy tố người phạm tội trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa.
Như vậy, THQCT thực chất là hoạt động đưa những quy định của pháp luật vềquyền công tố thuộc chức năng của VKS vào thực tế nhằm truy cứu trách nhiệmhình sự người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Tuy cònnhiều quan điểm khác nhau về THQCT, nhưng qua nghiên cứu tổng hợp các quanđiểm khoa học về THQCT, cũng như thực tiễn quy định của pháp luật về THQCT,chúng tôi đưa ra khái niệm về THQCT như sau:
“Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp
lý mà pháp luật quy định để đưa người (và pháp nhân thương mại) phạm tội ra truy
tố và buộc tội trước Tòa án”.
Nội dung THQCT được BLTTHS năm 2015 quy định kể từ khi tiếp nhận, giảiquyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, xét phê chuẩn lệnh bắt người bịgiữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp hạn chế quyềncông dân, quyền con người Thời điểm này là ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tộiphạm Bản chất việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, nhất là việc giữ ngườitrong trường hợp khẩn cấp và việc phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợpkhẩn cấp chính là việc bắt và tạm giữ hình sự Việc pháp luật quy định VKS thamgia vào quá trình này chính là sự khẳng định chức năng THQCT của VKS trongviệc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm Xuất phát từ khái niệm THQCT đãđược phân tích ở trên, tác giả đưa ra khái niệm THQCT trong việc giải quyết tinbáo, tố giác về tội phạm như sau:
"Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự".
Đặc điểm của công tác THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
Trang 18- Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, giahạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việcgiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
- Hủy bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơquan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởitố;
- Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thực hiện;
- Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trongtrường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tộiphạm mà VKSND đã yêu cầu nhưng không được khắc phục;
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác để THQCT theo quy định của BLTTHS nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội;
1.1.1.3 Ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
VKS có hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ vớinhau là THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Việc VKS thực hiện đồng thời haichức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong quá trình thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn của mình là mang tính khách quan, bảo đảm mọi hành vi phạmtội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật
Để mọi hành vi phạm tội được phát hiện xử lý xử lý đúng quy định pháp luật,không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội thì việc xácđịnh căn cứ cho việc khởi tố vụ án hình sự rất là quan trọng nhằm mở đầu chonhững giai đoạn tố tụng tiếp theo Tuy nhiên, để có được những căn cứ khởi tố vụ
án cần phải có những thông tin ban đầu được tiếp nhận, xác minh theo những trình
tự thủ tục nhất định được pháp luật quy định
- Pháp luật tố tụng hình sự quy định cho các cơ quan tiến hành tố tụng đượcphép tiến hành kiểm tra xác minh nguồn tin, thu thập tài liệu chứng cứ và được ra một sốquyết định tố tụng trước khi khởi tố vụ án hình sự Để có cơ sở tiến hành các biện phápnói trên thì trách nhiệm của VKS trong giai đoạn giải quyết tố giác, tin
Trang 19báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa rất quan trọng Quy định chức năngTHQCT của VKS trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố góp phần đảm bảo các quyết định tố tụng, hoạt động tố tụng của các cơ quan
có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đúng theo quy địnhcủa pháp luật, các chứng cứ, tài liệu được thu thập theo một trình tự thủ tục kháchquan, toàn diện, đầy đủ, chính xác tạo tiền đề vững chắc cho quá trình điều tra vụán; những vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố sẽ được phát hiện kịp thời, khắc phục và xử lý nghiêm minh
1.1.2 Nội dung của thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2.1 Chủ thể có quyền thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Bộ luật TTHS 2015 quy định chủ thể có quyền thực hành quyền công tố tronggiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm: Cơ quan điềutra, VKS tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; cơ quan tổ chứckhác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Mọi tố giác tin báo về tội phạm và kiếnnghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời; cơ quan tổ chức cótrách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố[15].
Bộ luật TTHS cũng quy định cụ thể thủ tục tiếp nhận theo từng nhóm chủ thể
- Thủ tục tiếp nhận của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Nếu cơ quan,
tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì cơ quan cóthẩm quyền tiến hành lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận (có thể ghi âm, ghihình việc tiếp nhận); nếu tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố được gửi qua dịch
vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.Sau đó, VKS cần chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kèm theo tài liệu cóliên quan đã tiếp nhận
- Thủ tục tiếp nhận của Công an phường, thị trấn, đồn Công an, Công an xã:Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tộiphạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác,
Trang 20tra có thẩm quyền Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạmkèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
- Đối với cá nhân, tổ chức khác: sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạmthì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền Trường hợp khẩn cấp thì có thể báotin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phảithể hiện bằng văn bản
1.1.2.2 Đối tượng và phạm vi của hoạt động thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố làmột trong những nội dung cụ thể của THQCT trong tố tụng hình sự nên đối tượngcủa THQCT trong giai đoạn này cũng chính là đối tượng của THQCT trong tố tụnghình sự.Với ý nghĩa là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý nhằm mụcđích truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, truy tố họ ra trước Tòa án để xét
xử, đối tượng của hoạt động THQCT là tội phạm và người phạm tội
Phạm vi của hoạt động THQCT:
Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2014 và BLTTHS năm 2015 đã quy địnhKSV là người đại diện cho VKS THQCT, vì vậy, ngay từ trong giai đoạn tiếp nhận,giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố KSV đã bắt đầu thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Các giai đoạn của THQCT cũng đã được phânđịnh một cách rõ ràng trong các văn bản luật thực định của nước ta, từ THQCTtrong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; THQCTtrong giai đoạn điều tra; THQCT trong giai đoạn truy tố; THQCT trong giai đoạnxét xử Như vậy, THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố là một phần của hoạt động THQCT trong tố tụng hình sự nói chung
Theo Điều 2 Quy chế THQCT & KSĐT xác định:
THQCT thì thời điểm phát sinh hoạt động THQCT phải là thời điểm được sửdụng các quyền năng pháp lý công khai để truy cứu trách nhiệm hình sự đối vớingười phạm tội, tức là sau khi tội phạm đã được phát hiện (xác định có dấu hiệu củatội phạm) và có quyết định khởi tố vụ án hình sự Thời điểm kết thúc hoạt độngTHQCT có sự trùng khớp với thời điểm kết thúc quyền công tố, đó là khi vụ án
Trang 21hình sự bị đình chỉ hoặc khi có bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và không bịkháng nghị.
Theo đó, THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố bắt đầu từ khi tội phạm bị phát hiện và cơ quan có thẩm quyền nhận đượctin báo, tố giác tội phạm và quá trình này sẽ kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền raquyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyếtđịnh đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
1.1.2.3 Nội dung và trình tự thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
- Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành
vi phạm tội
Tại Điều 159, Điều 160 BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể nhiệm vụ,quyền hạn của VKS khi THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được Quyết định phân cônggiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, Việntrưởng VKS trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận,giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, phân công KSV, Kiểm traviên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạt độngTHQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố và gửi ngay một bản cho Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra đã ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tinbáo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Đối với tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã rõ về dấu hiệu của tộiphạm mà Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt độngđiều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự thì Viện trưởng VKS trực tiếp tổchức, chỉ đạo hoạt động THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, phân công KSV,Kiểm tra viên hoặc ra Quyết định phân công Phó Viện trưởng tổ chức, chỉ đạo hoạtđộng THQCT và kiểm sát việc khởi tố, điều tra theo quy định của BLTTHS năm2015
Trang 22Theo quy định tại Khoản 1 Điều 145 BLTTHS năm 2015, công dân có thể tốgiác tội phạm với Cơ quan điều tra, VKS, Toà án hoặc với các cơ quan khác, tổchức khác Điều này có nghĩa là bất kể là cơ quan, tổ chức nào khi công dân tố giáctội phạm đều có trách nhiệm tiếp nhận Quy định này đã tạo điều kiện cho cơ chếthông tin về tội phạm được nhanh chóng, nhân dân có thể tham gia rộng rãi và thuậntiện vào cuộc đấu tranh với tội phạm, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơquan, tổ chức trong việc đấu tranh với tội phạm, bảo vệ trật tự xã hội, quyền và lợiích hợp pháp của công dân.
1.2 Quy định của pháp luật về thực hành quyền công tố trong giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.2.1 Khái quát về lịch sử quy định của pháp luật Việt Nam về công tác thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Các quy định của pháp luật về hoạt động THQCT ngày càng được hoàn thiệnqua các thời kỳ lịch sử, việc tuân thủ pháp chế và bảo vệ quyền của con người,quyền của công dân trong TTHS ngày càng được tôn trọng và nghiêm ngặt hơn.Vấn đề này được thể hiện rõ ở quy định của pháp luật qua các thời kỳ
Trải qua các thời kỳ phát triển, ở nước ta có cả hai mô hình là Viện công tố vàVKS Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Namdân chủ cộng hoà ra đời (02/9/1945), ngày 13/9/1945 Chính phủ lâm thời do Chủtịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ban hành một loạt các sắc lệnh để thiết lập ngay các
cơ quan tư pháp, trong đó có cơ quan Công tố nhằm đấu tranh một cách kịp thời và
có hiệu quả với các hành vi phạm tội, bảo đảm cho việc củng cố chính quyền cáchmạng và bảo vệ lợi ích của nhân dân Theo các Sắc lệnh, cơ quan Công tố nằmtrong cơ cấu tổ chức của Toà án, do Bộ Tư pháp quản lý và có thẩm quyền THQCT(là người buộc tội nhân danh Nhà nước) Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950, đánhdấu sự thay đổi lớn tổ chức các cơ quan tư pháp nói chung, các cơ quan Công tố nóiriêng, bằng việc quy định: “Công tố viên có quyền kháng cáo về việc hộ cũng như
về việc hình”, đánh dấu sự mở rộng thẩm quyền kiểm sát của các cơ quan Công tố ởnước ta đối với hoạt động xét xử
Trang 23Sau ngày hoà bình lập lại, tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá I (từ ngày 16/4/1958đến ngày 29/4/1958), Quốc hội quyết định lập Toà án tối cao và hệ thống Toà án và
hệ thống Công tố, cả hai tách khỏi Bộ Tư pháp, trực thuộc Hội đồng Chính phủ.Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký ban hành Nghị định số 256/TTg ngày 01/7/1959,Nghị định số 321/TTg ngày 02/7/1959 xác định tương đối cụ thể và rõ ràng vị trí,vai trò, chức năng, thẩm quyền của Viện công tố trong bộ máy Nhà nước ta Chứcnăng, thẩm quyền của cơ quan Công tố không chỉ giới hạn ở THQCT, không chỉđiều khiển, giám sát hoạt động điều tra mà còn trực tiếp tiến hành điều tra và thựchiện cả sự giám sát đối với các hoạt động tư pháp và tham gia hoạt động tố tụng dân
sự, có quyền kháng cáo cả bản án hình sự và bản án dân sự
BLTTHS đầu tiên của nước ta, cũng ghi nhận vai trò THQCT của VKS Nhưvậy, sự ra đời của VKS ở nước ta gắn liền với yêu cầu của nhiệm vụ bảo đảm phápchế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thốngnhất Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thu hẹp phạm vihoạt động của VKS, VKS thôi không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật trong các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội, tập trung thực hiện chức
năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp; thay vì có trách nhiệm bảo đảm
cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất thì chỉ có trách nhiệm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Sự thay đổi này nhằm đảm bảo VKS
tập trung vào nhiệm vụ chính của mình là thực hiện chức năng công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp BLTTHS năm 2003 ra đời đã thể hiện được những quan
điểm mới về cải cách tư pháp hình sự Để bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phảiđược xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người,đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt người phạm tội Bộ luật quy định VKSTHQCT trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toàán… Như vậy, để đáp ứng yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội pháp luật về THQCT luônphát triển và dần hoàn thiện qua các thời kỳ lịch sử
Trang 241.2.2 Quy định của pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
1.2.2.1 Chủ thể của hoạt động thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Một trong những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện thủ tục khởi tố vụ ánhình sự là phải quy định rõ thẩm quyền giải quyết của các cơ quan và đề cao tráchnhiệm, tính chủ động của VKS trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm vàkiến nghị khởi tố Trên cơ sở đó, Bộ luật TTHS 2015 quy định thẩm quyền giảiquyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gắn với thẩm quyền điều tra
Cụ thể là, Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra củamình, nhằm bảo đảm nguyên tắc ‘phân công, phối hợp, kiểm soát quyền lực” Bộluật quy định VKS chủ yếu thực hiện trách nhiệm THQCT và kiểm sát hoạt động tưpháp; tuy nhiên khi có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, Điểm c,Khoản 2, Điều 145 Bộ luật TTHS quy định VKS phải trực tiếp xác minh, tố giác tinbáo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong 02 trường hợp đó là: (1) Trường hợp pháthiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điềutra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác,tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; (2)Trường hợp phát hiện có dấu hiệu bỏ lọttội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục
Đồng thời, nhằm tạo thuận lợi cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Bộluật hình sự 2015 quy định các biện pháp xác minh tố giác, tin báo tội phạm, kiếnnghị khởi tố gồm: a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân
có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin; b) Khám nghiệm hiện trường;c) Khámnghiệm tử thi; d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản Mặt khác, Bộ luậtTTHS 2015 cho phép triệu tập người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố để thuthập thông tin và quy định việc dẫn giải họ chỉ được thực hiện khi qua kiểm tra xácminh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố
vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan[15].
Trang 251.2.2.2 Đối tượng của hoạt động thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố làmột trong những nội dung cụ thể của THQCT trong tố tụng hình sự nên đối tượngcủa THQCT trong giai đoạn này chính là tội phạm và người phạm tội
Trong BLHS Việt Nam, khái niệm tội phạm được định nghĩa tại Điều 8 nhưsau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiệnmột cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnhthổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng,
an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tínhmạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp phápkhác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
Như vậy, với yêu cầu của pháp luật giao cho VKSND quản lý và xử lý tin báotội phạm, BLTTHS năm 2015 đã xác lập nội dung THQCT kể từ khi tiếp nhận, giảiquyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố, xét phê chuẩn lệnh bắt người bịgiữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp hạn chế quyềncông dân, quyền con người Thời điểm này chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can, mới
là ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm Vì bản chất việc giải quyết tin báo,
tố giác tội phạm, nhất là việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp và việc phêchuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chính là việc bắt và tạm giữ hình
sự Việc VKS tham gia sớm vào giai đoạn này chính là sự khẳng định chức năngTHQCT của VKS trong việc phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm, đảm bảo được
án oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm
Trang 261.2.2.3 Nội dung, trình tự, thủ tục, thời hạn của hoạt động thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Thứ nhất, Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, các lệnh khám xét của cơ quan điều tra, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
VKS nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khi THQCT trong việc áp dụngcác biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ vàcác biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân như khám người,khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm; thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tạibưu điện, kê biên của CQĐT khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố là phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các Quyết định, các Lệnh này như sau:
Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
Về cơ bản, BLTTHS năm 2015 vẫn ghi nhận tinh thần của BLTTHS năm 2003 vềcăn cứ, thẩm quyền, thủ tục bắt khẩn cấp, hồ sơ đề nghị phê chuẩn và nhiệm vụ,quyền hạn của VKS khi phê chuẩn, không phê chuẩn việc giữ, bắt người trongtrường hợp khẩn cấp Bên cạnh việc quy định bổ sung thêm căn cứ (1-người cùngthực hiện tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tộiphạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; 2-có dấu vết của tội phạm
ở nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xétthấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ), bổ sung thêmngười có thẩm quyền ra lệnh (tại Điểm b khoản 2 Điều 110), đổi mới lớn nhất chính
là việc BLTTHS năm 2015 đã chia tách rõ hoạt động giữ và bắt người trong trườnghợp khẩn cấp
Theo đó, hoạt động tố tụng “bắt khẩn cấp” như quy định của BLTTHS 2003
đã được đổi thành “giữ” người trong trường hợp khẩn cấp Khi đã có đủ căn cứ, đểngăn chặn một người chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạmđặc biệt nghiêm trọng hay ngăn chặn việc một người phạm tội bỏ trốn hoặc tẩu tán,tiêu hủy chứng cứ, người có thẩm quyền có thể “giữ” đối tượng này Đây chính làbước đệm quan trọng, nhằm hợp lý hóa việc thực tế giữ người có dấu hiệu vi phạm(đặc biệt trong trường hợp sau khi ra lệnh mà đối tượng đã trốn) để trong thời gian
Trang 27giữ, các cơ quan tiến hành tố tụng củng cố chứng cứ và ra lệnh bắt người trongtrường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho họ nếu không còn đủ cơ sở Lệnh bắtngười khẩn cấp trong trường hợp này (nếu có) là hoàn toàn kịp thời, đúng tính chất,mục đích đề ra.
Phê chuẩn, không phê chuẩn các lệnh khám xét của cơ quan điều tra.
Khám xét là biện pháp điều tra có tính cưỡng chế và tác động trực tiếp tới cácquyền cơ bản hiến định của công dân
Tại khoản 1, điều l93, BLTTHS năm 2015 quy định về thẩm quyền ra lệnhkhám xét Về kĩ thuật lập pháp, điều luật dẫn chiếu đến khoản 1, điều 113 (quy định
về thẩm quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam) và khoản 2, điều
35 BLTTHS năm 2015 (quy định về người được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra) Theo đó, những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét gồm có:a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trường, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án quân sự các cấp, hội đồng xét xử;
d) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Bộ độibiên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư quy định tạikhoản 2 điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự
Như vậy, thẩm quyền ra lệnh khám xét được trao rộng cho người tiến hành tốtụng của cả 3 cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhằm đảm bảo hiệuquả của biện pháp điêu tra này
Tuy nhiên, do khám xét là biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bảncủa công dân, nhà làm luật cũng quy định, lệnh khám xét của Thủ trưởng, Phó Thủtrưởng Cơ quan điều tra các cấp và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạtđộng điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển,Kiểm ngư quy định tại khoản 2 điêu 35 BLTTHS phải được Viện kiểm sát cóthẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành
Tại khoản 3, điều 193 ở trên cũng đã quy định rõ về việc kiểm sát hoạt động
Trang 28báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cửKiểm sát viên kiêm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp Kiểm sátviên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét Nếu Kiểm sát vắng mặt thì ghi rõ vàobiên bản khám xét.
Gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong việc gia hạn tạm giữ đượcquy định tại Điều 118 BLTTHS năm 2015, cụ thể: Trong trường hợp cần thiết,người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày.Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lầnthứ hai nhưng không quá ba ngày Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải đượcVKS cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị giahạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê
chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn[15].
Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghịkhởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự (khoản 3, Điều 159, BLTTHS năm 2015)
Thứ hai, Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.
VKS nhân dân trong công tác thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạnphải phối hợp chặt chẽ với CQĐT để nắm chắc tình hình giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố; phân loại xử lý và theo dõi, đôn đốc việc xácminh, giải quyết của CQĐT Trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khiTHQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, khithấy cần thiết VKS có thể đề ra những yêu cầu xác minh để làm sáng tỏ vụ việc vàyêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố kiểm tra, xác minh kịp thời đúng quy định
VKS nhân dân các cấp trong công tác quan hệ phối hợp với CQĐT phải rà soát
số liệu tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận, đã phân loại
xử lý để xác định những việc CQĐT đã làm và những việc chưa làm, từ đó có vănbản yêu cầu CQĐT thực hiện, hạn chế để xảy ra tình trạng vi phạm thời hạn giảiquyết mà không có lý do chính đáng nếu phát hiện có trường hợp chưa được
Trang 29giải quyết trong thời hạn luật định thì yêu cầu CQĐT nêu rõ lý do, hướng giảiquyết Nếu CQĐT không nêu được lý do, tiếp tục vi phạm về thời hạn giải quyết thìVKS cùng cấp phải tập hợp ban hành kiến nghị để rút kinh nghiệm.
Đối với KSV được phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm phải lập kế hoạch theo dõi, kiểm sát chặt chẽ hoạt động giải quyết của Điềutra viên, nắm chắc nội dung và tiến độ giải quyết, chủ động đề ra yêu cầu xác minhngay từ đầu trong suốt quá trình kiểm sát việc giải quyết đảm bảo kết quả giải quyếtđược chính xác, khách quan Khi đề ra yêu cầu xác minh, KSV phải nêu rõ nội dungcần xác minh để kiểm tra tính xác thực của nguồn tin ; thu thập củng cố chứng cứ đểlàm rõ những tình tiết liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong vụ ánhình sự Văn bản yêu cầu xác minh phải được lưu vào hồ sơ tin báo của VKS Khixét thấy có vấn đề cần phải xác minh thêm, KSV kịp thời bổ sung yêu cầu xác minhlần 2, lần 3…; nếu Điều tra viên chưa rõ, KSV có trách nhiệm giải thích nội dungnhững yêu cầu xác minh Trường hợp Ðiều tra viên không đồng ý thì KSV yêu cầuĐiều tra viên nêu rõ lý do và báo cáo lãnh đạo VKS hoặc lãnh đạo đơn vị xem xét,kiến nghị với Thủ trưởng CQĐT; trường hợp CQĐT không thực hiện được đầy đủcác yêu cầu xác minh thì phải nêu rõ lý do trong văn bản kết luận xác minh vụ việc.Đối với các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị có tính khẩn cấp và yêucầu đặt ra là cần phải khám nghiệm hiện trường hoặc cần ngăn chặn ngay hành viphạm tội thì Kiểm sát viên được phân công phải trực tiếp sơ vấn người báo tin đểnhanh chóng nắm được thông tin ban đầu và báo cáo ngay với lãnh đạo để có biệnpháp xử lý kịp thời
Điều 159 BLTTHS năm 2015 đã pháp điển hóa một trong những nhiệm vụ,quyền hạn của VKS khi THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố đó là: Khi cần thiết, đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêucầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện
Thứ ba, Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì
cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành một số hoạt động xác minh, điều tranhư: lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và áp dụng một số
Trang 30trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang; gia hạn tạm giữ, thu giữ, tạm giữ các đồvật, tài liệu Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, tăng cường trách nhiệmcông tố, gắn công tố với điều tra, chống oan sai, bỏ lọt tội phạm, việc quy địnhTHQCT từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố cần thiết và phải được gắn với vai trò và trách nhiệm của VKS.
Trong những trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc códấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu, kiến nghị nhưng không được khắcphục nhằm hạn chế tình trạng vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền điều tra,VKS thực hiện trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố,xem xét việc khởi tố vụ án có đúng với quy định của pháp luật hay không
Để thực hiện trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố, VKS phải bám sát vào quá trình tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm và kiến nghị khởi tố; cần làm tốt công tác kiểm sát điều tra từ đầu, tích cựcbám sát vào quá trình điều tra thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạnđược pháp luật quy định như các hành vi trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiệntrường, khám nghiệm tử thi ; không bị động chờ Điêù tra viên chuyển hồ sơ sangmới nghiên cứu mà chủ động “bắt cặp” với Điều tra viên, sát sao cùng Điều tra viênthu thập chứng cứ, ghi lời khai, kịp thời nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ
sơ vụ việc để tác động với CQĐT, định hướng điều tra và giải quyết các tình huốngxảy ra theo quy định của pháp luật và khi ra quyết định thuộc quyền năng pháp lýcủa mình, phải đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp, nhằm góp phần hạn chếđến mức thấp nhất những sai phạm có thể xảy ra
Một trong những những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT trong việcgiải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định tại Điều
159 BLTTHS năm 2015 là: Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiếnnghị khởi tố trong các trường hợp do Bộ luật này quy định
Theo đó, Điều 145 BLTTHS năm 2015 quy định: VKS trực tiếp giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơquan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luậtnghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
Trang 31nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bảnnhưng không được khắc phục.
BLTTHS năm 2015 quy định cho phép kéo dài thời hạn giải quyết tối đa khôngquá 04 tháng, song sử dụng quy định rất chặt chẽ: Thời hạn ban đầu là 20 ngày, nếu vụviệc xác minh thuộc trường hợp phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địađiểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưngkhông quá 02 tháng Trường hợp vẫn không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh đốivới loại vụ việc phức tạp này thì Viện trưởng VKS cùng cấp hoặc Viện trưởng VKS có
thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng [15].
Thứ tư, Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Việc quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc hủy bỏ lệnhtạm giữ tại BLTTHS 2015 về cơ bản vẫn kế thừa quy định của BLTTHS 2003, theo đóviệc tạm giữ hình sự phải có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền theo nhưtrong trường hợp ra Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp và thêm Chỉ huy trưởngvùng cảnh sát biển Quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp trong thờihạn 12 giờ kể từ lúc ra quyết định và VKS có thể ra quyết định hủy bỏ việc tạm giữ nếuthấy việc tạm giữ không đúng pháp luật hoặc không cần thiết Theo đó, cơ quan đã raQuyết định tạm giữ phải trả tự do cho người bị tạm giữ Bên cạnh đó, BLTTHS năm
2015 còn bổ sung thêm tại khoản 3 Điều 118 như sau:
“Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ”.
Theo đó, BLTTHS 2015 đã quy định cụ thể hơn nhiệm vụ và quyền hạn của Việnkiểm sát trong việc hủy bỏ quyết định tạm giữ và trả tự do cho người bị tạm giữ, vừa đểphù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 125 BLTTHS 2015 là: Đối với những biện phápngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc
Trang 32Thứ năm, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giải quyết tốgiác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của BLTTHS, Luật Tổchức VKSND, VKS có thể thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác thuộc chứcnăng thực hành quyền công tố, một trong số đó là quyền kiến nghị Theo đó, khiphát hiện cơ quan, tổ chức và các đơn vị hữu quan có vi phạm thì Viện kiểm sát cóquyền ban hành văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó chấm dứt việc viphạm.Các bản kết luận, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát phải được các cơquan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan nghiêm túc tiếp thu, rút kinh nghiệm
và thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật
Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015, cũng đã có quy định cụ thể
về vấn đề này:
“1 Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tranhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiếnhành một số hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự vàLuật này; phải phát hiện kịp thời và yêu cầu, kiến nghị CQĐT, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm pháp luật tronghoạt động điều tra
2 CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thựchiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; xemxét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật.”
Theo đó, song song với việc quy định về quyền kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểmsát là việc quy định về trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng cácbiện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng trong việcphòng chống tội phạm Trong công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố, chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền kiểm tra, kiểm sát việc tuântheo pháp luật của các cơ quan trong TTHS một cách trực tiếp, cụ thể, liên tục Các Cơquan Nhà nước có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để các
Trang 33cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ; đồng thờiViện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và các cơ quan tiến hành tố tụng khác cónhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổchức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa và phải chịu tráchnhiệm về các yêu cầu đó Các cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời về kết quả thựchiện yêu cầu của Viện kiểm sát và các cơ quan tiến hành tố tụng khác.
1.3 Các yếu tố tác động đến thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
THQCT chính là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nộidung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ngườiphạm tội Hay nói cách khác (theo nghĩa hẹp) thì hoạt động THQCT là hoạt động ápdụng pháp luật của KSV trong quá trình thực hiện chức năng công tố
Hoạt động THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố chịu sự tác đông của một số yếu tố như:
- Ý thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp của KSV:
KSV khi THQCT không thể thiếu ý thức pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp.Bởi nếu ý thức pháp luật, nhận thức pháp luật của KSV ở mức độ thấp rất dễ dẫnđến việc hiểu sai nội dung của quy phạm pháp luật; đánh giá, xem xét các tình tiếtcủa vụ án một cách hời hợt, chủ quan, phiến diện và rất dễ dẫn đến oan, sai Ý thứcpháp luật, trình độ nhận thức pháp luật của KSV ở tầm cao thì quyết định áp dụngpháp luật được ban hành trên cơ sở khoa học và thực tiễn, khách quan và côngminh Đối với chức năng THQCT, KSV phải chủ động phối hợp với Cơ quan điềutra trong hoạt động điều tra, xác minh; hoạt động công tố của VKS mang tính quyếtđịnh và tính chịu trách nhiệm trong việc truy cứu hay không truy cứu trách nhiệmhình sự đối với hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm Chỉ có nhận thứcđúng đắn những nội dung này thì mới làm đúng vai trò, trách nhiệm của mình Thực
tế hiện nay rất nhiều cán bộ, KSV bỏ qua việc nghiên cứu lý luận cơ bản, những quyđịnh chung mang tính căn cơ mà tư duy theo kiểu sự vụ “việc đến đâu, tra cứu, làmđến đó”, làm việc theo kiểu kinh nghiệm lối mòn, nhiều người còn chưa làm hếttrách nhiệm, lẫn lộn giữa công tố với kiểm sát điều tra, coi việc giải quyết tin báo tố
Trang 34điều tra, còn VKS chỉ khi nào chuyển hồ sơ sang thì mới kiểm sát nên dẫn đến thụđộng, chờ việc, phụ thuộc và kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra nên gần nhưkhông có tác động công tố hoặc có thì cũng rất hạn chế trong giai đoạn tiền khởi tố.Chính điều này đã làm mất đi quyền năng pháp lý của VKS, không thể hiện đúngvai trò của cơ quan công tố, thiếu tính chủ động tham gia phối hợp, định hướng giảiquyết ngay từ khi thụ lý, giải quyết tin báo tố giác tội phạm, thậm chí có thái độthoái thác cho Cơ quan điều tra và nhiều trường hợp xuôi chiều, bằng lòng theo kếtquả điều tra dẫn đến xảy ra một số trường hợp làm oan, sai, bỏ lọt tội phạm.
- Tác động từ công luận xã hội:
Trong thời đại thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông cùng với dưluận xã hội đã và đang trở thành một những lực lượng xung kích quan trọng pháthiện những cái mới, đối với hoạt động THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo vềtội phạm và kiến nghị khởi tố, việc áp dụng pháp luật trong hoạt động này lại càngđược công luận và dư luận xã hội quan tâm đặc biệt Các phương tiện thông tin đạichúng là địa chỉ tin cậy để các đương sự, bị can, bị cáo và mọi công dân cung cấpthông tin và nhờ lên tiếng bảo vệ lợi ích của mình Những bài báo, những loạtphóng sự điều tra về những sai phạm trong tố tụng của báo chí, công luật xã hội
đã giúp ích rất nhiều cho các cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện tốt hoạtđộng tố tụng của mình
- Tác động từ những tiêu cực xã hội.
Những tiêu cực xã hội hiện nay đang len lỏi vào hệ thống cơ quan nhà nướcnói chung và cơ quan tư pháp nói riêng, đặc biệt, gây ra những tác hại không hề nhỏđối với ngành kiểm sát Đối với VKS, nếu coi hoạt động THQCT như là sự ban ơncho đương sự để vòi vĩnh, ngã giá thì chắc chắn quyết định áp dụng pháp luật sẽ bịbiến dạng, méo mó Và điều này đã gây tác động xấu đến hoạt động THQCT, làmlòng tin của nhân dân vào VKS bị suy giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự antoàn xã hội Vì vậy, để cho hoạt động THQCT được chính xác, hiệu quả thì cần cócác giải pháp cụ thể để xây dựng đội ngũ KSV trong sạch, liêm khiết, có lương tâm
và đạo đức nghề nghiệp
Trên đây là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động THQCT trong giảiquyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Từ việc nghiên cứu những yếu
Trang 35tố ảnh hưởng đến hoạt động THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm vàkiến nghị khởi tố cho chúng ta hiểu rõ hơn những tác động đến hoạt động của VKS,
để từ đó có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động THQCT
về lý luận ở Chương 1 sẽ là tiền đề để tác giả khảo sát thực tiễn về hoạt động nàytrên địa bàn tỉnh Quảng Nam và từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm thực hiện
có hiệu quả hơn công tác THQCT trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG
GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ
KHỞI TỐ TẠI TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến công tác thực hành quyền công tố trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ở tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Tình hình tội phạm ở tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là tỉnh thuộc khu vực miền Trung nước ta Phía Bắc giáp tỉnhThừa Thiên - Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnhKon Tum, phía Tây giáp tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào), phíaĐông giáp Biển Đông Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2thành phố, 1 thị xã và 15 huyện với 247 xã, phường, thị trấn Tính đến hết năm
2018, dân số Quảng Nam là 1.802.000 người Với vị trí địa lý của mình, QuảngNam có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu với các khu vực khác trong cảnước cũng như với các quốc gia láng giềng
Tình hình tội phạm đã phát hiện, xử lý trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, cụ thểnhư sau: (Số liệu thống kê từ 01/12/ 2014 đến ngày 01/12/2018)
- Năm 2015: Phát hiện và xử lý 2 vụ tội phạm về an ninh quốc gia Khởi tố
320 vụ/526 bị can tội phạm về trật tự xã hội, tuy nhiên, án rất nghiêm trọng, đặc biệtnghiêm trọng có xu hướng tăng, nhất là tội phạm Giết người, đã khởi tố mới 12 vụ/13 bịcan (tăng 05 vụ so với năm 2014) Có nhiều động cơ, nguyên nhân khác nhau dẫn đếngiết người mà chủ yếu là do sử dụng chất kích thích như rượu, bia không làm chủ đượcbản thân, như vụ Đinh Văn Triệu giết Nguyễn Thanh Quang ở Nóc Priết, thôn 4b, xã TràVinh, huyện Nam Trà My, vụ Tơ Đênh Triệu giết cha ruột là Tơ Đênh Đíp; giết người đểcướp tài sản như vụ Lê Thanh Hùng giết anh Nguyễn Ca để cướp xe máy Các tội xâmhại tình dục trẻ em có chiều hướng giảm, tuy nhiên tính chất vẫn rất nghiêm trọng Đánglưu ý là tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng gia tăng, với phương thức, thủ đoạnphạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt Trong kỳ, đã khởi tố mới 09 vụ/19 bị can về tội sửdụng mạng máy tính,
Trang 37mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số để chiếm đoạt tài sản khởi tố 107vụ/108 bị can về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ (giảm 01 vụ nhưng tăng 05 bị can so với năm 2014)
Tính chất những vụ việc chống người thi hành công vụ xảy ra trong kỳ ngàycàng nghiêm trọng và phức tạp, đã khởi tố 07 vụ/07 bị can (tăng 02 vụ) Tội phạm
về kinh tế, sở hữu, đã khởi tố mới 592 vụ/541 bị can (giảm 90 vụ/94 bị can so với
năm 2014) Chiếm tỷ lệ cao trong nhóm tội này vẫn là tội Trộm cắp tài sản (432 vụ,chiếm tỷ lệ 73%), Cướp giật tài sản (37 vụ, chiếm tỷ lệ 6,3%) Tội phạm ma túy trênđịa bàn tỉnh Quảng Nam tiếp tục diễn biến phức tạp; đã khởi tố mới 78 vụ/107 bịcan về các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy (tăng 01 vụ/
09 bị can so với năm 2014) Trong năm khởi tố 05 vụ/16 bị can tội phạm về tham
nhũng, chức vụ (giảm 04 vụ/04 bị can so với năm 2014) [27].
- Năm 2016: Đã khởi tố mới 321 vụ/563 bị can tội phạm về trật tự xã hội (tăng
01 vụ/37 bị can so với năm 2015), chủ yếu về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tộiđánh bạc và tổ chức đánh bạc Riêng tội giết người đã khởi tố 11 vụ/15 bị can (giảm 01
vụ nhưng tăng 02 bị can), tuy nhiên lại xuất hiện tình trạng băng nhóm dùng súng, mã tấuthanh toán lẫn nhau làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương và gây lo lắngcho quần chúng nhân dân Các tội xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng giảm, đã khởi
tố 08 vụ/08 bị can (giảm 07 vụ/08 bị can) nhưng tính chất các vụ án ngày càng nghiêmtrọng Tội phạm sử dụng công nghệ cao để chiếm đoạt tài sản không tăng so với năm
2015 nhưng phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đã khởi tố mới
07 vụ/12 bị can về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết
bị số để chiếm đoạt tài sản Khởi tố mới 533 vụ/578 bị can tội phạm về kinh tế, sở hữu(giảm 59 vụ, tăng 37 bị can so với năm 2015) Chiếm tỷ lệ cao trong nhóm tội xâm phạm
sở hữu vẫn là tội Trộm cắp tài sản (374/476 vụ - 78,6%) Tuy số vụ mới khởi tố giảmnhưng tài sản thiệt hại do các hành vi phạm tội gây ra rất lớn, nhất là các hành vi trộm,cướp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản Riêng nhóm tội về kinh tế và môi trường xảy ra trongnăm tăng so với năm 2015; đã khởi tố mới 57 vụ/71 bị can (tăng 18 vụ/36 bị can), chủyếu là các tội xâm phạm tài nguyên rừng Đối với nhóm tội phạm về ma túy, khởi tố mới
89 vụ/128 bị can về các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
Trang 38ma túy Trong số các vụ án mới khởi tố, có nhiều vụ tàng trữ, vận chuyển trái phép
ma túy với trọng lượng lớn như vụ Vũ Thị Kim Liên bị bắt quả tang đang vậnchuyển 1576,968 gam methamphetamin Vụ án được các cơ quan tố tụng cấp tỉnhxác định làm án điểm, xét xử lưu động với mức án 18 năm tù đối với bị cáo Liên.Khởi tố 03 vụ/07 bị can tội phạm về tham nhũng, chức vụ (giảm 02 vụ/09 bị can sovới năm 2015) Đối với nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, đã khởi tố đểđiều tra 02 vụ/08 bị can (tăng 06 bị can so với năm 2015) Nhìn chung, tình hình viphạm, tội phạm được các cơ quan chức năng phát hiện trên địa bàn tỉnh tăng so vớinăm 2015 (tăng 86 tin báo) nhưng số vụ mới khởi tố giảm 4,9 % so với năm 2015.Tuy số vụ mới khởi tố giảm nhưng tình hình tội phạm vẫn còn đang diễn biến phứctạp, nhất là tội phạm về ma túy, giết người, hủy hoại rừng, trộm cắp tài sản, tội
phạm công nghệ cao [28].
- Năm 2017: Tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn tỉnh, được các cơ quan chức
năng phát hiện và khởi tố giảm so với năm 2016 Đã khởi tố mới 932 vụ/1.112 bị can (giảm
45 vụ ≈ 4,6%) Tuy nhiên, một số loại tội phạm vẫn đang diễn biến phức tạp, như tội phạm
về ma túy, tội phạm xâm hại tình dục trẻ em có chiều hướng gia tăng về số vụ và tính chấtnghiêm trọng Đối với nhóm tội phạm về trật tự xã hội đã khởi tố 289 vụ/475 bị can (giảm 32vụ/88 bị can) Chiếm tỷ lệ cao là tội Cố ý gây thương tích (115 vụ/289 vụ - 39,8%) Nổi lêntrong nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe là tình trạng các băng nhóm có tính chất xãhội đen, sử dụng hung khí nguy hiểm như dao lê, mã tấu hoặc các vũ khí tự chế như súng,quả nổ để thanh toán lẫn nhau, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự tại địa phương, gâytâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân Đáng báo động là tội phạm xâm hạitình dục trẻ em gia tăng về số vụ và tính chất nghiêm trọng; đã khởi tố mới 24 vụ/21 bị can(tăng 16 vụ/13 bị can) Trong năm 2017 cũng đã xảy ra 269 vụ tai nạn giao thông đường bộ,làm 225 người chết và 106 người bị thương, tăng 16 vụ và 20 người chết so với năm 2016nhưng số vụ mới khởi tố lại giảm (giảm 10 vụ) Một trong những nguyên nhân dẫn đến số vụkhởi tố giảm là do sự thay đổi của pháp luật (Khoản 3, Điều 29 BLHS 2015 về miễn tráchnhiệm hình sự) Đối với nhóm tội phạm về kinh tế, sở hữu, đã khởi tố 536 vụ/486 bị can(giảm 26 vụ/129 bị can) Chiếm tỷ lệ cao là tội Trộm cắp tài sản (329 vụ/536 vụ - 61,4%).Một số tội có chiều hướng gia tăng
Trang 39như tội Cướp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Hủy hoại tài sản Các hành vitrộm, cướp giật tài sản liên quan đến người nước ngoài xảy ra nhiều ở địa bàn thànhphố Hội An Đối với nhóm tội phạm về ma túy, đã phát hiện và khởi tố 103 vụ/144
bị can về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy (tăng 14 vụ/21 bị can).Trong đó có nhiều vụ mua bán ma túy với trọng lượng lớn, điển hình như vụ TrầnHoàng Sơn với tổng trọng lượng 1.713,35 gam ma túy các loại Khởi tố 02 vụ/03 bịcan để điều tra về nhóm tội phạm tham những, chức vụ (giảm 01 bị can), gồm 02vụ/04 bị can về tội Tham ô tài sản, 01 vụ/02 bị can về tội Lạm dụng chức vụ, quyềnhạn chiếm đoạt tài sản Các vụ tham nhũng, chức vụ đã gây thất thoát của Nhà nước
số tiền 874.718.000 đồng Nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp cũng đãphát hiện và khởi tố mới 01 vụ/01 bị can về tội Trốn khỏi nơi giam xảy ra tại Nhà
tạm giữ Công an huyện Bắc Trà My (giảm 01 vụ/07 bị can) [29].
- Năm 2018: Tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn tỉnh, được các cơ quan
chức năng phát hiện và khởi tố tăng so với năm 2017 Trong năm qua, có 1.062 vụ/1.449
bị can khởi tố mới (tăng 130 vụ/337 bị can ≈ 12,24%) Đối với nhóm tội phạm về trật tự
xã hội, đã khởi tố 351 vụ/708 bị can (tăng 61 vụ/233 bị can) Tội phạm thuộc nhóm tộixâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người chiếm tỷ lệ cao sovới các nhóm tội phạm khác trên lĩnh vực trật tự xã hội (chiếm 45%) và có chiều hướnggia tăng về tính chất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, nhất là tội phạm giết người, cố
ý gây thương tích và các tội xâm hại tình dục trẻ em Cụ thể: đã khởi tố 15 vụ/15 bị can
về tội Giết người (tăng 06 vụ/03 bị can); khởi tố 112 vụ/139 bị can về tội Cố ý gâythương tích; tội phạm xâm hại tình dục trẻ em tiếp tục diễn biến phức tạp, tính chất, mức
độ ngày càng nghiêm trọng, báo động đạo đức của một nhóm người bị xuống cấp trầmtrọng, đã khởi tố 25 vụ/22 bị can (tăng 01 vụ/01 bị can) Đáng lưu ý trong nhóm tội xâmphạm an toàn công cộng, trật tự công cộng là tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc Các loạitội này so với cùng kỳ năm 2017 tăng về số vụ và nghiêm trọng về tính chất, trong đó cónhiều vụ đánh bạc có quy mô lớn, hoạt động có tổ chức, số tiền sử dụng đánh bạc rất lớn.Trong năm đã khởi tố 77 vụ/327 bị can về các hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc (tăng
39 vụ/149 bị can) Số vụ vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ tiếp tục giatăng (tăng 12 vụ, 10 người chết), đã khởi tố 81 vụ/82 bị can Nhóm tội phạm về
Trang 40kinh tế, sở hữu đã khởi tố 599 vụ/569 bị can (tăng 63 vụ/83 bị can), trong đó chiếm
tỷ lệ cao là tội Trộm cắp tài sản (339 vụ/321 bị can - chiếm 57,3%) Phát hiện vàkhởi tố 106 vụ/163 bị can nhóm tội phạm về ma túy, đặc biệt là hành vi mua bán,tàng trữ trái phép chất ma túy (tăng 03 vụ/19 bị can) Nhóm tội phạm về thamnhũng, chức vụ, đã khởi tố 05 vụ/06 bị can để điều tra (tăng 02 vụ), các vụ thamnhũng, chức vụ đã gây thất thoát của Nhà nước số tiền hơn 412 triệu đồng, trong đó
cơ quan có thẩm quyền đã thu hồi được 265 triệu đồng Nhóm tội phạm xâm phạm
hoạt động tư pháp, đã phát hiện và khởi tố mới 01 vụ/03 bị can, tăng 02 bị can [30].
2.1.2 Tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam
VKS nhân dân tỉnh Quảng Nam được chia tách từ VKS nhân dân tỉnh QuảngNam - Đà Nẵng và chính thức hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 1997
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn: VKS nhân dân tỉnh Quảng Nam THQCT vàkiểm sát các hoạt động tư pháp theo qui định của Hiến pháp và Pháp luật
Trong phạm vi chức năng của mình, VKS nhân dân tỉnh Quảng Nam có nhiệm
vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa vàquyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tínhmạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân trên địa bàn tỉnhQuảng Nam; bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể,quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều phải được xử lý theo pháp luật
Về cơ cấu tổ chức: VKS nhân dân Quảng Nam có 294 người bao gồm 237
biên chế và 57 nhân viên hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ.VKS gồm 12 Phòng ban, 18 VKS huyện, thị xã, thành phố trực thuộc
Trong VKS nhân dân Quảng Nam có các KSV, KTV với số lượng cụ thể:
- KSV cao cấp: 01 đồng chí; KSV trung cấp: 54 đồng chí; KSV sơ cấp: 108 đồng chí
- Kiểm tra viên: 7 đồng chí Với nhiệm vụ giúp việc KSV, Lãnh đạo VKSnhân dân kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh doanh thương mại và những việc khác theoquy định của pháp luật; trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấphành án phạt tù; thi hành các bản án: trong công tác xét khiếu tố và một