1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

75 517 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 8,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN MỞ ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3 4. Lịch sử nghiên cứu 4 5. Phương pháp nghiên cứu 6 6. Đóng góp của đề tài 7 7. Cấu trúc của đề tài 7 Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI CÔN SƠN KIẾP BẠC 8 1.1. Một số khái niệm cơ bản 8 1.1.1. Lễ hội 8 1.1.2. Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 10 1.3 Khái quát về di tích và lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc 16 1.3.1. Đặc điểm di tích 16 1.3.2 Diễn trình lễ hội 22 Tiểu kết 27 Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI CÔN SƠN KIẾP BẠC 28 2.1. Các giá trị của lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc 28 2.1.1. Giá trị cố kết cộng đồng 28 2.1.2. Hướng về cội nguồn 31 2.1.3. Sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa 32 2.1.4. Cân bằng đời sống tâm linh 33 2.1.5. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 34 2.1.6. Ý nghĩa kinh tế 35 2.1.7. Trao đổi tri thức giao lưu văn hóa giữa các vùng văn hóa trong nước và giữa các quốc gia 36 2.2. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn Kiếp Bạc 36 2.2.1 Tuyên truyền về giá trị lễ hội 37 2.2.2. Công tác xã hội hóa trong việc bảo tồn phát huy giá trị di tích và lễ hội 40 2.2.3. Phục dựng nâng cấp lễ hội 41 2.2.4. Xây dựng tuyến tua du lịch 43 2.3. Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn phát huy giá trị lễ hội 45 2.3.1. Những ưu điểm 45 2.3.2. Những hạn chế tồn đọng 47 Tiểu kết 49 Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI CÔN SƠN – KIẾP BẠC 50 3.1. Tuyên truyền về giá trị lễ hội bằng nhiều hình thức 50 3.2. Nâng cao trình độ cán bộ quản lý 51 3.3. Đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình du lịch 53 3.4. Gắn bảo tồn lễ hội với phát triển du lịch. 54 3.5. Xây dựng cơ sở hạ tầng 56 3.6. Chú trọng công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội 57 Tiểu kết 60 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC 64

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân em và được

sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Lê Thị Hiền Các nội dung nghiên cứu

trong khóa luận với đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” của em là trung thực và chưa công bố

dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu thống kê, kết quả nghiêncứu được sử dụng trong đề tài là khách quan, phục vụ cho việc phân tích,nhận xét, đánh giá được cá nhân thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõnguồn gốc Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào em xin hoàn toàn chịutrách nhiệm về nội dung khóa luận của mình

Hà Nội, ngày 24 tháng 7 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thụy Minh Khuê

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trải qua thời gian và quá trình nghiên cứu, với sự giúp đỡ, hướng dẫnnhiệt tình của các thầy cô trong Khoa Văn hóa - Thông tin và Xã hội, sự cốgắng khắc phục khó khăn của bản thân, em đã hoàn thành đề tài nghiên cứukhoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc thị xã ChíLinh, tỉnh Hải Dương” Qua đây em đã rút ra được nhiều bài học, kinhnghiệm bổ ích trong công tác quản lý di sản, quản lý văn hóa, bảo tồn và pháthuy di sản văn hóa cổ truyền trong bối cảnh hiện nay đồng thời giúp em hiểu

rõ hơn những kiến thức, lý thuyết đã được nhà trường trang bị, áp dụng vàothực tiễn công việc

Em xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong Khoa văn hóa Thông tin và xã hội đã tạo điều kiện, định hướng, tư vấn, giúp đỡ em trongquá trình lựa chọn và thực hiện đề tài Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắctới cô Lê Thị Hiền, Tiến sĩ - giảng viên hướng dẫn, đã trực tiếp tận tình, chuđáo, chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành công trình nghiên cứu Xin chânthành cảm ơn các cán bộ trong ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, cùngcác cơ quan chức năng quản lý văn hoá tại tỉnh Hải Dương đã nhiệt tình giúp

-đỡ em trong việc tìm hiểu nghiên cứu lịch sử hình thành, quá trình phát triển,

ý nghĩa các giá trị, các giải pháp bảo tồn và phát huy lễ hội của địa phương

Mặc dù có rất nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnhnhất, song do kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của bản thân còn hạn chếcũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không tránh khỏi nhữngthiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong nhận được sựđóng góp của quý thầy, cô và các bạn sinh viên dể khóa luận được hoàn chỉnhhơn và qua đó em có thêm những nguồn tư liệu mới trên con đường học tậpcũng như nghiên cứu sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 24 tháng 07 năm 2017

Sinh viên Nguyễn Thụy Minh Khuê

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Lịch sử nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Cấu trúc của đề tài 7

Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI CÔN SƠN - KIẾP BẠC 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Lễ hội 8

1.1.2 Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 10

1.3 Khái quát về di tích và lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc 16

1.3.1 Đặc điểm di tích 16

1.3.2 Diễn trình lễ hội 22

Tiểu kết 27

Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI CÔN SƠN - KIẾP BẠC 28

2.1 Các giá trị của lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc 28

2.1.1 Giá trị cố kết cộng đồng 28

2.1.2 Hướng về cội nguồn 31

2.1.3 Sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa 32

2.1.4 Cân bằng đời sống tâm linh 33

2.1.5 Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 34

2.1.6 Ý nghĩa kinh tế 35

Trang 4

2.1.7 Trao đổi tri thức giao lưu văn hóa giữa các vùng văn hóa trong

nước và giữa các quốc gia 36

2.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc 36 2.2.1 Tuyên truyền về giá trị lễ hội 37

2.2.2 Công tác xã hội hóa trong việc bảo tồn phát huy giá trị di tích và lễ hội 40

2.2.3 Phục dựng nâng cấp lễ hội 41

2.2.4 Xây dựng tuyến tua du lịch 43

2.3 Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn phát huy giá trị lễ hội 45

2.3.1 Những ưu điểm 45

2.3.2 Những hạn chế tồn đọng 47

Tiểu kết 49

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ HỘI CÔN SƠN – KIẾP BẠC 50

3.1 Tuyên truyền về giá trị lễ hội bằng nhiều hình thức 50

3.2 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý 51

3.3 Đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình du lịch 53

3.4 Gắn bảo tồn lễ hội với phát triển du lịch 54

3.5 Xây dựng cơ sở hạ tầng 56

3.6 Chú trọng công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội 57

Tiểu kết 60

KẾT LUẬN 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong cuộc sống của nhân loại nói chung cũng như của nhân dân ta nóiriêng, lễ hội đóng vài trò quan trọng trong đời sống tinh thần con người, bắtnguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu, tiếpbiến văn hoá của cộng đồng, nhằm thỏa mãn những khát vọng, những ướcmuốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của mọi người dân, du khách thậpphương không chỉ trong nước mà còn du khách quốc tế Và đặc biệt sau nhữnggiờ lao động mệt nhọc, lúc nhàn rỗi, con người có nhu cầu tụ hội để nghỉ ngơi,giao tiếp cộng cảm với cộng đồng Những lễ hội và lễ hội truyền thống của đântộc ta chính là nơi phổ cập những giá trị văn hóa, ươm mầm tài năng cho thế hệtrẻ Lễ hội là một dạng sinh hoạt văn hóa tổng hợp của con người Đồng thời lễhội thể hiện nét đẹp văn hóa của vùng miền, dân tộc

Trong giai đoạn hiện nay, việc giữ gìn và phát triển lễ hội đangngày càng trở nên quan trọng Trên địa bàn cả nước, rất nhiều lễ hội đã đượcphục dựng, bảo tồn và phát triển mạnh mẽ gây sự chú ý của toàn dân Lễ hội

là hoạt động văn hóa xã hội tổng hợp mang tính giáo dục cao, có tính nghệthuật Lễ hội liên kết con người về mặt ý thức, khẳng định thế giới quan, lýtưởng thẩm mỹ, đạo đức, đồng thời thỏa mãn nhu cầu tâm linh của conngười Chính vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là công tác tổ chức, tín ngưỡng tâmlinh trong lễ hội đã phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc chưa, phong tụctập quán địa phương cũng như việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị của lễhội truyền thống và giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trong khi lễ hội diễn

ra chưa Do đó, chúng ta cần phải nghiên cứu, tìm hiểu về công tác tổ chức,phải có những biện pháp quản lý phù hợp để phát triển lễ hội sao cho phùhợp để phát tiển lễ hội sao cho vừa giữ được nét đẹp truyền thống của dântộc, vừa đáp ứng được nhu cầu văn hóa chính đáng của nhân dân, pháttriển đất nước, góp phần làm phong phú thêm kho di sản văn hóa, kế thừaphát huy di sản văn hóa dân tộc Việt Nam hiện nay

Trang 6

“Dù ai buôn bán gần xa Hai mươi tháng tám giỗ cha thì về”.

“Tháng tám giỗ cha” từ lâu đã đi sâu vào tâm thức mỗi người dân ViệtNam, trở thành tập tục văn hóa truyền thống uống nước nhớ nguồn củadân tộc Hàng năm, theo lễ cổ vào ngày mất của Đức Thánh Trần Hưng ĐạoĐại Vương (20/8 Âm lịch), của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (16/8 Âmlịch) và ngày viên tịch của thiền sư Huyền Quang (22 tháng giêng Âm lịch)triều đình đều cử các quan đại thần, các quan phủ, trấn vùng lân cận về dự

lễ cầu đảo, cầu quốc thái dân an; nhân dân và phật tử về trẩy hội Côn SơnKiếp Bạc, tưởng niệm các bậc vĩ nhân Nhiều hình thái văn hóa phi vậtthể được bảo lưu, trình diễn đặc sắc và hấp dẫn như: Tế lễ, rước bộ, hộiquân, lễ mộc dục, lễ cầu an và các nhu cầu tâm linh như cầu duyên, cầu tự,cầu sức khỏe, cầu danh, cầu tài được Thần, Phật chứng cho thỏa nguyện

Đó là thuần phong mỹ tục độc đáo làm nên bản sắc văn hóa đa dạng tốt đẹpcủa cư dân đồng bằng Bắc Bộ

Trải qua trên 700 năm tồn tại và phát triển lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạctrở thành nơi “quốc lễ” của đất nước, là lễ hội truyền thống không thểthiếu trong đời sống tâm linh của dân tộc Năm 2006 - 2007 thực hiện đề

án nâng cấp lễ hội truyền thống Côn Sơn - Kiếp Bạc giai đoạn 2006 - 2010,nhiều nghi thức nghi lễ, diễn xướng dân gian, trò chơi dân gian được phụcdựng thành công với nội dung phong phú, chuẩn mực, giàu chất dân gianđược phục dựng thành công thu hút đông đảo các tầng lớp xã hội tham gia.Đặc biệt là có sự quản lý sát sao của các cấp các ngành với lễ hội Côn Sơn -Kiếp Bạc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương Trong giai đoạn hiện nay côngtác quản lý lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc càng trở nên cấp thiết hơn baogiờ hết

Bản thân tôi rất tự hào là một người con sinh ra và lớn lên ngay chínhvùng đất địa linh nhân kiệt, linh thiêng, một vùng văn hóa lịch sử lâu đời, mộtkhu danh thắng nổi tiếng của miền đất xứ Đông Hơn nữa, là một người đangtheo học tập về chuyên ngành quản lý văn hóa nên tôi nhận thấy vấn đề

Trang 7

nghiên cứu, tìm hiểu về lễ hội truyền thống ở địa phương mình là một việclàm cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng tổ chức lễ hội cũng như bảotồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, bởi đây là mộthoạt động đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Muốn bảo tồn và phát huy disản văn hóa cần phải nhận diện, đánh giá mọi giá trị văn hóa truyền thống mà

lễ hội là một phương diện tiêu biểu tồn tại trong những tiểu vùng văn hóa cụ

thể.Với những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” làm đề tài

viết khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bảo tồn và phát huy giá trị lễ hộiCôn Sơn - Kiếp Bạc Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

2.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - KiếpBạc Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong thời gian hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Khẳng định những giá trị của lễ hội này, tìm ra biện pháp khả thi đểbảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc trong đời sống xãhội hiện đại

3.2 nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận chung về công tác bảo tồn & phát huy giá trị lễhội và khái quát về lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

- Nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội CônSơn - Kiếp Bạc

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn, pháthuy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc Thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Trang 8

- Năm 1999 Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương xuất bản cuốn Hải Dương di tích và danh thắng có giới thiệu các di tích trong khu vực Côn Sơn -

Kiếp Bạc là: chùa Côn Sơn, đền Kiếp Bạc, đền Sinh, đền thờ nhà giáo ChuVăn An

- Năm 2006, Tăng Bá Hoành trong nghiên cứu Côn Sơn - Kiếp Bạc quá trình hình thành và phát triển trên Tạp chí Di sản Văn hóa đã nghiên cứu, giới

thiệu lịch sử hình thành, địa văn hóa, quân sự khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc

- Năm 2006, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn Di sản Hán Nôm Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Sơn của Ban quản lý di tích Côn Sơn

- Kiếp Bạc, cuốn sách là tập hợp các tài liệu thư tịch Hán Nôm, tiến hành sưutầm dịch thuật các văn bản chữ Hán và viết về khu di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc,Phượng Hoàng như văn bia, hoành phi, câu đối, thần tích, thần sắc, ngọc phả,bài châm gốc từ thời Trần, thời Lê ở chùa Côn Sơn, đền Kiếp Bạc

- Năm 2008, Ủy Ban Nhân Dân thị xã Chí Linh và Liên hiệp các Hội

khoa học kĩ thuật Hải Dương tổ chức hội thảo Chí Linh bát cổ, hội thảo đã nhận được các tham luận nghiên cứu về các di tích "Huyền Thiên cổ tự", "Tiền

Trang 9

- Năm 2009, Nguyễn Khắc Minh trong bài viết Lễ hội Côn Sơn - KiếpBạc những kết quả sau 4 năm thực hiện đề án đăng trên tạp chí Thế giới Disản, số 7 (34) đã đánh giá những kết quả tích cực của Đề án Lễ hội Côn Sơn -Kiếp Bạc giai đoạn năm 2006 - 2010 và đề xuất phương án tổ chức cho nhữngnăm tiếp theo.

- Năm 2009, Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc nghiên cứu đề tài

khoa học cấp tỉnh Điều tra, nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của một số lễ hội tiêu biểu thuộc dòng thiền Trúc Lâm ở tỉnh Hải Dương Đề tài nghiên cứu, giới thiệu một số nghi lễ, trò

chơi dân gian diễn ra trong lễ hội chùa Côn Sơn hiện nay, đồng thời đề xuấtcác biện pháp để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của lễ hội chùa Côn Sơntrong tương lai

- Ngày 18/06/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 920/QĐ

- TTg phê duyệt "Quy hoạch tổng thể bảo tồn Khu di tích lịch sử văn hóa CônSơn - Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương"

- Năm 2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hải Dương đã lập Hồ sơ khoa học Lễ hội chùa Côn Sơn đề nghị đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi

vật thể quốc gia Nội dung hồ sơ đã nêu khái quát nguồn gốc hình thành, diễntrình lễ hội trước năm 1945 và hiện nay, giá tị tiêu biểu và đề xuất các biệnpháp bảo tồn lễ hội chùa Côn Sơn

- Năm 2012, Nguyễn Thị Thùy Liên bảo vệ luận văn Thạc sỹ Văn hóa

học trường Đại học văn hóa Hà Nội Lễ hội đền Kiếp Bạc (xã Hưng Đạo, thị

xã Chí Linh) đã nghiên cứu về lịch sử hình thành, các nghi lễ diễn xướng và

giá trị tiêu biểu của lễ hội Kiếp Bạc

Năm 2012 Thủ tướng Chính Phủ quyết định xếp hạng khu di tích CônSơn - Kiếp Bạc và di tích quốc gia đặc biệt, lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc được vinhdanh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

- Đặc biệt Bộ Xây dựng vừa có văn bản số 2093/BXD - KTQH, gửiVăn phòng Chính phủ, về quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát triển giá trị khu

di tích lịch sử, danh thắng Côn Sơn-Kiếp Bạc

Trang 10

Ngoài ra trên một số website cũng có các bài viết về lễ hội Côn Sơn - Kiếp

Bạc : Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc trên trang web consonkiepbac.org.vn ,

Lễ hội mùa xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc trên trang web dulichvn.org.vn, Côn Sơn - Kiếp Bạc những giá trị lịch sử văn hóa của tác giả Nguyễn Khắc Minh

trên báo thegioidisan.vn Những bài viết này đã giới thiệu sức hút hấp dẫn,thú vị, đặc sắc của lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc cũng như đề cao ý nghĩa cônglao to lớn của vị Thánh thần, các vị tiên hiền, danh nhân văn hóa thế giới, anhhùng dân tộc với đất nước

Như vậy các công trình nghiên cứu trên đã tập trung nghiên cứu nhữnggiá trị lịch sử văn hóa, nghệ thuật của di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc Đồng thờicác tác phẩm đã khẳng định vị trí của di tích và lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạctrong sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân trong vùng và cả nước Tuynhiên các các tác giả mới chỉ nghiên cứu di tích dưới góc độ học thuật và cònthiếu những công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng

Thực tế di tích và lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc còn thu hút đông đảo dukhách trong nước và quốc tế tới trẩy hội và vãn cảnh Đây thực sự là mộtđiểm du lịch tiềm năng của Hải Dương nói riêng và cả nước nói chung.Những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, cảnh quan và tính thiêng của lễ hội

đã tạo nên sức hút với du khách Làm thế nào để những giá trị này được phổbiến rộng rãi hơn ? Tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên là vấn đề có tính cấpthiết Chính vì vậy cần có những công trình nghiên cứu về di tích và lễ hộiCôn Sơn - Kiếp Bạc, nhất là công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội CônSơn - Kiếp Bạc

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp Quan sát Phỏng vấn

- Phương pháp Nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra xã hội học, thống kê

-Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

Trang 11

6 Đóng góp của đề tài

- Đóng góp về tư liệu nghiên cứu: Đề tài là một nguồn tư liệu, dẫnchứng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa lễhội nói riêng Đồng thời, làm phong phú và đa dạng thêm cho kho tàng tư liệuvăn hóa dân tộc về các lễ hội

- Các giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu có thể ứng dụng vàothực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị các

lễ hội

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài có bốcục gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về công tác bảo tồn phát huy giá trị lễ hội và khái quát về lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC BẢO TỒN PHÁT HUY GIÁ TRỊ

LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI CÔN SƠN - KIẾP BẠC 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Lễ hội

Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, nhiều dân tộc cùngsinh sống trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quánmang bản sắc riêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo cho nền văn hóadân tộc Trong đó lễ hội là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm chovăn hóa đất nước đặc sắc hơn

Cho đến thời điểm hiện nay, khái niệm lễ hội vẫn còn nhiều cách hiểu

và lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu, tựu trung lại trên thực tế đã xuấthiện một số ý kiến sau đây: có quan niệm chia tách lễ và hội thành hai thành

tố khác nhau trong cấu trúc lễ hội dựa trên thực tế có những sinh hoạt văn hóadân gian có lễ mà không có hội hoặc ngược lại

Theo Bùi Thiết thì "Lễ là các hoạt động đạt tới trình độ nghi lễ, hội làcác hoạt nghi lễ đạt trình độ cao hơn, trong đó các hoạt động văn hóa truyềnthống" [20; Tr 8]

Khác với quan điểm trên, nhà nghiên cứu Thu Linh cho rằng: “Lễ (cuộclễ) phản ánh những sự kiện đặc biệt, về mặt hình thức lệ trong các dịp này trởthành hệ thống những nghi thức có tính chất phổ biến được quy định một cáchnghiêm ngặt nhiều khi đạt đến trình độ một "cải diễn hóa" cùng với không khítrang nghiêm đóng vai trò chủ đạo Đây chính là điểm giao thoa giữa lễ vớihội, và có lẽ cũng vì vậy người ta thường nhập hai từ lễ hội [10; Tr 8]

Theo Nguyễn Quang Lê, thì bất kỳ một lễ hội nào cũng bao gồm "hai

hệ thống đan quện và giao thoa với nhau bao gồm có hệ thống lễ là các nghi

lễ của tín ngưỡng dân gian và tôn giáo cùng với các lễ vật được sử dụng làm

đồ lễ mang tính linh thiêng, được chuẩn bị rất chu đáo và nghiêm túc Thôngqua các nghi lễ này con người được giao cảm với thế giới siêu nhiên là cácthần thánh (các nhiên thần và nhân thần) Do chính con người tưởng tượng ra

Trang 13

và họ cầu mong các thần thánh bảo trợ và có tác động tốt đẹp đến tương laicuộc sống tốt đẹp của mình Và hệ thống hội là các trò vui trò diễn và cáckiểu diễn xướng dân gian, cụ thể là các trò vui chơi giải trí, các đám rước và

ca múa dân gian, chúng đều mang tính vui nhộn, hài hước song đôi khi chưathể tách ra khỏi việc thờ cúng" [9; Tr 9] Nghiên cứu "Lễ hội Việt Nam trong

sự phát triển du lịch", Dương Văn Sáu cho rằng: "Lễ hội là hình thức sinhhoạt avăn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian vàkhông gian xác định, nhằm nhắc lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử hayhuyền thoại, đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con ngườivới thiên nhiên - thần thánh và con người với xã hội" [19; Tr 9]

Tác giả Phạm Quang Nghị cắt nghĩa "Lễ hội là một sinh hoạt văn hóacộng đồng, có tính phổ biến trong cộng đồng văn hóa xã hội, có sức lôi cuốnđông đảo quần chúng nhân dân tham gia Là sản phẩm sáng tạo của các thế hệtiền nhân để lại cho hôm nay, lễ hội chứa đựng những mong ước thiết tha vừathánh thiện, vừa đời thường, vừa thiêng liêng, vừa thế tục của bao thế hệ conngười" [13; Tr 9]

Như vậy các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau hai thành tố cấutrúc nên lễ hội (phần lễ tức là nghi lễ, là mặt thứ nhất: tinh thần, tôn giáo, tínngưỡng, linh thiêng; phần hội tức là hội hè, là mặt thứ hai: vật chất, văn hóanghệ thuật, đời thường) Tác giả Trần Bình Minh cho rằng: "Lễ và hội hòaquện, xoắn xít với nhau để cùng nhau biểu thị một giá trị nào đó của một cộngđồng Trong lễ cũng có hội và trong hội cũng có lễ" [12; Tr 9]

Nguyễn Tri Nguyên khẳng định: "Lễ hội là sự thể hiện, là sự phát lộcủa ký ức văn hóa dân tộc Giống như gien di truyền, ký ức văn hóa chứađựng hàm lượng thông tin các giá trị văn hóa của quá khứ qua các truyềnthống văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc và sự đa dạng văn hóa, cũng thiết yếuđối với sự sống con người tựa như sự đa dạng sinh học trong thế giới tựnhiên" [14; Tr 9]

Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thức như sau:

- Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của

Trang 14

con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của conngười trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.

- Hội là tập hợp các trò diễn có tính nghi thức, các cuộc vui chơi, giảitrí tại một thời điểm nhất định, thường trong khuôn viên các công trình tôngiáo hay ở sát chúng, có đông người tham gia, là đời sống văn hoá hàng ngày

và một phần đời của cá nhân và cả cộng đồng, nhân kỷ niệm một sự kiện quantrọng đối với một cộng đồng xã hội

- Lễ hội là sản phẩm của xã hội quá khứ, được truyền lại tới ngày nay

và nó được người dân, cộng đồng tiếp nhận và thực hành trong đời sống sinhhoạt văn hóa, tín ngưỡng

1.1.2 Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa

Theo tác giả Hoàng Phê thì " Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của

sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không đểmất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái

Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó

là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạtđộng giữ gìn tài sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa thành công thì mới pháthuy được các giá trị văn hóa Phát huy cũng là một cách bảo tồn di sản văn hóatốt nhất (lưu giữ giá trị di sản trong ý thức cộng đồng xã hội)" [15; Tr 10]

Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vậtthể) cần thỏa mãn hai điều kiện:

Một là, nó phải được coi là tinh hoa, là một giá trị đích thực được thừanhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi

Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâudài với thời gian, là cái giá trị của nhiều thời (tức là có giá trị lâu dài) trướcnhững biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất làtrong bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn racực kỳ sôi động

Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng tĩnh): Bảo tồn nguyên vẹn văn

hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ

Trang 15

cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn có về kích thước, vịtrí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên, cần sửdụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công

nghệ 3D theo không gian ba chiều, chụp ảnh, băng hình video, xác định trọng

lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi bảo tồnnguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữchi tiết để không làm biến dạng

Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là điều tra sưu tầm, thu thập cácdạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêmtúc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình(video), băng tiếng (audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thểnày có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng động): Bảo tồn động,

tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các di sản văn hóavật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cốgắng phục chế lại nguyên trạng bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại

Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn các hiệntượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồngkhông những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể màcòn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đờisống xã hội Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộngđồng, nương náu trong tiếng nói, hình thức diễn xướng, nghi lễ, nghi thức,quy ước dân gian Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ

của những con người đặc biệt mà chúng ta thường mệnh danh là những nghệ nhân hay là những báu vật nhân văn sống Đó là việc xã hội thừa nhận các tài

năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để họ sốnglâu, khỏe mạnh, phát huy được khả năng trong quá trình bảo tồn và phát huycác giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị một cách kháchquan, sáng suốt, tin cậy, khoa học chứ không thể chủ quan, tùy tiện Tất cảnhững giá trị phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có

Trang 16

tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng thuyết phục thông qua các dự

án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích di sản vănhóa phi vật thể

Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng chính là phương thức lý tưởng nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì có thể bảo tồn theo hiện dạng đang có Bởi theo quy luật của thời gian thì các di sản văn hóa phi vật

thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc Nếu không thể khôi phục

được nguyên gốc thì bảo tồn hiện dạng là điều khả thi nhất Tuy nhiên hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng Theo đó, cần xác định rõ

thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phụcnguyên ở dạng gốc di sản văn hóa

Đặc biệt trong bài nghiên cứu sẽ sử dụng khái niệm bảo tồn ở dạngđộng bởi vì các hiện tượng văn hóa được diễn ra ngay trong chính đời sốngcộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiệntượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu

và phát huy chúng trong đời sống xã hội Các hiện tượng văn hóa phi vật thểtồn tại trong ký ức cộng đồng, hình thức diễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quyước dân gian đã được thể hiện ở lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc với các giá trị vănhóa dân gian như Liên hoan diễn xướng hầu thánh, Lễ rước nước, mộc dục,

Lễ Mông Sơn thí thực, Hội thi gói bánh chưng bành dày, liên hoan Pháo đấttỉnh Hải Dương lần thứ V, giải vật dân tộc, các hoạt động văn hóa văn nghệ,trò chơi dân gian, chọi gà, hát quan họ, viết thư pháp Đây là dịp để tuyêntruyền quảng bá các giá trị của lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc, giữ gìn phát huygiá trị văn hóa dân tộc, duy trì và phục vụ nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng củanhân dân và du khách trong nước và quốc tế

1.2 Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội

Trong thời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước vàgiao lưu hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trươngđường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng

Trang 17

cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội củađất nước.

Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đãxác định các quan điểm chỉ đạo cơ bản và những nhiệm vụ cụ thể để xây dựng

và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Các quan điểmnày được bổ sung, phát triển, thể hiện trong Văn kiện Đại hội lần thứ IX vàHội nghị lần thứ mười khoá IX của Đảng Đây là những tư tưởng, lý luậnquan trọng của Đảng về lĩnh vực văn hóa trong thời kỳ đổi mới, cần đượctriển khai sâu rộng trong toàn bộ đời sống xã hội

Di sản văn hóa là tài sản, của cải quý báu kết tinh sự sáng tạo lâu dàicủa dân tộc do lịch sử để lại, bao gồm các di sản văn hóa vật thể và di sản vănhóa phi vật thể Di sản văn hóa còn là cơ sở để liên kết cộng đồng, là nền tảng

để sáng tạo các giá trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng giao lưu văn hóavới các dân tộc khác trên thế giới Di sản văn hóa không chỉ nhằm thoả mãnnhu cầu tinh thần của nhân dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc, màcòn là nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục truyền thống yêunước và cách mạng qua hệ thống di sản văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quantrọng đối với thế hệ trẻ hiện nay Vì vậy, đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các

di tích lịch sử văn hóa, nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với việc bảo vệ

và phát huy vai trò của di sản văn hóa dân tộc là công việc vừa cơ bản, vừacấp bách, cần phải được tiến hành nghiêm túc, kiên trì và thận trọng

Điều 30, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm

1992 quy định: “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền vănhóa ViệtNam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nềnvăn hiến các dân tộc Việt Nam,… tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; pháthuy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân" [16; Tr 13] Tháng 11-1993, Hộinghị Trung ương IV khóa VII đã dành riêng một nghị quyết về một số nhiệm

vụ văn hóa văn nghệ trong những năm trước mắt Trong sáu định hướng vềcông tác tư tưởng, có một định hướng lớn về phát triển văn hóa với hai nội

dung cơ bản là phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa

Trang 18

nhân loại.

Văn bản có ý nghĩa định hướng chiến lược phát triển văn hóa hiện nay

là ( Văn kiện Hội nghị lần thứ V) Nghị quyết Trung ương V khóa VIII đã nêu

rõ: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vàotoàn bộ đời sống và hành động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tậpthể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mỗi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệcon người” “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, làcốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưuvăn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trịvăn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cảvăn hóa vật thể và phi vật thể” [7; Tr 14]

Trên tinh thần đó, hàng loạt giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa,nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân đã ra đời Chỉ thị số 27 - CT/TWngày 12 - 1 -1998, của Bộ Chính trị về việc thực hiện nếp sống văn minhtrong việc cưới, việc tang, lễ hội; Chỉ thị số 14/1998/TC - TTg ngày 28 - 3 -

1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện nếp sống văn minh trongviệc cưới, việc tang, lễ hội đã dẫn đến việc ra đời Thông tư số 04/1998/TT -BVHTT ngày 11 - 7 - 1998 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thực hiệnnếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Hệ thống pháp luật có

liên quan đến di sản văn hóa truyền thống được cụ thể hóa bằng Luật Di sản văn hóa, bằng Quy chế tổ chức lễ hội Chính phủ cũng đã tiến hành đầu tư

qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa cho việc nghiên cứu, sưu tầm,phục hồi các giá trị di sản, nhờ đó, huy động được sự quan tâm của cộng đồngđối với các di sản văn hóa

Ngày 19 - 1 - 1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg Vềmột số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóanghệ thuật,xác định việc phát triển nền văn hóa nghệ thuật mang bản sắc dân tộc ViệtNam là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn dân Nhà nước tạo điều kiện, xây dựng

cơ sở hạ tầng và trang bị phương tiện cho việc phát triển văn hóa nghệ thuật

Trang 19

mang bản sắc dân tộc Quyết định cũng chỉ ra những chính sách cụ thể nhưđầu tư cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, bảo quản lâu dài, phổ biến vănhọc dân gian, các điệu múa, các làn điện âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn cácnghề thủ công truyền thống, các loại nhạc dân tộc, xây dựng các tiết mục dântộc như tuồng, chèo, dân ca, cải lương, múa rối, đồng thời khen thưởng nhữngngười có công trong việc sưu tầm và bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc.

Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông quangày 14 - 6 - 2001, có hiệu lực từ ngày 1 - 1 - 2002 là cơ sở pháp lý cao nhấtnhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Với các điềukhoản cụ thể, rõ ràng, phạm vi điều chỉnh của bộ luật bao gồm cả văn hóa phivật thể và văn hóa vật thể, quy định cụ thể việc kiểm kê, sưu tầm vốnvăn hóa truyền thống (bao gồm văn hóa bác học và văn hóa dân gian) củangười Việt và các tộc người thiểu số, bảo tồn các làng nghề truyền thống, cáctri thức về y, nghệ sĩ bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống về quản lýbảo vệ và phát huy giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia cùng việcxây dựng các bộ sưu tập và tổ chức các bảo tàng, việc mở hệ thống các cửahàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng và sưu tập tư nhân, thống nhất việc sửdụng các nguồn thu và trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp ngânsách cho hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, cho phép tổ chức trưngbày cổ vật ở nước ngoài, việc người nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm các disản văn hóa ở Việt Nam và đặc biệt là việc hợp tác quốc tế để bảo hộ những

di sản văn hóa Việt Nam ở nước ngoài

Như vậy không chỉ có các chương trình, kế hoạch của ngành Văn hóa,Thể thao và Du lịch, đề nghị cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp cần chủ độngchỉ đạo, xây dựng kế hoạch, làm tốt công tác kiểm kê, lưu giữ tư liệu khoahọc di sản văn hóa phi vật thể nói chung trong đó có các di sản văn hóa phivật thể tại các di tích và trong cộng đồng liên quan tới thời Trần Đặc biệt các

cơ quan quản lý nhà nước các cấp cần hướng dẫn, tuyên truyền cho cộngđồng tham gia tích cực vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội CônSơn – Kiếp Bạc

Trang 20

Năm 2011, Văn kiện Đại hội XI của Đảng tiếp tục nhấn mạnh công

tác bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống, cách mạng:Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trítuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể củadân tộc Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hoá, văn nghệ, bảo tồn,phát huy giá trị các di sản văn hoá với phát triển du lịch và hoạt động thôngtin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hoá trong công chúng,đặc biệt là thế hệ trẻ và người nước ngoài Xây dựng và thực hiện các chínhsách bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá, ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểusố

Có thể thấy công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóađược quan tâm đặc biệt Bằng chính sách xếp hạng của Nhà nước, nhiều ditích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và khoa học đã được đặt dưới sựbảo vệ của pháp luật Trên thực tế, quan điểm đường lối của Đảng, chính sáchcủa nhà nước trong thời gian qua đã có tác dụng bảo tồn và phát huy giá trị disản văn hóa, trong đó có lễ hội tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựngnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực pháttriển ngành du lịch, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hộithời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước và giao lưu hộinhập quốc tế

1.3 Khái quát về di tích và lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

1.3.1 Đặc điểm di tích

Tài liệu thuyết minh khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (tài liệu nội bộ)viết: "Côn Sơn - Kiếp Bạc là hai di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốcgia; thời Trần thuộc huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang, thời Lê đổi thànhhuyện Phượng Nhỡn, thuộc thừa tuyên Bắc Giang, sau là trấn Kinh Bắc Khu

di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc nay thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương SáchCao Biền di cảo và Chí Linh phong vật chí chép rằng: Côn Sơn, Kiếp Bạcmạch tự Huyền Đinh, thế ngăn Đông Bắc, bốn phương quy phục, núi sông kỳhình kỳ dạng, long bàn hổ cứ, như muôn quân nghìn tướng chầu về, ở đất này

Trang 21

sẽ được hưởng phúc muôn đời, khu di tích danh thắng Côn Sơn bao gồm cảnúi Kỳ lân liền kề, đền Kiếp Bạc tựa lưng vào núi Trán Rồng, trước mặt làsông Lục Đầu Côn Sơn - Kiếp Bạc lại tiếp giáp với dãy núi Phượng Hoàng

và núi Rùa (phía tây bắc), tạo thành một quần đất quần tụ đủ tứ linh, ngũnhạc, lục đầu giang Đó là sự sắp đặt kỳ diệu của tạo hóa đối với khu di tíchdanh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Hoàng với sông núi thị xã ChíLinh" [6; Tr 16]

Đây là vùng đất lịch sử còn mãi âm vang những chiến công lừng lẫytrong ba lần quân dân nhà Trần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông thế

kỷ XIII và trong cuộc kháng chiến 10 năm của nghĩa quân Lam Sơn chốngquân Minh ở thế kỷ XV, bên cạnh đó còn là vùng danh sơn huyền thoại, vớinhững thắng cảnh tuyệt vời, những di tích cổ kính, gắn liền với thân thế, sựnghiệp của Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, hai vị anh hùng dân tộc kiệt xuất

đã làm rạng rỡ cho non sông đất nước, cùng với nhiều danh nhân văn hóa củadân tộc: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán

Nếu như khu di tích lịch sử Kiếp Bạc là một trung tâm nội đạo thờ Đứcthánh Trần thì khu di tích Côn Sơn là một trong những trung tâm Phật giáocủa dòng thiền phái Trúc Lâm Đại Việt mà Điều Ngự Giác Hoàng Trần NhânTông sáng lập ở thế kỷ XIV Côn Sơn còn là nơi thờ quan Đại tư đồ TrầnNguyên Đán và Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi không chỉ là nhà tư tưởng,nhà chính trị, quân sự, ngoại giao thiên tài, mà còn là nhà danh nhân văn hoáthế giới Ông đã để lại cho dân tộc nhiều thành tựu trên các lĩnh vực khoa học,văn học, địa lý, lịch sử, quân sự với những tác phẩm tiêu biểu như: Quântrung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Dư địa chí, Quốc âm thi tập, Văn biaVĩnh Lăng Năm 1980, nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi,UNESCO vinh danh ông là Danh nhân Văn hoá thế giới Đặc biệt Côn Sơn -Kiếp Bạc là một trong những khu di tích tiêu biểu kết tinh tư tưởng tam giáođồng nguyên: Phật giáo - Đạo giáo - Nho giáo cùng hòa đồng, mục đích làquy tụ nhân tâm, lấy thần quyền phục vụ cho vương quyền, củng cố tư tưởngđộc lập tự chủ của dân tộc

Trang 22

Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Côn Sơn - Kiếp Bạc thuộc địabàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương là một khu di tích lịch sử văn hóa, đồngthời là một danh thắng nổi tiếng, điểm đến thường xuyên của đông đảo dukhách gần xa Tổng thể khu di tích gồm 2 khu vực chính: chùa Côn Sơn vàđền Kiếp Bạc.

Khu vực chùa Côn Sơn

Chùa Côn Sơn (hay còn gọi là chùa Kỳ Lân, chùa Hun), tọa lạc ở chânnúi Kỳ Lân (núi Hun) Chùa có tên chữ là Thiên Tư Phúc tự Đến thời Lê,chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng lớn với 83 gian tòa ngang dãy dọc, gạch

đỏ, ngói để men màu và 385 pho tượng Tuy nhiên, trải qua biến thiên củalịch sử, chùa đã bị thu nhỏ lại với kiến trúc hiện nay hình chữ công (工), gồm

3 toà: Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện Thượng điện thờ Phật, trong

đó có những bức tượng Phật cao 3m, mang đậm phong cách nghệ thuật thời

Lê, đáng chú ý là bia "Thanh Hư Động" dựng từ thời Long Khánh (1373 1377) còn lưu giữ bút tích của Vua Trần Duệ Tông và bia hình lục lăng "CônSơn thiện tư bi phúc tự" đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc khi Người vềthăm di tích vào ngày 15/2/1965

-Các hạng mục kiến trúc chính của chùa hiện nay gồm: hồ bán nguyệt,tam quan, sân trước, tiền đường (5 gian, 2 chái), thiêu hương (3 gian), thượngđiện (3 gian), nhà Tổ, điện Mẫu, vườn tháp, nhà bia, cùng một số hạng mụcphụ trợ khác…Tả, hữu hậu hành lang: hai dãy tả, hữu hậu hành lang dài75,13m, rộng 3,86m, mỗi bên gồm 29 gian Và Thanh Hư động nằm ở phíaTây Bắc núi Côn Sơn Đây là một thung lũng, được bao bọc bởi núi Côn Sơn

và núi Ngũ Nhạc, giữa là suối Côn Sơn Đền thờ Nguyễn Trãi là công trìnhtrọng điểm nằm trong quần thể khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, kiến trúc theotruyền thống và rất độc đáo; Tiếp theo đó là Đền thờ Trần Nguyên Đán đượcdựng trên mặt bằng kiến trúc dạng chữ Đinh, gồm bái đường và hậu cung Và

có Bàn cờ tiên, Núi Ngũ Nhạc là dãy núi xoải dài từ Bắc xuống Nam, CònGiếng Ngọc nằm ở sườn núi Kỳ Lân, dưới chân Ðăng Minh Bảo Tháp thườngđược các sư trong chùa lấy nước giếng thiêng để cúng lễ Đặc biệt là Hồ Côn

Trang 23

Sơn có diện tích 43 ha, với sức chứa hàng trăm ngàn mét khối nước, baoquanh hồ là hệ thống đường dạo, cây cảnh và suối Côn Sơn bắt nguồn từ haidãy núi Côn Sơn và Ngũ Nhạc, dài khoảng 3km, uốn lượn tạo thành nhiềughềnh, thác kế tiếp nhau, rồi đổ vào hồ Côn Sơn Ngoài hệ thống tượng Phật

đã có từ xa xưa, trong những năm qua, hệ thống tượng Phật trong chùa CônSơn không ngừng được tu tạo từ nguồn kinh phí xã hội hóa do nhân dân, phật

tử cung tiến [A1 - Tr]

Khu vực đền Kiếp Bạc

Năm 2014, với sự đóng góp công đức của nhân dân, đền Kiếp Bạcđược đại trùng tu quy mô lớn Theo văn bia, đây là đợt đại trùng tu lần thứ tưtrong lịch sử, thể hiện sự tri ân của thế hệ chúng ta với Đức Thánh Trần Cáccông trình kiến trúc trở nên hoàn chỉnh, bố cục cân đối, lấy núi Tráng Rồngkhởi điểm phát triển ra đê sông Lục Đầu, bố cục theo luật đối xứng tuân thủnguyên tắc âm dương ngũ hành, bát phương ngũ sắc, mang phong cách cungđình gồm: Thần đạo, nghi môn, Tả hữu thành các, giếng mắt rồng, nhà Bạc, tảhữu giải vũ, đền chính

Đền Kiếp Bạc tức đền thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn (TrầnHưng Đạo vương từ), còn được biết đến với các tên gọi khác, như đền Kiếp,đền Vạn Kiếp, đền Trần Hưng Đạo Đền được xây dựng ở trung tâm củathung lũng Kiếp Bạc, trên một khu đất có diện tích khoảng 13.5km2 Đềnquay về hướng Tây Nam, nhìn ra sông Lục Đầu, Các công trình kiến trúc trởnên hoàn chỉnh, bố cục cân đối, lấy núi Tráng Rồng khởi điểm (dương) pháttriển ra đê sông Lục Đầu (âm), bố cục theo luật đối xứng tuân thủ nguyên tắc

âm dương ngũ hành, bát phương ngũ sắc, mang phong cách cung đình gồm:Thần đạo, nghi môn, Tả hữu thành các, giếng mắt rồng,tắc môn, nhà Bạc, tảhữu giải vũ, đền chính Đền chính được dựng theo dạng “tiền nhất, hậu đinh”,gồm tiền tế, trung từ và hậu cung

Nghi môn là công trình kiến trúc đồ sộ hoành tráng, thiết kế kiểu cổngthành dạng bức cuốn thư với ba cửa vòm và hai trụ biểu lớn Đây là bức tranhsinh động hội tụ đủ tứ linh, tứ quý, khái quát cả âm dương, trời đất, thiên

Trang 24

nhiên, con người nơi đất thánh Qua nghi môn là tả hữu Thành các, trong sân

là giếng mắt Rồng giếng nằm ở trung tâm thung lũng dãy núi Rồng do mạchnước ngầm từ núi chảy ra Nước giếng thơm và trong mát tiếp thêm sức mạnhcho quân sĩ khi ra trận Giữa sân là Tắc môn (thường gọi là nhà Bạc) Côngtrình nằm trên đường thần đạo, là cầu nối giữa nghi môn và đền chính, mang

ý nghĩa như một bình phong chắn tà khí cho Đền Đây là nơi tổ chức các nghi

lễ trọng thể của Nhà nước dần hương tưởng niệm Đức Thánh Trần

Tại gian tiền tế của đền Kiếp Bạc hiện còn trưng bày 2 đoạn xương ốngchân voi tương truyền đây là con voi chiến của Hưng Đạo Đại Vương - TrầnQuốc Tuấn.Và Đền Nam Tào thờ quan Nam Tào, cách đền Kiếp Bạc 500m vềphía Tây Nam, thuộc thôn Dược Sơn Kiến trúc này được xây dựng trên mộtkhông gian thoáng, gồm các thành phần kiến trúc đó là trụ biểu, tam quan,gác chuông, gác trống, tả hữu hành lang, đền chính và hậu đường Phía songhành là Đền Bắc Đẩu thờ quan Bắc Đẩu, được xây dựng trên đỉnh núi BắcĐẩu, trong một không gian thoáng rộng, gồm các hạng mục: nghi môn, gácchuông, gác trống, tả hữu hành lang, đền chính, hậu đường và một số côngtrình phụ trợ khác…

Sông Lục Đầu - Cồn Kiếm là nơi đã diễn ra trận Vạn Kiếp lịch sử (năm1285), chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt của quân Nguyên Mônglần thứ 2 Sông Lục Đầu có vị trí chiến lược rất quan trọng Tại đây, Thượnghoàng Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông đã tổ chức Hội nghị BìnhThan Trên sông Lục Đầu, trước cửa đền Kiếp Bạc có một cồn cát chạy dài,gọi là Cồn Kiếm Tương truyền, đây là nơi Trần Hưng Đạo thả kiếm xuốngsông khi đất nước thái bình Bên cạnh đó Kiếp Bạc còn là nơi hội tụ của 6 consông (Lục Đầu giang), đó là sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu, sôngĐuống, sông Kinh Thầy và sông Thái Bình Đây cũng là nơi Đức Thánh Trầnhóa thân vào sông núi.[A1 - Tr]

Các nhân vật được phụng thờ tại di tích

Đền Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần QuốcTuấn cùng toàn thể gia quyến Đền tọa lạc giữa thung lũng núi Rồng, thuộc địa

Trang 25

phận 2 làng Vạn Yên (tên nôm là Kiếp) và làng Dược Sơn (tên nôm là Bạc) nên

có tên gọi là đền Kiếp Bạc Ở đền Kiếp Bạc cách bài trí thờ tự như sau:

Tòa Hậu cung bao gồm cung cấm và cung ngoài, ở cung cấm thì bài tríthờ tự chính cung là Ban thờ Gia tiên và ban thờ Đức Quốc mẫu (phu nhânĐức Thánh Trần) Hai bên là ban thờ Đệ nhất Vương cô Khâm từ Hoàng TháiHậu Quyên Thanh Công chúa; và Ban thờ Đệ nhị nữ đại Hoàng Anh Nguyênquận chúa giữ nguyên Còn ở cung ngoài thì bài trí Ban thờ Đức Thánh TrầnHưng Đạo Phía trước là ban thờ Tứ vị Vương tử bằng ngai và bài vị gồm:Hưng Vũ Vương, Hưng Hiến Vương, Hưng Nhượng Vương và Hưng TriVương Tiếp đến là Tòa Trung từ ở chính giữa là Ban thờ Phạm Điện SúyTiền tướng quân Phạm Ngũ Lão Hai bên là hai ban thờ tướng quân Yết Kiêu(bên trái) và tướng quân Dã Tượng (bên phải)

Cuối cùng là Tòa Tiền Tế có bài trí Ban thờ Công đồng Trần Triều ởchính giữa, hai bên là Tả chiêng, hữu trống

Tại di tích Kiếp Bạc, tượng thần Nam Tào và Bắc Đẩu được đặt ở haingôi đền riêng chứng minh cho mối quan hệ chặt chẽ của di tích Nam Tào,Bắc Đẩu với đền Kiếp Bạc Đền Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc Hưng ĐạoĐại Vương Trần Quốc Tuấn Trong tâm thức nhân gian, sau khi mất ngài đãhóa thành, được tôn làm Cửu Thiên Vũ Đế cai quản 3 cõi: Thiên đình, trầngian, và âm phủ (tức Ngọc Hoàng) Vì vậy, cùng với việc dựng đền Kiếp Bạc,nhân dân đã lập đền, chùa Nam Tào, Bắc Đẩu thờ quan Bắc Đẩu và quanNam Tào trên hai ngọn núi hai bên đền Kiếp Bạc, coi đó là những vị thầngiúp việc Đức Thánh Trần

Còn ở chùa Côn Sơn thờ Nguyễn Trãi vị anh hùng dân tộc kiệt xuất đãlàm rạng rỡ cho non sông đất nước, cùng với nhiều danh nhân văn hóa củadân tộc: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán Đềnthờ Nguyễn Trãi cũng được khởi công xây dựng trên khuôn viên đất rộng, tạichân núi Ngũ Nhạc, nằm trong khu vực Thanh Hư Động và gần nơi ngày xưatừng có đền thờ bà Trần thị Thái, thân mẫu của Nguyễn Trãi Đền thờ chính, hainhà Tả vu, Hữu vu, Nghi môn nội, Nghi môn Ngoại, Nhà Bia, Am hóa vàng

Trang 26

Tiếp đó là đến đền thờ Trần Nguyên Hãn nằm trên đền thờ NguyễnTrãi, cũng ở ven suối Trần Nguyên Hãn là đại công thần nhà Lê và là em concậu ruột của Nguyễn Trãi Bước vào chùa chính là 2 pho tượng hộ pháp lớn

án ngữ ở thượng điện Tại đây còn có 1 pho đức ông và 1 pho thánh tăngđược tạo tác công phu Hệ thống tượng tại chính điện được chia làm 4 lớptheo sắp xếp của chùa đồng bằng Bắc Bộ Trên cùng là 3 pho tam thế Phậthiếm gặp ở chùa khác, đại diện cho quá khứ, hiện tại và vị lai của đức Phật.Lớp thứ 2, ở giữa là pho Di Đà Tam Tôn, hai bên là Quan Thế Âm Bồ Tát vàĐại Thế Chí Bồ Tát và hai Bồ Tát chủ việc cứu độ chúng sinh về cõi cực lạc

Do kích thước quá lớn, sau này pho Di Đà Tam Tôn được chuyển bài trí lênlớp thứ nhất, tạo sự khác biệt so với các ngôi chùa khác.Trong lớp thứ 3, ởgiữa là pho Thích Ca cầm hoa sen, hai bên là pho Ca Diếp và An Nan - haiđại đồ đệ của đức Phật Lớp thứ 4 là pho tượng Cửu Long theo điển tích khiĐức Thích Ca Mầu Ni mới giáng sinh, có chín con rồng xuống phun nước chongài tắm, đoạn ngài đi bẩy bước tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất.Một pho tượng khác cũng được coi là mẫu mực cho tượng chân dung thế kỷ

19 là pho Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán với gương mặt uy nghiêm ở giữa lớpthứ 3 Ngoài ra tại Tổ đường còn có các pho tượng đặc sắc khác là 3 pho tamthế Phật, pho tăng thống, tăng lục, Quan Âm tọa sơn… Và 18 pho tượng LaHán, 216 pho tượng Phật trên tòa Cửu Phẩm Liên Hoa

1.3.2 Diễn trình lễ hội

Hàng năm, Côn Sơn - Kiếp Bạc có hai kỳ lễ hội truyền thống là lễ hộimùa xuân, kỷ niệm ngày viên tịch (23 tháng Giêng năm 1334) của thiền sưHuyền Quang tôn giả - vị tổ thứ ba của thiền phái Phật giáo Trúc Lâm ở thế

kỷ XIV Lễ hội mùa thu, kỷ niệm ngày mất của hai vị anh hùng dân tộc là đứcThánh Trần Hưng Đạo (ngày 20 tháng 8 âm lịch), và danh nhân văn hóa thếgiới Nguyễn Trãi (16 tháng 8 âm lịch) Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc đã trởthành tập tục văn hóa không thể thiếu trong đời sống tâm linh của cộng đồngdân tộc Đến với lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc là ước vọng thiêng liêng, đã trởthành câu ca lưu truyền trong tình cảm của hàng trăm thế hệ người dân đất

Trang 27

Việt: ''Côn Sơn, Yên Tử, Quỳnh Lâm, nếu ai chưa tới thiền tâm chưa thành".

Lễ hội đền Kiếp Bạc là ngày giỗ cha: "Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗmẹ''.Hai lễ hội ngày nay không còn riêng biệt mà hòa chung một không gian,với quy mô ngày càng lớn, ảnh hưởng sâu sắc trong cư dân châu thổ sôngHồng,về thời gian, lễ hội diễn ra trong suốt ba tháng mùa xuân và ba thángmùa thu Cứ đến ngày quốc lễ, hàng chục vạn đồng bào khắp mọi miền của tổquốc và nhiều kiều bào sống ở nước ngoài lại hành hương về Côn Sơn - KiếpBạc, lễ hội có nhiều nghi thức, nghi lễ, trò chơi dân gian vô cùng đặc sắc,phong phú và ấn tượng đầy ý nghĩa

Các nghi thức (tế, lễ, rước) được tổ chức tại di tích với các nghi lễ tâmlinh, thể hiện sự tôn kính, tri ân của nhân dân, sự thành kính bày tỏ ước vọngbồi đắp tinh thần yêu nước, tự lực tự cường, ý chí bảo vệ nền độc lập dân tộccủa các vị anh hùng dân tộc, của cha ông trao quyền lại và trở thành nét đẹpvăn hóa không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của cộng đồng dân tộc

và ước nguyện của nhân dân mọi miền đất nước hướng về cội nguồn

* Lễ tế trên núi Ngũ Nhạc (Ngày 17 tháng giêng âm lịch)

Buổi lễ diễn ra trong sự tôn nghiêm, theo đúng nghi thức truyền thốngvới sự tham gia của lãnh đạo tỉnh, các tăng, ni, phật tử và du khách thậpphương với các lễ vật dâng trời đất Đi đầu đoàn rước lễ là đội múa lân, độinhạc lễ, đại diện Giáo hội Phật giáo tỉnh, đội tế nam, nữ và đoàn đại biểu cáccấp, các ngành cùng du khách thập phương, thể hiện mong muốn mùa màngtốt tươi, chăn nuôi phát triển Lễ tế trời, đất trên Ngũ Nhạc linh từ được coi lànét văn hoá đặc biệt, mang ý nghĩa sâu sắc trong lễ hội mùa xuân Côn Sơn-Kiếp Bạc

Trang 28

một gánh lộc Trần" Lễ đàn Mông Sơn thí thực lá nét văn hóa tân linh tiêubiểu cho lễ hội truyền thống Côn Sơn.

* Lễ Cáo Yết (Từ 7h30 - 9h00, Ngày 10/8 âm lịch)

Tại đền Kiếp Bạc, Ban tổ chức lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc longtrọng tổ chức Lễ Cáo Yết dâng hương tại sân nhà Bạc, dâng lễ, tế thánh tạihậu cung theo nghi thức truyền thống xin khai hội Đây là nghi lễ quan trọngđầu tiên trong chuỗi các hoạt động của lễ hội

* Lễ dâng hương tại chùa Côn Sơn và lễ tế tại Đền thờ Nguyễn Trãi,Đền thờ Trần Nguyên Đán (Ngày 16/8 âm lịch)

Ban tổ chức đã tổ chức lễ dâng hương tại chùa Côn Sơn, Đền Quan Đại

tư đồ Trần Nguyên Đán và Đền thờ anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thếgiới Nguyễn Trãi cùng các di tích khu vực Kiếp Bạc Lễ dâng hương đã được

tổ chức long trọng với nghi thức rước các phẩm vật cúng tế, trong đó cácmâm lễ gồm bánh chưng, bánh giầy là thành phẩm được lựa chọn Tham dựbuổi lễ có các thành viên Ban tổ chức lễ hội, đại diện Giáo hội phật giáo tỉnh,Trụ trì chùa Côn Sơn, lãnh đạo một số cơ quan tỉnh, Thị xã Chí Linh, phườngCộng Hoà, xã Lê Lợi, Hưng Đạo, hậu duệ của dòn họ Nguyễn cùng nhân dân

và du khách thập phương Lễ dâng hương diễn ra trong không khí linh thiêngcủa núi rừng Côn Sơn Sau khi dâng hương và phẩm vật tại chùa Côn Sơn,đoàn đã tiếp tục rước phẩm vật lên dâng hương Quan đại Tư đồ Trần NguyênĐán và anh hùng dân tộc danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi Các đại biểu cùngthành kính tưởng nhớ tới các vị tiên hiền, tri ân công lao to lớn của anh hùngdân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi trong sự nghiệp kháng chiếnchống quân minh xâm lược thế kỷ XV và những đóng góp xuất sắc của ôngtrong quá trình xây dựng đất nước và phát triển nền văn hóa dân tộc Cùngthời gian Ban tổ chức cũng đã bố trí các đoàn rước lễ vật và bánh chưng, bánhgiầy tới dâng cúng tại Đền Kiệp Bạc, Đền chùa Nam Tào, Bắc Đẩu

* Lễ khai ấn, ban ấn (Ngày 16/8 âm lịch)

Tại Nội tự Đền Kiếp Bạc, Ban tổ chức lễ hội truyền thống mùa thu CônSơn - Kiếp Bạc tổ chức và lễ khai ấn, ban ấn Và kết thúc lễ khai ấn, các đồng

Trang 29

chí lãnh đạo ban ấn cho các đại biểu, nhân dân địa phương và du khách.Trước đó, Ban tổ chức đã chuẩn bị 30.000 ấn để ban cho nhân dân và dukhách thập phương Mặc dù lượng người đông song lễ khai ấn, ban ấn diễn ra

an toàn trong trật tự Mỗi năm diễn ra lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc, lễkhai ấn, ban ấn luôn thu hút rất đông nhân dân và du khách tham gia

* Lễ Hội quân trên sông Lục Đầu (Ngày 17/8 âm lịch)

Trước đền Kiếp Bạc thuộc khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã diễn ra

Lễ Hội quân trên sông Lục Đầu Đây là một trong những điểm nhấn độc đáotại Lễ hội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc hàng năm Lễ hội quân trên sông LụcĐầu nhằm tưởng nhớ một thời oanh liệt, những trận thủy chiến chống giặcNguyên Mông lẫy lừng trong lịch sử dân tộc, cũng là dịp để mỗi người dânViệt Nam hôm nay hồi tưởng về khí thế ngất trời của quân dân Đại Việt vàkhí phách lẫm liệt của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.Từ đó đến nay,hội quân đã trở thành một nội dung quan trọng, hấp dẫn được nhân dân địaphương cũng như du khách đi hội chờ đón tại lễ hội mùa thu

* Lễ cầu an và hội Hoa Đăng (Ngày 18/8 âm lịch)

Sông Lục Đầu, bến Vạn Kiếp xưa kia là phòng tuyến quan trọng bậcnhất, chặn giặc từ biển đánh vào kinh thành Thăng Long Nơi đây từng diễn

ra nhiều sự kiện lịch sử của những trận chiến vang dội của quân dân Đại Việt.Khi xâm lược nước ta, giặc phương Bắc đều tiến quân theo đường sông LụcĐầu để từ đó làm bàn đạp tấn công lên kinh thành, đã có hàng vạn binh línhcủa nước ta đã tử trận để bảo vệ đất nước Chính vì vậy lễ cầu an và hội HoaĐăng được tổ chức tại nơi đây, là một trong những nghi lễ quan trọng của lễhội mùa thu Côn Sơn - Kiếp Bạc, lễ cầu an là nghi lễ linh thiêng được tỉnhHải Dương phục dựng với quy mô lớn, mang đậm ý nghĩa lịch sử văn hóa,nhân văn sâu sắc từ nhiều năm qua, là một nghi lễ thành kính, đậm chất nhânvăn với ý nghĩa cầu siêu cho anh linh các tướng sĩ nhà Trần đã vì quốc vongthân, cầu cho vong hồn của những kẻ bại trận trong cuộc đụng đầu lịch sử củacuộc chiến chống giặc Nguyên Mông thế kỷ thứ XIII Cũng từ không gian thiêngnày, nhân dân và du khách cùng thắp nến tri ân gửi lời nguyện cầu cho quốc thái

Trang 30

dân an, nhân khang vật thịnh, nhà nhà ấm no, người người hạnh phúc.

* Khai mạc Liên hoan diễn xướng hầu Thánh

Tại sân đền Kiếp Bạc đã diễn ra liên hoan diễn xướng dân gian với sựtham dự của đông đảo nhân dân, du khách thập phương Liên hoan sẽ diễn ratrong hai đêm 16 và 17/8 âm lịch, tham gia Liên hoan lần này có sự tham giacủa ba cơ cánh trong đó có hai cơ cánh đến từ Hà Nội, một cơ cánh từ huyệnGia Lộc (Hải Dương) Theo Ban tổ chức, diễn xướng dân gian ngoài lòngthành kính với Đức Thánh Trần, còn là dịp để ghi nhận những đóng góp củacác tập thể, cá nhân có ý thức giữ gìn những giá trị di sản văn hóa, tín ngưỡngdân gian của dân tộc

Đây là một trong những nghi lễ độc đáo của Lễ hội Côn Sơn - KiếpBạc, góp phần thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh cũng như nhucầu thưởng thức một loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian đặc sắc của cộngđồng Theo tín ngưỡng dân gian, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấnđược tôn là Đức Thánh Trần từ đó tạo nên một dòng đạo Nội, một hệ thốngcác vị thánh trong Hội đồng Trần triều mà Đức Thánh Trần là giáo chủ HầuThánh hay còn gọi là Hầu đồng, lên đồng là nghi thức sinh hoạt tâm linh cổtruyền ở Kiếp Bạc Diễn xướng ở Lễ hội Kiếp Bạc chủ yếu là hầu mừngThánh với những lời ca về sự tích và ca ngợi công đức của đức thánh Trần vàcác bậc tiền nhân có công với đất nước Diễn xướng hầu Thánh có sức hấpdẫn đối với đông đảo nhân dân bởi đây là một loại hình sân khấu tổng hợpvừa có ca, múa, diễn xướng, vừa có nghi lễ bái tế, trừ tà, ban lộc Hầu thánh có 3loại: hầu trình đồng, mở phủ hầu việc thánh và hầu mừng Thực chất của nghi lễ

là các thanh đồng giúp tín đồ tấu trình các sở nguyện như sát quỷ, trừ tà, cầuduyên, cầu tự, xin thuốc chữa bệnh lên đức Thánh Trần để Ngài cứu độ

Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc diễn ra với rất nhiều những nghi lễ longtrọng, trang nghiêm có ý nghĩa, giá trị, tầm quan trọng lịch sử, thể hiện tìnhcảm biết ơn chân thành, tự hào, lòng thành kính, của du khách thập phương và

du khách quốc tế trước những công lao to lớn của ông cha ta, các anh hùngdân tộc, danh nhân văn hóa thế giới để lại trong sự nghiệp dựng nước giữ

Trang 31

nước, lòng tự tôn dân tộc.

Bên cạnh đó phần hội cũng được diễn ra rất sôi nổi, khí thế, hấp dẫnvới việc chuẩn bị sân chơi, trang trí điều hành và tổ chức các hoạt động vănhóa, văn nghệ, thể thao, trò chơi mang đậm chất truyền thống, dân gian như:Biểu diễn nghệ thuật, hát quan họ, hát chèo được diễn ra tại hồ Bán Nguyệt,khuôn viên đền thờ Nguyễn Trãi với sự tham gia của các đoàn văn nghệ làngChi Ngãi, Chúc Thôn phường Cộng Hòa, đoàn quan họ Bắc Ninh Đấu vật tạisân đá chùa Côn Sơn với thành phần tham gia các đô vật trong tỉnh, tỉnh bạn,

và chọi gà tại bãi bóng chùa Côn Sơn, hội thi bánh chưng, bánh giầy, vật dântộc học, liên hoan pháo đất, [A1 - Tr]liên hoan múa rối nước, nghệ thuật múarối nước ra đời cách đây hơn 10 thế kỷ, với cách điều khiển bằng sào, bằngque hoặc bằng dây, sân khấu chính là mặt nước ao hồ Con rối thay ngườithực mà biểu diễn các tích trò Nghệ thuật múa rối nước tỉnh Hải Dương đãđược công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2012

Tiểu kết

Trong chương 1, tôi đã trình bày lý luận chung về công tác bảo tồn vàphát huy giá trị lễ hội về đặc điểm di tích (nguồn gốc di tích, kiến trúc di tích,các nhân vật được thờ phụng) và diễn trình lễ hội Lễ hội Côn Sơn – Kiếp bạc

đã đáp ứng nhu cầu văn hóa cần thiết và chính đáng của tất cả mọi người quanhiều thế hệ là mạch ngầm nối kết giữa quá khứ, hiện tại và tương lai Vì vậycần phải bảo tồn và phát huy giá trị của lễ hội Đó là những nội dung mà tôi sẽtrình bày ở chương 2 và chương 3

Chương 2

Trang 32

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỄ

HỘI CÔN SƠN - KIẾP BẠC 2.1 Các giá trị của lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc

2.1.1 Giá trị cố kết cộng đồng

Trong tâm thức của mọi người, Côn Sơn - Kiếp Bạc chính là vùng đấtlịch sử còn mãi âm vang với những chiến công lừng lẫy trong ba lần quân dânnhà Trần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, đặc biệt là vùng danhsơn huyền thoại, với những thắng cảnh tuyệt vời, những di tích cổ kính, gắnliền với thân thế sự nghiệp của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, hai vị anh hùngdân tộc kiệt xuất đã làm rạng rỡ cho non sông đất nước, tạo lập sự hòa hợp vàcuộc sống thanh bình trong nhân dân, cùng với nhiều danh nhân văn hóa củadân tộc: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán Việc

mở lễ hội hàng năm tại những nơi các vị anh hùng đã đi qua, dừng chân lại đãtạo nên một không gian linh thiêng đặc biệt Không gian ấy cùng với các nghithức tế lễ thành kính, đã làm cho mọi người cảm thấy gần gũi gắn bó với nhauhơn, họ cùng hướng về các vị anh hùng dân tộc, đức thánh Trần, cầu mongNgài phù hộ độ trì cho bản thân, cho cộng đồng, cùng " trở về nguồn " - cộinguồn văn hóa dân tộc

Có lẽ, từ cội nguồn xa xưa, tính cố kết cộng đồng, cộng mệnh, cộngcảm đã được hình thành Nó xuất phát từ nhu cầu đoàn kết để đối phó vớithiên nhiên, giặc giã để bảo vệ duy trì cuộc sống

Ngày nay lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc vẫn tạo nên tính cố kết cộng đồng,bởi lẽ, hình ảnh của đối tượng được tôn thờ, rồi quá trình chuẩn bị cho lễ hội,cũng như các bước tiến hành lễ hội đều dẫn dắt người ta đến sự gắn bó với nhau

Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một bậc tướng tài có đủ tàiđức Là tướng nhân, ông thương dân, thương quân, chỉ cho quân dân conđường sáng Là tướng nghĩa, ông coi việc phải hơn điều lợi Là tướng chí, ôngbiết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu Là tướng dũng, ông sẵn sàng xông pha vào nơinguy hiểm để đánh giặc, lập công, cho nên trận Bạch Đằng oanh liệt nghìnđời là đại công của ông Là tướng tín, ông bày tỏ trước cho quân lính biết theo

Trang 33

ông thì sẽ được gì, trái lời ông thì sẽ bị gì Cho nên cả ba lần đánh giặcNguyên Mông, Trần Quốc Tuấn đều lập công lớn.Còn Nguyễn Trãi là mộtnhân vật vĩ đại trong lịch sử Việt Nam ông là anh hùng dân tộc, là nhà tưtưởng, nhà thơ, nhà văn hóa lớn của nước ta Tâm hồn và sự nghiệp của ôngmãi mãi là vì sao sáng như Lê Thánh Tông truy tặng "Ức Trai tâm thượngquang Khuê Tảo" Vậy nên, lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ và tôn vinh sựnghiệp của các Ngài là tình cảm chung của mọi người và chính vì thế trongmôi trường lễ hội, họ cảm thấy gần gũi với nhau hơn, hay nói cách khác, đó làđộng lực để mọi người xích lại gần nhau.

Ngoài ra trong quá trình chuẩn bị lễ hội, mọi công việc đều được thựchiện thông qua sự góp sức, phối hợp với mọi người, hay ít nhất cũng là mộtngười thực hiện trong mối liên quan ràng buộc với những người khác haydưới sự chỉ đạo chung Chẳng hạn như việc nuôi lợn chuẩn bị cho cỗ tế ở hộiđền, việc mua đồ tế lễ dẫu là cá nhân chịu trách nhiệm nhưng đều thông qua

sự bàn bạc nhất trí của tập thể và trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn có

sự quan tâm trao đổi

Tính cộng đồng được thể hiện tập trung nhất thông qua các nghi lễtrong lễ hội Trong các lễ hội tưởng niệm đức Thánh, phần nghi lễ thường cócác hoạt động như rước nước, lễ mộc dục, tế Phần lễ thể hiện lòng ngưỡng

mộ, tôn vinh của cả cộng đồng với đức Thánh và cầu mong sự trợ giúp củaNgài để cả cộng đồng được yên lành, may mắn và thịnh vượng Trong lúcthực hiện nghi lễ, (đặc biệt là lễ tế) mọi người cùng hướng về đức Thánh củamình và tin rằng những điều cầu ước của họ đã được gửi đến thần Thánh, mọi

lo âu dường như được trút bỏ, họ thấy yên tâm hơn trong cuộc sống Và cũngthông qua nghi lễ, mọi quan hệ chặt chẽ với vị thần mà họ tôn thờ Ở đây các

vị anh hùng dân tộc, đức Thánh sẽ phù hộ cho tất cả, phù hộ để mưa thuận gióhòa, mùa màng bội thu, để mọi người đều mạnh khỏe, bình an Và cũng chínhtrong môi trường này con người cảm thấy sức mạnh của cá nhân mình đượcnâng lên rất nhiều - đó cũng chính là sức mạnh của cả cộng đồng Điều đócũng giải thích tại sao, tất cả các tầng lớp xã hội đều có thiên hướng hòa nhập

Trang 34

vào các cuộc vui chung của cộng đồng.

Như vậy, thông qua môi trường lễ hội, mỗi thành viên trong cộng đồnglại nhận thức sâu sắc rằng, số phận của mình cũng như cả cộng đồng đều phụthuộc vào sự phù hộ của đức Thánh Trần, các vị thần, anh hùng dân tộc danhnhân văn hóa thế giới Người dân còn tin rằng, dù chỉ một thành viên của làng

vi phạm những điều cấm kỵ thì chẳng những người đó bị trừng phạt mà toànthể cộng đồng cũng đều bị trừng phạt theo Điều đó đã ràng buộc và gắn bó sốphận của mỗi cá nhân vào số phận của cả cộng đồng, tạo nên mối đoàn kết,gắn bó, quan tâm giám sát nhắc nhở giúp đỡ lẫn nhau Và như vậy, ý thứccộng đồng, nguyện vọng, ước mơ của mỗi người về một cuộc sống ấm nohạnh phúc lại có dịp được biểu hiện, duy trì và củng cố

Như vậy lễ hội là dịp để tất cả mọi người có thể bộc lộ niềm mong ướccủa mình và gửi gắm nó tới vị thần mà mình ngưỡng mộ, tôn thờ Họ tin rằngđức Thánh linh thiêng đang ở rất gần, theo dõi, chứng giám hành vi của cộngđồng, phù hộ che chở để mọi người được may mắn, vượt qua mọi khó khănhoạn nạn Và như vậy cứ mỗi dịp lễ hội mỗi người lại cảm nhận sâu sắc rằngvận mệnh của cá nhân mình gắn liền với cả cộng đồng và sức mạnh như đượcnhân lên khi họ cùng tôn vinh thờ phụng đức Thánh, các vị thần, các vị anhhùng dân tộc

Tính cố kết cộng đồng còn được thể hiện ở hoạt động của một số tổchức phục vụ cho hoạt động của lễ hội như ban tế tự, ban khánh tiết, đội vănnghệ Những tổ chức này cũng tạo nên các mối liên kết cộng đồng thỏa mãnnhu cầu tâm linh, nhu cầu cộng cảm GS TS Ngô Đức Thịnh viết: "Trong lễhội cổ truyền tính cộng đồng thển hiện qua sự cộng mệnh và cộng cảm Cộngmệnh là sự gắn bó giữa những con người trong cộng đồng thông qua vậnmệnh của cộng đồng" [8; Tr 30] Khi tất cả cộng đồng nghiêm trang thànhkính thực hiện và chứng kiến những nghi lễ linh thiêng đối với đức Thánh thìmỗi người đều thấy ngưỡng mộ, tôn kính, bao trùm trong không khí vô cùngthiêng liêng Trong buổi lễ diễn xướng sự tích và hành vi cao cả của đứcThánh (lễ hội liên hoan diễn xướng hầu thánh, lễ hội cầu an, lễ mộc dục )

Trang 35

những người trực tiếp diễn xướng và đông đảo nhân dân tham dự dường nhưcảm thấy sự hiện diện của đức Thánh Trần, cảm thấy mình được hội nhập vàosức mạnh linh thiêng, được tiếp thêm sức mạnh để có thể vượt qua mọi khókhăn nguy hiểm GS Đinh Gia Khánh viết: "Có thể nói rằng, trong giờ phútdiễn lại hành vi cao cả của các anh hùng thời quá khứ, các nguồn sức mạnhthiêng liêng của quá khứ hình như được tái sinh trong hiện tại," [8; Tr 31]

Sự cộng cảm còn được bộc lộ rõ nét thông qua các sinh hoạt văn hóacủa cả cộng đồng Nếu như mọi người cùng hát, múa, diễn xướng sân khấu cổtruyền vui chơi giải trí thì họ không thể không hòa mình vào không khíchung mà chính những hoạt động ấy đã tạo ra Hơn nữa, cũng chính môitrường này đã xóa nhòa đi những nhân cách mà cuộc sống hàng ngày đã tạo

ra giữa các cá nhân tạo nên sự gắn bó giữa các thành viên trong cộng đồng.Như Hội thi bánh chưng, bánh dày, vật dân tộc học, liên hoan pháo đất với sựtham gia của tất cả mọi người dân, tiếng reo hò ầm vang một góc trời thì tínhcộng cảm đã nhân lên gấp bội Tính cộng cảm cũng được bộc lộ trong nhữngbữa ăn thân mật khi làng mở hội Việc ăn uống của cộng đồng trong lễ hội đượcnhà nghiên cứu Trần Từ (Nguyễn Từ Chi) gọi là "bữa ăn cộng cảm" của làng xã

Có thể thấy rằng, quan hệ cộng đồng, năng lực tự quản cộng đồng vẫn

là một giá trị xã hội của cộng đồng do ý thức về cộng đồng, về tập thể vẫn cònsâu đậm trong đời sống tâm linh cũng như cuộc sống hàng ngày của mỗingười Điều đó được thể hiện rõ qua sự trường tồn của những lễ hội nêu trên

2.1.2 Hướng về cội nguồn

GS.TS Ngô Đức Thịnh: "Tất cả mọi lễ hội đều mang trong nó bản chấttrở về cội nguồn Đó là nguồn cội tự nhiên mà con người là một bộ phận, cộinguồn của chính mỗi cộng đồng, như dân tộc đất nước, tổ tiên, tôn giáo, cộinguồn với những con người "khổng lồ" đã sáng tạo ra văn hóa và lịch sử" [8;

Tr 30] Cũng chính vì lý do đó mà ý nghĩa hướng về cội nguồn đã hàm chứatrong nó giá trị giáo dục

Cũng như nhiều lễ hội khác, lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc có những nghi

lễ và trò diễn làm tái hiện lịch sử, tìm về cội nguồn của cộng đồng Chúng ta

Trang 36

cũng đã thấy, hầu hết nội dung của các lễ hội lịch sử đều dựa trên nội dungcủa các truyền thuyết lịch sử về nhân vật được thờ Đó là những sự kiện liênquan đến cuộc đời nhân vật lịch sử, những lễ hội thường nhắc lại một sự kiệnquan trọng nhất, nổi bật nhất trong cuộc đời người anh hùng.

Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc đã nhắc nhở mọi thành viên của cộng đồng

về công lao của đức Thánh Trần, các vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóathế giới những người có công dựng xây non sông đất nước, đem lại sự tự do,độc lập, hạnh phúc cho mọi người dân Việt Nam

Đặc biệt là các vị thánh nhưng các Ngài lại hết sức gần gũi gắn bó tậntình, quan tâm đến cuộc sống thường ngày của người dân Chính vì vậy mà sựtôn vinh đức Thánh Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi, cùng với nhiều danhnhân văn hóa của dân tộc: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, TrầnNguyên Đán đã có ý nghĩa giáo dục rất lớn, giáo dục lòng biết ơn, ghi nhớcông lao của tổ tiên

2.1.3 Sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa

Lễ hội Côn Sơn - Kiếp Bạc là một hình thức sinh hoạt văn hoá tinhthần, bắt nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sựgiao lưu, tiếp biến văn hoá của cộng đồng, nhằm thỏa mãn những khát vọng,những ước muốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của mọi người dân, dukhách thập phương không chỉ trong nước mà còn du khách quốc tế Tham giavào lễ hội, ai cũng muốn góp công, góp sức để vị thánh của mình được tônvinh hơn, không khí hội được vui hơn quy mô hoành tráng hơn Trong tất cảcác hoạt động của lễ hội, từ những công việc chuẩn bị đơn giản nhất đếnnhững hoạt động mang tính linh thiêng, rồi vui chơi giải trí người ta đềumuốn thể hiện khả năng, sự sáng tạo của bản thân mình Chẳng hạn như lễ hộiquân trên sông Lục Đầu, lễ cầu an và hội hoa đăng, hội thi bánh chưng, bánhdày, vật dân tộc học, liên hoan pháo đất, liên hoan múa rối nước Ở đây,người ta có thể bộc lộ khả năng của mình ở mức độ cao nhất, đắm mình trongkhông gian của lễ hội - không gian như có quá khứ hiện về Bởi thế việcphụng thờ, lòng biết ơn, tôn kính các vị Thánh Thần, các vị Anh hùng dân tộc

Trang 37

đã tạo môi trường để sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa, là bảo tàngvăn hóa truyền thống.

Đến với lễ hội với lòng thành kính, biết ơn sâu sắc người dân thườngcảm tạ đức Thánh và thổ lộ những mong muốn thầm kín của mình, xin Ngàiche chở phù hộ Vào "thời điểm mạnh" của lễ hội, không khí linh thiêngnhưng chan hòa, mọi cách biệt xã hội, mọi mâu thuẫn đều bị xóa nhòa Lúcnày mọi người đều bình đẳng, và người ta đều cảm thấy rằng, có thể trực tiếpgiao cảm và trình bày với đức Thánh tâm tư nguyện vọng của mình Sự bìnhđẳng ở đây không chỉ là sự cảm nhận trong tâm tư tình cảm mà được thể hiện

rõ nét khi họ cùng nhau tham gia vào quá trình hưởng thụ và trao truyền cácgiá trị văn hóa của cộng đồng Sự sáng tạo của các thành viên đã tạo nên sựsinh động lôi cuốn và hấp dẫn của ngày hội Và, tất cả đã tạo nên một khôngkhí vui tươi náo nhiệt, kích thích sự say mê sáng tạo văn hóa, là môi trường đểbảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống như trang phục, ẩm thực, ca múa nhạc

Như vậy có thể nói, lễ hội là dịp để mọi người có thể bộc bạch nỗi lòngmình,cảm thấy như được chia sẻ, giúp đỡ, che chở, là dịp để mọi người có thểthư giãn, nghỉ ngơi, vui chơi hết mình và cũng là môi trường để phát huy tàinăng, trí sáng tạo của mỗi người

2.1.4 Cân bằng đời sống tâm linh

Chúng ta đều biết rằng, trong cuộc sống xa xưa cũng như hiện nay, conngười luôn cảm thấy mình rất nhỏ bé trước sức mạnh tự nhiên, họ ngưỡng

mộ, tôn thờ và tin vào sự che chở của những biểu tượng mà họ cho rằng cósức mạnh siêu việt Đức Thánh Trần Hưng Đạo, các vị anh hùng dân tộc khaisáng văn hóa, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, Huyền Quang, TrầnNguyên Đán, Pháp Loa là ân nhân, là biểu tượng tôn thờ của người Việt -Mường Tham gia vào lễ hội, niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên càng đượckhẳng định thêm Với các hoạt động của lễ hội, đặc biệt là tế, lễ, con ngườidường như an tâm hơn với cuộc sống của mình, tận hưởng những phút giâythiêng liêng, ngưỡng vọng những biểu tượng cao cả Tận hưởng những phútgiây thiêng liêng này con người như vượt lên trên đời sống hiện thực, được

Ngày đăng: 14/03/2018, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Thị Ngọc Anh (2017), Bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèo làng Khuốc xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, Đề tài nghiên cứu khoa học của người học ngành Quản lý văn hóa, Trường Đại Học Nội Vụ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy nghệ thuật chèolàng Khuốc xã Phong Châu, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình
Tác giả: Đinh Thị Ngọc Anh
Năm: 2017
2. Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (2000), Báo cáo thám sát khảo cổ học khu di tích Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thám sátkhảo cổ học khu di tích Kiếp Bạc
Tác giả: Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc
Năm: 2000
3. Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (2006), Di sản Hán Nôm Côn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Sơn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Hán NômCôn Sơn - Kiếp Bạc - Phượng Sơn
Tác giả: Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
4. Hoàng Thị Bình (2011), Khai thác hiệu quả hoạt động du lịch cuối tuần tại Côn Sơn - Kiếp Bạc, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường - Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác hiệu quả hoạt động du lịch cuốituần tại Côn Sơn - Kiếp Bạc
Tác giả: Hoàng Thị Bình
Năm: 2011
5. Lê Quang Chắn (2006), Về đền Kiếp Bạc, Tạp chí Di sản văn hóa, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đền Kiếp Bạc
Tác giả: Lê Quang Chắn
Năm: 2006
6. Vũ Đại Dương (2012), Tài liệu thuyết minh khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, (tài liệu nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu thuyết minh khu di tích Côn Sơn -Kiếp Bạc
Tác giả: Vũ Đại Dương
Năm: 2012
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ V, Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ V
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
8. Lê Thị Hiền (2007), Việc phụng thờ Sơn Tinh ở Hà Tây bản chất và nguồn gốc, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc phụng thờ Sơn Tinh ở Hà Tây bản chất vànguồn gốc
Tác giả: Lê Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2007
9. Nguyễn Quang Lê (1992), Một số suy nghĩ về nguồn gốc và bản chất của lễ hội cổ truyền dân tộc, Tạp chí Văn hoá dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về nguồn gốc và bảnchất của lễ hội cổ truyền dân tộc
Tác giả: Nguyễn Quang Lê
Năm: 1992
10. Thu Linh (1982), “Hội - Một hình thức sinh hoạt văn hoá truyền thống”, Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội - Một hình thức sinh hoạt văn hoá truyềnthống”, "Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật
Tác giả: Thu Linh
Năm: 1982
11. Nguyễn Văn Mạnh (2002), “Giá trị của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại”, Tạp chí Văn hóa Dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giá trị của lễ hội truyền thống trongxã hội hiện đại”
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Năm: 2002
12. Trần Bình Minh (2000), Những tương đồng giữa các lễ hội cổ truyền Đông Nam Á, Viện Nghiên cứu Văn hoá và Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tương đồng giữa các lễ hội cổtruyền Đông Nam Á
Tác giả: Trần Bình Minh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2000
14. Nguyễn Tri Nguyên (2004), Bản chất đặc trưng tín ngưỡng dân gian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam, Tạp chí Di sản Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất đặc trưng tín ngưỡng dângian trong lễ hội cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tri Nguyên
Năm: 2004
16. Quốc hội (1992), Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1992
17. Quốc hội (2002), Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thihành
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
18. Quốc hội (2012), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
19. Dương Văn Sáu (2004), Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, Nxb Đại học Văn hoá Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển dulịch
Tác giả: Dương Văn Sáu
Nhà XB: Nxb Đại học Văn hoá Hà Nội
Năm: 2004
20. Bùi Thiết (2000), Từ điển hội lễ Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Tp. Hồ Chí Minh.http://consonkiepbac.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển hội lễ Việt Nam
Tác giả: Bùi Thiết
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
13. Phạm Quang Nghị (2005), Bảo tồn phát huy di sản văn hoá phi vật Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w