Mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữtriết học, nhưng nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tư
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói rõ: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiêncứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”(1) và Ngườicòn nói: “chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biệnchứng” Là học trò của C.Mác, Ph Ăng ghen, V.I.Lênin nên thế giới quan, tư duytriết học của Người là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.Người đã bảo vệ và phát triển tư duy triết học trên nền tảng triết học Mác - Lênin.Khác với các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin, Hồ Chí Minh không để lạimột tác phẩm triết học nào như: Hệ tư tưởng Đức, Luận cương Phoiơbắc, Biệnchứng của tự nhiên, Bút ký triết học Bởi vì, Hồ Chí Minh sống và hoạt độngcách mạng trong thời đại đã có chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng, dẫn đường vànhiệm vụ của Người là cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc khỏi áp bức, bóclột, bất công đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho đồng bào Chính nhiệm vụnày đã cuốn hút Người với tất cả tinh thần và sức lực, làm cho Người sống gầngũi với nhân dân, đem tinh tuý, sâu sắc của triết học diễn đạt thành những điềugiản dị, cụ thể, rõ ràng và thiết thực để nhân dân dễ hiểu, dễ làm Rõ ràng, phải cómột trình độ triết học sâu sắc, uyên bác, Hồ Chí Minh mới có thể chuyển hoáthành triết học của cuộc sống Nhờ đó, người trang bị cho cán bộ, đảng viên thếgiới quan duy vật biện chứng, giúp họ nhìn nhận, xem xét, đánh giá đúng tìnhhình, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát thực tế, có hiệu quả, đồng thờikhông rơi vào dao động, không mắc phải sai lầm ảo tưởng, chủ quan, duy ý chícũng như giáo điều, xét lại Mặc dù khi viết, khi nói Người ít dùng các thuật ngữtriết học, nhưng nghiên cứu di sản lý luận và cuộc đời hoạt động cách mạng của
Hồ Chí Minh, chúng ta thấy ở Người toát lên những tư tưởng triết học sâu sắc.Nổi bật lên trong tư tưởng triết học của Hồ Chí minh đó là phương pháp luận biệnchứng, đó là kết quả của sự vận dụng sáng tạo, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinhhoa triết học biện chứng phương Đông và phương Tây để đưa ra phương phápluận biện chứng khoa học, cách mạng góp phần tích cực trong phong trào đấutranh giải phóng dân tộc, giai cấp của nước ta Giá trị phương pháp luận biệnchứng trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh đã được thực tiễn cách mạngViệt Nam kiểm nghiệm, có vai trò vô cùng to lớn trong phong trào đấu tranh bảo
vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc Chính vì lý do trên tôi chọn đề tài: “Phương pháp luận biện chứng trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh với việc vận dụng giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo ở nước ta hiện nay” làm bài tiểu luận.
(1) (1) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.4, tr.315]
Trang 2B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG TRONG
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh không có tác phẩm riêng bàn về phương pháp Nhưng trongthực tế lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Người đã vận dụng sáng tạo vànhuần nhuyễn các nguyên lý của phép biện chứng duy vật Macxít kết hợp với cácyếu tố biện chứng của triết học phương Đông qua đó tạo nên một hệ thốngphương pháp riêng của mình, rất Macxít mà cũng rất Hồ Chí Minh, không trộnlẫn được Vì vậy, có thể nói, có phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh vẫn làphương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng đã được vận dụng vàchuyển hoá vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề
do thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra, nó in đậm màu sắc Việt Nam - Hồ ChíMinh và bằng cái riêng đã làm phong phú thêm cái chung
1.1 Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, giữa cái riêng và cái chung.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, đó là quan điểm cốt lõi nhất của nhậnthức luận Macxít và cũng là nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật Theoquan điểm của C.Mác: “Ở mỗi dân tộc, lý luận bao giờ cũng chỉ được thực hiệntheo mức độ mà nó là sự thực hiện những nhu cầu của dân tộc ấy” Nói cáchkhác, lý luận chỉ được coi là đúng đắn khi nó đáp ứng được nhu cầu thực tiễn củamỗi dân tộc
Hồ Chí Minh cũng quan niệm: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trongkinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét so sánh thật kỹ lượng, rõ ràng,làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chânchính”(2)
Theo quan niệm đó, Hồ Chí Minh luôn luôn lấy thực tiễn, lấy sự kiện củađời sống dân tộc và thời đại làm định hướng cho tư duy và hành động, lấy mụctiêu độc lập và phát triển của dân tộc làm căn cứ để xem xét lý luận, để lựa chọncon đường và bước đi cho cách mạng Việt Nam, nhờ đó mà tránh được giáo điều,rập khuôn (do chỉ biết lặp lại cái chung), đồng thời cũng tránh để không rơi vào
cơ hội, xét lại (do quá nhấn mạnh cái riêng, cái đặc thù)
Đi theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theocon đường cách mạng vô sản, nhưng Hồ Chí Minh biết rút ra từ học thuyết cáchmạng và khoa học rộng lớn này những vấn đề cần thiết cho giai đoạn trước mắtcủa cách mạng Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam: từ(2) (2) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr 273].
Trang 3giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người, tức là từ độclập dân tộc tiến lên Chủ nghĩa xã hội.
Tiếp theo, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhờ đứngvững trên quan điểm thực tiễn và đường lối độc lập tự chủ, một mặt, chúng ta vẫntranh thủ viện trợ kinh tế và quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mặtkhác, chúng ta lại đánh theo đường lối và cách đánh Việt Nam, phù hợp với chiếntrường Việt Nam, vì vậy ta đã giành được thắng lợi vẻ vang: giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội
Khi miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tiền tư bản bước vàothời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đặt vấn đề: “Chúng ta phảiđùng những phương pháp gì, hình thức gì, đi theo tốc độ nào để tiến lên Chủnghĩa xã hội”và Người nhắc nhở: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồiđào của các nước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinhnghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”(3)
Đó là biện chứng Hồ Chí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa thực tiễn và lýluận, giữa cái riêng và cái chung
1.2 Biện chứng trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn và thống nhất của các mặt đối lập.
Theo quan điểm Macxít, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập là quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, bởi mâu thuẫn là hiệntượng phổ biến của mọi sự vật, hiện tượng và đấu tranh để đi tới chuyển hoá giữacác mặt đối lập của mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động và phát triển
Hồ Chí Minh cũng thừa nhận tính phổ biến của mâu thuẫn Người viết:
“Biện chứng nói:Cái gì cũng có mâu thuẫn, vì cái gì cũng có biến âm, dương, có
sinh có tử, có quá khứ, có tương lai, có cũ, có mới Đó là những mâu thuẫn sẵn cótrong mọi sự vật”.(4)
Mâu thuẫn có nhiều loại với bản chất khác nhau: có mâu thuẫn bên trong vàbên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu, đối kháng và không đốikháng Vì vậy, phân tích mâu thuẫn là điều kiện để nhận thức đúng sự vật Hồ ChíMinh chính là một bậc thầy trong nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn
Trong đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp có nhận thức, phát hiện đúngmâu thuẫn mới xác định rõ kẻ thù và bạn đồng minh, mới đề ra được chiến lược,sách lược, bước đi đúng đắn cho mỗi giai đoạn của cách mạng
(3) (3) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.11, tr.97].
(4) (4) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.6, tr.528].
Trang 4Vận dụng phép biện chứng duy vật vào phân tích xã hội thuộc địa, nửaphong kiến Việt Nam đầu thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra hai mâu thuẫn
cơ bản: một là, mâu thuẫn vốn có của xã hội phong kiến là mâu thuẫn giữa nôngdân và địa chủ phong kiến và hai là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Namvới bọn thực dân xâm lược Pháp, từ đó Hồ Chí Minh xác định nhân dân Việt Nam
có hai kẻ thù chính là đế quốc và phong kiên tay sai, cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở Việt Nam có hai nhiệm vụ cơ bản là chống đế quốc giành lại độc lậpcho dân tộc và chống phong kiên đem lại ruộng đất cho dân cày
Tuy xác định xã hội thực dân nửa phong kiến Việt Nam có hai mâu thuẫn cơbản, nhưng trong việc xử lý mâu thuẫn, Hồ Chí Minh không coi hai mâu thuẫn đóngang nhau, phải tiến hành song song, đồng thời Theo Hồ Chí Minh, trong xãhội thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn nổi lên gay gắt nhất, trở thành mâuthuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với đế quốc và bọntay sai, có giải quyết được vấn đề dân tộc mới giải quyết được vấn đề dân chủ Vì
vậy, ngay trong Chính cương vắn tắt (1930), Hồ Chí Minh cũng chỉ nêu chủ
trương “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân càynghèo”(5) mà chưa nêu khẩu hiệu “người cày có ruộng” Hội nghị Trung ương 8(tháng 5/1941) dưới sự chủ trì của Hồ Chí Minh, cũng chủ trương tạm gác khẩuhiệu ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc, Việt gian, đề thêm khẩu hiệu
“giảm tô, giảm tức”, chia lại ruộng công
Làm như vậy, theo Hội nghị phân tích, nếu không đánh đuổi được Pháp Nhật, nếu dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu thì vấn đề ruộng đất cũngkhông sao giải quyết được Cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã lôi cuốn hàngchục triệu nông dân, dù chưa được chia lại ruộng đất của địa chủ vẫn hăng háitiến bước cùng giai cấp công nhân làm nên cuộc cách mạng long trời lở đất, giànhlại nền độc lập cho dân tộc Thắng lợi đó là sự thể hiện phép biện chứng của HồChí Minh trong xử lý mối quan hệ giữa mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếutrong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam
-Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy về xử lý mâu thuẫn địch - ta, nêu tấm gương
về nghệ thuật vận dụng mâu thuẫn, khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù.Theo quyết định của Đồng minh tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), gần 20 vạnquân Tưởng đổ vào Bắc Đông Dương (từ vĩ tuyến 16 trở ra) và hàng vạn quânAnh - Ấn Độ đổ vào Nam Đông Dương với danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật.Núp dưới bóng quân đội Anh, thực dân Pháp cũng đem quân trở lại nước ta Nếu
kể cả quân đội Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, thì vào lúc đó, cógần nửa triệu quân nước ngoài đóng trên đất nước ta Cùng một lúc phải đối phóvới nhiều kẻ thù, tình thế cách mạng Việt Nam như đang “nghìn cân treo sợi tóc”.(5) (5) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t3, tr.2]
Trang 5Để bảo vệ thành quả cách mạng, Hồ Chí Minh chủ trương phải phân hoá kẻ thù,bằng cách khai thác mâu thuẫn trong hàng ngũ của chúng.
Quân đội Tưởng vào miền Bắc có ba thế lực: cánh Lư Hán thuộc Đệ nhấtchiến khu Vân Nam, cánh Tiêu Văn thuộc Đệ tứ chiến khu Quảng Tây, cánh ChuPhúc Thành thuộc quân khu Trung ương Trùng Khánh Chúng giống nhau về mụctiêu “diệt cộng, cầm Hồ” để dựng lên chính phủ tay sai, phục vụ cho mưu đồ lâudài của chúng, nhưng mâu thuẫn với nhau về lợi ích cá nhân Biết Lư Hán vốn có
tư thù sâu sắc với Tưởng Giới Thạch và cả với Pháp (vì đã bị Pháp tịch thu mấychuyến hàng lớn trên tuyến đường sắt Hải Phòng - Côn Minh), Hồ Chí Minh đãchủ động tới thăm chúng nhằm tranh thủ Lư Hán, đồng thời, nhượng bộ cho vợchồng Tiêu Văn một số đặc quyền kinh tế để cô lập cánh Chu Phúc Thành… Nhờ
đó, chúng ta buộc họ phải thay đổi thái độ đối với Chính phủ Hồ Chí Minh, đã sửdụng được lực lượng quân đội Tưởng làm bình phong, ngăn chặn quân đội Phápđang lăm le ra miền Bắc
Trong hàng ngũ tướng lĩnh quân đội Pháp cũng chia thành hai phe: cánhdiều hâu chủ chiến, đứng đầu là Cao ủy Đông Dương Đácgiăngliơ (D’argenlieu),cánh tương đối hiểu biết, muốn hoà hoãn, tiêu biểu là đại tướng Lơcléc (Leclerc),tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Lơcléc: “Ngài làmột đại quân nhân và là một nhà ái quốc Ngài đã chiến thắng và chiến thắng anhdũng kẻ xâm lăng nước ngài… Lừng danh với những chiến công, ngài lại đi đánhmột dân tộc chỉ muốn độc lập, thống nhất quốc gia và một nước chỉ muốn hợp tácnhư anh em với nước ngài sao?”.(6) Lòng tự trọng bị tổn thương, ít lâu sau Lơcléc
từ chức Tổng chỉ huy, xin chuyển về Pháp, mở đầu cho sự liên tục thay đổi Tổngchỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương
Đánh giá sách lược của Hồ Chí Minh trong giai đoạn này, đồng chí Lê Duẩn
đã viết: “Những biện pháp cực kỳ sáng suốt đã ghi vào lịch sử cách mạng nước tanhư một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn tronghàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”
Nhắc lại những năm tháng đó, đồng chí Phạm Văn Đồng cũng viết: “Nếubấy giờ không có Hồ Chí Minh thì khó lường hết cái gì có thể xảy ra”
Đối với mâu thuẫn địch - ta, chỉ có một cách xử lý duy nhất là “Hễ còn mộttên xâm lược trên đất nước ta, thì ta phải kiên quyết đánh đuổi nó đi” Còn vớimâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, xuất phát từ quan điểm “Hễ là người Việt Namthì ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết mọilực lượng “miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng, không là Việt gian, thân(6) (6) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.5, tr.5].
Trang 6Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với Tổ quốc”, “Không được phép bỏ mộtlực lượng nào sẵn sàng phục vụ quốc gia”.
Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là lấy cái chung, cái tương đồng đểkhắc phục cái riêng, cái dị biệt, lấy nhân ái, khoan đung để cảm hoá, lấy nhânnhượng, thoả hiệp lẫn nhau để giải quyết bất đồng, “biến đại sự thành tiểu sự,biến tiểu sự thành vô sự” Người phê phán một số cán bộ chỉ biết “chia rẽ, bênhvực lớp này chống lại lớp khác, không biết làm cho các tầng lớp nhân nhượng lẫnnhau, hoà thuận với nhau Thậm chí có đôi nơi đất ruộng bỏ hoang, nông gia tathán.Quên rằng lúc này ta phải toàn dân đoàn kết, không chia già trẻ, giàu nghèo
để giữ nền độc lập, chống kẻ thù chung”.(7) Như vậy, trong mâu thuẫn nội bộ nhândân (mâu thuẫn không đối kháng), có mặt thuận và mặt nghịch, bên cạnh mặtmâu thuẫn còn có mặt thống nhất, để tồn tại trong sự thống nhất, phải biết lấythuận chế nghịch, lấy cái chung, cái đồng thuận để khắc phục cái riêng, cái dịbiệt Đó là biện chứng trong cách xử lý của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữamâu thuẫn và thống nhất các mặt đối lập
1.3 Biện chứng giữa cái “bất biến” và cái “vạn biến”.
Đây là một tư tưởng biện chứng hết sức sâu sắc của triết học phương Đông,xuất phát từ quan niệm vạn vật sinh hoá đều do điều lý (quy luật) chi phối, nếunắm được điều lý của vũ trụ thì có thể điều khiển được mọi biến hoá của trời đất(hiện tượng), nghĩa là có thể lấy cái bất biến chế ngự được cái vạn biến, lấy tĩnhchế động, lấy nhu thắng cương…
Phép biện chứng duy vật Macxít cũng đã đề cập đến các cặp mâu thuẫn vàthống nhất, vận động và đứng im, nhưng mối quan hệ giữa bất biến và vạn biếntrong phép biện chứng của Hồ Chí Minh có nguồn gốc chủ yếu từ trong triết họcphương Đông và Việt Nam Xưa Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ởphương Nam, có dặn lại nhiếp chính Ỷ Lan một câu: “Vạn biến như lôi, nhất tâmthiền định”, ý nói cứ lấy nhất tâm bất biến (là một lòng lo giữ việc nước) thì cóthể đối phó với vạn biến (dù có dữ dội như sấm sét)
Vậy ta hiểu “dĩ bất biến ứng vạn biến” mà Hồ Chí Minh nói đến là gì? Theocách nói của triết học, có thể hiểu “bất biên” là quy luật, vì chỉ có quy luật (tựnhiên, xã hội, tư duy) là tồn tại lâu đài, là hầu như bất biến, còn “vạn biến” làhiện tượng, là sự biểu hiện đa dạng của quy luật, cho nên có thể đưa vào quy luật
mà lý giải hiện tượng hay ngược lại, từ phân tích vô vàn hiện tượng có thể tìm raquy luật tương ứng
Phép biện chứng duy vật thường chú trọng nhiều hơn về trình bày sự pháttriển biện chứng của sự vật, coi mâu thuẫn, vận động là tuyệt đối, thông nhất,(7) (7) ” [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.4, tr.65].
Trang 7đứng im là tương đối Trong thực tế vận dụng, đôi khi chúng ta lại có phần coinhẹ, thậm chí bỏ qua cái “bất biến” (tức là cái thống nhất, đứng im vốn là điềukiện tồn tại của sự vật).
Trong vũ trụ và trong cuộc sống xã hội vốn tồn tại phạm trù “bất biến” Hoáhọc được xây đựng trên cơ sở định luật bảo toàn trọng lượng Công thức có thểbiến hoá, nhưng trị số thì không đổi Năng lượng học dựa trên định luật bảo toànnăng lượng Toán học có những hằng số, hằng đẳng thức không đổi Về mặt xãhội, các chế độ xã hội đều có nhiều thay đổi, nhưng trong xã hội nào người tacũng vẫn cần đến ăn, mặc, ở… tức là vẫn phải có sản xuất và phân phối, nghĩa là
sự khác nhau, như C.Mác nói, chỉ là về cách thức sản xuất và cách thức phânphối, còn bản thân sản xuất và phân phối thì xã hội nào cũng vẫn phải có Cũng
có thể gọi đó là các hằng số xã hội Hồ Chí Minh tiếp thu phép biện chứngMacxít, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của tư duy biện chứng phương Đông.Người thường bắt đầu từ cái bất biến để đi tới cái khả biến của xã hội và conngười Thí dụ, Người nói: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điềuthì dân nào cũng giống nhau Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”.(8) Khinghe một vị ủy viên Ban vận động đời sống mới nói cần định ra một cái hướngmới cho cuộc vận động, vì khẩu hiệu “cần, kiệm, liêm, chính” xem ra vừa không
đủ, vừa cổ… thì Hồ Chí Minh ngắt lời: “Cổ, lạ quá, thế cơm các cụ ăn ngày xưa,bây giờ mình ăn cũng cổ à?” Theo Người, ăn cơm, uống nước, hít thở khí trời…không bao giờ cũ, xưa nay và sau này đều phải làm Cần, kiệm, liêm, chính cũngvậy
Trước khi sang Pháp đàm phán, Người chỉ dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng cómột câu: “Mong cụ ở nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến” Ta hiểu đó là Người nói đếnmối quan hệ giữa mục tiêu và phương pháp, nguyên tắc và sách lược Mục tiêucủa chúng ta là độc lập, thống nhất của Tổ quốc, tự do hạnh phúc của nhân dân,
đó là điều bất biến còn phương pháp - sách lược có thể tuỳ tình hình mà biến hoá
đa dạng, thay đổi linh hoạt, nhưng không được xa rời cái bất biến Người nói:
“Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ.Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt Cáccông tác phải phối hợp và liên hệ với nhau, bộ phận phối hợp với toàn cục.”(9)
Cái bất biến cơ bản nhất mà Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định trong toàn bộ
sự nghiệp cách mạng của Người, của dân tộc Việt Nam, là hòa bình, độc lập dântộc, thống nhất Tổ quốc, dân chủ, và hạnh phúc của nhân dân Như vậy, cái bấtbiến chính là mục tiêu, là chiến lược cách mạng xuyên suốt, cái vạn biến khôngchỉ là “muôn sự thay đổi”, mà còn là sự vận dụng linh hoạt các sách lược, con(8) (8) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.4, tr.397]
(9) (9) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.8, tr.555]
Trang 8đường, cách thức, lộ trình phù hợp với từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, để thực hiệnhiệu quả nhất mục tiêu, chiến lược đã được xác định.
Cái bất biến cũng được xác định trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể Ví dụnhư: Trong đấu tranh ngoại giao, phải quán triệt quan điểm độc lập tự chủ, tự lực,
tự cường - có nghĩa là dân tộc Việt Nam phải tự mình vạch ra đường lối, chínhsách đối ngoại độc lập, tự chủ trên cơ sở lợi ích quốc gia và phù hợp với chuẩnmực quốc tế, thích ứng với xu thế thời đại; trong lĩnh vực nhận thức luận, cái bấtbiến là lương tâm, bản lĩnh, trí tuệ, sự bình tĩnh, sáng suốt, thái độ khách quan,khoa học (không được để cảm tính thay cho lý trí); nhìn cho rộng, suy cho kỹ,luôn làm chủ tình thế “thấy trước, chuẩn bị trước”; “Muốn thành công: thì phảibiết trước mọi việc”; phải tích cực chuẩn bị các điều kiện, nhưng phải biết chọnthời cơ để giành thắng lợi từng bước, giành thắng lợi từng bộ phận
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn thực hiện được cái bấtbiến, phải ứng vạn biến - linh hoạt kết hợp hài hòa giữa chiến lược và sách lược,giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo, muốn “ứng vạn biến” phải nhậnthức đúng về thế và lực của chủ thể, của quốc gia, và của đối tượng, cái thuận vànghịch của tình hình thế giới trong từng giai đoạn và thời điểm cụ thể; đồng thời,
sự vạn biến không được xa rời cái bất biến mà phải phục vụ cái bất biến, sự vạnbiến phải biết điểm dừng, tránh làm tổn hại cái bất biến, nhất là không được phạmđến cái bất biến - là chủ quyền quốc gia
Trong cuộc đời cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lợi íchquốc gia, dân tộc lên trước hết, trên hết Ngay sau khi Cách mạng Tháng Támnăm 1945 thành công, Người đã gửi đến các nước trên thế giới thông điệp khẳngđịnh: (1) Việt Nam là một nước độc lập - vì, chỉ những quốc gia độc lập, tự dothật sự, mới có quyền quyết định đường lối đối nội và đối ngoại của đất nướcmình; (2) Khẳng định Việt Nam thực hành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,hòa bình và hợp tác với các nước trên cơ sở “tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủquyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ,bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình”(10) ;(3) Thay mặt quốc giaViệt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Nhân dân chúng tôi thành thật mongmuốn hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng
để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độclập cho đất nước”.(11)
Những năm 1945 - 1946, trong hoàn cảnh hiểm nghèo, phải đối phó vớinhiều kẻ thù, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ(10) (10) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.10, tr.114];
(11) (11) [Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, HN, 2011, t.4, tr.522]
Trang 9Chí Minh, trên cơ sở xác định “dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết”, đã tỉnh táo
đề ra những đối sách khôn khéo, phân hóa cao độ kẻ thù: Lúc thì chủ trương
“Hoa - Việt thân thiện”, chọn thời cơ thương lượng để hòa với quân Tưởng, hạnchế hành động chống phá cách mạng Việt Nam của chúng và để rảnh tay đối phóvới thực dân Pháp; lúc thì chọn thời cơ thương lượng hòa hoãn với Pháp để đuổinhanh quân Tưởng về nước, thực hiện chủ trương “hòa để tiến” Cũng trong năm
1946, trước sự hiếu chiến, khiêu khích của thực dân Pháp, để đẩy lùi nguy cơxung đột lớn, tranh thủ thêm thời gian xây dựng lực lượng, với phương châm
“còn nước còn tát”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký những hiệp ước nhân nhượngvới Pháp, trong đó có Tạm ước 14-9, đây là “nhân nhượng cuối cùng của Đảng vàChính phủ ta, nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền đất nước, là hại đếnquyền lợi cao trọng của dân tộc” Lịch sử cho thấy, đối sách biện chứng giữa “dĩbất biến” và “ứng vạn biến”, là một trong những nhân tố, yếu tố cơ bản đưa nước
ta ra khỏi tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” trong buổi đầu vừa mới giành đượcchính quyền từ tay đế quốc, phong kiến
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc (1946 1975), Việt Nam phải chiến đấu với những đối phương mạnh hơn gấp nhiều lần
-về tiềm lực kinh tế, quân sự Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “CácVua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”, vàthấm nhuần quan điểm độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ;trong hoàn cảnh vô vàn khó khăn, thử thách, nhưng chúng ta đã xây dựng đượcthực lực mạnh mẽ, và tạo lập được một mặt trận nhân dân thế giới rộng rãi đoànkết, ủng hộ Việt Nam, đưa các cuộc kháng chiến chống xâm lược đến thắng lợihoàn toàn
Vào thời kỳ đổi mới, trong quan hệ quốc tế, mục tiêu đối ngoại vì lợi ích
quốc gia, được thể hiện qua các Văn kiện Đại hội và nghị quyết của Đảng, qua
chủ trương đối ngoại “hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tếtoàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu caonhất” Mục tiêu phục vụ lợi ích đất nước cũng được khẳng định cụ thể, trực tiếp
trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), và trong Báo cáo chính trị của Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) Ở cả hai văn kiện, Đảng đều xác định mụctiêu đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc ” Việc nêu lợi ích quốc gia, dântộc là mục tiêu trực tiếp của đối ngoại, điều đó có nghĩa: Bảo đảm lợi ích quốcgia, dân tộc là nguyên tắc mà tất cả các hoạt động đối ngoại, từ đối ngoại Đảng,ngoại giao Nhà nước, đến ngoại giao nhân dân, đều phải tuân thủ
Như vậy, quan điểm “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh,được hiểu một cách tổng quát là, lấy cái không thay đổi (bất biến) để đối phó với
Trang 10muôn sự thay đổi; đối phó với muôn sự thay đổi (ứng vạn biến) để thực hiện, bảo
vệ, củng cố, phát triển cái bất biến Đây là quan điểm mang tính nguyên tắcphương pháp luận biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động đốingoại
1.4 Phương pháp luận biện chứng trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là
sự tổng kết tinh hoa triết học biện chứng của phương Đông và phương Tây.
Hồ Chí Minh đã vận dụng phương pháp biện chứng một cách rất hiệu quảtrong chỉ đạo cách mạng, đưa tới những thắng lợi to lớn chưa từng có trong lịch
sử dân tộc Đúng như một nhà báo Pháp đã nhận xét: “Chính sự kết hợp màkhông ai bắt chước nổi giữa tính mềm dẻo với tính cương nghị, giữa tính linhhoạt về chính trị với tính cứng rắn về nguyên tắc, giữa việc vận dụng truyềnthống yêu nước với sự phân tích Macxít đã tạo nên tính chất độc đáo của ông HồChí Minh”
Cũng xuất phát từ phép biện chứng Đông - Tây kết hợp này, chúng ta thấy
Hồ Chí Minh đã giải quyết rất thành công, vừa khoa học, vừa nhuần nhuyễn cácmối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, kế thừa và đổi mới, dântộc và giai cấp, nội lực và ngoại lực, lực - thế, thời…
Có thể khái quát tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp sáng tạo đạtđến sự nhuần nhuyễn giữa tư duy triết học Mác -Lênin mà cốt lõi là tư duy biệnchứng duy vật trong sự hoà quyện với tư duy duy triết học và văn hoá phươngĐông, phương Tây, tư duy, trí tuệ, văn hoá dân tộc Việt Nam và phong cách HồChí Minh Nhờ đó, Người đã tìm ra bản chất, quy luật và hình thành nên hệ thốngluận điểm về chủ nghĩa thực dân, về cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội có những quyết định đúng đắn, sáng tạo, đảm bảo cho cáchmạng Việt Nam giành thắng lợi Từ quan niệm trên, có thể thấy tư tưởng triết học
Hồ Chí Minh có một số đặc trưng biện chứng cơ bản như sau:
- Trước hết, tư duy triết học Hồ Chí Minh là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữatính khoa học và tính cách mạng, giữa lập trường, quan điểm và phương phápnhận thức, hành động Sự kết hợp này vừa là đặc trưng tư duy triết học Hồ ChíMinh vừa là nguyên tắc của Hồ Chí Minh nhận thứ và hành động Thể hiện sựnhất quán trong tư tưởng triết học của Người
- Tư duy triết học Hồ Chí Minh là tư duy độc lập, sáng tạo, thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn, suy nghĩ và hành động, giữa lời nói và việc làm thể hiện sựhoàn chỉnh chu kỳ vận động: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn hoạt động cách mạng Việt Nam
Trang 11- Tư duy triết học Hồ Chí Minh được thể hiện bằng ngôn ngữ trong sáng,giản dị, phổ thông, dễ hiểu, dễ xâm nhập vào quần chúng Có thể coi đây là đặctrưng đặc sắc, độc đáo của tư duy triết học Hồ Chí Minh.
Việc nắm vững thực chất phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin và truyền thống triết học phương Đông, nắm vững ngôn ngữ của quần chúngnhân dân và quan hệ mật thiết với họ đã giúp Người diễn đạt tư tưởng triết họcduy vật biện chứng vốn là tư duy khoa học, có hàm lượng trí tuệ cao, có sự trừutượng hoá và khái quát cao, sâu sắc trở nên phổ thông, dễ hiểu mà vẫn giữ đượcbản chất khoa học, cách mạng của nó
Nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, xuyên suốt tư tưởng triết học Hồ ChíMinh là xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng quy luật khách quan: nắmvững quan điểm thực tiễn và thực hiện đúng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn; giải quyết mọi việc phải toàn diện, nhấn mạnh trọng điểm và lấyhiệu quả làm mục đích; xem xét sự việc trong sự phát triển, thực hiện "dĩ bấtbiến, ứng vạn biến”; giải quyết mọi việc đều vì con người, do con người, tất cả vìhạnh phúc của nhân dân
Phương pháp luận Hồ Chí Minh là phương pháp luận duy vật biện chứng,duy vật lịch sử Về thực chất, đó là phép biện chứng Hồ Chí Minh, là phươngchâm xem xét và hành động khoa học được Hồ Chí Minh đúc kết từ sự tiếp thu,
kế thừa, vận dụng sáng tạo và bổ sung, phát triển phép biện chứng duy vậtMacxít, kết hợp với kế thừa truyền thống tư duy dân tộc, tư duy triết học phươngĐông và thực tiễn giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam
Khái quát lại, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm,quan niệm duy vật biện chứng về con đường cách mạng Việt Nam, thực hiện cáchmạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủnghĩa xã hội, không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xâydựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh
Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác - Lênin, bao quát nhiều lĩnhvực rộng lớn và phong phú mà nền tảng của nó là tư tưởng triết học Tư tưởngtriết học Hồ Chí Minh không chỉ là sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo triết học Mác-Lênin mà còn có sự phát triển Triết học Mác -Lênin, nhất là một số vấn đề vềchủ nghĩa duy vật lịch sử, nhờ đó Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú, giàu
có thêm kho tàng lý luận Mác -Lênin nói chung, triết học Mác -lênin nói riêng
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoahọc cách mạng, là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốthơn nửa thế kỷ qua Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà
Trang 12hạt nhân là thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng luôn là nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân ta
Tóm lại, tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh được thể hiện một phần quantrọng trong phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh Về bản chất, đó là phươngpháp biện chứng duy vật Macxít được vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, có sựkết hợp với tư duy biện chứng phương Đông và phương Tây, in đậm dấu ấnphương Đông và Việt Nam, nổi bật lên trong đó là sự kết hợp tính cương nghị vềnguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược, lấy cái đại đồng để khắcphục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc,phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng lợi cho độc lập dân tộc để từng bước
đi lên Chủ nghĩa xã hội Phương pháp luận biện chứng Hồ Chí Minh cũng do đó
mà có vai trò rất to lớn đối với công cuộc đổi mới của chúng ta, đặc biệt trong bốicảnh quốc tế đang chuyển biến nhanh chóng và phức tạp hiện nay trong đó có vấn
đề tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN BIỆN CHỨNG
TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC HỒ CHÍ MINH ĐỂ
GIẢI QUYẾTVẤN ĐỀ TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN
BIÊN GIỚI, BIỂN ĐẢO HIỆN NAY.
2.1 Thực trạng vấn đề tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo hiện nay 2.1.1 Thực trạng vấn đề tranh chấp chủ quyền biên giới giữa Việt Nam và Campuchia.
2.1.1.1 Lịch sử hình thành biên giới Việt Nam – Campuchia.
Biên giới Việt Nam-Campuchia bắt đầu được hình thành từ thế kỷ XVIII, dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong của nước Đại Việt: ban đầu baoquanh xứ Sài Gòn-Đồng Nai vào thế kỷ XVII, đến thế XVIII thêm đường baoquanh xứ Hà Tiên ven bờ vịnh Thái Lan tới tận Vũng Thơm, Cần Vọt Sang cuốithế kỷ XVIII quá trình Nam tiến của người Việt kết thúc, và tới đầu thế kỷ XIXthời nhà Nguyễn, đường biên giới này đã được nối liền và định hình rõ gồm chủyếu biên giới giữa trấn Gia Định (1802-1808) hay Gia Định Thành (1808-1832),sau là Nam Kỳ Lục tỉnh(1832-1867) của nước Đại Nam (Việt Nam) với Vươngquốc Cao Miên Tuy nhiên, biên giới này không ổn định, (đặc biệt là giai đoạn1835-1840, phần lớn Cao Miên bị sáp nhập vào Đại Nam thành Trấn Tây
XIX (1841-1867), đến khi thực dân Pháp chiếm đóng Nam kỳ (1862-1867) và ápđặt chế độ bảo hộ ở Cao Miên (1863), đường biên giới này khá ổn định, và đượccông nhận quốc tế bởi hòa ước 3 bên Đại Nam-Cao Miên-Xiêm La (1845)
Trang 13Trong thời kỳ thực dân Pháp đô hộ Nam Kỳ, Cao Miên và sau là toàn cõiĐông Dương, biên giới Việt Nam-Campuchia chỉ mang tính chất là đường ranhgiới hành chính giữa các xứ Việt Nam thuộc Pháp với xứ Campuchia thuộc Phápđều nằm trong Liên bang Đông Dương (1887-1954), bao gồm hai phần: Đoạnbiên giới giữa Nam Kỳ thuộc Pháp và Campuchia được hoạch định bởi thỏa ướcPháp-Campuchia năm 1873, đã được phân giới cắm mốc nhưng đến nay còn rất ítdấu tích trên thực địa Đoạn biên giới giữa hai xứ bảo hộ của Pháp là Trung Kỳ
và Campuchia không có văn bản phân định đường biên giới, chỉ có nghị định xácđịnh ranh giới với các tỉnh Trung Kỳ, chưa được phân giới cắm mốc Hai phầnbiên giới trên đã được chính quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ
lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Liên bang Đông Dương xuất bản Đường biên giớipháp lý giữa hai nước Việt Nam và Campuchia hiện nay, trên cơ sở kế tục đườngbiên giới do Pháp để lại sau khi chiến tranh Đông Dương kết thúc, cũng chínhđường ranh giới (bản đồ Bonne) khá ổn định giữa các xứ Nam Kỳ, Trung Kỳ vàCampuchia nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp thời kỳ đầu và giữa thế
kỷ XX (1914-1945 và 1945-1954)
2.1.1.2 Tình hình xung đột biên giới giữa Việt Nam và Campuchia trong những năm qua.
thuẫn Tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục trong các năm 1977 và
1978, nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi Sài Gòn thất thủ.Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc; sáungày sau, quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở
lại các đảo này Trận đánh ở Phú Quốc làm nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam mới thành lập lo ngại, vì cùng thời gian đó, quan hệ Việt Nam và TrungQuốc đang xấu đi Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấnTrung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lựclượng vũ trang Khmer Đỏ
Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiềucuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc xâm nhập quy mô lớn vào ViệtNam Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính quyKhmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An
25 tháng 9 cùng năm Lần này, 4 sư đoàn quân Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm
ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôinhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích Để bảo vệ chủquyền lãnh thổ, ngày 31 tháng 12năm 1977, sáu sư đoàn Quân đội Nhân dân ViệtNam đánh vào sâu trong đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới rút lui từ