MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN MỞ ĐẦU 1 PHẦN 1: KẾT QUẢ TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC XTIÊNG. 2 1.Khái quát chung về tộc người. 2 1.1. Nguồn gốc lịch sử. 2 1.2. Tộc người. 2 1.3. Dân số và địa bàn cư trú. 2 1.4. Đặc điểm cơ bản về văn hóa. 2 1.4.1.Văn hóa trong sản xuất. 2 1.4.2. Văn hóa trong kinh tế. 3 1.4.3. Văn hóa tinh thần. 4 1.4.4. Văn hóa xã hội. 4 Tiểu kết 1: 5 2. Kết quả nghiên cứu về tín ngưỡng của dân tộc Xtiêng. 6 2.1. Tín ngưỡng cầu mong bình an (Tarăm prắk tròok bri). 6 2.2. Tổ chức lễ hội. 7 2.2.1. Lễ hội trong nông nghiệp. 7 2.2.1.1. Lễ chuẩn bị chọn đất làm rẫy (pêlnong): 7 2.2.1.2. Lễ cúng thần lúa. 8 2.2.1.3. Lễ lên nhà lúa, mừng lúa mới (Hao trôl Bva hoặc năng bar) hoặc lễ cúng cơm mới (pư ba khiêu). 8 2.2.1.4. Lễ cầu mưa (Hônh My hoặc Broh ba): 9 2.2.2. Lễ hội, tín ngưỡng. 10 2.2.2.1. Lễ đâm trâu. 10 2.2.2.2. Múa dâng lễ, Bà bóng dâng lễ hay Lễ cúng bà bóng (Mê Vra Ri). 10 2.2.2.3. Lễ quay cây nêu (cây Ser). 12 2.2.2.4. Lễ cúng thần rừng. 12 2.2.2.5. Lễ phá báu (Hanh T’ranh). 13 2.2.2.6. Lễ hội lập làng mới 14 2.2.2.7. Lễ cột tay. 17 2.2.2.8. Tín ngưỡng về Đá ( tục cúng Đá). 18 2.2.3.Tín ngưỡng trong lễ vòng đời con người. (Âp prăh kungpu múh) 19 2.2.3.1. Tín ngưỡng đặt tên con (Smó Shắc con): 19 2.2.3.2. Lễ cột chỉ tay, lễ trưởng thành (Toon ty kon): 20 2.2.3.3. Sinh đẻ. 22 2.2.3.4. Cưới xin (Ka Sai). 23 2.2.3.5. Ma chay. 24 2.2.3.6. Đuổi ma (Craih Chêer riang Tăng khăng). 26 2.2.3.7. Lễ hội Quay đầu trâu, hay còn gọi là tục quay đầu trâu (Teh bok). 28 Tiểu kết 2: 29 PHẦN 2: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC BẢO TỒN CÁC GIÁ TRỊ VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN TỘC XTIÊNG. 30 1. Các xu hướng biến đổi văn hoá dân tộc Xtiêng trong giai đoạn hiện nay. 30 2. Nguyên nhân thay đổi. 30 3. Vai trò của tín ngưỡng trong đời sống dân tộc Xtiêng. 30 4. Một số đánh giá về dân tộc Xtiêng. 31 4.1. Đánh giá tổng quan. 31 4.2. Đánh giá tổng quan về lễ hội của dân tộc Xtiêng. 32 5. Những biến đổi trong tín ngưỡng. 32 5.1.Trong tang ma. 32 5.2. Thực trạng các tín ngưỡng. 33 6. Xóa bỏ những hủ tục lạc hậu. 33 7. Một số tương đồng trong tín ngưỡng của dân tộc Xtiêng với Khmer. 34 7.1. Trong hôn nhân 34 7.2. Tổ chức lễ hội 35 8. Bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Xtiêng. 35 KẾT LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 PHỤ LỤC 39
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô ThS.Trần Thị Phương Thúy người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡtôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và hoàn thành bài tiểu luận này Tôixin gửi lời cảm ơn chân thành tới các quý thầy cô, tập thể cán bộ Khoa Văn hóaThông tin và Xã hội, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã quan tâm, tạo mọi điềukiện cho tôi trong suốt thời gian làm tiểu luận Giúp tôi được tiếp cận với mônhọc “Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam” Qua đó có cái nhìn khái quát vềnền Văn hóa Việt Nam nói chungvà nền văn hóa dân tộc Xtiêng nói riêng
Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, quý thầy cô, bạn bè, nhữngngười đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thựchiện tiểu luận này
Đây là lần đầu tiên tôi làm tiểu luận cũng như được tiếp cận với việc làmmột văn bản khoa học chắc chắn không tránh khỏi những sơ suất Vì vậy tôi rấtmong sẽ nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để bài tiểu luận đượchoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
Trang 3MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia mang trong mình một nền văn hóa rất đặc biệt
Nó đa dạng, phong phú và thống nhất giữa các vùng, các dân tộc Một nền vănhóa của 54 tộc người anh em, mỗi tộc người đều có những nét văn hóa riêng biệtcủa mình, đều góp những mảng màu rực rỡ trong bức tranh văn hóa dân tộc ViệtNam Khi các nền văn hóa gặp nhau, chúng không bài trừ lẫn nhau mà thay vào
đó là sự giao thoa kỳ diệu
Chính vì lẽ đó, tôi đã đi tìm hiểu về vùng đất Tây Nguyên, vùng đất đượccoi là vùng văn hóa đa bản sắc của các dân tộc thiểu số bản địa với những yếu tốđan xen, giao hòa giữa dòng văn hóa bản địa truyền thống với văn hóa đươngđại Đặc biệt là không gian văn hóa cồng chiêng đã được UNESCO công nhận làkiệt tác “Văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”, đó là niềm tự hàocủa anh em dân tộc Tây Nguyên
Là một dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, chủ nhân lâuđời của miền đất Nam Trường Sơn, dân tộc Xtiêng là một trong số những dântộc thiểu số bản địa có dân số đông nhất ở Bình Phước Dân tộc Xtiêng có mộtnền văn hóa mang nhiều sắc thái chung với những người anh em Tây Nguyênnhưng cũng không thiếu những nét độc đáo, phong phú mang tính chất đặc thùbản sắc của dân tộc mình Cư ngụ ở Nam Tây Nguyên, dân tộc Xtiêng như mộtcánh cửa đón nhận sự giao lưu, hội nhập của văn hóa người Việt, người Khmer,người Mnông Các nghi lễ không chỉ là nghi thức thể hiện sự tôn kính của conngười với các đối tượng được suy tôn, mà nó còn là cầu nối giữa quá khứ vớihiện tại và tương lai Với dân tộc Xtiêng, nghi lễ là một thành tố, là nhu cầukhông thể thiếu trong đời sống gia đình, đời sống cộng đồng
Vì lẽ đó, những gì thuộc bản sắc văn hóa Xtiêng rõ ràng phải có một sứcsống mãnh liệt mới có thể tồn tại và phát triển được Để hiểu rõ hơn về điều đó,tôi đã lựa chọn tín ngưỡng của dân tộc Xtiêng làm dân tộc mà tôi nghiên cứu lầnnày Thông qua quá trình tìm hiểu này, tôi mong muốn bài tìm hiểu của mình cóthể đóng góp một phần vào sự nghiệp văn hóa của Việt Nam, giúp cho các nhàquản lý văn hóa có thêm tư liệu để củng cố thêm trong tiến trình phát triển vănhóa cũng như thực hiện Nghị quyết Trung ương V khóa VIII và điều 30 củaHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Trang 4PHẦN 1: KẾT QUẢ TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG CỦA DÂN TỘC XTIÊNG.
1.Khái quát chung về tộc người.
1.1 Nguồn gốc lịch sử.
Dân tộc Xtiêng là 1 trong các dân cư cư trú ở nước ta từ rất lâu đời, họ đãsớm quần tụ ở vùng biên giới Tây Nam Thuộc cộng đồng các dân tộc TâyNguyên, là chủ nhân lâu đời của miền đất Nam Trường Sơn Trước đây, dân tộcXtiêng phân bố trải dài từ vùng núi Bà Đen (Tây Ninh) đến Bà Rá (Sông Bé cũ).Đầu Thế kỷ XX, khi thực dân Pháp chiếm đất của dân tộc Xtiêng để lập đồnđiền cao su, đã đẩy dân tộc Xtiêng ngày càng lùi sâu vào vùng rừng núi phíaBắc
1.2 Tộc người.
Tên tự gọi: Xtiêng Tên gọi khác: S’tiêng, Giẻ xtiêng, Xa Điêng hoặc XaChiêng Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á Trong cácdân tộc thuộc ngữ hệ Môn - Khmer ở Tây Nguyên thì dân tộc Xtiêng là nhóm cưdân có dân số đông thứ ba sau Ba Na và H'Rê
1.3 Dân số và địa bàn cư trú.
Tập trung 99,3% tại các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Tây Ninh Có mặttại 34 tỉnh thành trên tổng số 63 tỉnh/thành phố trên khắp cả nước Đông nhất tạiBình Phước (Chiếm 95% tổng số người Việt Nam tại đây)
Địa bàn cư trú: phía Bắc giáp người Mnông, phía Đông giáp người Mạ,phía Nam giáp người Việt và phía Tây giáp người Khmer
1.4 Đặc điểm cơ bản về văn hóa.
1.4.1 Văn hóa trong sản xuất.
Dân tộc Xtiêng gồm 2 nhóm chính: Nhóm Bù Đek ở vùng thấp, họ biếtlàm ruộng nước, công cụ sản xuất còn thô sơ như rìu, dao để khai phá; dùngtrâu, bò kéo cày và tuốt lúa bằng tay Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủyếu, sống gần người Mnông và người Mạ Nhìn chung, đời sống kinh tế của dântộc Xtiêng chủ yếu gắn với phá rẫy, chọc lỗ tra hạt Xưa kia,nền kinh tế truyềnthống là nền kinh tế tự cung tự cấp Hình thức chủ yếu là trồng trọt các loại hoamàu và trỉa lúa trên các triền đồi, các hoạt động khai thác tự nhiên: săn bắn, hái
Trang 5lượm, đánh bắt cá, Bên cạnh đó còn có sự phát triển của các nghề đan lát, rèn ,dệt, chăn nuôi và trao đổi hàng hóa Ngày nay, trên đồi chủ yếu là trồng các câycông nghiệp, cây nông nghiệp ngắn ngày và dài hạn Sản phẩm thu được khôngcòn được tích trữ trong kho mà được đem ra trao đổi buôn bán.
1.4.2 Văn hóa trong kinh tế.
Văn hóa trong trao đổi buôn bán, phương tiện vận chuyển:
Dân tộc Xtiêng trao đổi buôn bán theo 2 cách:
Cách thứ nhất: Thương lái mang hàng đến làng để đổi hàng
Cách thứ hai: Dân tộc Xtiêng mang hàng ra chợ bán
Thứ mà dân tộc đem đổi thường là trâu, nồi gốm, lâm thổ sản, mật ong,ngà voi, sừng tê giác, Quần áo mà phụ nữ dệt được sẽ không mặc mà đượcmang ra để đổi lấy quần áo may sẵn Phạm vi buôn bán từ phía Đông đến mạnbiển Bình Định, phía Tây Bắc đến biên giới Thái Lan Voi được đem sử dụngvào việc chuyên chở hàng
Văn hóa trong trang phục:
Trang phục nơi đây khá đơn giản, đàn bà mặc váy hoặc áo cũng có khi cởtrần Đàn ông đóng khố cởi trần Mùa đông lạnh họ chỉ choàng thêm tấm vải cho
đỡ rét Tóc được búi sau gáy, tai sâu lỗ, đeo lục lạc và rất nhiều trang sức trênngười.Ngày nay, nam giới mặc như người Việt, nữ giới hay dùng áo cánh, sơ mi,
ở vùng gần Khmer cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng mặc váy Khmer
Văn hóa trong ẩm thực:
Nhìn chung đồ ăn của dân tộc Xtiêng đều được đem nướng trong các ốngtre Đặc sản của cư dân là cơm lam, canh thụt Lương thực chính trong bữa ănhàng ngày là gạo tẻ, gạo nếp và đồ ăn thu hoạch được ở ven rừng, ven sông suốinhư cá, tôm, bí, Đồ ăn được mọi người yêu thích là món đọt mây nướng bằngống tre Trước đây họ thường ăn bằng tay nhưng nay đã chuyển sang dùng bátđũa Để đựng cơm canh hay nước, họ chế tác vỏ bầu thành những hình dạngthích hợp Nước lã, rượu cần là các đồ uống truyền thống Rượu cần thường chỉđược dùng trong các ngày lễ tết, hội hè, đám hỏi,… Một đặc điểm nữa ở dân tộcXtiêng là họ thích ăn trầu và hút thuốc lá
Trang 61.4.3 Văn hóa tinh thần.
Trước kia dân tộc Xtiêng theo tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh,nhưng khoảng từ Thập kỷ 80, họ đã chuyển sang đạo Tin lành và Thiên chúa Đểđáp ứng nhu cầu tâm linh của tín đồ, một vài thôn đã có nhà nguyện, tuy đượcxây dựng bằng những chất liệu đơn giản nhưng rất sạch sẽ và có sự chăm sóccủa các tín đồ Đối với những thôn chưa có nhà nguyện, nhà thờ, tín đồ Xtiêngthường đi lễ tại nhà thờ của huyện ít nhất một tháng một lần Niềm tin vào Đạocủa tín đồ Xtiêng khá mạnh mẽ Đây cũng là một vấn đề hai mặt đáng quan tâm,khi niềm tin tôn giáo tác động tích cực sẽ giúp người dân sống tốt đời đẹp đạo,nhưng đồng thời các nhà quản lý cũng cần quan tâm để tránh các thế lực lợidụng niềm tin tôn giáo để chống đối, phá hoại
Xưa kia, đa số người dân đều không biết chữ, họ chỉ giáo dục và truyềnlại những kinh nghiệm sống cho con cháu bằng lối giáo dục truyền thống.Nhưng hiện nay, đa số người dân đều biết chữ phổ thông Sự giao lưu, tiếp biến
về ngôn ngữ còn thể hiện trong việc đặt tên con cái Kết quả khảo sát hộ gia đìnhghi nhận việc dùng họ Điểu (đối với nam), họ Thị (đối với nữ) vẫn giữ nguyênnhư trước kia, nhưng riêng tên đã có nhiều thay đổi
1.4.4 Văn hóa xã hội.
Trong đời sống xã hội, hình thức sống chủ yếu là những gia đình nhỏ sốngtập trung trong những ngôi nhà sàn từ ba đến bốn thế hệ Sau khi cưới, các cặp
vợ chồng sẽ sống luân phiên ba năm ở nhà bố mẹ vợ và ba năm ở nhà bố mẹchồng Khi đã chuẩn bị đầy đủ cho cuộc sống riêng, họ có quyền tách ra thànhmột gia đình nhỏ Ngày nay không còn tồn tại nét sống đẹp này Hôn nhân củadân tộc Xtiêng khá bền chặt, nam nữ được tự do tìm hiểu lẫn nhau Là cuộc hônnhân ngoại tộc, người trong dòng họ, người cùng huyết thống không được lấynhau Trong gia đình, vợ chồng sống hòa thuận, ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị
em luôn thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau, đây là một trong những truyền thốngtốt đẹp của nhóm dân cư này
Làng là đơn vị cấu thành xã hội Đứng đầu là già làng có uy tín đại diệncho cộng đồng giải quyết các vấn đề trong sinh hoạt xã hội và trong đời sống
Trang 7tinh thần Già làng điều hành làng theo hệ thống luật tục Giữa già làng và thànhviên trong làng đều có sự bình đẳng, tính huyết thống trong cộng đồng làng làsợi dây liên kết bền chặt giữa các thành viên trong làng với nhau Trong xã hộihiện nay, bên cạnh già làng còn có trưởng thôn, là một người phải có học vấn vàđược nhân dân bầu chọn Khác với già làng, người nắm bắt những tâm tư,nguyện vọng của nhân dân; Trưởng thôn sẽ thay mặt chính quyền địa phươngquản lý cộng đồng dưới sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước Hiện tại làng có nhiều
tổ chức đoàn thể xã hội: Chi hội phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên,
Sự tiếp thu những yếu tố mới đã tạo cho đời sống dân tộc Xtiêng ngày càngphong phú và da dạng, tạo điều kiện cho con người phát triển về mọi mặt Xưakia, đa số người dân đều không biết chữ, họ chỉ giáo dục và truyền lại nhữngkinh nghiệm sống cho con cháu bằng lối giáo dục truyền thống Nhưng hiện nay,
đa số người dân đều biết chữ phổ thông
Dân tộc Xtiêng có một nền văn học dân gian phong phú với nhiều huyềnthoại, truyền thuyết, ca dao,… Nội dung thường kể về nguồn gốc tộc người,dòng họ, ca ngợi tinh thần đấu tranh chống thiên tai, phản ánh đời sống sinh hoạthàng ngày, những làn điệu hát đối đáp, giao duyên giữa nam và nữ Về âm nhạc,các dân tộc nhóm Môn- Khmer có rất nhiều nhạc cụ phong phú và đa dạng như:Cồng chiêng - một nhạc cụ tiêu biểu nhất và các loại đàn, sáo,… Chất liệu đượcdùng để tạo ra nhạc cụ là từ nguồn có sẵn trong tự nhiên như tre, nứa Với quanniệm cộng đồng gồm hai nửa hôm qua và hôm nay, thế giới hữu hình luôn cóliên hệ với thế giới vô hình mà cồng chiêng với âm thanh, âm nhạc và sức mạnhthiêng liêng của nó chính là “cầu nối” Hầu hết mọi hoạt động văn hóa củangười Tây Nguyên đều có cồng chiêng, con người lớn lên trong một không gianđầy tiếng nhạc cồng chiêng Đón đứa trẻ trào đời là nhạc cồng chiêng, và cũngtiếng nhạc cồng chiêng sẽ tiễn đưa con người đó ra huyệt mộ, linh hồn người đó
sẽ theo cồng chiêng về với tổ tiên, về với nguồn cội Có thể nói cuộc đời conngười “dài theo tiếng cồng chiêng”
Tiểu kết 1:
Tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Xtiêng đã có nhiều thay đổi từ sau những
Trang 8năm 1975, nhất là 20 năm trở lại đây Số lượng người Xtiêng theo đạo Tin lành
và đạo Thiên chúa ngày càng tăng đã tác động lớn trên nhiều mặt của đời sống,đặc biệt là thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc Xtiêng Qua cái nhìnkhái quát về điều kiện tự nhiên, hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hóa tinh thần,
xã hội của dân tộc Xtiêng là cơ sở để tôi tìm hiểu kỹ hơn về tín ngưỡng của dântộc Xtiêng
2 Kết quả nghiên cứu về tín ngưỡng của dân tộc Xtiêng.
2.1 Tín ngưỡng cầu mong bình an (Tarăm prắk tròok bri).
Tín ngưỡng thờ tổ tiên để tưởng nhớ người đã khuất là nét truyền thốngtại nơi đây Dân tôc Xtiêng tin vào tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh, mọi vậtđều có hồn Các linh hồn đó là những lực lượng siêu nhiên, có thể khống chế sựphát triển của cây trồng, vật nuôi, có thể làm hại con người Trong nhà sàn dântộc Xtiêng đều có cột thờ ma vì người ta tin tưởng, con người khi chết biếnthành ma
Là cư dân trồng trọt vùng nhiệt đới, điều kiện công cụ sản xuất còn thô sơđược dùng bằng tay, chưa dùng mấy sức kéo của gia súc, điều kiện phân cônglao động còn kém, hoạt động kinh tế chủ yếu là nương rẫy Năng xuất khôngcao, thời tiết thất thường, có khi bị mất mùa do hạn hán, sâu hay chim rừng pháhoại, Nên các dân tộc Môn - Khmer đều theo tin ngưỡng vạn vật hữu linh,cuộc sống của con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối Họ cho rằng các
vị thần đóng vai trò quan trọng và có tác động trực tiếp đến cuộc sống conngười, có chức năng bảo hộ, giúp đỡ và tạo cho hạt lúa thật to, cây lúa nặng hạt
Đó là các vị thần như: Thần rừng (Bri), Thần đất (The), Thần trời (Nar), Thầnlúa (Pa)
Trước khi chọn nơi gieo hạt, dân tộc Xtiêng cúng vái ông bà rừng để đượcphá rừng làm rẫy Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp Trongcác lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin,
tạ ơn, hay thông báo điều gì đó Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượngcàng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyềnthế, quan trọng
Trang 9Người dân quan niệm rằng trời có liên quan đến các lễ nghi nông nghiệp.Thần mặt trời là thần phồn thực, mang đến cho con người sự sinh sôi, vui tươi,
no đủ Những người ban đêm biến thành ma quỷ đi hút máu người làm ngườikhác ốm đau, chết chóc, người bị nghi là ma sẽ bị chặt đầu và chôn sống trongrừng, phụ nữ sẽ bị bán làm nô lệ
2.2 Tổ chức lễ hội.
2.2.1 Lễ hội trong nông nghiệp.
Phương thức sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt lúa rẫy Trongmỗi giai đoạn sản xuất đều có các nghi lễ liên quan Họ tổ chức lễ này với ướcmong cho công việc trồng trọt suôn sẻ, mùa màng bội thu, không bị chim chóc
và thú rừng phá hoại Khác với các lễ hội vòng đời người, nghi lễ vòng đời câytrồng của dân tộc Xtiêng nhiều hơn về số lượng, phong phú về hình thức tổchức Do tập quán sản xuất chủ yếu là trồng lúa nên lễ hội vòng đời cây trồngcũng chỉ liên quan đến cây lúa là chủ yếu Từ ảnh hưởng của Ấn Độ, Phật giáo ởđây rất phát triển Các hình thức nghi lễ tôn giáo theo vạn vất hữu linh, nên đồngbào tin rằng rừng, cây, nương lúa,…đều có hồn, có ma Và điều quan trọng làhồn lúa được hình tượng thành một bà cụ già - mẹ lúa Đề cầu mùa dân tộc rấtkiêng kỵ liên quan đến chu kỳ trồng lúa từ tìm nương, gieo hạt cho đến thuhoạch, cúng cơm mới Đầu mùa sản xuất, khi gieo hạt người ta kiêng cữ khôngcho người lạ vào bản vào nương rẫy; lúc chăm sóc lúa kiêng không bón phâncho lúa sợ lúa giận vì nhơ bẩn mà bỏ đi; khi thu hoạch, từ rẫy về kho thóc phảicăng dây đưa đường cho hồn lúa; qua suối phải bắc cầu tượng trưng cho hồn lúaqua, vì hồn lúa sợ nước ướt Khi qua ngã ba đường phải cắm hoa để hồn lúa khỏilạc đường, ở kho thóc phải bắc cầu thang cho hồn lúa lên xuống,
2.2.1.1.Lễ chuẩn bị chọn đất làm rẫy (pêl-nong):
Được tổ chức vào tháng giêng nhằm để thăm dò, đánh giá lại quyền sử
dụng đất đai đối với một vùng định sẽ phát rẫy sau này Khi chọn được địa điểm
phù hợp để làm rẫy, dân tộc Xtiêng tiến hành nghi lễ cúng Thần linh (Giàng) đểxin thần linh, ông bà phù hộ giúp đỡ cho họ được bình yên, gieo trồng được mùasau đó mới tiến hành khai hoang để canh tác Rẫy của người nào thì gia đình đó
Trang 10tự tổ chức cúng tại rẫy Mặc dù đây là lễ có quy mô nhỏ nhưng là nghi lễ đầutiên trong các Lễ hội vòng đời cây trồng – Lễ hội nông nghiệp của dân tộc
Xtiêng.
2.2.1.2 Lễ cúng thần lúa.
Có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc gắn bó mật thiết giữa con ngườivới môi trường sống Do một gia đình tổ chức, cho dù khó khăn nhưng họ vẫnmời tất cả cộng đồng về dự
2.2.1.3 Lễ lên nhà lúa, mừng lúa mới (Hao trôl Bva hoặc năng bar) hoặc lễ cúng cơm mới (pư ba khiêu).
Là nghi lễ và lễ hội có quy mô lớn nhất, quan trọng nhất trong nghi lễvòng đời cây trồng Được tổ chức vào thời kỳ sau khi thu hoạch xong lúa trênruộng, trên rẫy, thóc lúa vào bồ, vào kho yên ổn Thường là từ tháng 10 đếntháng 12 Trước đây, lễ cúng được tiến hành 3 lần trong năm và cứ 3 năm đảo lệ,dân tộc Xtiêng lại tổ chức lễ lớn hơn các năm khác Hiện giờ hầu hết lễ hội chỉđược cúng một lần trong năm Lễ hội thường được tổ chức với hai mức độ khácnhau, theo từng hộ gia đình hoặc theo quy mô cộng đồng (cả sóc cùng tổ chức).Trong đó, quy mô tổ chức cộng đồng là quy mô truyền thống và phổ biến hơn.Dân tộc Xtiêng trước đây thu hoạch lúa rẫy và để ở ngoài đồng (mỗi nương rẫythường có một căn chòi tạm dùng làm nơi ở tạm và bảo quản nông sản sau khithu hoạch) Sau khi thu hoạch hoàn tất, họ đưa lúa về nhà và làm lễ để tạ ơn ôngtrời, ông bà đã cho họ một vụ mùa bội thu
Lễ hội kéo dài từ một đến ba ngày Trong các nghi lễ, nhất là Lễ cúng cơmmới, Lễ thu hoạch lúa, dân tộc Xtiêng thường có tục hiến sinh (giết gà, heo,trâu) để tế thần Ở lễ hiến sinh có tục đâm trâu (có nơi gọi là lễ đâm trâu) kháhấp dẫn, lôi cuốn các thành phần trong buôn (bon) tham gia Cùng với tiếngnhạc cồng chiêng là tục đâm trâu, Lễ hiến sinh đã trở thành một nội dung quantrọng của dân tộc Xtiêng trong đời sống hàng ngày
Trong lễ hội này người ta có sự chuẩn bị công phu: rượu ngâm trước hàngtháng, chọn cây nêu và chạm trổ hoa văn cây nêu (cột buộc trâu) thật đẹp, chămsóc con trâu kĩ lưỡng để tế thần, chuẩn bị quần áo đẹp để đi trẩy hội Ngày lễ
Trang 11chọn một số trai, gái trong bon khỏe và đẹp nhảy múa vòng quanh con trâu theovùng ngược kim đồng hồ để làm lễ đâm trâu Trâu được mổ thịt chia đều chodân bon cùng mở hội hân hoan, mừng lúa rẫy tươi tốt Trai làng cùng nhảy múa,một số người khỏe mạnh trai tráng thì tham gia “đâm trâu” cùng với già làng(hoặc người có uy tín trong làng) được làng cử ra làm trưởng lễ.
2.2.1.4 Lễ cầu mưa (Hônh My hoặc Broh ba):
Được tổ chức vào trước hoặc sau khi gieo hạt, quy mô tổ chức chủ yếu làtheo từng sóc Khi thời tiết của năm nào đó đã đến mùa gieo hạt mà theo kinhnghiệm dân gian, dân tộc Xtiêng nhận biết rằng sẽ rất lâu mới có mưa đó là khi
họ nhìn thấy con gà rừng làm tổ và đẻ trứng ở dưới đất hoặc không an tâm vìgieo hạt mà trời không có dấu hiệu mưa thì họ sẽ làm Lễ cầu mưa để xin ôngtrời cho mưa xuống Lễ hội cầu mưa được tổ chức với mục đích nhằm tri ân các
vị thần như Thần trời (Bra Aân - Bra Trốk), Thần đất (Bra ter), Thần lúa (Brava), … và rất nhiều các vị thần khác đã cho những cơn mưa để gieo trồng ở các
vụ mùa trước; cầu xin các vị thần ban cho thần dân Xtiêng và muôn loài nhữngcơn mưa đúng thời điểm, mùa vụ để con người có nước sinh hoạt, gieo trồng
Lễ hội cầu mưa là một lễ hội tín ngưỡng phồn thực, cầu mong cho mưa thuậngió hoà, để vạn vật được sinh sôi nẩy nở Lễ hội thường được diễn ra trong vòngmột ngày
Đây là lễ hội rất quan trọng, trong đó có tục đâm trâu với điệu múa laođộc đáo cùng màn biểu diễn cồng chiêng, giáo huấn về luật tục và xướng sử thi.Vật dụng đặc trưng và không thể thiếu của lễ hội là cây nêu, cồng chiêng và cácloại nhạc cụ truyền thống Lễ vật để dâng cúng bao gồm: máu gà, máu heo; gan
gà, gan heo; rượu cần, cơm ống, canh bồi, canh thụt… Đến giờ làm lễ, cả làngtập trung đầy đủ, trâu buộc chặt vào cây nêu, mọi người đứng thành vòng trònchứng kiến nghi lễ Sau khi đông đủ cả làng, già làng tuyên bố lý do buổi lễ, mộtđến ba người đàn ông ở độ tuổi trung niên cầm lao hoặc chà gạc để giết trâu Giàlàng lấy máu bôi lên cột cây nêu, dùng gạo trắng và muối rải lên mình trâu Sau
đó ngồi bên ché rượu cần để cúng các vị thần lúa, thần mưa, thần rừng, cầu chomưa thuận gió hoà để dân làng có một mùa vụ năm mới bội thu, cầu cho vạn vật
Trang 12sinh sôi nảy nở Kết thúc nghi lễ, mọi người xẻ trâu lấy thịt nướng, uống rượucần và tận mục sở thị những màn biểu diễn cồng chiêng, những điệu múa cùngcác nghệ nhân và nam nữ miền sơn cước Cuộc vui tiếp tục cho đến khi mànđêm buông xuống, mọi người sẽ được già làng giáo huấn về luật tục và xướng
sử thi cho đến sáng hôm sau
Thông qua việc truyền dạy và phục hồi lễ hội cầu mưa, nhiều giá trị vănhoá khác cũng được phục hồi, sống lại: nghệ thuật đánh cồng chiêng, trống, sáo,kèn và các bài hát đối đáp, múa dân ca, nghệ thuật điêu khắc dân gian, trang trídân gian (Trang trí cây nêu, trang phục), nghệ thuật ẩm thực cũng được tái hiệnqua việc chế biến và uống rượu cần, nấu cơm lam, canh bồi,… Nhằm truyền dạycho thế hệ trẻ tự hào về truyền thống văn hoá của dân tộc mình
Ngoài ra còn có các lễ hội khác có quy mô nhỏ hơn, cúng theo từng hộ giađình: Lễ cúng tỉa lúa, Lễ cúng lúa trổ bông, Lễ cúng gặt lúa,…Các nghi lễ nàychủ yếu do người đàn ông trong các hộ gia đình thực hiện với các lễ vật đơngiản, thời gian tổ chức ngắn
2.2.2.2 Múa dâng lễ, Bà bóng dâng lễ hay Lễ cúng bà bóng (Mê Vra Ri).
Bà bóng là lễ hội tương tự hình thức hầu đồng của người Việt Có haitrường hợp cúng Bà bóng, một là cúng theo hộ gia đình và hai là cúng theo cộngđồng, buôn làng (Sóc) Đối với hộ gia đình, khi trong nhà có người ốm nặng, giađình sẽ mời Bà bóng về làm lễ cúng bắt ma, trừ tà chữa bệnh cho người ốm Họthường quan niệm, người bị ốm là do ma bắt hồn Trường hợp cúng theo quy mô
Trang 13cộng đồng là khi trong sóc có những điềm xấu hoặc xảy ra những chuyện khôngmay: cư dân gặp dịch bệnh, thời tiết thay đổi bất thường hoặc sóc có nhiềungười chết cùng lúc thì già làng mời Bà Bóng về cúng để trừ tà, xua đuổi maquỷ và gọi hồn Dù ở trường hợp nào thì lễ vật chính để cúng thường là: gà, heo,các món ăn truyền thống (cơm ống, rượu cần, canh bồi, canh thụt…)
Suốt quá trình diễn ra lễ hội có những hoạt động mang đặc trưng riêng của
lễ hội này là hát múa Bà bóng, biểu diễn cồng chiêng rất đặc sắc Lễ hội kéo dàitrong thời gian bảy ngày với nhiều nghi thức nghi lễ khá phức tạp Hai ngày đầutiên họ tiến hành cúng tại khu vực cư trú của Sóc để mời gọi thần linh, cúng xuađuổi tà ma, sau đó nghỉ một ngày Lượt cúng thứ hai Bà bóng sẽ tiến hành tại nơi
mà họ cho là có ma quỷ ở để làm hại dân làng hoặc bắt hồn người sống, thường
là một gốc cây to, một hòn đá lớn, một bờ suối…để xua đuổi tà ma ra khỏi buônsóc, sau đó tiếp tục nghỉ một ngày nữa và lần cúng cuối cùng diễn ra tại sóc hoặcgia đình
Múa tín ngưỡng của dân tộc Xtiêng phần lớn do Bà bóng thực hiện, Bàbóng được xem như người có nhiều phép thuật có khả năng sai khiến âm binh,trừ ác quỷ, chữa bệnh cho người Những phép thuật ấy thông qua sự trình diễncủa Bà bóng, thông qua những lời khẩn cầu, những điệu múa, điệu hát và múadâng lễ cầu khẩn các thần linh (Yang) phù hộ
Múa dâng lễ là điệu múa khởi đầu để cúng khấn các vị thần linh, rồi tiếpđến các nghi lễ của tín ngưỡng thờ thần linh Múa dâng lễ có hai cách: một làđội mâm lễ vật hoa quả, trái cây, hoặc múa tay không, không có đội mâm lễ vật
mà chỉ là tượng trưng Trong tín ngưỡng, các điệu múa tham gia như là mộtthành tố quan trọng không thể thiếu vắng Những điệu múa do các thầy cúng,ông bóng, bà bóng thực hiện Thầy cúng, bà bóng là trung gian chuyển tải mốiquan hệ giữa thần linh với người trần gian Từ nhu cầu của sinh hoạt văn hóa tínngưỡng mà người Xtiêng đã sáng tạo hình thái múa tín ngưỡng Múa tín ngưỡng
có đặc điểm cơ bản là yếu tố ngẫu hứng và mang tính độc diễn Tuy theo bàibản, quy ước chung, nhưng nó vẫn mang dấu ấn sáng tạo cá thể Đó là phụ thuộcvào nghệ thuật của các thầy cúng, bà bóng Song nó vẫn bảo tồn đặc trưng, bản
Trang 14sắc, bài bản, quy ước của từng tộc người Do vậy, đều là tín ngưỡng cầu mùa, tínngưỡng thờ thần nước, thần núi, thần rừng nhưng nghệ thuật múa tín ngưỡng cóphần khác nhau, mặt khác còn phụ thuộc vào phong tục, tập quán, nghi lễ, luậttục và truyền thống văn hóa của từng người.
2.2.2.3 Lễ quay cây nêu (cây Ser).
Các dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên nói chung, dân tộc Xtiêng nóiriêng, cây nêu là một biểu tượng thiêng liêng, một biểu tượng của tín ngưỡng,nghi lễ cộng đồng Nó gắn bó với con người trong sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡnglớn của toàn cộng đồng Trong đó ẩn chứa các hồn, các thần linh và nhiều phongtục, tập quán, luật tục, văn hóa nghệ thuật của tộc người Cây nêu cũng đượcxem như cây vũ trụ có ảnh hưởng tới đời sống văn hóa tín ngưỡng của mọithành viên trong cộng đồng Nơi đây cũng là nơi gửi gắm nỗi niềm tâm linh, ướcvọng của con người Nên nhiều tín ngưỡng nghi lễ lớn quan trọng đều diễn ra ởquanh cây nêu, cây vũ trụ
Cây nêu được trang trí rất đẹp, rực rỡ nhiều màu sắc, hoa văn Cây nêuthường được làm bằng cây tre lớn, cây vầu, hoặc gỗ Trên cây nêu thường cónhững lông chim và hoa Cam rai hoặc chim thần thường ở trên đỉnh cây nêu.Phía dưới là bông lau, bông lúa, những loài động vật như chim, cá, ếch, mặt trời,mặt trăng… và các loài hoa dây bằng giấy hoặc vải Khi vào rừng lấy cây tre, gỗ
và khi dựng cây nêu đều phải tiến hành nghi lễ cầu cúng, cho hồn vía thần vàocây nêu Đó là một nghi lễ luật tục rất quan trọng không thể bỏ qua Họ có thểthực hiện nghi lễ bằng động tác múa tay không hoặc động tác múa có đạo cụ( hoa Cam rai ) Hoa Cam rai là các khúc tre, thanh tre vót mỏng, uốn cong, tỏa
ra như bông hoa Hoa Cam rai là loại hoa cao quý để dâng lễ, cúng thần linh
2.2.2.4 Lễ cúng thần rừng.
Khi vào rừng lấy cây tre, gỗ và khi dựng cây nêu đều phải tiến hành nghi
lễ cầu cúng, cho hồn vía thần vào cây nêu Đó là một nghi lễ luật tục rất quantrọng không thể bỏ qua Tùy từng tín ngưỡng cụ thể mà lễ cũng sẽ diễn ra vớihình thức và nội dung khác nhau
Trang 152.2.2.5 Lễ phá báu (Hanh T’ranh).
Đây là lễ hội được thực hiện trước khi tiến hành khai thác thủy sản tựnhiên ở các hồ nước Theo đặc điểm cư trú, mỗi làng của dân tộc thường có mộtBàu nước tự nhiên và trở thành tài sản của cộng đồng do già làng đại diện quản
lý Khi chưa được sự cho phép của dân làng thì không một ai được phép đánhbắt thủy sản dưới Bàu nước, nếu vi phạm sẽ bị làng phạt nặng
Vào khoảng tháng hai dương lịch, khi nước trong bàu đã cạn, cá cũng đã
đủ lớn là lúc phù hợp để tiến hành lễ hội, khai thác thủy sản trong Bàu Già làngcác sóc dùng một thanh tre có khắc ngày tổ chức lễ hội của làng mình và gửi đếncác làng khác để biết họ biết thời gian tổ chức lễ hội của làng và sắp xếp thờigian để tổ chức lễ hội ở làng mình cho phù hợp Vì trong khu vực có nhiều địađiểm tổ chức lễ hội, do đó để tránh trùng lặp, họ có những quy ước về gửi thôngbáo, làng nào sẽ gửi trước và sóc nào sẽ gửi sau
Đến ngày đi hội, già làng ngồi trên chiếc xe bò được trang trí rất đẹp, vừa
đi vừa hát bài hát mời gọi dân làng đi lễ hội Cư dân trong làng nghe được sẽcùng gọi nhau đi lễ hội, khi đi, mỗi người mang theo những vật dụng và đồ dùngcần thiết như đồ xúc cá, đồ đựng cá và đặc biệt rượu cần và cồng chiêng là haithứ không thể thiếu Đến địa điểm diễn ra lễ hội, mọi người sẽ làm công tácchuẩn bị như làm chòi tạm, lấy củi nhóm bếp…Già làng sẽ chuẩn bị bày soạn lễvật và tiến hành nghi thức cúng thần linh Sau nghi thức cúng thần linh, già làng
ra hiệu lệnh và dân làng bắt đầu xuống bàu bắt cá Hầu hết là phụ nữ và trẻ em,những người đàn ông ở trên bờ giao lưu với những người bạn bè đến từ các sóckhác Các già làng cũng sẽ ngồi uống rượu giao lưu với các già làng đến từ cáclàng khác và xem cư dân bắt cá Những con cá bắt được đầu tiên và to nhất sẽđược dâng tặng già làng, đây vừa là nghĩa vụ, vừa là tình cảm với bề trên, người
có công lao với dân làng và vừa là phước của người bắt được Khi những ngườidưới bàu đã bắt đước cá họ sẽ đưa lên bờ để những người đàn ông tiến hành chếbiến để dùng và giao lưu với bạn bè anh em các làng Lúc này, không khí củahội bắt đầu rộn rã, tiếng cồng chiêng, tiếng hát, tiếng cười nói vang cả núi rừng
Cứ thế, họ vừa bắt cá, vừa chế biến cá bắt được dùng tại chổ, vừa uống rượu
Trang 16giao lưu với nhau cho đến ngày kết thúc Một địa điểm có thể diễn ra từ một đến
ba ngày tùy thuộc vào độ lớn của bàu nước, lượng cá trong bàu và tình hình củacuộc vui Kết thúc lễ hội ở địa điểm này, người dân lại tiếp tục di chuyển đến địađiểm khác như đã định để tiếp tục lễ hội Sau khoảng một tháng, lễ hội mới kếtthúc trong toàn khu vực, mọi người lại bắt tay vào mùa vụ sản xuất mới Tùyvào phong tục của mỗi khu vực mà họ có cách tổ chức có những phần khácnhau, nhưng cơ bản đều tổ chức theo hình thức nói trên
Lễ hội là dịp để các gia đình của các sóc ấp khác gặp gỡ trao đổi tình cảm,
là dịp để trai giá tìm hiểu, trao gởi tình yêu cho nhau và dịp để giao lưu vui vẻsau những tháng ngày lao động mệt nhọc Đây là lễ hội hết sức đặc biệt, ngườidân hình tượng hóa một hoạt động đánh bắt và khai thác thủy sản thành một hoạtđộng mang tính lễ hội dân gian Thường tại những nơi dân tộc Khmer hoặc dântộc Xtiêng sinh sống đều có một bàu nước tự nhiên và họ xem đó là tài sảnchung của cộng đồng, già làng là người đại diện quản lý Suốt thời gian trongnăm, nếu chưa có sự cho phép của già làng thì không ai được khai thác thủy sảntrong bàu nước (kể cả người ngoài làng), nếu ai vi phạm thì sẽ bị xử theo phongtục của làng
2.2.2.6 Lễ hội lập làng mới
Theo phong tục của dân tộc Xtiêng, khi một địa điểm bon, sóc của họ gặpnhững vấn đề đe dọa đến sự an toàn của cộng đồng như hỏa hoạn, dịch bệnh,nhiều người chết… thì họ sẽ tính chuyện đi tìm nơi cư trú mới Việc chuyển làngphải có sự họp bàn thống nhất giữa các thành viên trong cộng đồng làng Khimọi người đã thống nhất chuyển làng mà có một hoặc hai gia đình nào đấykhông muốn chuyển, nếu đêm đó người ta ngủ mà mơ thấy điềm xấu hoặc cómột tai họa nào đó xảy ra thì những gia đình này phải chịu sự trừng phạt của dânlàng và thần linh
Người được dân làng cử đi chọn đất lập làng mới là vị chủ làng và các cụlớn tuổi trong làng, vì những người này có nhiều kinh nghiệm cũng như cónhững hiểu biết trong các khâu chọn đất, cúng thần linh Ngày đi chọn đất lậplàng phải là ngày đẹp trời , trên đường đi những người này phải tuyệt đối giữ im
Trang 17lặng và ai hỏi cũng không trả lời Nếu họ gặp con mang, con nai kêu hoặc conrắn nằm chắn ngang đường, con chim khướu đầu bạc (chim Prang) kêu chặnđường ở phía trước hoặc kêu giật lùi ở đằng sau thì sẽ lập tức quay về vì đây làđiềm xấu Còn nếu không gặp các con vật trên hoặc gặp con chim khướu kêu ởbên trái, đáp xuống ở bên phải thì đó là điềm tốt nên họ cứ tiếp tục đi cho đếnkhi tìm được vùng đất ưng ý Khi đã chọn được vùng đất ưng ý, chủ làng mớilấy quả trứng gà đem theo ra khấn thần linh xin phép thần cho mình được thửđất, nếu đất lành, đất tốt lúc bóp trứng thì quả trứng vỡ ra, còn nếu đất không tốtthì lúc bóp trứng không vỡ Khấn xong, chủ làng bóp quả trứng gà, trường hợptrứng vỡ coi như thần linh đã cho phép họ được dựng làng tại nơi đây, nhưngcũng có trường hợp trứng không vỡ điều đó có nghĩa là thần linh không ưngthuận phải đi chọn ở nơi khác.
Sau khâu thử đất thành công, người ta dọn sạch một khoảnh đất khoảng 2mét rồi lấy cây lồ ô dài khoảng 1,5 mét chẻ phần đầu thành bốn nhánh dài cắmlàm dấu với ngụ ý bốn phía của khoảnh đất này đã có chủ Người chủ làng vàcác cụ già quay về thông báo cho dân làng biết đã tìm được vùng đất để lập làngmới, nếu như trong lúc đi chọn làng người ta đi trong im lặng thì lúc về mọingười nói cười rất vui vẻ Lúc này dân làng làm thịt heo, gà, lấy ché rượu cầncúng thần linh, nhờ thần linh che chở cho dân làng được khoẻ mạnh để họ yêntâm làm ăn, sinh sống Đêm đó mà một ai đó trong làng mơ thấy diềm lành thìngười ta mới bắt đầu đến dựng làng, ngược lại nếu ai đó mơ thấy điềm xấu nhưnước có màu đỏ, bị hổ vồ chết, làng bị cháy hoặc người khác đến phá làng củamình,…thì họ không đến vùng đất đó nữa Xong khâu chọn đất, người ta bắt đầuvào rừng tìm gỗ, chặt lồ ô, cắt cỏ tranh…để dựng nhà Ngày đầu tiên vào rừngtìm vật liệu làm nhà đồng bào cũng có những kiêng cữ như ngày đầu tiên đichọn đất lập làng, nếu thuận lợi thì công việc mới được tiến hành, còn khôngthuận lợi thì lập tức quay về để ngày khác làm tiếp
Chuẩn bị xong mọi việc dân tộc Xtiêng đợi ngày lành tháng tốt mới dựngnhà, họ rất kiêng làm nhà vào tháng 3 âm lịch; thông tin tốt hay xấu cho việcdựng nhà được dân tộc Xtiêng phỏng đoán qua điềm báo mộng hoặc qua tiếng
Trang 18chim kêu.
Lúc làm nhà thì mỗi gia đình tự làm lấy, nhà ở truyền thống của dân tộcXtiêng là nhà dài nên cần rất nhiều nhân lực Để công việc được tiến hành nhanhchóng và thuận tiện nên giữa các gia đình trong làng có sự hoán đổi công chonhau Đối với những trường hợp gia đình neo đơn, tàn tật…thì được các thànhviên trong làng đến giúp đỡ Trước khi dựng nhà mới, dân làng làm thịt con gàlấy máu đổ xuống chân cột, nhất là chân cột đầu tiên để khấn thần linh cầu mongmọi điều tốt lành Dựng xong nhà, dân tộc Xtiêng làm heo, gà, ché rượu cầncúng các thần linh, đồng thời lấy máu của các con vật hiến sinh bôi lên miệngché rượu, các cột nhà, mái nhà, sàn nhà cho mọi thứ đều được ăn rồi mới dọnnhà đến ở
Dân tộc Xtiêng có tục cấm làng khi vừa mới dựng làng xong Trong thờigian bảy ngày kể từ ngày dựng xong làng mới thì những người lạ không đượcphép vào làng Dấu hiệu cấm làng là một nhánh lá xanh được cắm hoặc treo đầulàng, cũng có thể là một dây thừng căng ngang lối vào Trong thời gian này việcđưa vào làng các ché đầy rượu, các cối và chày giã gạo, các nia, mẹt,…đều bịcấm Đồng thời, mọi người trong làng không được nấu nướng trên nhà mà họchỉ làm bếp nấu ở dưới nhà, thức ăn của mọi người là các loại rau, thịt nào đótrừ thịt heo và gà thì không được ăn vì đây là điều kiêng Dân tộc Xtiêng quanniệm rằng việc giữ cho làng càng im lặng trong thời gian này càng tốt, có nhưvậy dân làng mới được ấm no, khoẻ mạnh và hạnh phúc
Sau ba năm cư trú, nếu cư dân trong sóc làm ăn tốt, lúa thóc được mùa, gàheo mau lớn, cư dân không gặp các vấn đề rủi ro như trước nữa tức là nơi đó cóthể cư trú lâu dài được Do đó, họ sẽ tổ chức Lễ ăn mừng sóc mới – gọi là NhiệtRông Xa Cất Từ sau lễ hội này, địa điểm cư trú này mới trở thành nơi cư trúchính thức của cộng đồng Ngược lại, nếu cuộc sống của họ không tốt, gặpnhững rủi ro như trước thì họ sẽ tiếp tục tiến hành tìm kiếm địa điểm cư trú mớivới các nghi lễ tương tự cho đến khi nào tìm được nơi cư trú ổn định thì mớithôi
Chuẩn bị cho lễ hội, trước ngày diễn ra lễ chính khoảng một tháng, cư dân
Trang 19trong sóc tiến hành chuẩn bị một số việc như: làm rượu cần, trang trí nhà cửa,nấu cơm ống, làm cây nêu…Lễ hội diễn ra ở khuôn viên sân trước nhà củangười lớn tuổi nhất trong sóc – già làng Lễ hội có các hoạt động chính như:đâm trâu, giết heo cúng thần linh, giao lưu giữa các cư dân trong sóc và đại biểukhách mời từ các sóc khác Ngoài các nghi thức nghi lễ cúng thần linh được tổchức long trọng, mang đậm đặc trưng văn hóa của dân tộc Xtiêng thì có mộtnghi lễ hết sức độc đáo và ấn tượng, đó là lễ đón khách Khi các đại biểu kháchmời của các sóc khác đến tham dự lễ hội, già làng nơi tổ chức lễ hội tổ chứcnghi thức đón tiếp long trọng, độc đáo Đội đón tiếp xếp thành hai hàng đứnghai bên đường, một bên là đội công chiêng, già làng cùng với một người đàn ônglớn tuổi (đứng đầu hàng) tay cầm thuốc lá đã được vấn sẵn để mời khách là đànông; một bên là đội múa và một người bưng trầu (đứng đầu hàng) mời đại biểu
là nữ Đại biểu đi vào khu vực dự lễ sẽ được mời trầu, mời thuốc, đội cồngchiêng và đội múa sẽ biểu diễn liên tục từ người khách đầu tiên cho đến khi vịkhách cuối cùng vào sân lễ Sau khi đại biểu đã vào hết khu vực sân lễ, lễ hộimới chính thức bắt đầu Sau khi tiến hành nghi lễ cúng thần linh với nghi lễ hiếnsinh được hoàn tất, heo và trâu sẽ được mọi người mang chế biến và đãi khách.Các đội cồng chiêng, đội múa, đội kèn của các sóc sẽ cùng nhau giao lưu, uốngrượu liên hoan Lễ hội thường kéo dài từ một đến bảy ngày
2.2.2.7 Lễ cột tay
Là lễ hội dành cho những người bị bắt hay đi lạc mới trở về Nghi thứccủa lễ này khá đơn giản: khi người bị bắt hay đi lạc vừa trở về, tất cả bà con họhàng của người đó và toàn thể dân làng liền tập trung tại nhà đó Tại đây, nghi lễcột tay chính thức diễn ra Đầu tiên, cha mẹ của đương sự được cột tay sẽ vanvái cầu xin thần linh chứng giám cho buổi lễ và ban phước lành cho anh ta Vanvái xong, họ sẽ lấy một đoạn chỉ đỏ cột lên cánh tay của người đó Sau khi cha
mẹ đã cột tay xong sẽ đến lượt anh em, họ hàng và dân làng xúm lại cột tayngười đi lạc và cầu chúc sức khỏe và may mắn Khi người cuối cùng cột tayxong thì buổi lễ kết thúc Sau đó, mọi người cùng bày tiệc ăn mừng, ngồi quấnquýt bên nhau suốt cả ngày lễ hội diễn ra khoảng ba ngày, cũng có khi diễn ra
Trang 20cả tuần liền.
2.2.2.8 Tín ngưỡng về Đá ( tục cúng Đá).
Dân tộc Xtiêng cho rằng, nguồn gốc của vũ trụ, muôn loài đều từ đá màra: từ “cột đá mẹ” hình thành nên vũ trụ và muôn loài, người con trai và ngườicon gái cũng được sinh ra từ tảng đã lớn Trong tâm thức của những ngườinguyên thủy Xtiêng xưa, đá ẩn chứa sức mạnh vô biên, là chốn linh thiêng củathần linh Xuất phát từ cuộc sống gần gũi với thiên nhiên (ở trong các hang đá,công cụ sản xuất từ đá), cùng với nhận thức cảm giác về đá mà người nguyênthủy đã phú cho đá những sức mạnh linh hồn vô biên Chính vì thế, họ xem đá làchỗ dựa tinh thần Tín ngưỡng thờ đá xuất phát từ thực tế trên Loài người đượcsinh ra từ đá, nghĩa là sinh ra từ nơi linh thiêng Và con người luôn mang trongmình sức mạnh vô biên từ nguồn gốc linh thiêng ấy
Nguồn gốc của tục cúng Thần Đá hằng năm của dân tộc Xtiêng: vì mặttrăng bị ăn bởi mặt trời nên mọi vật ngoài trời đều hóa thành những tảng đá lớn.Dân làng đi lăn những tảng đá ấy xuống bờ suối Có cô gái Xtiêng xuống suốigùi nước, ngồi lên tảng đá để nghỉ, về nhà cô ngã bệnh Thầy cúng cho biết côgái bị bệnh là do Thần Đá trừng phạt Gia đình cô gái phải làm lễ cúng Thần Đá.Sau chín ngày chín đêm, cô gái tỉnh lại và từ đó, dân tộc Xtiêng có tục cúngThần Đá
Giữa đá và linh hồn con người có mối liên quan mật thiết Đá cũng nhưcon người, cũng có sự sống, cũng có linh hồn Đá còn có thể là nơi trú ngụ cholinh hồn con người Đá còn là đặc trưng cơ bản của núi (núi là nơi thông linhgiữa đất và trời) nên đá còn là phương tiện truyền đạt những mong muốn củacon người với các thế lực siêu nhiên khác Xuất phát từ đặc điểm của đá là cứng,vững chắc, nên người nguyên thủy đã phú cho đá những sức mạnh không gì cóthể sánh bằng Hơn nữa, dân tộc Xtiêng không thể giải thích được một số hiệntượng tự nhiên xảy ra trong cuộc sống nên họ đã dùng chính những kết quảtrong quá trình quan sát, trải nghiệm cuộc sống xung quanh để lí giải vấn đề.Xuất phát từ lối tư duy này, dân tộc Xtiêng có tục thờ Đá, cúng thần Đá
Đá có linh hồn, có sức mạnh vạn năng, có khả năng che chở, bảo vệ cho
Trang 21con người Chi tiết khi mọi người đi chôn Điểu Tế về, họ dùng đá, gậy gộc xuađuổi linh hồn của ông ta thể hiện quan niệm của dân tộc Xtiêng về vai trò, sứcmạnh của đá Theo quan niệm của dân tộc Xtiêng, đá có khả năng trừ ma quỷ,ngăn không cho linh hồn người chết về làm hại họ Đó là tín ngưỡng, tâm thức
về đá, là mối quan hệ tổng hòa giữa tín ngưỡng, tâm thức về đá với các tínngưỡng khác trong đời sống tinh thần của dân tộc Xtiêng
Tín ngưỡng về đá và tín ngưỡng phồn thực: lễ vật không thể thiếu trong
nghi lễ đám cưới của dân tộc Xtiêng là vấn đá Một số người già Xtiêng chobiết, đá vấn trong váy là lễ vật rất quan trọng trong nghi lễ đám cưới Món đồnày có ý nghĩa: ước muốn về sự sinh sôi, nảy nở, về những đứa con khỏe mạnh.Dân tộc Xtiêng tin rằng, sự kết hợp giữa đá và một đồ dùng của người phụ nữ sẽtạo ra một sức mạnh cộng hưởng, có thể đem lại hiệu quả, tạo ra sự sinh sôi, nảy
nở Bản chất sự sống ở trong đá sẽ tiếp thêm sinh lực cho những biểu tượng về
sự sinh sản, để đáp ứng nguyện vọng của con người về sự sinh sôi của cây cối,
vật nuôi và cả con người Tín ngưỡng về đá và nghi lễ nông nghiệp: đá là nơi
con người có thể gửi gắm những mong muốn của mình đến các lực lượng siêunhiên, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cha trời-mẹ đất hòa thuậnvới nhau để muôn vật sinh sôi nảy nở Điều này giải thích vì sao trong lễ mừnglúa mới, dân tộc Xtiêng thường có tục cúng Thần Đá
2.2.3.Tín ngưỡng trong lễ vòng đời con người (Âp prăh kungpu múh) 2.2.3.1 Tín ngưỡng đặt tên con (Smó Shắc con):
Đây là nghi lễ đầu tiên của đời người Theo phong tục của dân tộc Xtiêng,khi một đứa trẻ mới sinh được bảy ngày, người cha sẽ tiến hành lễ đặt tên chocon Lễ hội diễn ra trong thời gian một ngày trên sàn nhà của người chủ gia đìnhvới các nghi thức như cúng thần linh, cột chỉ cầu phúc, giao lưu với người thân,hàng xóm Người nhà chuẩn bị lễ vật cúng thần linh để xin đặt tên gồm một câynêu dựng giữa nhà, đội cồng chiêng và múa ngồi xung quanh để biểu diễn cồngchiêng, múa hát khi gia chủ tiến hành nghi lễ cúng đặt tên Lễ hội thường diễn ratrong một ngày và có sự tham gia của người thân và bà con láng giềng
Dân tộc Xtiêng quan niệm “vạn vật hữu linh”, nên con người tuy đã chết
Trang 22đi nhưng vẫn còn hồn, người chết chưa phải đã chấm dứt cuộc sống mà là tiếptục sống ở thế giới khác, không sống bằng thể xác mà sống bằng linh hồn Vìvậy, hồn người chết có thể phù trợ - tăng sức mạnh cho con cháu, cộng đồngnhưng cũng có thể phá hoại, trừng phạt con cháu, cộng đồng nếu đối xử với hồnngười chết không nghiêm túc, trong đó có việc lấy tên của họ để đặt tên cho concháu, hoặc nhắc tên của họ một cách tuỳ tiện, thiếu tôn trọng Không phải tất cảnhững ông, bà đã chết đều được con cháu lấy tên để đặt tên cho con cháu thế hệsau Theo truyền thống, chỉ những người giàu có, có uy tín với buôn làng, nhữngngười chết lành (tối kỵ nhất là lấy tên của người chết bất đắc kỳ tử) Phải đượccon, cháu trong gia đình nằm mơ thấy hồn của người đã chết xin thai giáng thìmới được lấy tên để đặt tên cho con cháu Những người nằm mơ thấy hồn ông,
bà xin giáng thai (xin trở lại kiếp người) cũng là những người có đức hạnh Việcchọn những ông, bà đã chết có lai lịch tốt để đặt tên cho con cháu của mình cũngphải được cân nhắc thật kỹ, có thể họ đặt tên cho con cháu đúng như tên củangười đã chết, nhưng cũng có thể chỉ đặt tên gần giống Vì họ quan niệm trongtên đó có thể đem lại hạnh phúc cho con, cháu họ, nhưng cũng có thể ngược lại.Việc lấy tên của người đã chết để đặt tên cho con cháu có ý nghĩa quan trọngtrong việc giáo dục cho con cháu học tập, noi gương và tôn trọng, biết ơn đốivới ông, bà của mình Mặc khác, đây cũng là hình thức để cho con cháu trongdòng tộc, cộng đồng không quên tên cũng như công lao đóng góp của người đãkhuất Dân tộc Xtiêng không có phong tục ghi chép gia phả, vì ngày xưa họkhông có chữ viết, vì họ không cho phép nhắc tên người chết một cách tuỳ tiện,nên con cháu, dòng tộc ít khi nhớ tên, tuổi của ông, bà, tổ tiên mình
2.2.3.2 Lễ cột chỉ tay, lễ trưởng thành (Toon ty kon):
Thường được tổ chức lúc con cái được 13 tuổi Với dân tộc Xtiêng, việcnuôi con trưởng thành đến tuổi 13 là một niềm hạnh phúc không gì sánh bằng.Xuất phát từ điều kiện khắc nghiệt của môi trường tự nhiên, điều kiện kinh tế,…việc nuôi con khôn lớn trưởng thành là một dấu mốc quan trọng được đánh dấubằng một nghi lễ mà bất cứ một ai đã trải qua nghi lễ này thì suốt đời không thểquên Nghi lễ trưởng thành mang tính cộng đồng rất cao