1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận Vai trò của thầy mo trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người qua nghi lễ tang ma của người Nùng ở xã Thiện Hòa , huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn

41 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 58,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4 1. Lý do chọn đề tài 4 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6 3. Mục đích nghiên cứu 6 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7 5. Phương pháp nghiên cứu 7 6.Đóng góp của đề tài 7 7. Nội dung và bố cục của đề tài 7 Chương 1: Vài nét về đặc điểm tự nhiên, xã hội và người Nùng ở xã Thiện Hòa. 9 1.1. Đặc điểm tự nhiên 9 1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội 10 1.3. Khái quát về người Nùng ở xã Thiện Hòa 12 1.3.1. Nguồn gốc , lịch sử tộc người 12 1.3.2. Dân số và phân bố dân cư 12 1.3.3. Văn hóa vật chất 13 1.3.4. Văn hóa tinh thần 15 Chương 2: Vai trò của thầy Mo trong tang ma truyền thống của người Nùng ở xã Thiện Hòa. 18 2.1. Các nghi lễ chính trong tang ma truyền thống của người Nùng ở xã Thiện Hòa. 18 2.1.1. Lễ rửa mặt cho người chết 19 2.1.2. Lễ khâm liệm – nhập quan 20 2.1.3. Lễ phát tang, ăn chay 21 2.1.4. Lễ tụng nhập, sám hối, mở đường 22 2.1.5. Lễ trao nhà táng 23 2.1.6. Lễ dâng cơm 24 2.1.7. Lễ mở cửa mồ 24 2.1.8. Lễ siêu đàn phá ngục 24 2.1.9. Lễ tế hội 25 2.1.10. Lễ đưa ma 25 2.1.11. Lễ hạ huyệt, tế thổ thần 26 2.2. Vai trò của thầy Mo trong tang ma 27 Chương 3: Một số giải pháp giữ gìn và phát huy vai trò của thầy Mo trong việc bảo tồn văn hóa tộc người Nùng ở Thiện Hòa thông qua tang ma. 31 3.1. Những biến đổi trong tang ma và vai trò của thầy Mo trong tang ma ở xã Thiện Hòa hiện nay. 31 3.2. Một số nhận xét và khuyến nghị về giải pháp 34 3.2.1. Một số nhận xét 34 3.2.2. Khuyến nghị về giải pháp 35 KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 1

Xin chân thành cảm ơn!

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6.Đóng góp của đề tài 7

7 Nội dung và bố cục của đề tài 7

Chương 1: Vài nét về đặc điểm tự nhiên, xã hội và người Nùng ở xã Thiện Hòa 9

1.1 Đặc điểm tự nhiên 9

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 10

1.3 Khái quát về người Nùng ở xã Thiện Hòa 12

1.3.1 Nguồn gốc , lịch sử tộc người 12

1.3.2 Dân số và phân bố dân cư 12

1.3.3 Văn hóa vật chất 13

1.3.4 Văn hóa tinh thần 15

Chương 2: Vai trò của thầy Mo trong tang ma truyền thống của người Nùng ở xã Thiện Hòa 18

2.1 Các nghi lễ chính trong tang ma truyền thống của người Nùng ở xã Thiện Hòa 18

2.1.1 Lễ rửa mặt cho người chết 19

2.1.2 Lễ khâm liệm – nhập quan 20

2.1.3 Lễ phát tang, ăn chay 21

2.1.4 Lễ tụng nhập, sám hối, mở đường 22

Trang 3

2.1.5 Lễ trao nhà táng 23

2.1.6 Lễ dâng cơm 24

2.1.7 Lễ mở cửa mồ 24

2.1.8 Lễ siêu đàn phá ngục 24

2.1.9 Lễ tế hội 25

2.1.10 Lễ đưa ma 25

2.1.11 Lễ hạ huyệt, tế thổ thần 26

2.2 Vai trò của thầy Mo trong tang ma 27

Chương 3: Một số giải pháp giữ gìn và phát huy vai trò của thầy Mo trong việc bảo tồn văn hóa tộc người Nùng ở Thiện Hòa thông qua tang ma 31

3.1 Những biến đổi trong tang ma và vai trò của thầy Mo trong tang ma ở xã Thiện Hòa hiện nay 31

3.2 Một số nhận xét và khuyến nghị về giải pháp 34

3.2.1 Một số nhận xét 34

3.2.2 Khuyến nghị về giải pháp 35

KẾT LUẬN 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc , 54 dân tộc anh em cùngchung sống với những nét văn hóa đặc trưng tạo nên một nền văn hóaphong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Tộc người Nùng ở ViệtNam thuộc nhóm ngôn ngữ Tày –Thái Theo số liệu thống kê năm 1999dân tộc Nùng có 856.412 người, cư trú tập trung ở các tỉnh phía Bắc:Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang,

L ai Châu và một số ít ở các tỉnh Tây Nguyên như : Đắk Lắc, LâmĐồng , Bình Phước Ngoài lãnh thổ Việt Nam, người Nùng còn cư trú ởcác tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Nam Trung Quốc)

Là một trong những thành tố thuộc lĩnh vực văn hóa xã hội, nghi

lễ tang ma của người Nùng ở vùng Đông Bắc nói chung, ở xã Thiện Hòa, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn nói riêng biểu hiện hết sức sâu sắc đạohiếu , đạo nghĩa của người sống dành cho người chết, để bước vào thếgiới vĩnh hằng một thế giới siêu thực cho đến nay vẫn vô cùng bí ẩn ,nhưng lại có trong tâm thức của đồng bào

Trong xã hội truyền thống người Nùng ở xã Thiện Hòa rất coitrọng thầy mo Họ là những người uy tín, hiểu biết về phong tục tậpquán, tri thức tộc người và giữ trong mình những văn hóa truyền thốngcủa cộng đồng, của dân tộc Thầy mo người Nùng là bộ phận giữ vai tròquan trọng trong đời sống tâm linh của cả dân tộc, với mỗi người Nùng

từ khi sinh ra cho đến khi từ giã cuộc đời

Trong khi khoa học còn đang tìm kiếm, chưa lí giải ý nghĩa củanhững điều bí ẩn thì của đồng bào người Nùng cùng các nghi lễ biểu

Trang 5

hiện của nó đã và đang có sự biến đổi, giao thoa và tiếp biến, sự biến đổi

xã hội trong nền kinh tế thị trường Xu hướng đơn giản hóa các nghi lễtinh thần trong tang ma và phong trào bài trừ mê tín dị đoan trong vănhóa xã hội nhiều khi làm biến dạng các nghi lễ tập tục truyền thống.Nhiều lễ tục tốt đẹp dần dần biến mất thay vào đó không ít các hủ tục lại

có cơ trỗi dậy , ngăn cản sự phát triển của xã hội

Theo vào đó hệ thống các thày “tào”, thày “mo” lớp trước đều đãlớn tuổi, trong khi các thế hệ trẻ không muốn kế tục nghề làm thày cúngcủa ông cha mình, mặc dù họ rất thích được thụ giáo thày mo để được “phong sắc” phòng khi chết đi được làm “tiểu tốt dưới âm” Điều đó đãkhiến những nghi lễ và quan niệm giữa cái sống và cái chết cũng như vaitrò của các thầy mo của người Nùng ngày càng bị thất truyền

Mặt khác trong bối cảnh đất nước hiện nay theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; trong bối cảnh kinh tế thị trường, trong sự giaolưu văn hóa mang tính toàn cầu thì nhiều giá trị văn hóa truyền thốngcủa người Nùng nói chung và các giá trị văn hóa người trong nghi lễtang ma nói riêng đang có nguy cơ bị mai một Nếu không có nghiên cứubảo tồn các giá trị tốt đẹp về văn hóa và lịch sử trong tang ma của ngườiNùng thì chúng ta sẽ mãi mãi mất đi những thành tố văn hóa quý giá,góp phần tạo nên bản sắc văn hóa tộc người

Với những lí do trên tôi đã chọn đề tài: “Vai trò của thầy mo trongviệc bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người qua nghi lễ tang ma của ngườiNùng ở xã Thiện Hòa , huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn” với hi vọng làm

rõ vai trò của thầy mo trong nghi thức tang ma truyền thống của ngườiNùng

Trang 6

- Hoàng Quyết, Ma khánh Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược,

Vương Toàn: Văn hóa truyền thống Tày, Nùng, NXB Văn hóa dân tộc,

Hà Nội, 1993

- Hoàng Nam: Dân tộc Nùng ở Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà

Nội, 1992

Nhìn chung, các công trình đều chưa đề cập đến vai trò của thầy

mo trong tang ma truyền thống, mà chỉ đề cập một cái nhìn khái quát,đưa ra một cái nhìn chung chung Nhưng dù sao đó cũng là nguồn tàiliệu đáng trân trọng và hết sức giá giúp cho tôi làm chỗ dựa về mặt khoahọc để đi sâu và làm rõ đề tài nghiên cứu của mình Với hi vọng là cóthể bổ sung một nguồn tư liệu về vai trò của thầy mo trong tang ma củangười Nùng ở Lạng Sơn

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài.

- Nghiên cứu làm rõ vai trò của thầy mo trong việc bảo tồn các giá trịvăn hóa tộc người qua nghi lễ tang ma của người Nùng ở xã Thiện Hòa

- Hiểu thêm về tâm tư, tình cảm, đạo lý, đạo hiếu của người sống dànhcho người chết trong đời sống xã hội của tộc người Nùng

Trang 7

- So sánh vai trò của thầy mo trong tang ma truyền thống và trong tang

ma hiện nay có những biến đổi như thế nào

- Đóng góp thêm tư liệu đồng thời đưa ra những khuyến nghị, giảipháp tích cực giúp gìn giữ và phát huy những giá trị truyền thống tốtđẹp, những bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo và giải pháp xóa bỏ những

hủ tục, khâu tổ chức rườm rà trong đám tang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.

- Đối tượng nghiên cứu là tang ma truyền thống của người Nùng ở xãThiện Hòa, huyện Bình Gia, Tỉnh Lạng Sơn Tìm ra vai trò của thầy mo

- Phạm vi là tang ma truyền thống của người Nùng ở xã Thiện Hòa

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Bài tiểu luận chủ yếu sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học, miêu

tả, quan sát, ghi chép phỏng vấn, sưu tầm tài liệu

- Ngoài ra còn dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước về văn hóađối với các dân tộc thiểu số

6 Đóng góp của đề tài

Với đề tài của mình, tôi hi vọng tiểu luận sẽ góp phần thêm nguồn

tư liệu về tang ma người Nùng thông qua vai trò của người thầy motrong việc bảo tồn các giá trị văn hóa tộc người qua nghi lễ tang ma củangười Nùng ở xã Thiện Hòa

7 Nội dung và bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bố cục tiểu luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Vài nét về đặc điểm tự nhiên, xã hội của người Nùng ở xãThiện Hòa

Trang 8

- Chương 2: Vai trò của thầy mo trong tang ma truyền thống của ngườiNùng ở xã Thiện Hòa.

- Chương 3: Một số giải pháp gìn giữ và phát huy vai trò của thầy motrong việc bảo tồn văn hóa tộc người Nùng ở xã Thiện Hòa thông quatang ma

Trang 9

Chương 1 VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, XÃ HỘI CỦA

NGƯỜI NÙNG Ở XÃ THIỆN HÒA.

1.1 Đặc điểm tự nhiên

Xã Thiện Hòa cách trung tâm huyên khoảng 30km Nằm ở phíaTây của huyện Bình Gia

- Phía Bắc giáp xã Yên Lỗ

- Phía Đông giáp xã Thiện Thuật

- Phía Tây giáp xã Cư Lễ , huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

- Phía Nam giáp xã Thiện Long và xã Hòa Bình

Tổng diện tích là 8523,55 ha gồm 10 thôn, bản: Ba Biển, ThâmKhôn, Nà Tàn, Yên Hùng, Lân Luông, Thạch Lùng, Nà Đảng, NàLẹng,Cạm Tắm,Khuổi Nà

Về địa hình: Địa hình xã thuộc vùng núi thấp , độ cao trung bình

là 300 – 600m Dạng địa hình núi có độ cao trên 250 , chiếm 80% diệntích, thích hợp cho trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên Một

số nơi thấp có thể phát triển cây ăn quả, cây hồi , trẩu , sở…

Về khí hậu: Xã Thiện Hòa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió

mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu miền núi phía Bắc nên mangtính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có mùa đông lạnh giá Nhiệt độtrung bình năm trên 210C Có hai mùa lạnh – khô và nóng - ẩm rõ rệt.Mùa mưa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 Thời kì này có gió mùa ĐôngNam, thời tiết nóng ẩm thường có mưa lớn kéo dài, đôi khi có mưa đá.Mùa khô lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Thời tiết khô lạnh ,

Trang 10

thường có gió mùa Đông Bắc giá lạnh kèm theo sương muối và mưaphùn.

Về đất đai: Chia thành các loại như sau: Đất feralit nâu đỏ phát

triển trên thạch sét, chiếm khoảng 50% diện tích toàn xã thích hợp trồngcây lâm nghiệp Đất feralit phát triển trên đá vôi chiếm khoảng 10%diện tích đất tự nhiên thích hợp trồng cây ăn quả, hoa màu… Đất dốc tụchân đồi chiếm khoảng 20% tổng diện tích đất tự nhiên, có độ phì cao,đất khá màu mỡ thích hợp trồng lúa và cây hoa màu, thuốc lá…

Về thủy văn: Mạng lưới song suối ao hồ trong xã không nhiều, có

một số thôn thiếu nước sản xuất vào mùa khô, do vậy đã gây khó khăncho việc sản xuất và sinh hoạt của người dân

Thảm thực vật: Rất phong phú, đa dạng cho phép phát triển các

cây trồng nhiệt đới, phát triển cây công nghiệp lâu năm như hồi , trẩu,sở,…

Trang 11

canh gối vụ có ý nghĩa rất lớn trong việc giữ màu cho đất khỏi bị xóimòn, đồng thời tranh thủ được thời vụ, phù hợp với sự phát triển của câytrồng, tận dụng được giá trị sử dụng đất nhằm phục vụ sản xuất.

- Về cây ăn quả: Được trồng xung quanh nhà và trong vườn như: Mận,

mơ, đào, lê, mác mật, vải thiều,…

- Về cây công nghiệp: Hồi là cây công nghiệp đc trồng nhiều nhất,ngoài ra còn có trẩu, sở, thuốc lá,…

- Về chăn nuôi: Tương đối phát triển, những loài động vật chăn nuôinhư trâu, bò, lợn, gà, dê,… Và những vật chăn thả dưới nước như cá,tôm, vịt, … vật nuôi được dùng nhiều vào nghi lễ cúng tổ tiên, đám ma

là lợn, gà

- Bên cạnh đó còn có các ngành nghề thủ công như dệt, mộc, đan lát,…nhưng không phát triển mạnh, chỉ phục vụ nhu cầu cuộc sống và sảnxuất hàng ngày

 Hệ thống giao thông: Hiện nay xã có đường quốc lộ 279 chạy qua, nốiliền xã với trung tâm huyện và huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn tạo điều kiệncho đồng bào giao lưu trao đổi buôn bán

 Mạng lưới điện quốc gia: Xã đã có 8/10 thôn được sử dụng điện lướiquốc gia đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của đồng bào Nùng nơiđây

 Giáo dục: Trên địa bàn xã hiện có 1 trường THCS, 2 phân trường tiểuhọc và mỗi thôn đều có trường mầm non Giáo dục đã được phổ cậptrong toàn xã Hiện nay các phòng học đã được Đảng, Nhà nước và cáccập chính quyền quan tâm xây dựng trường học khang trang

Trang 12

 Y tế: Xã có một trạm y tế ở trung tâm xã phục vụ cho việc khám chữabệnh, chăm sóc sức khỏe của đồng bào Nùng.

 Công tác văn hóa thông tin: Phương tiện thông tin như điện thoại, ti vi đến với từng gia đình Thông tin kinh tế, chính trị, xã hội và tri thứckhoa học phổ biến tới từng cá nhân

1.3 Khái quát về người Nùng ở xã Thiện Hòa

1.3.1 Nguồn gốc , lịch sử tộc người

Là thành viên của nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Nùng (Nồng), vốn

là tên gọi của một dòng họ trong 4 dòng họ lớn ở Quảng Đông ( TrungQuốc ) về sau nó đã chính thức trở thành tên gọi dân tộc vào khoảng thế

kỉ XV “ (Bế Viết Đẳng (chủ biên): Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam.Viện dân tộc học, Hà Nội 1992 – trang 48 Dân tộc Nùng ở Việt Nam cóhai bộ phận Bộ phận thứ nhất thuộc nhóm Âu Việt, cư trú ở bắc ViệtNam, được coi là cư dân bản địa Bộ phận thứ hai là một số nhóm Nùng

có tộc danh xác định mới di cư vào Việt Nam khoảng 200 – 400 năm.Cho đến nay chưa có tài liệu nào xác định bộ phận người Nùng có mặt ở

xã Thiện Hòa từ khi nào Là cư dân nông nghiệp làm nương, rẫy kết hợpvới ruộng lúa nước, người Nùng làm ruộng thành thạo như người Tàyngười Kinh Địa bàn cư trú của họ chuyển tiếp giữa vùng thấp và vùngcao Vùng đất sinh sống của họ không thuận lợi như của người Tày, vìvậy, nương rẫy đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng

1.3.2 Dân số và phân bố dân cư

Người Nùng ở Việt Nam, theo thống kê dân số và nhà ở năm 1999

có 856.412 người, cư trú ở khắp tất cả các tỉnh thành trong cả nước,nhưng tập trung ở các tỉnh vùng Việt Bắc, đông nhất là ở Lạng Sơn

Trang 13

Trong cơ cấu dân tộc của tỉnh Lạng Sơn, người Nùng chiếm tỉ lệ caonhất 302.415 người.

Về dân cư của xã thì trong xã có hộ gia đình với 3364 nhân khẩu.Mật độ dân số bình quân người/km2 Các gia đình sống thành cụm dân

cư khá đông đúc, phân bố tương đối tập trung dưới chân đồi và trongnhững thung lũng lớn

1.3.3 Văn hóa vật chất

 Nhà ở:

Nhà ở thích hợp với vùng địa lí miền núi, mưa lắm, nắng nhiều,

độ ẩm cao, nhiều côn trùng, thú dữ, nhà sàn chính là kiểu dạng nhàtruyền thống xuất phát từ điều kiện cư trú đầu tiên được đồng bào Nùnglựa chọn Nhà sàn truyền thống tiêu biểu là ngôi nhà sàn lợp ngói âmdương, dưới gầm sàn là chuồng gia súc và gia cầm Nhà được chia làm 3tầng, tầng 1 là gầm sàn dành cho gia súc gia cầm và công cụ lao độngsản xuất, tầng 2 dành cho người ở cùng các đồ dùng sinh hoạt, tầng 3 làgác để lương thực dự trữ ăn cả năm, để các loại đỗ,lạc phía trước nhàcòn có một sàn phơi, có cầu thang lên xuống cửa trước Nhà sàn đượclàm từ nguyên vật liệu như gỗ, tre được lấy từ tự nhiên

Ngày nay số lượng nhà sàn của người Nùng đang bị thu hẹp, thayvào đó, đồng bào ở đây thường làm những ngôi nhà đất trình tường hayxây gạch, chỉ có hai mái chính Cách bố trí ngôi nhà cũng có sự thay đổi

 Trang phục:

Trang phục của dân tộc Nùng trong ngày thường cũng như trong lễtết, trang phục truyền thống của họ là màu chàm, màu trắng chỉ dùngtrong tang lễ Họ tự dệt vải,trồng cây chàm để chế thành thuốc nhuộm

Trang 14

vải và tự cắt may trang phục cho mình Áo của phụ nữ Nùng ngàythường là áo 5 thân, trong đó có 4 thân dài và 1 thân hụt nằm ở ngực bênphải Đặc điểm của áo phụ nữ Nùng rất rộng phần thân áo và tay áo, đủ

để cử động thoải mái trong mọi tư thế Chiều dài của áo đủ chùm mông

Áo nam giới là chiếc áo tứ thân, có chiều dài ngang mông, có chiều rộnghầu như bó lấy thân Tay áo rộng, cổ áo được khoét theo hình tròn, áo xẻngực thẳng từ trên xuống dưới, khâu 7 cúc vải để cài Nhưng hiện nay ởđây đồng bào Nùng ngày thường họ chỉ dùng trang phục may bán sẵnnhư người Kinh

Trang phục của thầy mo thì có khác hơn một chút, về cơ bản nền

áo vẫn là màu chàm nhưng là màu chàm này chưa qua khâu nhuộm nước

củ nâu, nên chưa có ánh màu tím than Trên áo thầy mo được thêu rấtnhiều hoa văn gồm những hình như người lính, nông dân, hình ngựa,hình chim, hình rồng, cung điện

 Ẩm thực:

Người Nùng chủ yếu dùng cơm tẻ trong bữa ăn thường ngày.Gạonếp chỉ được dùng trong những dịp lễ tết cúng bái, cưới xin, tang ma,sinh đẻ từ gạo nếp có thể chế biến ra các loại bánh: Bánh chưng, bánhkhảo, Nguồn thực phẩm cũng rất đa dạng, rau xanh tự trồng như raumuống, rau dền, mồng tơi, các loại bầu bí, và các loại rau rừng nhưrau ngót, rau bồ khai, măng, nấm, các món ăn chế biến từ thịt và cákhá phong phú như thịt lợn quay, vịt quay, khau nhục, Đồng bào Nùngthường uống rượu trong các dịp lễ tết, cưới xin, tang ma Nước uốnghàng ngày chủ yếu sử dụng các loại chè xanh, chè sao và một số loạithảo mộc

Trang 15

1.3.4 Văn hóa tinh thần

 Hôn nhân

Người Nùng hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng, cư trú bênnhà chồng Ngày nay nam nữ tự do tìm hiểu, không có tục tảo hôn nhưxưa nữa, nhưng đôi bạn trẻ có thể trở thành vợ chồng hay không còn tùythuộc vào quan niệm của cha mẹ xem mệnh hai người có hợp không ? Tập tục cưới xin của người Nùng phải trải qua năm bước: Dạmhỏi, lễ xin lá số, lễ so tuổi, lễ cưới, lễ lại mặt Hiện nay tục cưới xin vẫncòn mang tính chất gả bán, với nhiều khoản chi phí tốn kém, ảnh hưởngkhông nhỏ tới cuộc sống của đồng bào Sau hôn nhân, cô dâu ở nhàchồng 3 ngày mới về lại mặt và ở luôn bên nhà bố mẹ đẻ, khi nào có conmới về ở hẳn bên nhà chồng Trong suốt thời gian cư trú bên nhà ngoại,

cô dâu chỉ về nhà chồng khi có các công việc lớn như: cưới xin, tang ma,sinh nhật Các thành viên chung sống một mái nhà luôn vui vẻ đầm ấm,kính trọng, yêu thương nhau, ít khi cãi vã nhau Bậc cha mẹ chỉ bảo chocon cháu mình bằng cách làm gương, giáo dục con cháu tinh thần cần

cù, chịu khó tiết kiệm, giàu lòng nhân ái, sẵn sàng làm điều thiện ngược lại bậc dưới lấy lòng tôn kính để đối xử với ông bà, cha mẹ, giữaanh chị em lấy tình ruột thịt mà bảo ban nhau

 Ngôn ngữ và chữ viết:

Tiếng Nùng là thứ tiếng có chiều sâu lịch sử, có gốc từ Austro –Thái cổ đại, tồn tại cách đây 5000 năm TCN Qua quá trình phát triểnlâu dài, tiếng Nùng hiện được xếp vào nhóm ngôn ngữ Tày – Thái.Người Nùng có chữ viết riêng đó là nôm Nùng xuất hiện nhiều trongsách cúng và các bài văn than, văn tế của thầy mo

Trang 16

 Văn học dân gian:

Văn học dân gian của người Nùng rất phong phú về nội dung vàthể loại như thần thoại, truyện cổ, thơ, ca, nhạc đến các loại sử thi anhhùng, Những thể loại này đều có nội dung cơ bản phản ánh tất cảnhững ước mơ chân chính của cả cộng đồng trong đấu tranh xã hội, đấutranh thiên nhiên, ước mơ cái thiện phải thắng yêu ma quỷ quái Bêncạnh đó còn có làn điệu dân ca là Then có sức hấp dẫn người nghe Nộidung Then dành phần lớn nói về sinh hoạt, đời sống của dân tộc Một lànđiệu dân ca trữ tình phổ biến trong đồng bào là hát Sli Đây là làn điệudân ca được giới thanh niên vẫn dùng để hát giao duyên vì giọng điệu Slinghe rất mượt mà chuyển tải tâm tư tình cảm rất tốt, ngoài ra những lànđiệu Sli còn được dùng trong cả Sli đối đáp của tang lễ.Nghệ thuật âmnhạc của người Nùng cũng khá phát triển, nhạc cụ tuy không phong phúnhưng cũng rất độc đáo, bao gồm: trống, thanh la, não bạt, chũm chọe,chuông, nhạc sóc, tiêu, sáo ngang Các điệu múa “Xiên tâng”, múa Kỳlân mạnh mẽ, mang đậm phong cách truyền thống tộc người

 Lễ tiết, hội hè:

Trong một năm, người Nùng có nhiều lễ tết, hội hè theo từng mùanhư tết Thanh minh, tết Đoan Ngọ, Lễ tết tiêu biểu nhất là lễ hội LồngTồng được tổ chức sau tết Nguyên Đán bắt đầu từ mùng 4 tết, nhằm cầumong Thần Nông ban cho mưa thuận gió hòa, việc đồng áng được thuậnlợi, mùa màng bội thu, người người được khỏe mạnh sống lâu, nhà nhàđược yên vui ấm no hạnh phúc

Trang 17

 Tín ngưỡng:

Văn hóa tín ngưỡng của đồng bào Nùng có tồn tại nhiều hình tháitôn giáo khác nhau như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo Người Nùngthờ tổ tiên, trong nhà có một gian buồng dùng làm nơi đặt bàn thờ gọi là

“choong cai” Đây là nơi linh thiêng, ít khi đi lại trong đó và cũng không

để đồ dùng gì, ngoài bàn thờ Trong choong cai người ta đặt bàn thờ tổtiên ở nơi chính giữa và hướng bàn thờ được xác định cùng với hướngnhà Bên cạnh đó còn hai bàn thờ phụ là bàn thờ phật quan âm và bànthờ bà mụ

Trong xã có nhiều mối quan hệ giữa các dân tộc khác sống đanxen với nhau Ở đây chủ yếu là dân tộc Nùng, một số ít dân tộc Dao Dosống tập trung và có nhiều những sinh hoạt chung nên tính cố kết cộngđồng cao, họ luôn sẵn sàng giúp đỡ nhau về mọi mặt trong cuộc sống.Khi một gia đình nào trong bản làng có việc như cưới xin, ma chay Mọi người trong cùng bản làng đều tập trung phân công cắt cử ngườiđến giúp đỡ Đây là những nét giá trị đạo đức rất tốt đẹp của đồng bàonơi đây

Trang 18

Chương 2 VAI TRÒ CỦA THẦY MO TRONG TANG MA TRUYỀN THỐNG

CỦA NGƯỜI NÙNG Ở XÃ THIỆN HÒA.

2.1 Các nghi lễ chính trong tang ma truyền thống của người Nùng ở

Thông thường một đám tang của người Nùng ở xã Thiện Hòa,huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn có từ 9 đến vài chục nghi lễ, bao gồm: lễrửa mặt cho người chết, lễ chuộc vía, lễ khâm liệm – nhập quan, lễ traonhà tang, lễ phát tang, ăn chay, lễ phục hồn, lễ tế đầu, lễ tụng nhập, sámhối, mở đường, lễ dâng cơm, lễ mở cửa mồ, lễ siêu đàn phá ngục, lễ tếhội ( lễ trao nhà táng, của cải … ), lễ đưa ma, lễ hạ huyệt, tế thổ thần, lễ

Trang 19

dựng lều, lễ cúng bốn mươi ngày hay bốn chin ngày, lễ cúng một trămngày, lễ cúng một năm ( giỗ đầu ), lễ mãn tang.

2.1.1 Lễ rửa mặt cho người chết

Sau khi thay quần áo hành lễ, thầy Mo bắt đầu thắp hương để báovới tổ tiên tang chủ tên tuổi người mất, ngày giờ chết và cúng Cúngxong, thầy Mo cùng một đoàn con cháu người quá cố ra bến nước, nơi

mà người chết vẫn ra đó sử dụng nước sinh hoạt hàng ngày để rửa mặtcho người chết Theo quan niệm của người Nùng từ xưa đến nay, lúc cònsống con người lấy nước của thiên hạ về rửa, khi chết đi cũng phải dùngnước của Long Vương để tẩy uế trần gian và linh hồn được mát mẻ Khi

đi, con gái đầu lòng và dâu trưởng, mỗi người cầm một đầu miếng vảichàm xanh tạo thành một chiếc võng, ở giữa đặt một cái chậu để lấynước, một người con khác đội mâm lễ Đến bến nước, thầy làm lễ xinnước của Long Vương rồi thả vào trong chậu một mảnh giấy có ghi têntuổi của người chết, với mục đích báo và xin nước của Long Vương vềrửa mặt cho người chết Xong xuôi, con trai trưởng bốc nước vào chậu,sau đó hai chị con gái hoặc con dâu lớn dùng võng khiêng chậu nước vềnhà Lễ vật lấy nước rửa mặt tuy đơn giản chỉ là miếng thịt, đĩa xôi,nhưng những tác động của con cháu mang tính nhân văn sâu sắc, thểhiện sự chu toàn, tận hiếu, tận nghĩa, tận thương, tận nhớ để cung phụngngười đã khuất Về tới nhà, con cháu tang chủ lấy lá thơm (lá bưởi, láchanh) thả vào nước, thầy Mo lấy tay vò nát các lá thơm và dùng khănbông của người chết vẫn dùng hàng ngày lần lượt rửa từ mặt, đến tay,thân, chân của người chết Vừa rửa mặt, thầy vừa đọc chú Rửa mặtxong, thầy Mo cùng gia quyến thay quần áo cho người chết

Trang 20

Sau đó thầy Mo lấy một cái đèn dầu đặt lên phía trên đầu chỗngười chết nằm, phía chân người chết đặt một con gà đã luộc chin cả nộitạng, bên cạnh đặt một bát cơm đầy cắm 2 chiếc đũa bông và đặt mộtquả trứng ở giữa, và một bát gạo để cắm hương.

2.1.2 Lễ khâm liệm – nhập quan

Trước tiên thầy Mo vào bàn thờ riêng tại nhà tang chủ để chuẩn bịcác thủ tục làm lễ khâm liệm như: viết sớ trình lên tổ tiên và NgọcHoàng, viết các tờ bùa để thu hồn người chết vào áo quan và viết vào dảibáo tang Dải báo tang là một dải vải trắng do gia đình tang chủ đãchuẩn bị sẵn, được thầy Mo viết tên tuổi, ngày tháng năm sinh, ngàytháng năm mất của người chết bằng chữ nho hay chữ nôm, được treo ởngoài cổng nhằm mục đích báo tang cho tổ tiên và Ngọc Hoàng biết.Trước khi làm lễ, bao giờ thầy Mo cũng phải xem xét, chọn giờ tốt đểkhâm liệm và đưa ma

Sau khi đã chuẩn bị xong tất cả các thủ tục, đợi giờ tốt, thầy Mocùng gia quyến tiến hành làm lễ khâm liệm Lúc này con cháu có mặtđông đủ, anh em họ hàng cũng có mặt để liệm giúp Áo quan được đưa

ra giữa nhà, thầy Mo dùng tro bếp trải một lượt vào đáy quan tài, sau đótrải một lượt bỏng rang và một lượt chè cám, sau đó làm “pháp thuật”thu hồn người chết vào áo quan bằng cách buộc những mảnh giấy nhỏ cóghi ngày tháng năm sinh, ngày giờ, tháng năm mất của người chết lênđầu cành phan nhẩm khấn đọc tờ bùa, sau đó căn dặn người chết khôngđược trở về thế giới trần với con cháu nữa

Giờ liệm bắt đầu, thầy Mo cùng anh em họ hàng người chết lấy 1tấm vải trắng lót dài bằng chiều dài người chết từ cổ xuống, phía dưới lót

Ngày đăng: 04/04/2021, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w