Triết học vip
Trang 1LỜI NểI ĐẦU
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của t duy triết học gắn liền với cuộc đấu tranh của hai phơng pháp t duy biện chứng và siêu hình Lịch sử phép biện chứng đã trải qua quá trình phát triển lâu dài và đã
có lúc bị phép siêu hình thống trị Song với tính chất khoa học và cách mạng của mình, phép biện chứng mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật
đã khẳng định vị trí của mình là học thuyết về sự phát triển dới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng chỉ khi nào con ngời nắm vững những lý luận về phép biện chứng và vận dụng sáng tạo các nguyên tắc phơng pháp luận của nó phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì quá trình cải tạo tự nhiên và biến đổi xã hội mới thực sự mang tính cách mạng triệt để Ngợc lại, quan điểm siêu hình luôn xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập với lối t duy cứng nhắc sẽ dẫn tới những hạn chế và sai lầm không thể tránh khỏi trong tiến trình phát triển xã hội Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của phép biện chứng, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng đợc đặt ra nh một nhu cầu cần thiết
và tất yếu
Sự hình thành và phát triển phép biện chứng duy vật là một quá trình lâu dài và phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau với các trình độ phát triển cao thấp khác nhau Trong khuôn khổ của bài tiểu luận triết học này, tụi xin đợc trình bày nhận thức của mình về những nét cơ bản nhất của lịch
sử hình thành và phát triển phép biện chứng từ thời cổ đại đến cận đại cũng như ý nghĩa của việc nghiờn cứu phộp biện chứng Vỡ những lý do trờn tụi chọn
đề tài: “Sự hỡnh thành phộp biện chứng từ thời cổ đại đến cận đại và ý nghĩa của việc nghiờn cứu lịch sử phộp biện chứng” làm bài tiểu luận cho mỡnh.
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: SỰ HèNH THÀNH PHẫP BIỆN CHỨNG
THỜI KỲ CỔ ĐẠI
Ba nền triết học tiêu biểu của thời kỳ cổ đại đợc biết đến là nền triết
Trang 2học ấn Độ cổ đại, triết học Trung Quốc cổ đại và triết học Hy Lạp cổ đại
1.1 Phộp biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI TCN Cơ sở kinh
tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với t liệu sản xuất và ngời nô lệ Khoa học lúc đó cha phân ngành, các nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ
đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Đời sống chính trị của Hy Lạp bấy giờ sôi động, những quan hệ thơng mại với nhiều nớc khác nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nớc ấy, sự quan sát các hiện tợng tự nhiên một cách trực tiếp nh một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát triển thế giới quan duy vật và biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại Có thể tìm hiểu các t tởng biện chứng nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại qua một số tỏc giả tiêu biểu sau đây:
a Talét
Thành tựu nổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng tự phát Ông cho rằng nớc là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới Mọi vật đều sinh ra từ nớc và khi phân huỷ lại biến thành nớc Theo Talét, vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi vật biến đổi không ngừng mà nền tảng là nớc Tuy nhiên, các quan điểm triết học duy vật của Talét mới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ, cảm tính Ông cha thoát khỏi ảnh hởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ khi ông cho rằng thế giới đầy rẫy những
vị thần linh
b Anaximăngđrơ
Ông là ngời Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc vấn đề phát sinh
và phát triển của các loài động vật Theo ông, động vật phát sinh dới nớc và sau nhiều năm biến hoá thì một số giống loài dần thích nghi với đời sống trên cạn, phát triển và hoàn thiện dần, con ngời hình thành từ sự biến hoá của cá Phỏng đoán của ông còn cha có căn cứ khoa học song đã manh nha thể hiện yếu tố biện chứng về sự phát triển của các giống loài động vật Khi giải quyết vấn đề bản thể luận triết học, Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở hình thành vạn vật trong vũ trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định hình,
Trang 3vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà ngời ta không thể trực quan thấy đợc Nếu so với Talét thì Anaximăngđrơ có bớc tiến xa hơn trong sự khái quát trừu tợng
về phạm trù vặt chất
c Hêraclít
Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác - Lênin, Hêraclít là ngời sáng lập ra phép biện chứng, hơn nữa, ông là ngời xây dựng phép biện chứng trên lập trờng duy vật Phép biện chứng của Hêraclít cha đợc trình bày dới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học nh sau này, nhng hầu
nh các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đã đợc ông đề cập dới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý Các t tởng biện chứng của
ông thể hiện trên các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Theo
Hêraclít, không có sự vật, hiện tợng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngợc lại
Thứ hai, quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong
mọi sự vật, hiện tợng Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi của những mặt đối lập, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập
Thứ ba, theo Hêraclít, sự vận động và phát triển không ngừng của thế
giới do quy luật khách quan (logos) quy định Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con ngời Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan
Lý luận nhận thức của Hêraclít còn mang tính chất duy vật và biện chứng sơ khai, nhng về cơ bản là đúng đắn ở thời cổ đại, xét trong nhiều
hệ thống triết học khác không có t tởng biện chứng nào sâu sắc nh vậy Heraclít đã đa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bớc mới với những quan
điểm duy vật và những yếu tố biện chứng Học thuyết của ông đã đợc nhiều nhà triết học cận đại, hiện đại kế thừa và phát triển sau này Mác và
Ăngghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị triết học của Hêraclít, coi
ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, Mác và Ăngghen cũng vạch rõ những hạn chế, sai lầm của Hêraclít về mặt chính trị Đó là tính chất phản dân chủ, thù địch với nhân dân và ông chủ trơng dùng chính quyền để dập tắt nhanh chóng phong trào dân chủ
Trang 4d Pácmênít
Khái niệm trung tâm trong triết học của Pácmênít là tồn tại hết sức trừu tợng song cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát Ông cho rằng với cách nhìn cảm tính thì thế giới vô cùng đa dạng, phong phú, biến
đổi không ngừng và vô cùng sinh động Nhng bằng con đờng cảm tính đơn thuần không thể khám phá ra bản chất đích thực của thế giới Chỉ với cách nhìn triết học phù hợp với trí tuệ lý tính mới khám phá ra bản chất đích thực của thế giới Ông cho rằng bản chất của mọi vật trong thế giới là tồn tại Học thuyết về tồn tại của Pácmênít đánh dấu một bớc tiến mới trong sự phát triển t tởng triết học Hy Lạp, mang tính khái quát cao Tuy nhiên, hạn chế trong học thuyết về tồn tại của ông là ở chỗ ông đã đồng nhất tuyệt đối giữa t duy và tồn tại và mang tính chất siêu hình vì ông cho rằng tồn tại là bất biến
e Dênông
Dênông là học trò của Pácmênít Công lao của ông là đã đặt ra nhiều vấn đề biện chứng sâu sắc về mối liên hệ giữa tính thống nhất và tính nhiều
vẻ của thế giới, giữa vận động và đứng im, giữa tính gián đoạn của thời gian và không gian, giữa tính hữu hạn và tính vô hạn, và về sự phức tạp trong việc thể hiện quá trình vận động biện chứng của sự vật vào t tởng, vào lôgíc của khái niệm Tuy nhiên, những nghịch lý Apôria của ông chỉ có thể
đợc giải quyết nếu đứng trên lập trờng duy vật biện chứng trong nhận thức
sự vật
f Empêđôcơlơ
Empêđôcơlơ cho rằng nguồn gốc vận động của mọi sự vật là do sự tác
động của hai lực đối lập là Tình yêu và Căm thù Quan điểm này là một bớc thụt lùi so với Hêraclít, bởi vì triết học Hêraclít giải thích nguồn gốc vận
động của vật chất là do sự xung đột của những mặt đối lập nội tại của sự vật tuy nhiên, Empêđôcơlơ cũng có một số phỏng đoán thiên tài về sự tiến hoá của giới hữu cơ Sự giải thích này của ông tuy còn ngây thơ nhng đã manh nha hình thành t tởng biện chứng về quá trình tiến hoá của sinh vật theo con đờng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
g Đêmôcrít
Đêmôcrít là một trong những ngời đã phát triển thuyết nguyên tử lên một trình độ mới Một mặt, ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến của Pácmênít khi coi các nguyên tử là bất biến, mặt khác, ông kế thừa quan điểm của Hêraclít cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng
Trang 5Đêmôcrít đã nêu ra lý thuyết về vũ trụ học Lý thuyết này đợc xây dựng trên cơ sở lý luận nguyên tử về cấu tạo của vật chất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và có một ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử triết học
Đêmôcrít khẳng định: vũ trụ là vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu diệt Quan điểm của Đêmôcrít về vận
động gắn liền với vật chất là một phỏng đoán có giá trị đặc biệt Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thân, tự
nó Tuy nhiên ông đã không lý giải đợc nguồn gốc của vận động Dựa trên học thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đã đi tới quan điểm quyết định luận Đó là thừa nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên và khách quan của các hiện tợng tự nhiên Đây là một quan điểm có giá trị của Đêmôcrít
đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại Về mặt bản thể luận, Đêmôcrít
đã có công đa lý luận nhận thức duy vật lên một bớc mới Khác với nhiều nhà triết học trớc đó, phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã chia nhận thức thành hai dạng là nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý Mặc dù triết học của
Đêmôcrít còn mang tính chất thô sơ, chất phác song những đóng góp của
ông về các t tởng biện chứng và thế giới quan duy vật là rất đáng ghi nhận
h Xôcrát và Platôn
Xôcrát và Platôn là hai đại diện tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại Triết học Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo
ra bớc tiến mới trong sự phát triển triết học Hy Lạp cổ đại Nếu các nhà triết học trớc Xôcrát chủ yếu bàn về vấn đề khởi nguyên thế giới, về nhận thức luận thì Xôcrát là ngời đầu tiên đa đề tài con ngời trở thành chủ đề trọng tâm nghiên cứu của triết học phơng Tây Theo Xôcrát, ý thức về sự vật của những ngời trong đàm thoại, ngoài những yếu tố chủ quan còn có nội dung khách quan, có tri thức phổ biến mang tính tổng quát Ông cho rằng nếu không hiểu cái chung, cái phổ biến thì ngời ta không thể phân biệt
đợc cái thiện - cái ác, cái tốt - cái xấu Muốn phát hiện ra cái thiện phổ biến thì phải có phơng pháp tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận, toạ
đàm, luận chiến Đây chính là yếu tố biện chứng trong triết học Xôcrát, song nó lại dựa trên lập trờng duy tâm vì Xôcrát cho rằng giới tự nhiên là
do thần thánh an bài
Platôn là học trò của Xôcrát Các quan điểm triết học của ông chứa
đựng những yếu tố biện chứng Ông thừa nhận sự vận động của thế giới
Trang 6song đó chỉ là vận động theo sự điều khiển của ý niệm Ông chia thế giới thành hai loại:
- Thế giới của những ý niệm: là thế giới tồn tại chân thực, bất biến, vĩnh viễn, tuyệt đối và là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính
- Thế giới của các sự vật cảm tính: là thế giới tồn tại không chân thực, thờng xuyên biến đổi và phụ thuộc vào thế giới của những ý niệm
Lý luận nhận thức của Platôn cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng thông qua các khái niệm đối lập và phơng pháp đối chiếu những mặt
đối lập Nhng đó là biện chứng duy tâm - biện chứng của các khái niệm, tách rời hiện thực, từ bỏ cảm giác, chỉ nhận thức bằng t duy thuần tuý
Tóm lại, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn còn nhiều
hạn chế do chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đơng thời Song sự xuất hiện của hệ thống triết học Platôn cùng với phép biện chứng duy tâm đã để lại dấu ấn trong lịch sử triết học bằng cuộc đấu tranh giữa hai đờng lối triết học Đêmôcrít và Platôn, tạo điều kiện cho t duy triết học Hy Lạp cổ đại có cơ hội khám phá và phát triển
i Arixtốt
Xu hớng duy vật và t tởng biện chứng trong triết học tự nhiên của Arixtốt thể hiện ở việc ông thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại bên ngoài sự vật, hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự vật khác Ông cho rằng, vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật hiện tợng của giới tự nhiên Ông cũng khẳng định, vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động Trong lập luận này, ông đã tiến gần đến quan niệm vận động là tự thân của vật chất Song cuối cùng ông lại rơi vào duy tâm khi cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động Tuy nhiên, nếu nh trớc đây Hêraclít và
Đêmôcrít cha phân biệt đợc các hình thức của vận động thì đến Arixtốt là ngời đầu tiên đã hệ thống hoá các hình thức vận động thành sáu dạng khác nhau Lý thuyết về vận động của Arixtốt là một thành quả có giá trị cao của khoa học cổ Hy Lạp Về lôgíc học, Arixtốt đã cố gắng giải quyết mối quan
hệ thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng nhng ông không giải quyết đợc vấn đề chuyển hoá từ cái riêng thành cái chung Lôgíc học hình thức của Arixtốt tuy cha hoàn hảo song ông đã để lại cho nhân loại một môn khoa học về t duy Chính ông đã nghiên cứu những hình thức căn bản
Trang 7nhất của t duy biện chứng mà không tách rời chúng khỏi hiện thực Tuy nhiên, do hạn chế về lịch sử và là nhà t tởng của giai cấp chủ nô Hy Lạp cho nên về bản thể luận triết học, ông dao động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nên ông lại rơi vào phái nhị nguyên luận
Tóm lại, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện rất rõ nét cuộc đấu tranh
giữa biện chứng và siêu hình mà song song với nó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Với các thành tựu nổi bật nh thuyết nguyên tử của Đêmôcrít, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát, Platôn và phép biện chứng chất phác của Arixtốt, triết học Hy Lạp cổ đại
đã bao chứa mầm mống của tất cả thế giới quan về sau này và đánh dấu sự phát triển t duy biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại Chính vì vậy, Lênin coi phép biện chứng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là khởi nguyên lịch sử phép biện chứng
Chương II: Sự hỡnh thành phộp biện chứng thời kỳ phục hưng và cận đại ở Tõy Âu
Trớc khi bớc sang thế kỷ XV- XVI ở Tây Âu là thời đại phục hng, lịch sử triết học đã trải qua thời kỳ trung cổ với sự thống trị của t tởng thần học Do đó, chủ nghĩa kinh viện trở thành nét chủ đạo của triết học Tây Âu thời trung cổ Trong giai đoạn này, cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đợc biến tớng thành cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm của phái Duy danh và Duy thực Có thể nói đây là bớc lùi tạm thời trong lịch sử phát triển t duy triết học nói chung và t duy biện chứng nói riêng, song vẫn chứa đựng những nhân tố cho sự phát triển mới của triết học trong thời đại phục hng
2.1 Phộp biện chứng trong thời kỳ phục hưng ở Tõy Âu
Trong thời kỳ này, chủ nghĩa duy vật đợc khôi phục và biến đổi cùng với sự biến đổi của khoa học tự nhiên và dựa vào những thành tựu của khoa học tự nhiên để tiến hành cuộc đấu tranh chống thế giới quan thần học Nhiều học thuyết triết học thời kỳ này đã phục hồi phép biện chứng tự phát thời cổ đại và khái quát thành những thành tựu của khoa học tự nhiên tiên tiến Một số t tởng biện chứng nổi bật của thời kỳ này đợc thể hiện trong triết học của Kudan và Brunô
a Triết học Kudan
T tởng biện chứng của Kudan đợc thể hiện qua học thuyết về sự phù hợp của các mặt đối lập Song lập trờng triết học của ông lại không thoát
Trang 8khỏi tính chất duy tâm thần bí khi cho rằng Thợng đế là sự thống nhất giữa các mặt đối lập Kudan cũng đã nêu lên tính tơng đối của nhận thức con
ng-ời, mặc dù còn hạn chế song nó đã đặt nền móng cho t tởng biện chứng về quá trình nhận thức cho triết học về sau
b Triết học của Brunô
Brunô có vai trò quan trọng trong sự phát triển phép biện chứng Ông nêu ra t tởng biện chứng về sự phù hợp của các mặt đối lập trong sự thống nhất vô tận của vũ trụ Theo ông, trong giới tự nhiên, mọi cái đều có liên hệ với nhau và đều vận động Cái này mất đi thì cái khác ra đời, không chỉ là sự vận động mà còn là sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập, ví dụ nh tình yêu chuyển thành căm thù và ngợc lại hay thuốc độc cũng chữa đợc bệnh Về mặt nhận thức luận, Brunô đã đa ra quan niệm biện chứng trong việc nhận thức giới tự nhiên Ông cho rằng ai muốn nhận thức những bí mật của giới tự nhiên thì hãy xem xét cái tối thiểu và cái tối đa của những mâu thuẫn và những mặt đối lập Mặc dù có những t tởng tiến bộ nhng thế giới quan triết học của Brunô vẫn chịu ảnh hởng t tởng triết học sai lầm của Arixtốt coi vật chất đầu tiên là hoàn toàn thụ động, phải nhờ đến tính năng động của hình dạng thì nó mới có tính năng động
2.2 Phộp biờn chứng trong thời kỳ cận đại ở Tõy Âu
Triết học thời kỳ này gắn chặt với các thành tựu của khoa học tự nhiên Nếu nh triết học cổ đại dựa trên cơ sở quan sát và các phỏng đoán thiên tài thì thời kỳ này triết học lại dựa vào các thành tựu của khoa học tự nhiên, khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên và đợc chứng minh bằng khoa học tự nhiên Các nhà khoa học tự nhiên thời kỳ này cũng đồng thời là nhà triết học Tuy nhiên, triết học Tây Âu thời cận đại lại rơi vào siêu hình, máy móc Các nhà khoa học thời kỳ này đi sâu vào từng lĩnh vực riêng biệt để nhận thức Điều này cho phép nhận thức sâu sắc về tự nhiên song lại tạo ra một thói quen xem xét tự nhiên trong trạng thái cô lập, tĩnh tại của nó Từ đó làm xuất hiện sự thống trị của phơng pháp t duy siêu hình Tuy nhiên một số học thuyết triết học thời kỳ này vẫn chứa đựng những quan điểm biện chứng sâu sắc, với các đại biểu nh Phrăngxi Bêcơn, Barút Xpinôda, Rơnê Đêcáctơ
a Triết học của Phrăngxi Bêcơn
Về cơ bản, P Bêcơn là một nhà duy vật, ông thừa nhận thế giới là sự kết hợp những biến đổi khác nhau của vật chất và đã có vật chất thì nó luôn vận động, biến đổi Ông đa ra 19 hình thức vận động, trong đó có một hình
Trang 9thức đặc biệt là đứng im Tuy bàn về sự vận động song ông lại quy vận
động thành các hình thức vận động cơ học, vì vậy, P.Bêcơn cha thoát khỏi quan điểm của một nhà duy vật siêu hình Tuy nhiên, cống hiến mới của
ông là đã coi đứng im là một hình thức vận động và coi vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất Về nhận thức luận, P Bêcơn có đóng góp lớn về phép quy nạp trong nhận thức, song ông lại đề cao nhận thức kinh nghiệm Vì vậy, nhãn quan triết học của ông vẫn mang tính chất siêu hình
b Triết học của Barút Xpinôda
Xpinôda là một nhà t tởng duy vật xuất sắc của Hà Lan Triết học của
ông chứa đựng một số yếu tố biện chứng, thể hiện qua nguyên lý Causasui (nguyên nhân tự nó) Trong đó, ông cho rằng quan hệ giữa thực thể và dạng thức là sự thống nhất giữa cái chung và cái đơn nhất, giữa cái duy nhất và cái đa dạng T tởng này đã đi gần tới quan điểm về mối liên hệ phổ biến và
sự ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tợng trong giới tự nhiên Về nhận thức luận, ông cho rằng con ngời có khả năng nhận thức thế giới song
ông lại rơi vào quan điểm siêu hình khi cờng điệu hoá nhận thức kinh nghiệm, hạ thấp vai trò của t duy trừu tợng và khái quát khoa học
c Triết học của Rơnê Đêcáctơ
Rơnê Đêcáctơ là đại biểu xuất sắc nhất của triết học Pháp thế kỷ XVII Đêcáctơ cho rằng không gian và thời gian là thuộc tính gắn liền với vật thể, vận động là không thể bị tiêu diệt, nó luôn luôn gắn liền với các vật thể, vật thể luôn vận động, chuyển đổi vị trí, tức là vận động trong không gian Tuy nhiên, trong giai đoạn này khoa học cha phát triển đến trình độ cho phép phát hiện ra các hình thức vận động khác nhau của vật chất cho nên Đêcáctơ hiểu vận động của vật chất chỉ là vận động cơ giới hay chuyển dịch vị trí trong không gian Về nhận thức luận, Đêcáctơ đã tách rời hai giai
đoạn cảm tính và lý tính của nhận thức nên ông vẫn là một nhà duy vật siêu hình
Nh vậy, ngay cả trong giai đoạn phơng pháp t duy siêu hình giữ vị trí thống trị thì trong các học thuyết triết học vẫn xuất hiện những yếu tố biện chứng sâu sắc Do sự kìm hãm của phơng pháp siêu hình từ khoa học tự nhiên chuyển sang triết học, phép biện chứng cha có cơ hội để phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ phục hng và cận đại song đây là bớc chuẩn bị cho phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức ra đời
CHƯƠNG III: PHẫP BIỆN CHỨNG VÀ PHẫP SIấU HèNH,
Trang 10í NGHĨA CỦA VIỆC NGHIấN CỨU LỊCH SỬ HèNH THÀNH PHẫP BIỆN CHỨNG
3.1 Phõn biệt phộp biện chứng và phộp siờu hỡnh
Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong t duy Phơng pháp biện chứng là phơng pháp t duy triết học xem xét thế giới trong mối liên
hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triển vô cùng với t duy mềm dẻo, linh hoạt Trái lại, phơng pháp siêu hình là phơng pháp t duy triết học xem xét thế giới trong trạng thái cô lập, phiến diện với t duy cứng nhắc Lịch
sử đấu tranh giữa hai phơng pháp biện chứng và siêu hình luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hớng triết học cơ bản là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Chính cuộc đấu tranh lâu dài của hai phơng pháp này đã thúc đẩy t duy triết học phát triển và đợc hoàn thiện dần với thắng lợi của t duy biện chứng duy vật
Hạn chế của phơng pháp siêu hình thể hiện ở chỗ chỉ thấy những sự việc cá biệt mà không thấy mối liên hệ giữa những sự vật ấy, chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà không rhấy sự ra đời và biến đi của sự vật, chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà không thấy trạng thái động của nó Quan điểm biện chứng đã khắc phục đợc những hạn chế của phơng pháp siêu hình bằng cách xem xét các sự vật trong mối liên hệ qua lại với nhau, không chỉ thấy sự tồn tại mà còn thấy cả sự hình thành và tiêu vong của sự vật, không chỉ thấy trạng thái tĩnh mà còn thấy cả trạng thái vận động biến đổi không ngừng của sự vật
Tuy nhiên, Ăngghen cũng khẳng định rằng thế giới quan siêu hình là
điều không thể tránh khỏi và sự ra đời của nó là hợp quy luật đối với một giai đoạn nhất định trong lịch sử phát triển của nhận thức khoa học - giai
đoạn nghiên cứu các chi tiết của bức tranh toàn cảnh về thế giới tự nhiên Muốn nhận thức đợc các chi tiết ấy, ngời ta buộc phải tách chúng ra khỏi những mối liên hệ tự nhiên, lịch sử của chúng để nghiên cứu riêng từng chi tiết một theo đặc tính của chúng, theo nguyên nhân, kết quả riêng của chúng Thời kỳ này kéo dài từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVIII Đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, việc nghiên cứu tiến từ giai đoạn su tập sang giai đoạn chỉnh lý, nghiên cứu về các quá trình phát sinh, phát triển của sự vật, hiện tợng thì phơng pháp siêu hình không còn đáp ứng đợc yêu cầu của nhận thức khoa học Cuộc khủng hoảng Vật lý học cuối thế kỷ XIX
do ảnh hởng của quan niệm siêu hình là một minh chứng cho hạn chế của