2003 – Bộ luật có tính chất “xương sống” cho toàn bộ quá trình tố tụng hình sự không rõ ràng, văn bản hướng dẫn chi tiết cho Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là Thông tư liên tịch số 06/
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận
văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngọc Lê
Trang 3
STT Chữ cái viết tắt Cụm từ đầy đủ
6 BNN&PTNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
7 VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 4Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI
TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 7
1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 15
1.1.3 Ý nghĩa của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 19
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 22
1.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 22
1.2.2 Những điểm mới trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 36
Kết luận Chương 1 44
Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 45
2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 45
2.1.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 45
2.1.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 53
2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 62
2.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự 62
2.2.2 Một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự 77
Kết luận Chương 2 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố giai đoạn 2012 – 2016: 46
Bảng 1: Tình hình hoạt động của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn khởi tố giai đoạn 2012 – 2016: 49Bảng 2: Số lượng Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát qua công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự giai đoạn 2012 – 2016: 51
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng đầu tiên, có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong tư pháp hình sự Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền thông qua việc kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm để xác định tính xác thực của nguồn tin và khẳng định có hay không có dấu hiệu tội phạm trong nguồn tin về tội phạm đó, từ đó làm căn cứ ra quyết định khởi
tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Khi tiến hành kiểm tra, xác minh, cơ quan có thẩm quyền thực hiện một số hoạt động nhất định để thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật có ý nghĩa trong giải quyết nguồn tin, cũng có thể áp dụng một số biện pháp ngăn chặn lên một số đối tượng để đảm bảo việc thu thập tài liệu, xác minh nguồn tin… Các hoạt động được thực hiện trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa đảm bảo mọi tội phạm đều bị phát hiện và khởi tố kịp thời, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không khởi tố nếu không đủ căn cứ Tuy nhiên, cũng chính vì là giai đoạn tố tụng đầu tiên, các hoạt động xác minh, kiểm tra cũng như các biện pháp ngăn chặn được áp dụng lên đối tượng mới chỉ là “tình nghi”, chưa hoàn toàn chắc chắn; đối tượng chưa có tư cách tham gia tố tụng cụ thể như: người bị hại, bị can… Chính vì vậy, sự tham gia, thực hiện chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát từ giai đoạn tố tụng đầu tiên này là hoàn toàn cần thiết, đảm bảo việc áp dụng các quy định pháp luật trong giai đoạn này là có căn cứ, hợp lý
Tuy xác định được vai trò quan trọng của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự nhưng ở thời điểm hiện tại, hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự vẫn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn, nhiều địa phương vẫn còn loay hoay với việc tìm ra quy trình thực hiện thống nhất giữa các cơ quan
có thẩm quyền sao cho đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật mà đạt hiệu quả cao… Mà một trong những nguyên nhân ở chỗ các quy định pháp luật về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự Vấn đề này được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, quy định về khởi tố vụ án hình sự cũng như kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự năm
Trang 72003 – Bộ luật có tính chất “xương sống” cho toàn bộ quá trình tố tụng hình
sự không rõ ràng, văn bản hướng dẫn chi tiết cho Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 là Thông tư liên tịch số 06/2013 ngày 02/8/2013 của liên ngành Bộ Công an , Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố - hoạt động quan trọng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
đã được thi hành một thời gian nhưng cũng xuất hiện nhiều điểm vướng mắc, hạn chế Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã ra đời nhưng chưa có hiệu lực thi hành
Xét thấy việc nghiên cứu, làm rõ các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự trên thực tế, qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng
công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, học viên lựa chọn đề tài: “Kiểm
sát việc khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo Thạc sỹ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến lĩnh vực này, trong đó tập trung nghiên cứu theo những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu chung về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Điển hình như: Nguyễn Minh Đức (2006), Về chức năng, nhiệm vụ của Viện
kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp (Tạp chí Kiểm sát, số 9/2006); Khuất
Văn Nga: Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và
tổ chức hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thời kỳ đổi mới (Tạp chí
Kiểm sát số 15/2005); Lê Hữu Thể: Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy
định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp năm 1992 (Tạp chí Kiểm sát, Số Xuân,
tháng 01/2012);…
- Nghiên cứu cụ thể về chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân:
Trần Văn Độ: Một số vấn đề về hoạt động tư pháp và kiểm sát hoạt động tư
Trang 8pháp ở nước ta hiện nay (Tạp chí Luật học số 2/2004); Nguyễn Tiến Sơn: Phân biệt thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự (Tạp chí Kiểm sát số 09, tháng 5/2009); Nguyễn Như Hùng: Những quy định về kiểm sát hoạt động tư pháp trong dự thảo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) (Tạp chí Kiểm sát số 04, tháng 02/2014)…
- Nghiên cứu về các giai đoạn tố tụng hình sự cũng như giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự: Lê Cảm: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố
tụng hình sự (Tạp chí Kiểm sát số Tết, 2-2004); Trần Quang Tiệp: Áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can (Tạp chí Kiểm
sát số Tân Xuân, 2/01-2007)
- Nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong
khởi tố vụ án hình sự: Luận văn thạc sỹ của Đặng Văn Thực: Nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự,
bảo vệ năm 2014; Vũ Gia Lâm: Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự (Tạp chí Kiểm sát số 07,
tháng 4/2013); Phạm Mạnh Hùng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
khởi tố vụ án và kiểm sát việc khởi tố vụ án (Tạp chí Kiểm sát số Tân Xuân,
2/01-2007);
Những công trình nghiên cứu khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tổ chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, về chức năng chính của Viện kiểm sát trên một số hoạt động cụ thể Cũng đã có công trình nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ nói chung của
Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự Tuy nhiên, vấn đề “Kiểm sát việc
khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” ,
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định pháp luật thì hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào Mặt khác, ở thời điểm hiện tại, các quy định pháp luật về lĩnh vực này có nhiều thay đổi, chưa ổn định, thống nhất Do vậy, cần
có sự nghiên cứu cụ thể và toàn diện hơn
Trang 93 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình sự, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm
2012 đến năm 2016 Đồng thời nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự trong giai đoạn này (thời điểm từ năm 2012 đến năm 2016), qua đó thấy được những kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế Từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự; những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, qua đó đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, rút ra được những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong quá trình áp dụng và nguyên nhân Từ đó luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cũng như giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục tiêu này, đề tài tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 10Làm rõ những vấn đề về mặt lý luận như khái niệm, đặc điểm của khởi
tố vụ án hình sự, hoạt động thực hiện chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân mà cụ thể là khái niệm, đặc điểm của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự; đưa ra cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và ý nghĩa của nó Nghiên cứu về các quy định của pháp luật tố tụng hình sự có liên quan đến kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Phân tích những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong việc áp dụng các quy định pháp luật vào kiểm sát việc khởi
tố vụ án hình sự Qua đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
5 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, các quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp
Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, tổng kết thực tiễn… nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Thông qua đánh giá những vấn đề lý luận, các quy định pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, đề tài đã đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự trên thực tế, đem lại ý nghĩa về mặt lý luận cũng như có giá trị tham khảo trong quá trình nghiên cứu các quy định pháp luật về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Ý nghĩa thực tiễn: luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập tại các cơ sở đào tạo về chuyên ngành luật và có giá trị tham khảo đối với đội ngũ làm công tác thực tiễn trong ngành kiểm sát
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm hai chương:
Trang 11Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và một số kiến nghị
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ VỤ ÁN
HÌNH SỰ 1.1 Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
* Khái niệm, đặc điểm về khởi tố vụ án hình sự
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình tố tụng đặc biệt, không giống với quá trình giải quyết của bất kỳ vụ án dân sự, hành chính… nào bởi tính chất phức tạp của tội phạm cũng như quá trình chứng minh tội phạm Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn tố tụng khác nhau, tương ứng với chức năng nhất định của các cơ quan tiến hành
tố tụng, nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Trong quá trình này, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng đầu tiên, là giai đoạn tố tụng khởi động quá trình giải quyết vụ án hình sự
Về khái niệm khởi tố vụ án hình sự, hiện nay đã có nhiều khái niệm
khởi tố vụ án hình sự được đưa ra: Theo Từ điển Luật học, “khởi tố vụ án
hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động
để xác định dấu hiệu của tội phạm”1
Khái niệm này khẳng định khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, có ý nghĩa là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng hình sự, xác định chủ thể tiến hành cũng như nhiệm vụ của chủ thể trong giai đoạn này là “xác định dấu hiệu tội phạm” nhưng vẫn chưa đưa đến mục đích cuối cùng của việc thực hiện nhiệm vụ này Mặt khác, khái niệm vẫn chưa khái quát được phạm vi của khởi tố vụ án hình sự, những cơ
sở để thực hiện nhiệm vụ và những biện pháp thực hiện nhiệm vụ của chủ thể tiến hành
Theo Tiến sỹ Phạm Mạnh Hùng thì “khởi tố vụ án hình sự là một giai
đoạn tố tụng hình sự, trong đó các cơ quan có trách nhiệm và có quyền tiến
1 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp – Nhà xuất bản Từ
điển bách khoa, Hà Nội (429)
Trang 13hành các hoạt động tố tụng để xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm và người phạm tội, từ đó làm cơ sở để xem xét việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự 2 ” Khái niệm này của Tiến sỹ Phạm Mạnh Hùng có
nhiều điểm tương đối giống với khái niệm mà Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra: “Khởi tố vụ án hình sự
là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án” 3
Cụ thể những điểm tương đồng: hai khái niệm đã khẳng định khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng; cùng nhắc đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành trong giai đoạn này nhưng không xác định cụ thể; cùng đưa ra được nhiệm vụ của các cơ quan đó trong giai đoạn này Tuy nhiên, Tiến sỹ Phạm Mạnh Hùng mới chỉ cho rằng khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, chưa xác định cụ thể vị trí của nó trong các giai đoạn tố tụng hình sự trong khi Trường Đại học Luật Hà Nội đã khẳng định khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự Nhìn chung, các khái niệm đã phần nào vẽ ra những đặc điểm của khởi tố vụ án hình sự mặc dù chưa thực sự đầy đủ
Tiến sỹ Trần Quang Tiệp cũng đưa ra khái niệm về khởi tố vụ án hình
sự:“là giai đoạn đầu tiên của tố tụng hình sự có nhiệm vụ xác định sự việc có
xảy ra dấu hiệu tội phạm hay không? Giai đoạn này bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, đơn vị Bộ đội Biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm và các cơ quan có thẩm quyền khác nhận được tin báo hoặc tố giác
về tội phạm hoặc trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm và kết thúc bằng việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự” 4 Khái niệm đã vạch ra tương đối đầy đủ các đặc điểm của khởi tố
vụ án hình sự: khẳng định là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên, nêu được
4 Trần Quang Tiệp (2007), Áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc quyết định khởi tố,
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, Tạp chí Kiểm sát số 2/2007 (22)
Trang 14nhiệm vụ, phạm vi, chủ thể có thẩm quyền thực hiện, đối tượng tác động của chủ thể (những cơ sở)
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự độc lập, có nhiệm vụ riêng, có phạm vi tố tụng, có cơ sở riêng, chủ thể tố tụng, các biện pháp tố tụng
cụ thể được áp dụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Trong đó:
Phạm vi của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin, thông tin đầu tiên về tội phạm, kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ
án hình sự
Nhiệm vụ của khởi tố vụ án hình sự là ghi nhận những thông tin ban đầu về tội phạm, tiến hành xác minh có hay không có dấu hiệu tội phạm ở nguồn tin đã tiếp nhận, từ đó có căn cứ ra quyết định khởi tố hay không khởi
tố vụ án hình sự
Cơ sở của việc khởi tố vụ án hình sự là nguồn tin về tội phạm mà cơ quan điều tra dựa vào đó, tiến hành xác minh, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm Dấu hiệu tội phạm phải được xác định thông qua những nguồn tin về tội phạm mà pháp luật đã quy định thì mới có giá trị pháp lý, là căn cứ của việc khởi tố vụ án Theo quy định pháp luật thì những cơ sở để xác định dấu hiệu tội phạm bao gồm: tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các
cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm và nguồn tin từ chính người phạm tội tự thú5
Chủ thể tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là những cơ quan, tổ chức được pháp luật tố tụng hình sự quy định có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án Ngoài ra còn có những cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Kiểm lâm, Hải quan…
5
Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 15Các biện pháp tố tụng hình sự có thể được áp dụng ở giai đoạn này nhằm phục vụ cho quá trình xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hay kiến nghị khởi tố có thể bao gồm: biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp; tạm giữ; khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; khám xét; khám xét khẩn cấp
Từ những đặc điểm nêu trên, có thể hiểu khởi tố vụ án hình sự là giai
đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự Trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, áp dụng một số hoạt động điều tra, xác minh ban đầu và ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự
* Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân
Ngay từ chính cái tên của chủ thể thực hiện: Viện kiểm sát nhân dân -
đã khái quát được vai trò của kiểm sát đối với cơ quan này Viện kiểm sát nhân dân thực hiện kiểm sát là một hoạt động cơ bản, có tính truyền thống, chuyên biệt và để thực hiện chức năng riêng có của mình Việc thực hiện kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân vừa thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa để hỗ trợ thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của chính Viện kiểm sát nhân dân
Từ điển Luật học đã đưa ra khái niệm Kiểm sát hoạt động tư pháp là:
“kiểm tra, giám sát, xem xét, theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.” 6 Định nghĩa này cho rằng kiểm sát hoạt động tư pháp là một hoạt
động mang tính quyền lực nhà nước, là việc giám sát trực tiếp các hoạt động
cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền
tư pháp trong quá trình tố tụng
Tiến sỹ Lê Hữu Thể cũng đưa ra quan điểm về kiểm sát hoạt động tư
pháp là “một hình thức của hoạt động giám sát nhà nước – theo dõi, kiểm tra
việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của các chủ thể được giao thực hiện
6 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp – Nhà xuất bản Từ
điển bách khoa, Hà Nội (441)
Trang 16thẩm quyền tư pháp” 7 Việc kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm bảo đảm cho
pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh, thống nhất Quan điểm này đã đưa ra phạm vi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp rộng hơn: trong quá trình giải quyết các vụ án, việc hay bất kỳ hoạt động tư pháp nào, Viện kiểm sát có quyền áp dụng những biện pháp do pháp luật quy định để phát hiện, loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp, cán bộ
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định pháp luật8
Khái niệm đã khái quát tương đối đầy đủ các thông tin cần phản ánh về kiểm sát hoạt động tư pháp như về chủ thể thực hiện; về phạm vi thực hiện, khái niệm cũng liệt kê các hoạt động tư pháp thường xuyên có sự tham gia kiểm sát của Viện kiểm sát; về nội dung của kiểm sát và đối tượng hướng đến của kiểm sát
Như vậy, kiểm sát là hoạt động có tính chất quyền lực nhà nước, được Quốc hội trao cho Viện kiểm sát nhân dân với mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Kiểm sát có những đặc trưng như sau:
Thứ nhất, về chủ thể thực hiện: kiểm sát là hoạt động thể hiện chức năng đặc trưng, riêng có và là chức năng truyền thống của Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát chỉ được thực hiện bởi một chủ thể duy nhất là Viện kiểm sát
7 Lê Hữu Thể (2012), Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp 1992,
Tạp chí Kiểm sát, số Xuân, tháng 01/2012 (26)
8
Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Trang 17Thứ hai, về phạm vi áp dụng: Viện kiểm sát nhân dân chỉ thực hiện kiểm sát trong các hoạt động tư pháp Trước khi Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có hiệu lực, Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát nhằm thực
hiện chức năng “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đối với các cơ quan Nhà
nước, nhân viên các cơ quan Nhà nước và công dân trong các lĩnh vực hành
chính, kinh tế, xã hội, hay còn gọi là “kiểm sát chung” Sau khi Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 có hiệu lực, Viện kiểm sát tiến hành kiểm
sát nhằm để thực hiện chức năng “Kiểm sát hoạt động tư pháp”, kiểm sát các hành vi, quyết định của các chủ thể trong hoạt động tư pháp Thuật ngữ “kiểm
sát hoạt động tư pháp” chỉ khác “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” về phạm
vi thực hiện Sự khác nhau về phạm vi thực hiện chức năng này của Viện
kiểm sát cũng là do mục đích thực hiện khác nhau Nếu “Kiểm sát việc tuân
theo pháp luật” nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất9 thì thực hiện “Kiểm sát hoạt động tư pháp” góp phần bảo đảm
pháp chế xã hội chủ nghĩa10 Về cơ bản, “kiểm sát hoạt động tư pháp” cũng là
kiểm sát việc tuân theo pháp luật, nhưng thay vì được áp dụng đối với các chủ thể thực hiện pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như khi áp
dụng “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật” thì “kiểm sát hoạt động tư pháp”
chỉ áp dụng trong hoạt động tư pháp, tức là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, chủ thể tiến hành và tham gia giải quyết vụ án hình sự; hoạt động giải quyết vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính, lao động và hoạt động thi hành án Trong tố tụng hình sự, khác hẳn với chức năng thực hành quyền công tố chỉ thực hiện từ giai đoạn khởi tố
và kết thúc khi xét xử, ra bản án quyết định đối với người phạm tội thì chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát được thực hiện ở tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, từ giai đoạn khởi tố, cho đến điều tra, truy tố, xét xử và cuối cùng là thi hành án hình sự Trong đó, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, cũng là giai đoạn đầu tiên mà Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát
Trang 18Thứ ba, về nội dung và đối tượng áp dụng: kiểm sát là kiểm tra, đánh giá tính có căn cứ, hợp pháp của những quyết định, hành vi của các cơ quan, chủ thể tiến hành, tham gia vào các hoạt động tư pháp, đảm bảo hoạt động, sự tham gia của các cơ quan, chủ thể trong hoạt động tư pháp tuân thủ đúng theo quy định pháp luật
Từ những đặc trưng trên, có thể hiểu: kiểm sát là một chức năng đặc
trưng của Viện kiểm sát nhân dân, trong đó, Viện kiểm sát thực hiện các hoạt động nhằm kiểm tra tính có căn cứ, hợp pháp; giám sát việc tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành hay tham gia vào các hoạt động phát hiện, giải quyết vụ án hình sự; giải quyết các vụ, việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính và các việc khác theo quy định của pháp luật
* Khái niệm, đặc điểm về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, có nhiệm vụ phát hiện kịp thời mọi tội phạm, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự cũng là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân nhằm thực hiện các hoạt động kiểm tra tính có căn cứ, hợp pháp; giám sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể trong giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên này Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có những đặc điểm cơ bản sau:
Đối tượng của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là các quyết định, hành vi, các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụ
án hình sự Cụ thể hơn có thể từ việc ban hành Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét, hoạt động lấy lời khai ban đầu ; việc ban hành quyết định tạm giữ, lệnh bắt khẩn cấp cho đến việc ban hành quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự của
cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự Trong quá trình tham gia thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên đồng thời xem xét tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn này
Trang 19Phạm vi của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự tương đối giống với phạm vi của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: bắt đầu hoạt động kiểm sát từ khi Cơ quan điều tra tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và kết thúc sau khi Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát bao gồm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan có thẩm quyền; kiểm sát một số hoạt động điều tra ban đầu và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn; kiểm sát việc ra các quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố hoặc một số quyết định khác của Cơ quan có thẩm quyền Hoạt động này của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo quá trình khởi tố vụ
án hình sự được thực hiện có căn cứ, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật
Khác hẳn với việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát ban hành các quyết định, phê chuẩn,… nhằm thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước, đảm bảo phát hiện, xử lý kịp thời, khách quan, không bỏ lọt tội phạm Trong công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát không trực tiếp ban hành các quyết định, phê chuẩn… mà chính trong quá trình tham gia thực hành quyền công tố, bám sát tiến trình xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đồng thời thực hiện chức năng kiểm sát, kiểm tra tính có căn cứ cả về nội dung và hình thức của các quyết định, hành vi tố tụng, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền khởi tố
vụ án hình sự thì yêu cầu bổ sung, khắc phục, hơn nữa thì áp dụng biện pháp kiến nghị, kháng nghị
Mục đích của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự là nhằm phát hiện kịp thời những quyết định, hành vi không có căn cứ của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụán hình sự đồng thời có những biện pháp hiệu quả nhằm khắc phục kịp thời, đảm bảo các quy định của pháp luật trong hoạt động này được tuân thủ chặt chẽ, nghiêm ngặt
Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu kiểm sát việc khởi tố vụ án
hình sự là hoạt động của Viện kiểm sát nhằm kiểm tra, giám sát, đánh giá tính
Trang 20có căn cứ, hợp pháp của các quyết định, hành vi tố tụng hình sự; theo dõi sự tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp của các cơ quan, chủ thể có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, đảm bảo cho việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả
1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1.1.2.1 Cơ sở lý luận
Thứ nhất, xuất phát từ chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân
Ta đã biết, chức năng kiểm sát của Viện kiểm sát là chức năng truyền thống, hình thành từ khi hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được thành lập năm 1960, dựa trên cơ sở Hiến pháp năm 1959 Ở thời kỳ sơ khai này, dựa trên tinh thần:
Nhu cầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi pháp luật phải được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, đòi hỏi sự nhất trí về mục đích và hành động trong nhân dân, giữa nhân dân và nhà nước, cũng như giữa các ngành hoạt động nhà nước với nhau Nếu không đạt được sự thống nhất trong việc chấp hành pháp luật thì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn Vì lẽ đó phải
tổ chức ra Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất 11
Theo đó, kiểm sát là chức năng duy nhất của Viện kiểm sát, được thực
hiện trong phạm vi rất rộng: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nướcđịa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân Viện kiểm sát nhân dân địa phương các cấp kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan Nhà nước và công dân” 12
Viện kiểm sát không chỉ thực hiện chức năng kiểm sát trong hoạt động tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng (cụ thể là trong các giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự) mà còn thực hiện chức năng này trong mọi lĩnh vực
11 Tờ trình Quốc hội về Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 Trích dẫn Bài viết của Lê Hữu Thể:
Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về Viện kiểm sát trong Hiến pháp 1992, Tạp chí Kiểm sát, số
Xuân, tháng 01/2012 (21)
12 Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960
Trang 21khác nhau của đời sống xã hội Sau khi Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 có hiệu lực, đã thay đổi cơ bản phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát đối với chức năng kiểm sát Thay vì thực hiện quyền giám sát, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật trong phạm vi tất cả các hoạt động của cơ quan, chủ thể trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội thì Viện kiểm sát chỉ thực hiện chức năng kiểm sát trong hoạt động tư pháp Như vậy, mặc dù đã trải qua nhiều thay đổi về phạm vi thực hiện chức năng để phù hợp với sự phân công quyền lực nhà nước của Quốc hội, phù hợp với mô hình Viện kiểm sát theo xu hướng chung của thế giới cũng như đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ mà Nhà nước, nhân dân giao phó nhưng đến thời điểm hiện tại, việc thực hiện chức năng kiểm sát trong hoạt động tư pháp nói chung, trong tư pháp hình sự
mà cụ thể hơn nữa là trong khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát vẫn chưa bao giờ thay đổi mục đích đã đề ra ban đầu, từ khi thành lập khi trao cho Viện kiểm sát chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm giữ vững pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh, thống nhất Như vậy, cơ sở về mặt lý luận đầu tiên đặt ra cho kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự chính là xuất phát từ chính mục đích đã đặt ra từ những ngày đầu tiên Quốc hội trao chức năng kiểm sát cho Viện kiểm sát
Thứ hai, xuất phát từ sự cần thiết phải đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật trong quá trình khởi tố vụ án hình sự Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, quá trình tố tụng hình sự là quá trình các chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật, thực hiện các hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình nhằm phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật hình sự, được coi là tội phạm So với những vi phạm pháp luật khác thì tội phạm là vi phạm pháp luật có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao nhất, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ Mặt khác, chính trong công tác phát hiện và xử lý tội phạm có thể ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân được pháp luật bảo vệ Vì vậy công tác phát hiện và xử lý tội phạm cũng được pháp luật quy định chặt chẽ Chủ thể tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt, đảm bảo không để xảy ra tình
Trang 22trạng việc phát hiện và xử lý tội phạm xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân Để đảm bảo công tác phát hiện, xử lý tội phạm thực hiện đáp ứng được yêu cầu phát hiện chính xác, kịp thời xử lý tội phạm một cách phù hợp nhất thì các chủ thể tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng phải thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật tố tụng hình sự Do đó, quá trình phát hiện, xử lý tội phạm cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự chính là giai đoạn đầu tiên, phát hiện tội phạm Để đảm bảo phát hiện tội phạm chính xác, kịp thời, không làm oan, sai, bỏ lọt tội phạm thì các chủ thể tiến hành tố tụng phải tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự đối với họ trong giai đoạn này Từ đó, cần thiết phải có một chủ thể có vai trò kiểm tra, giám sát sự tuân thủ quy định pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng trong các quyết định, hành vi tố tụng ở giai đoạn đầu tiên, giai đoạn phát hiện tội phạm
Thứ ba, xuất phát từ chính vai trò bổ trợ của kiểm sát cho hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án hình sự Về
lý luận, chức năng thực hành quyền công tố là chức năng đặc biệt, riêng có của Viện kiểm sát Nhằm thực hiện quyền buộc tội của Nhà nước, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đảm bảo mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm Trong khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố ngay từ thời điểm đầu tiên, từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm Viện kiểm sát tiến hành các hoạt động thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn này như ban hành Yêu cầu điều tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu đó; phê chuẩn, thay đổi hay hủy bỏ biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ;… yêu cầu khởi tố vụ án hình sự; hủy bỏ cách quyết định tố tụng trái quy định pháp luật… Có thể khẳng định mọi hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn này đều hướng tới mục đích xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm một cách kịp thời, hiệu quả nhất Để chức năng thực hành quyền công
tố trong khởi tố vụ án hình sự đạt được mục đích là xác định được một cách chính xác nhất có hay không có dấu hiệu tội phạm đối với nguồn tin đã nhận
Trang 23được, từ đó đảm bảo mọi tội phạm đều bị phát hiện kịp thời thì hoạt động kiểm sát việc khởi tố, hay cụ thể hơn là việc kiểm tra, giám sát các quyết định, hành vi tố tụng của các chủ thể có thẩm quyền trong giai đoạn này, đảm bảo các quyết định, hành vi tố tụng của chủ thể có thẩm quyền đều có căn cứ, tuân thủ nghiêm chỉnh quy định pháp luật, từ đó mới đảm bảo tính khách quan, chính xác của các quyết định, hành vi tố tụng, mà rộng ra là góp phần đảm bảo việc phát hiện tội phạm được kịp thời, chức năng thực hành quyền công
tố đạt được mục đích đã đặt ra
1.1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Trong bối cảnh thực tiễn đời sống xã hội ngày càng phát triển, đi đôi với sự phát triển là sự gia tăng của những hành vi vi phạm pháp luật ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó đặc biệt là sự gia tăng của tội phạm Tuy nhiên, song hành với sự phát triển của xã hội, hành vi phạm tội ngày càng phức tạp, khó phát hiện Để tội phạm được phát hiện và xử lý kịp thời, cần thiết phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự khi tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh, xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm Cụ thể hơn, trong khởi tố vụ án hình sự, các chủ thể có thẩm quyền cần phải tuân thủ chặt chẽ hơn nữa các quy định pháp luật khi xác minh, kiểm tra nguồn tin về tội phạm
Trên thực tế, công tác giải quyết các vụ án hình sự nói chung và hoạt động phát hiện tội phạm ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói riêng còn
để xảy ra tình trạng kéo dài thời hạn giải quyết; không đảm bảo sự tham gia của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết; xâm phạm các quyền con người, quyền công dân được pháp luật bảo vệ… Cá biệt hơn, tình trạng cơ quan, người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự lạm dụng quyền hạn, thiếu trách nhiệm trong quá trình xác minh, phát hiện tội phạm cũng xuất phát từ không tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong tiến hành các hoạt động ở giai đoạn khởi tố Để ngăn chặn một cách hiệu quả nhất tình trạng đó, pháp luật quy định Viện kiểm sát tham gia, thực hiện chức năng kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự Cụ thể ở giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm và tiến hành xác minh, làm rõ sự thật
Trang 24về nguồn tin cũng như xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm Trong quá trình xác minh, cơ quan có thẩm quyền thực hiện một số hoạt động như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, lấy lời khai ban đầu… cũng
có thể quyết định áp dụng biện pháp tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân như biện pháp bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám xét… sự tham gia của Viện kiểm sát để kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp và sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp, hoạt động của Cơ quan điều tra là thực sự cần thiết, để đảm bảo quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ Việc quy định Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc khởi tố vụ án càng cần thiết hơn nữa khi giai đoạn này có ý nghĩa là giai đoạn đầu tiên của quá trình
tố tụng Việc áp dụng các biện pháp, hoạt động nhằm xác minh phải thật chuẩn xác để không bỏ lọt tội phạm mà không làm oan người vô tội
Sự tham gia của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự thể hiện vai trò không thể bàn cãi Tuy nhiên trên thực tế, để Viện kiểm sát có thể thể hiện tốt vai trò kiểm sát của mình thì hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng hình sự cần phải thật chặt chẽ, cụ thể Bởi lẽ, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát tức là kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các hoạt động nhằm xác minh có hay không có dấu hiệu tội phạm của các chủ thể xem có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hay không Trên cơ sở các chủ thể tuân thủ đúng quy định pháp luật khi xác minh, phát hiện dấu hiệu tội phạm thì kết quả xác minh làm căn cứ ra quyết định khởi tố, không khởi tố vụ án hình sự mới chính xác, khách quan Mặt khác, Viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự cũng dựa trên những quy định pháp luật
về hoạt động này, có như vậy mới đảm bảo quá trình khởi tố vụ án hình sự có tính khách quan, đạt được hiệu quả cao Như vậy, cơ sở về thực tiễn hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự đặt ra yêu cầu có một hệ thống quy định pháp luật tố tụng hình sự hoàn chỉnh quy định về kiểm sát việc khởi tố
vụ án hình sự
1.1.3 Ý nghĩa của kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Là giai đoạn tố tụng đầu tiên, giai đoạn khởi đầu cho quá trình tố tụng hình sự, khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với cả
Trang 25quá trình giải quyết vụ án hình sự Từ việc tiếp nhận thông tin, nguồn tin đầu tiên về tội phạm, phân loại và lên phương án giải quyết, đến việc tiến hành các hoạt động đầu tiên nhằm tiến hành xác minh như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét nhằm thu thập dấu vết, là một trong những căn cứ để đưa ra kết luận có hay không có dấu hiệu tội phạm, từ đó ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự Để có thể đảm bảo rằng việc phân loại nguồn tin, quyết định phân công tiến hành xác minh được ban hành kịp thời; việc thực hiện công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đảm bảo thu thập được đầy đủ các dấu vết phục vụ cho quá trình xác minh, quá trình điều tra, truy tố, xét xử sau này; việc thực hiện các hoạt động bắt, tạm giữ trong giai đoạn khởi tố sao cho đảm bảo vẫn tôn trọng quyền con người, quyền công dân của người bị bắt, tạm giữ Việc quy định Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
có ý nghĩa rất quan trọng cho cả quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ
án hình sự
Một là, hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân là hoạt động nhằm bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Đảm bảo mọi hoạt động tiếp nhận, tiến hành xác minh của cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đều tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật Dựa trên những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Nhà nước đã quy định cụ thể trong Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát tham gia ngay từ đầu khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, theo dõi sát sao việc Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phân công xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sao cho đúng thời hạn theo quy định và gửi cho Viện kiểm sát kịp thời; đảm bảo mọi trường hợp tiến hành bắt khẩn cấp, tạm giữ, khám xét, khám xét khẩn cấp đều
có căn cứ theo quy định pháp luật… Thông qua kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và tương tự, thông qua việc giám sát chặt chẽ hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình
Trang 26sự, hoạt động của Viện kiểm sát cũng góp phần đảm bảo nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa của các cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình sự
Hai là, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, sự tham gia của Viện kiểm sát với mục đích kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự để đảm bảo mọi quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan có thẩm quyền khởi tố đều khách quan, có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đúng trình tự theo quy định, thu được nhiều dấu vết phục vụ cho quá trình xác minh một cách chuẩn xác nhất; hoạt động lấy lời khai ban đầu khách quan, trung thực nhất… từ những việc tuân thủ chặt chẽ quy định pháp luật trong quá trình xác minh, kết quả xác minh được đưa
ra là khách quan, đúng pháp luật nhất Là giai đoạn tố tụng đầu tiên, kết quả xác minh là căn cứ để đưa ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự; có thể là sự khởi đầu của quá trình tố tụng hình sự tiếp theo Như vậy, sự tham gia kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa trong việc đảm bảo mọi hành vi có dấu hiệu tội phạm đều bị phát hiện, xử lý kịp thời, hiệu quả, đúng quy định pháp luật
Ba là, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự có ý nghĩa đảm bảo quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ Các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ; biện pháp khám xét, khám xét khẩn cấp có thể được áp dụng trong giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự Ở vị trí là cơ quan có chức năng giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát trong giai đoạn này có nhiệm vụ đánh giá tính có căn cứ của việc bắt người (bắt trong trường hợp khẩn cấp), đánh giá sự cần thiết phải áp dụng biện pháp tạm giữ, biện pháp khám xét… Bởi lẽ, ngay ở biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ; biện pháp khám xét đã thể hiện tính giai cấp, tính quyền lực nhà nước, các biện pháp này được áp dụng chính là xâm phạm vào quyền tự do của con người, của công dân; xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, về nơi ở, thư tín… được quy định trong Hiến pháp Chỉ trong trường hợp cần thiết, khi có căn cứ theo pháp luật quy định mới được áp dụng các biện pháp này Khi phát hiện việc bắt khẩn cấp không có căn cứ theo quy
Trang 27định, Viện kiểm sát không phê chuẩn bắt khẩn cấp; phát hiện không có căn cứ
để tạm giữ hình sự, Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, trả tự do cho người bị tạm giữ…
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1.2.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
Theo quy định của pháp luật hiện hành, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự qua những hoạt động cụ thể như sau:
- Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
- Kiểm sát một số hoạt động điều tra ban đầu và các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn;
- Kiểm sát các quyết định khác
Trong các hoạt động cụ thể nêu trên, Viện kiểm sát theo dõi, kiểm tra tính có căn cứ, sự tuân thủ nghiêm chỉnh quy định pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố vụ án hình sự, nếu phát hiện vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát, bằng những quyền hạn được pháp luật quy định có thể yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khắc phục vi phạm hay tự mình quyết định hủy bỏ quyết định trái pháp luật và đề nghị cơ quan có thẩm quyền khắc phục vi phạm pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự
1.2.1.1 Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là một dạng nguồn thông tin về tội phạm mà thông qua việc xác minh có hay không có dấu hiệu tội phạm, Cơ quan điều tra có căn cứ để ra quyết định khởi tố vụ án hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền,
khoản 4 Điều 103 BLTTHS năm 2003 đã quy định: “Viện kiểm sát có trách
nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” Cụ thể hơn, quy định của pháp luật tố tụng
Trang 28hình sự về các hoạt động của Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:
Thứ nhất, trong tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi
tố: khoản 1 Điều 103 BLTTHS năm 2003 quy định: “Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do
cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho
Cơ quan điều tra có thẩm quyền” Như vậy, theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là hai cơ quan duy nhất
có thẩm quyền tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố Thông tư liên tịch số 06/2013 ngày 02/8/2013 của liên ngành Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (gọi tắt là Thông tư liên tịch 06/2013) cũng đã nêu rõ tại Điều 6, khoản 3 Điều 7 quy định Viện kiểm sát là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố Sau khi tiếp nhận, Viện kiểm sát phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết kèm theo các tài liệu có liên quan Đến Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Điều 13 đã quy định rõ khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát có trách
nhiệm: “Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố do
các cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết” Như vậy, theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2003 và văn bản hướng dẫn là Thông tư liên tịch 06/2013, Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát trực tiếp tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Trên
cơ sở quy định này, Viện kiểm sát các cấp tổ chức trực ban hình sự để tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Tại trụ sở
Trang 29Viện kiểm sát đều trang bị phòng tiếp công dân, hòm thư tố giác tội phạm để người dân có thể đến trực tiếp tại trụ sở để tố giác hoặc gửi đơn, thư về việc tố giác tội phạm Trong giờ làm việc, Kiểm sát viên chuyên trách bộ phận tin báo có trách nhiệm trực tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Ngoài giờ làm việc, ngày lễ, cuối tuần Kiểm sát viên trực nghiệp vụ
có trách nhiệm tiếp công dân đến tố giác, tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Thông tư liên tịch 06/2013 không có quy định cụ thể về trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền nhưng theo Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thì ngoài việc Viện kiểm sát trực tiếp tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết, Viện kiểm sát còn kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra13
Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phải phân loại ngay, nếu đúng là tố giác, tin báo về tội phạm hay kiến nghị khởi tố, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong thời hạn 03 ngày làm việc và gửi ngay đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Trong trường hợp khi tiếp nhận nguồn tin, thông tin về tội phạm,
đã thấy rõ dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự ngay, không phải ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố14 Kiểm sát viên thông qua việc theo dõi, đối chiếu
sổ sách thụ lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố với Cơ quan
13 Khoản 2 Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
14 Điều 9 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
Trang 30điều tra, nắm được số lượng tin báo đã tiếp nhận trong ngày, tuần, nắm được tình hình tiếp nhận, phân loại tin của Cơ quan điều tra, biết được những tin đã được phân loại nhưng chưa vào sổ, hay những tin phân loại chưa chính xác Qua đó chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra phân loại, đề nghị Cơ quan điều tra ra Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố sao cho đúng thời hạn theo quy định pháp luật Sau khi nhận được Quyết định phân công giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Viện kiểm sát ra Quyết định phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và gửi lại cho Cơ quan điều tra Đến thời điểm này, sau khi Quyết định phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được ban hành, Kiểm sát viên của bộ phận tin báo chuyển toàn bộ
hồ sơ, tài liệu về tin báo cho Kiểm sát viên trong đơn vị phụ trách
Ngoài Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Thông tư liên tịch 06/2013 quy định một số cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm: Bộ đội biên phòng; Cơ quan Hải quan; Lực lượng Cảnh sát biển; Cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an; Tòa án; cơ quan báo chí; các cơ quan, tổ chức khác 15 Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc các cơ quan này tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm Theo khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch 06/2013, Bộ đội biên phòng,
Cơ quan Hải quan, lực lượng Cảnh sát biển; cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tự phát hiện dấu hiệu của tội phạm (thuộc quyền hạn điều tra của cơ quan mình) thì phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền Viện kiểm sát nhận thông báo của các cơ quan này về việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm hoặc tự phát hiện dấu hiệu của tội phạm thì xem xét tính
15 khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày
02/8/2013 về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 31hợp pháp, có căn cứ về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và tiến hành kiểm sát việc giải quyết theo quy định
Thứ hai,về kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền Cụ thể như sau:
- Kiểm sát thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 BLTTHS năm 2003, thời hạn để
cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình tiến hành xác minh, làm rõ có hay không có dấu hiệu tội phạm là 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hay kiến nghị khởi tố Trong trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết có thể dài hơn nhưng không quá 02 tháng Trong thời hạn này, Cơ quan điều tra phải ra một trong hai quyết định là Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Theo quy định tại Thông tư liên tịch 06/2013 thì trong quá trình xác minh tin báo, khi đã hết thời hạn giải quyết theo quy định tại Điều 103 BLTTHS năm 2003 vẫn chưa có đủ căn cứ để quyết định việc khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết để thống nhất quan điểm giải quyết16 Đây là quy định hoàn toàn mới của pháp luật tố tụng hình sự, khắc phục những vướng mắc trong quá trình thực hiện kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Khi tham gia kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hay kiến nghị khởi tố, Kiểm sát viên phải luôn sát sao, nhắc nhở Điều tra viên về thời hạn xác minh Không để tình trạng quá thời hạn xác minh Cơ quan điều tra chưa đưa ra được Quyết định khởi tố hay Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải luôn theo sát quá trình xác minh, nắm tình hình và phối hợp với Cơ quan có thẩm quyền họp, lên phương án xử lý phù hợp
16 Điều 13 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố
Trang 32- Kiểm sát quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố của Cơ quan có thẩm quyền:
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không có quy định cụ thể về vấn đề này nhưng đã có sự điều chỉnh kịp thời tại khoản 3 Điều 12 Thông tư liên tịch 06/2013 Cụ thể theo quy định này, khi được phân công kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Kiểm sát viên được phân công tiến hành kiểm sát việc kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền; kiểm sát việc lập hồ sơ giải quyết và kiểm sát kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm đó
Trên cơ sở kế thừa Thông tư liên tịch 06/2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định tại khoản 3 Điều 13 về những việc cần thực hiện khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
và kiến nghị khởi tố: “ kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kết quả
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra” Trong quá trình này, Kiểm sát viên trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, tài liệu
về tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của Cơ quan có thẩm quyền, xem xét tính hợp lý, đúng quy định pháp luật của các hoạt động xác minh, xem xét tính có căn cứ, cần thiết của việc ban hành các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; kiểm tra tính hợp pháp trong lập hồ sơ xác minh của Cơ quan có thẩm quyền Qua đó xác định được những vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết tin báo để kịp thời có những biện pháp nhằm khắc phục vi phạm Tuy Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Thông tư liên tịch 06/2013 chưa có quy định cụ thể nhưng trong quá trình này, nếu phát hiện việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố không đầy đủ, có vi phạm pháp luật thì Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2014 đã quy định Viện kiểm sát được yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động như sau17
: + Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đầy đủ, đúng pháp luật Khi phát hiện
17
Khoản 4 Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Trang 33việc tiếp nhận, giải quyết tin báo chưa đầy đủ, đúng thủ tục, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết tin báo cho đầy đủ, đúng quy định pháp luật
+ Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát Theo đó, việc Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của mình nhằm hệ thống lại toàn bộ về tình hình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan có thẩm quyền, nắm được những vi phạm trong hoạt động này mà hơn nữa là nắm được những khó khăn, vướng mắc, tình hình thực tế dẫn đến những vi phạm trong quá trình tiếp nhận, giải quyết của cơ quan có thẩm quyền
+ Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Viện kiểm sát yêu cầu cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật cụ thể trong việc tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố để phục vụ việc nghiên cứu,
đề xuất biện pháp xử lý sao cho kịp thời, hiệu quả nhất
+ Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm Trong kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động này, Viện kiểm sát áp dụng những biện pháp phù hợp để khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động này Nếu cơ quan có thẩm quyền vẫn không khắc phục vi phạm thì tập hợp để tiến hành kiến nghị
Ngoài việc Kiểm sát viên của bộ phận tin báo trực tiếp theo dõi tình hình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của
Cơ quan điều tra qua theo dõi báo cáo hàng tuần về tin báo của Cơ quan điều tra; trực tiếp đối chiếu sổ thụ lý tình hình tiếp nhận và giải quyết tin báo với
Cơ quan điều tra, cùng Cơ quan điều tra phân loại, xử lý, hàng tháng, quý hay
06 tháng một lần (tùy theo cấp) theo quy định của Thông tư liên tịch 06/2013,
Cơ quan điều tra phải có thông báo bằng văn bản về tình hình tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho Viện kiểm sát cùng
Trang 34cấp và ngược lại, Viện kiểm sát cùng cấp cũng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về tình hình kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố gửi cho Cơ quan điều tra cùng cấp
Trong kỳ công tác, để công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố được hiệu quả hơn, Viện kiểm sát tiến hành hoạt động kiểm sát trực tiếp về công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tại Cơ quan điều tra Khoản 3 Điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định khi kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố: “Viện kiểm sát trực
tiếp kiểm sát; kiểm sát việc kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ và kết quả giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra”.Việc
tiến hành Kiểm sát trực tiếp công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại Cơ quan điều tra cùng cấp hoặc cấp dưới thường được tiến hành theo quý, 06 tháng hay một năm Khi tiến hành kiểm sát trực tiếp, Viện kiểm sát trực tiếp xem, kiểm tra, đối chiếu sổ thụ lý việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra theo kỳ tiến hành kiểm sát; trực tiếp xem một số hồ sơ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, xem xét việc tiếp nhận, quá trình giải quyết (thời hạn giải quyết, quá trình thực hiện các hoạt động xác minh), căn cứ ra quyết định giải quyết nếu phát hiện vi phạm thì kịp thời kiến nghị, rút kinh nghiệm trong giải quyết tin
1.2.1.2 Kiểm sát một số hoạt động điều tra ban đầu và việc các quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn
Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền phân loại sơ bộ, lên phương án giải quyết ngay để đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả Để có căn cứ xác định có hay không
có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu nhằm xem xét, phát hiện, thu thập dấu vết, vật chứng Ngoài ra, ở nguồn tin về tội phạm có tính chất cấp bách, cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn để đáp ứng hoạt động xác minh được kịp thời, hiệu quả
Trang 35Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 không quy định cụ thể những hoạt động điều tra ban đầu được cơ quan có thẩm quyền áp dụng trong giai đoạn này nhưng bước đầu đã được đề cập trong Thông tư liên tịch 06/2013 Theo
đó, những hoạt động điều tra ban đầu có thể áp dụng trong giai đoạn này bao gồm: trưng cầu giám định, định giá; lấy lời khai những người có liên quan; khám nghiệm hiện trường, tử thi; đối chất, nhận dạng18, 19 Để các hoạt động điều tra ban đầu, việc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn được tiến hành trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đảm bảo cần thiết, hiệu quả, có căn cứ, đúng pháp luật, phải có trách nhiệm tham gia kiểm sát của Viện kiểm sát
Hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi:
Hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi được quy định cụ thể tại Điều 150, Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Điều luật cũng đã quy định cụ thể về thành phần Hội đồng khám nghiệm: Điều tra viên chủ trì việc khám nghiệm, phải có sự tham gia của người chứng kiến, tùy vào từng trường hợp khám nghiệm hiện trường cụ thể để mời nhà chuyên môn, những người có liên quan tham gia, đặc biệt trong khám nghiệm tử thi phải có bác sỹ pháp y tham gia Trong cả hai hoạt động này, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đều quy định cụ thể về sự có mặt của Kiểm sát viên để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
Trong quá trình xác minh nguồn tin về tội phạm, hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi có ý nghĩa rất quan trọng, việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi giúp cơ quan có thẩm quyền trong khởi tố vụ án thu thập được các dấu vết, vật chứng, xác định được hướng xác minh, làm cơ sở để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm Nếu hoạt động này thực hiện không tốt có thể dẫn đến kết luận xác minh không chính xác, tiêu cực hơn nữa có thể bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội Như vậy, bắt buộc trong mọi trường hợp khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám
18 Khoản 1 Điều 10 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
19 Khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC ngày 02/8/2013 về hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 36nghiệm tử thi, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết trước khi tiến hành khám nghiệm; việc Kiểm sát viên tham gia trực tiếp tại hiện trường để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường cũng là bắt buộc trong mọi trường hợp
Khi tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên kiểm tra sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tham gia tiến hành khám nghiệm hiện trường như kiểm tra tư cách pháp lý của những người tham gia hội đồng khám nghiệm, sự tham gia của những người khác khi khám nghiệm hiện trường (có hay không có người chứng kiến, nạn nhân, đối tượng nghi ngờ gây ra vụ việc…) Đặc biệt về thành phần Hội đồng tiến hành khám nghiệm tử thi bắt buộc phải có sự tham gia của bác sỹ pháp y, người chứng kiến Trong quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên chủ động kiểm sát chặt chẽ, yêu cầu Điều tra viên chủ trì, điều hành việc khám nghiệm theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đảm bảo các hoạt động của hội đồng khám nghiệm thực hiện theo đúng trình
tự, thủ tục theo quy định, phát hiện được những vi phạm, thiếu sót khi tiến hành khám nghiệm để đưa ra phương án khắc phục kịp thời, hiệu quả Sau khi kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên báo cáo kết quả kiểm sát khám nghiệm cho Lãnh đạo Viện, từ đó có đề xuất hoặc được chỉ đạo hướng xác minh tiếp theo, nếu có căn cứ, xác định được có dấu hiệu tội phạm thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất Lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự
Hoạt động khám xét:
Khám xét là hoạt động điều tra do những người có thẩm quyền theo luật định, tiến hành bằng cách lục soát, tìm kiếm trên người, đồ vật, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm của một người nhằm phát hiện và thu giữ vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác liên quan đến vụ án20 Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, khám xét là hoạt động điều tra ban đầu thường xuyên được áp dụng trên thực tế Qua hoạt động
20 Nguyễn Thanh Bình – Ngô Văn Vịnh (2013), Hoàn thiện quy định pháp luật về khám xét trong Bộ luật tố
tụng hình sự 2003, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật số 6/2013 (77)
Trang 37này, cơ quan có thẩm quyền đã phát hiện, thu giữ được nhiều tài liệu, đồ vật
là căn cứ để xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm đối với nguồn tin đang xác minh
Khám xét là hoạt động điều tra, xác minh gây ảnh hưởng trực tiếp đến một số quyền con người, quyền công dân như quyền bất khả xâm phạm về nơi
ở, thư tín… Khoản 1 Điều 141BLTTHS năm 2003 quy định: “những người
được quy định tại khoản 1 Điều 80 Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét trong mọi trường hợp Lệnh khám xét của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành” Như vậy, việc áp dụng biện pháp khám xét phải
được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn để đảm bảo việc áp dụng biện pháp khám xét là cần thiết, kịp thời và có căn cứ, đúng pháp luật
Ngoài ra, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn quy định“trong
trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy định tại khoản 2 Điều
81 Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi khám xong, người ra lệnh khám phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp”21 Như vậy, trong trường hợp không thể trì hoãn, có thể ra lệnh khám xét và tiến hành khám xét ngay nhưng trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xong, phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát nắm được, xem xét tính cần thiết, tính có căn cứ của việc khám xét, đặc biệt là
xem xét tính đúng đắn của trường hợp “không thể trì hoãn được” mà cơ quan
có thẩm quyền đã áp dụng trong khám xét
Hoạt động lấy lời khai; trưng cầu giám định, định giá; nhận dạng
Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền được thực hiên một số hoạt động điều tra ban đầu nói trên để thu thập thêm căn cứ khẳng định có hay không có dấu hiệu tội phạm Những lời khai đầu tiên của đối tượng nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội, nạn nhân, người làm chứng luôn là cơ sở đầu tiên, chân thực nhất, chịu ảnh hưởng từ các tác động khác ít nhất Trong khi lấy lời khai, để đảm bảo việc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai có căn cứ, đúng thủ tục theo quy định pháp luật nhất trong lấy lời khai,
21
Khoản 2 Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 38đảm bảo vẫn tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích của con người, công dân, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát hoạt động này, có thể tham gia trực tiếp cùng Cơ quan điều tra trong việc lấy lời khai để tiến hành kiểm sát Ngoài ra, đối với các hoạt động điều tra ban đầu khác như trưng cầu giám định, định giá; nhận dạng, đối chất Viện kiểm sát cũng thực hiện việc kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của các hoạt động điều tra ban đầu nói trên, kịp thời phát hiện vi phạm và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khắc phục
Việc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn:
Trong hoạt động này, khi cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn như bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, gia hạn thời hạn tạm giữ, Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát các hoạt động này của cơ quan có thẩm quyền, kiểm tra chặt chẽ căn cứ bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, kiểm tra tính hợp pháp của lệnh bắt, thời điểm chuyển lệnh bắt cùng hồ sơ tài liệu sang Viện kiểm sát đề nghị phê chuẩn, nhiều trường hợp có thể gặp, hỏi trực tiếp người bị bắt, đảm bảo việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp là có căn cứ, đúng pháp luật Tương tự như vậy, việc cơ quan có thẩm quyền quyết định tạm giữ, gia hạn thời hạn tạm giữ cũng phải qua hoạt động kiểm sát, xem xét tính có căn cứ, tính cần thiết và đúng pháp luật của việc áp dụng biện pháp này Đảm bảo việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự luôn tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, tôn trọng quyền
cơ bản của con người, của công dân
Trang 39Đối với Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có xem xét, kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định (về hình thức, nội dung, thẩm quyền)
Thứ nhất, để xem xét tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình
sự, Viện kiểm sát thông qua việc xem xét quá trình giải quyết, xác minh những căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm
2003, qua đó khẳng định có hay không có dấu hiệu tội phạm, làm cơ sở để khởi tố vụ án hình sự Để thực hiện hoạt động này, Viện kiểm sát cũng xem xét quá trình cơ quan có thẩm quyền thu thập tài liệu, chứng cứ có đủ để khẳng định hành vi có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Bộ luật hình sự hay không? Đặc biệt đối với một số vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, Viện kiểm sát phải kiểm tra ngay từ đầu, xem đã có đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại hay đại diện hợp pháp của người bị hại khi họ là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần22
hay không
Thứ hai, khi kiểm sát tính hợp pháp về thẩm quyền ra Quyết định khởi
tố, Viện kiểm sát phải xem xét kỹ lưỡng nội dung vụ án, đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 104 BLTTHS năm 2003 về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, trong đó cần lưu ý đối chiếu với những trường hợp theo Điều 111 BLTTHS năm 2003 để kết luận tính hợp pháp về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Ngoài ra không chỉ chú ý xem xét tính hợp pháp về thẩm quyền ký quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra, cần đặc biệt lưu ý xem xét chức danh
có thẩm quyền ký quyết định khởi tố vụ án đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền khởi tố của một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 111 BLTTHS năm 2003 Ngoài ra, quyết định khởi tố vụ án hình sự phải đảm bảo về mặt hình thức theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLTTHS năm 2003 và theo mẫu quy định của nội bộ ngành có thẩm quyền ban hành
Theo quy định tại khoản 3 Điều 104 BLTTHS năm 2003 thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố phải gửi quyết định khởi tố cùng tài liệu có liên
22
Theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Trang 40quan đến Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố vụ án Trong thời hạn theo quy định, Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự, bao gồm từ kiểm tra, xem xét tính có căn cứ, đến thẩm quyền, hình thức của quyết định cho đến thời hạn cơ quan có thẩm quyền khởi tố gửi quyết định khởi tố đến Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố Nếu thấy quyết định khởi
tố vụ án hình sự là có căn cứ, hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của vụ án và thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền khởi tố biết, nếu chưa rõ căn cứ thì yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố; nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi
tố ra quyết định hủy bỏ, hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng ủy quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ
án hình sự khi đã ra văn bản yêu cầu cơ quan đã khởi tố hủy bỏ quyết định khởi tố nhưng không được nhất trí theo quy định tại khoản 2 Điều 109 BLTTHS năm 2003
Cũng giống như việc xem xét tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ
án hình sự, để đánh giá tính có căn cứ của quyết định không khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát theo dõi, hệ thống lại quá trình xác minh các căn cứ khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 100 BLTTHS năm 2003, xem xét kết quả thu thập được qua quá trình xác minh vụ việc của cơ quan có thẩm quyền, đối chiếu với các căn cứ không được khởi tố vụán hình sự theo quy định tại Điều 107 BLTTHS năm 2003, từ đó xác định được tính có căn cứ của quyết định không khởi tố vụ án hình sự Kiểm sát tính hợp pháp về hình thứccủa quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng bao gồm việc xem xét
về thẩm quyền ra quyết định không khởi tố và hình thức trình bày quyết định không khởi tố tương tự như xem xét tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ
án hình sự Qua kiểm sát, thấy quyết định không khởi tố vụ án hình sự là có căn cứ, hợp pháp, Kiểm sát viên đề xuất Lãnh đạo Viện thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố biết Nếu quyết định không khởi tố vụ án tuy có căn cứ nhưng chưa rõ ràng thì Kiểm sát viên đề xuất