1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

van dung tu tuong tu hoc cua ho chi minh vao viec nang cao chat luong tu hoc cho sinh vien truong dai hoc quang binh

74 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 604 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2: Vận dụng tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh vào việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay .... Phối hợp chặt chẽ giữa gia đì

Trang 1

Họ, tên sinh viên chịu trách nhiệm chính:

Ngành học: Giáo dục chính trị Khóa học: 2014 - 2018

Khoa: Lý luận chính trị

Trang 2

Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội

Nhóm sinh viên thực hiện đề tài:

Ngành học: Giáo dục chính trị

Khóa học: 2014 – 2018

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Đình Lam

Trang 3

MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp đề tài 5

7 Kết cấu của đề tài 5

B NỘI DUNG 6

Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về tự học 6

1.1 Quan điểm tự học trong tư tưởng Hồ Chí Minh 6

1.1.1 Hồ Chí Minh – một nhà giáo dục lớn 6

1.1.1.1 Về vai trò của giáo dục 6

1.1.1.2 Về mục đích giáo dục 7

1.1.1.3 Về nhiệm vụ giáo dục 7

1.1.1.4 Về nội dung giáo dục 7

1.1.1.5 Về phương pháp giáo dục 8

1.1.2 Hồ Chí Minh về tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự giáo dục 9

1.1.3 Quan điểm về tự học trong tư tưởng Hồ Chí Minh 12

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nâng cao chất lượng tự học 18

1.2.1 Mục đích học tập của sinh viên 18

1.2.2 Thái độ học tập của sinh viên 19

1.2.3 Phương pháp học tập 20

1.2.4 Thời gian học và không gian học 22

Kết luận chương 1 24

Trang 4

Chương 2: Vận dụng tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh vào việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay

25

2.1 Vài nét khái quát về trường Đại học Quảng Bình 25

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình 27

2.2.1 Ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân sinh viên 27

2.2.2 Vốn tri thức hiện có của bản thân sinh viên 27

2.2.3 Năng lực trí tuệ và tư duy 27

2.2.4 Phương pháp học tập của sinh viên 28

2.2.5 Phương pháp dạy học của giảng viên 28

2.2.6 Nội dung, chương trình đào tạo 29

2.2.7 Giáo trình, tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình và xã hội 29

2.3 Thực trạng chất lượng tự học của sinh viên trường ĐH Quảng Bình 30

2.3.1 Nhận thức của sinh viên trường Đại học Quảng Bình về vai trò và tác dụng của tự học trong việc nâng cao chất lượng tự học của sinh viên 30

2.3.2 Thực trạng chất lượng tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình 33

2.3.2.1 Thực trạng việc sử dụng thời gian tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình 33

2.3.2.2 Thực trạng việc thực hiện kế hoạch học tập đã đề ra của sinh viên Đại Học Quảng Bình 34

2.3.2.3 Thực trạng sử dụng các hình thức tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình 34

2.3.2.4 Thực trạng sinh viên Đại Học Quảng bình về phương pháp học 37

2.3.2.5 Những khó khăn trong quá trình tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình 37

2.4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên trường Đại học Quảng bình 42

2.4.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ, giảng viên về vai trò của phương pháp tự học đối với việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh 42

Trang 5

2.4.2 Nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò của phương pháp tự học đối với

việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh 43

2.4.3 Mỗi thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về tự học, tự giáo dục 44

2.4.4 Sinh viên tự tìm kiếm lựa chọn phương pháp phù hợp với khả năng của bản thân 47

2.4.5 Giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy phù hợp với nội dung bài giảng 48

2.4.6 Giảng viên tổ chức, hướng dẫn và rèn luyện kỉ năng tự học cho sinh viên 49

2.4.6.1 Rèn luyện kĩ năng tự học cho sinh viên 50

2.4.6.2 Hướng dẫn kỹ năng lập kế hoạch tự học 50

2.4.6.3 Rèn luyện cho sinh viên thói quen và kỹ năng đọc sách, tài liệu tham khảo 51

2.4.7 Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học trong quá trình giáo dục ý thức tự học cho sinh viên trường Đại học Quảng 51

Tiểu kết chương 2 54

C KẾT LUẬN 55

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

E PHẦN PHỤ LỤC 63

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Nhận thức của sinh viên ĐH Quảng Bình về vai trò của tự học 31

Bảng 2.2: Nhận thức của sinh viên Đại Học Quảng Bình về chỉ tiêu thời lượng tự học của sinh viên chiếm 2/3 so với giờ học trên lớp 31

Bảng 2.3: Nhận thức về mục đích học tập của sinh viên trường 32

Đại học Quảng Bình 32

Bảng 2.4: Khảo sát sinh viên Đại Học Quảng Bình về thời gian tự học 33

Bảng 2.5: Khảo sát việc thực hiện kế hoạch học tập đã đề ra của sinh viên Đại Học Quảng Bình 34

Bảng 2.6: Thực trạng sử dụng các hình thức tự học của sinh viên 35

Đại Học Quảng Bình 35

Bảng 2.7: Ý kiến của sinh viên Đại học Quảng bình về phương pháp học cật lực khi thi sẽ đạt kết quả cao 37

Bảng 2.8: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về Chương trình học ở trường Đại học với chương trình học ở trường THPT 38

Bảng 2.9: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về môi trường học tập 38

Bảng 2.10: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về vấn đề mất tập trung 39

trong quá trình tự học 39

Bảng 3.1: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về ảnh hưởng của Internet, Facebook, phim ảnh, điện thoại,…nhiều đến việc học tập 39

Bảng 3.2: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về lượng kiến thức có phù hợp không 40 Bảng 3.3: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về cơ sở vật chất của nhà trường có đáp ứng đủ cho quá trình tự học 40

Bảng 3.4: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB về khó khăn trong 41

việc tìm tài liệu 41

Bảng 3.5: Ý kiến của sinh viên trường ĐHQB khi gặp khó khăn trong việc học sẽ cố gắng hết sức, tìm mọi cách để tự giải quyết được vấn đề gặp phải 41

Trang 8

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hồ Chí Minh không chỉ là danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc, HồChí Minh còn là một nhà giáo dục lớn của thế giới và của dân tộc ta Hồ Chí Minh đãsáng lập nền giáo dục mới ở Việt Nam, nền giáo dục XHCN Tư tưởng của Hồ ChíMinh về giáo dục đã soi sáng cho cách mạng Việt Nam, trong đó có quan điểm về tựhọc và chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên tấm gương sáng ngời về tự học, tự giáodục mà nhiều thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo Trong suốt cuộc đời hoạtđộng cách mạng của mình, mặc dù bận với trăm công ngàn việc, nhưng Chủ tịch HồChí Minh vẫn quan tâm đặc biệt đến giáo dục nhằm đào tạo những thế hệ trẻ kế tục sựnghiệp cách mạng của cha, anh Trong hệ thống quan điểm của mình về xây dựng nềngiáo dục mới Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở, phải chú trọng phương pháp nâng cao nănglực tự học cho người học Hồ Chí Minh nói: “Phải nâng cao và hướng dẫn tự học’’,

“lấy tự học làm cốt” đây là điểm mới, nổi bật của nền giáo dục XHCN Những luậnđiểm của Hồ Chí Minh về tự học, tự giáo dục đã định hướng cho Đảng và Nhà nước taxây dựng một nền giáo dục tiến bộ, theo quan điểm lấy người học làm trung tâm Từnhững năm 70 của thế kỷ XX với tinh thần “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo’’ ởcác trường đại học, cao đẳng đã có những chuyến biến tích cực trong việc tăng cườnghoạt động tự học của sinh viên Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đangphát triển mạnh mẽ như vũ bão, luôn có sự bùng nổ thông tin Sự hình thành xã hộithông tin trong nền kinh tế tri thức tạo điều kiện nhưng đồng thời cũng gây sức ép lớnđối với người học Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ngoài giờ học ở trường sinh viênphải biết tự học tập tự nghiên cứu thêm Điều 40 của luật giáo dục nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đạihọc phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, nâng lực tự học, tựnghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện chongười học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm ứng dụng’’

Từ thực tế học tập của sinh viên ở trường và qua quá trình tìm hiểu hoạt độnghọc tập của sinh viên cùng ngành, chúng tôi nhận thấy chất lượng tự học của sinh viêntrường Đại học Quảng Bình còn nhiều hạn chế Nhiều sinh viên còn lúng túng trongviệc khai thác tài liệu để ôn tập, củng cố lại những kiến thức đã bị hỏng, đào sâu mởrộng và hoàn thiện kiến thức đã học ở trên lớp Sinh viên chưa quen nghiên cứu tài liệu

ở nhà do đó không rèn luyện được những khả năng tự nghiên cứu một cách độc lập

Trang 9

Mặt khác, một số sinh viên mặc dù đã nắm vững kiến thức lý thuyết về một vấn đề nào

đó nhưng khi diễn đạt nội dung khoa học của nó cũng như cần tranh luận hay vận dụngvấn đề đó vào thực tiễn thì tỏ ra lúng túng thiếu chắc chắn, nhiều hạn chế Vì vậy,

chúng tôi chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh vào việc nâng

cao chất lượng tự học cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình ” để làm đề tài

nghiên cứu khoa học, hi vọng đề tài sẽ góp phần vào việc nâng cao tự học cho sinhviên sư phạm trường đại học Quảng Bình, giúp nâng cao chất lượng học tập để khi ratrường có được kiến thức vững vàng cho nghề dạy học

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học trong hệ thống tư tưởng về Giáodục – Đào tạo của Hồ Chí Minh có một số công trình đề cập, như:

+ Nguyễn Lân (1990), Hồ Chủ Tịch – nhà giáo dục vĩ đại, Nxb Khoa học và xã

hội Hà Nội Tác phẩm nghiên cứu những luận điểm lớn, ý kiến của Hồ Chí Minh vềgiáo dục trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

+ Nguyễn Văn Chung (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và sự vận dụng của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb Quân đội nhân dân

Hà Nội Tác phẩm phân tích toàn diện về tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với cáchtiếp cách khá mới mẻ Tác giả trình bày từ nguồn gốc, qúa trình hình thành và pháttriển, nội dung cơ bản và sự vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dụctrong tình hình mới

+ Hoàng Anh (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Nội dung tác phẩm trình bày

nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục theotừng thời kì gắn với cuộc đời hoạt động của Người cũng như đất nước Tác phẩm phântích tương đối toàn diện, có hệ thống nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vànêu bật tầm quan trọng của vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và nâng caochất lượng đào tạo đại học hiện nay

+ Ngô Văn Hà (2013), Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây dựng đội ngũ giảng viên hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Tác phẩm đã trình vai trò

của người thầy giáo với giáo dục, yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực đối vớigiáo viên trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục từ đó có những vận dụng vào việcxây dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay

+ Phạm Minh Hạc (2003), Báo cáo tổng hợp đề tài: “Cở sở triết học của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Hà Nội Báo cáo

Trang 10

đã trình bày sâu sắc nội dung và cơ sở triết học của hai vấn đề mang tính cốt lõi trong

tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là: học để phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân vàluận điểm “ai cũng được học hành

+ Chỉ thị số 06 – CT – TW, Về tổ chức cuộc vận động : Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Tổ chức nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng đạo

đức trong các tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Dichúc và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tập trung vào các phẩm chất cần, kiệm, liêm,chính, chí công vô tư, ý thức tổ chức kỷ luật, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, quanliêu, tham nhũng, lãng phí Xây dựng chương trình hành động học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh, khắc phục lối sống, khuyết điểm, yếu kém; xử lí các saiphạm được phát hiện theo đúng kỉ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước

+ Trường cao đẳng sư phạm Nghệ An (2007), Học tập và làm theo tấm gương tự học, tự nghiên cứu của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Kỷ yếu hội thảo khoa học về tư tưởng

Hồ Chí Minh với vấn đề người thầy giáo, tự học, tự nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh

là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thứcchủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của của bản thân Tấm gương tự học của Hồ ChíMinh, soi xét trong thực tiễn đã qua, hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có

ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc, đó mãi là tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đốivới sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của đảng và nhân dân ta

Các công trình trên đều tập trung nghiên cứu những nội dung tự học, tự giáo dục

và việc học tập làm theo tấm gương Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa cócông trình đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học, tự giáo dục cho sinhviên trường Đại học Quảng Bình Nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa, sinh viên là nồng cốt cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.Nhưng họ đang chịu tác động hiệu ứng của nền kinh tế thị trường, đạo đức đang bị xóimòn, xuống cấp nhiều sinh viên chây lười, học đối phó, thụ động Chính vì vậy, đềtài mà chúng tôi lựa chọn là cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễnsâu sắc, cũng không trùng với các công trình trên

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học, tự giáo dục.

- Làm rõ thực trạng tự học, tự giáo dục của sinh viên trường Đại học Quảng Bình

- những vấn đề đặt ra

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng tự học, tự giáodục cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình, theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề chủ yếu sau:

- Tập trung nghiên cứu di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và việc tự họccho sinh viên

- Thu thập tài liệu, điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực trạng về việc tự học củasinh viên trường Đại học Quảng Bình

- Từ kết quả điều tra, khảo sát thực tiễn, đối chiếu với tư tưởng Hồ Chí Minh để

đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tự học cho sinh viêntrường Đại học Quảng Bình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong phạm vi sinh viên trường Đại họcQuảng Bình

- Đề tài được triển khai trong giới hạn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học,

tự giáo dục và việc nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên trường Đại học QuảngBình

- Đề tài chú trọng làm rõ nội dung tự học, tự giáo dục trong tư tưởng Hồ ChíMinh về giáo dục đào tạo Đồng thời khảo sát thực trạng và đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao chất lượng tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình

5 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lí luận: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, vận dụng các kết

quả nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học, tự giáo dục

Tìm hiểu và quán triệt chủ trương, đường lối về giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻcủa Đảng và Nhà nước

- Cơ sở thực tiễn: Điều tra, khảo sát thực trạng tự học của sinh viên ở trường Đại

học Quảng Bình bằng bảng thiết kế, bằng nghiên cứu tài liệu, hồ sơ lưu trữ, lấy ý kiếntrực tiếp

Trang 12

- Kết hợp kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để xác định những giải phápnhằm nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên.

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp chính mà chúngtôi sử dụng kết hợp các phương pháp khác như điều tra, khảo sát, thống kê, phân tích,tổng hợp, so sánh Để nghiên cứu đề tài

6 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp đề tài

- Đề tài góp phần làm rõ sự đúng đắn, sáng tạo trong các quan điểm của Hồ ChíMinh về tự học

- Hình thành phương pháp tự học tích cực và góp phần nâng cao chất lượng tựhọc cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình

Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và giảng viên trong quá trìnhtham gia giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có kếtcấu gồm 2 chương 6 tiết

Chương 1: Quan điểm của Hồ Chí Minh về tự học

1.1 Quan điểm tự học trong tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nâng cao chất lượng tự học

Chương 2: Vận dụng tư tưởng tự học của Hồ Chí Minh vào việc nâng cao chất

lượng tự học cho sinh viên trường Đại học Quảng Bình trong giai đoạn hiện nay.

2.1 Vài nét khái quát về trường Đại học Quảng Bình

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên trường Đại họcQuảng Bình

2.3 Thực trạng chất lượng tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình2.4 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tự học của sinh viên trường Đại họcQuảng bình

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ HỌC

1.1 Quan điểm tự học trong tư tưởng Hồ Chí Minh

và thực tiễn giáo dục có sự thống nhất hữu cơ, không tách rời nhau Tư tưởng giáo dục

Hồ Chí Minh là sự kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán từ các tiền đề:

Một là, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, giáo dục và tinh thần nhân ái Việt Nam Hai là, triết lý giáo dục phương Đông, đặc biệt là triết lý nhân sinh của Nho, Phật, Lão Ba là, những tư tưởng tiến bộ thời kỳ cận đại Nhưng tiền đề quan trọng

nhất, cái tạo nên sự phát triển về chất trong tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là chủnghĩa Mác- Lênin

Trên cơ sở đó và cùng với quá trình hoạt động cách mạng sinh động, phong phúcủa mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra các quan điểm hết sức sâu sắc và mới mẻ về vai trò,mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minhkhông bó hẹp trong việc giáo dục tri thức, học vấn cho con người, mà có tính bao quát,sâu xa, nhưng vô cùng sinh động, thiết thực, nhằm đào tạo ra những con người toàndiện, vừa "hồng" vừa "chuyên", có tri thức, lý tưởng, đạo đức, sức khoẻ, thẩm mỹ

1.1.1.1 Về vai trò của giáo dục

Nói đến tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu giáo dụcthường nhấn mạnh đến sự đặc sắc trong quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề nhâncách, việc học tập để rèn luyện phát triển nhân cách đối với mỗi người

Hồ Chí Minh đã từng nói:

“Hiền dữ đâu phải là tính sẵn

Phần nhiều do giáo dục mà nên” [62]

Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục trong việc hình thànhphẩm chất nhân cách con người, “thiện”, “ác” không phải là bản chất sẵn có của conngười mà chủ yếu là do quá trình giáo dục hình thành nên

Không những thế, giáo dục còn góp phần đắc lực vào công cuộc đổi mới bảo vệ

và xây dựng đất nước Hồ Chí Minh còn quan tâm chỉ đạo cho giáo dục tích cực phục

Trang 14

vụ hoạt động kinh tế, làm cho hai lĩnh vực này liên hệ chặt chẽ với nhau Hồ Chí Minhđánh giá tác dụng tích cực của giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế: “Không cógiáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế”.

Mục đích trọng tâm và xuyên suốt tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh là vì conngười, cho con người, là xây dựng con người mới Nhưng do yêu cầu của mỗi thời kỳcách mạng khác nhau, Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ giáo dục khác nhau cho mỗithời kỳ:

Ở thời kỳ chuẩn bị thành lập Đảng Hồ Chí Minh tập trung vào việc triển khaicác lớp huấn luyện tại Quảng Châu, Trung Quốc nhằm nâng cao trình độ nhận thứccho cán bộ về con đường cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới

Giai đoạn toàn quốc kháng chiến và xây dựng nền dân chủ, Hồ Chí Minh kêu gọisửa đổi giáo dục cho phù hợp với việc đào tạo nhân tài kháng chiến kiến quốc Tất cảgiáo dục tập trung phục vụ kháng chiến kiến quốc

Bước sang giai đoạn cách mạng XHCN ở miền Bắc, mục đích giáo dục lại gắnliền với tình hình mới Đó là thời kỳ rất cần những con người làm chủ xã hội, làm chủsản xuất, biết quản lý cơ quan, xí nghiệp, trường học…

1.1.1.3 Về nhiệm vụ giáo dục

Người đã đặt ra nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp học, cấp đại học, cấp trung học,cấp tiểu học Ở cấp đại học, Hồ Chí Minh nói rằng cần phải đảm bảo cho học trònhững tri thức chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nướcnhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tiễn

1.1.1.4 Về nội dung giáo dục

Để xây dựng xã hội chủ nghĩa theo Người: “trước hết cần phải có con người xãhội chủ nghĩa” Đào tạo con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác

Trang 15

ngoài giáo dục tri thức khoa học và lý tưởng, đạo đức xã hội chủ nghĩa Đó là nền giáodục nhằm phát triển con người toàn diện trong thời đại mới Hồ Chí Minh cho rằngphải xây dựng cho người học toàn diện những mặt chính sau: trí dục, đức dục, thể dục,

mĩ dục, giáo dục lao động kỹ thuật Ngoài ra cần phải học lý luận Mác - Lênin kết hợpvới đấu tranh và công tác hàng ngày, phải luyện tài, rèn đức, trong đó Hồ Chí Minhđặc biệt nhấn mạnh tới giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh nói “dạy cũng như học là phảibiết chú trọng cả tài và đức”, đức được coi như là “cái gốc” của cây, “nguồn” củasông, nếu không có đức thì người có tài cũng vô dụng [10, tr 252 - 253]

1.1.1.5 Về phương pháp giáo dục

Tuy Hồ Chí Minh không để lại cho chúng ta một tác phẩm, một hệ thống lý luận

về phương pháp giáo dục, nhưng những việc làm thiết thực, những bài viết ngắn gọn,súc tích của Hồ Chí Minh đã hàm chứa các phương pháp giáo dục mẫu mực Hồ ChíMinh lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm nguyên tắc cơ bản choviệc xây dựng các phương pháp về giáo dục Nó được coi như "kim chỉ nam" để lồngdẫn nhận thức, hành động và bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho tất cả mọi người Hơnnữa, nguyên tắc này có tính chất quyết định trong việc chuyển hướng giáo dục và trởthành đặc trưng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Người nhấn mạnh:

“Học để hành, học với hành Học mà không hành thì học vô ích Hành mà khônghọc thì hành không trôi chảy” [30, tr 50]

Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành.Học với hành phải kết hợp với nhau

Để nâng cao trình độ nhận thức của người lao động, Hồ Chí Minh cho rằng cần

có quan điểm dân chủ, thẳng thắn và cần có sự đối thoại trong quá trình học tập, nhậnthức Trong giáo dục, theo Hồ Chí Minh, cần có phương pháp tổ chức giáo dục saocho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục với đối tượng giáodục

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc kết hợp các hình thức giáo dục, không tuyệtđối hoá bất cứ một hình thức giáo dục nào Hồ Chí Minh cho rằng, giáo dục dù trongnhà trường có tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quảcũng không hoàn toàn

Đối với Hồ Chí Minh, tất cả các phương pháp giáo dục như phương pháp đốithoại, phương pháp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp làmgương, phương pháp kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đều nhằm mục đíchnêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng, nâng cao nhận thức, chất lượng

Trang 16

và hiệu quả giáo dục Các phương pháp này vừa mang tính truyền thống, lại vừa hiệnđại, vừa hệ thống, khoa học, lại vừa cụ thể, thiết thực, luôn gắn với đời sống và thờiđại.

Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh đã gắn bó cả cuộc đờimình với việc chăm lo, mở mang và xây dựng một nền giáo dục mới, nền giáo dục xãhội chủ nghĩa - một nền giáo dục mà mọi người đều có cơ hội phát huy khả năng sángtạo, mọi người đều được học hành, không phân biệt giai cấp, tuổi tác, trình độ, giớitính

Từ xưa đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh về phương châm, chiến lược, mục đích,nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo con người luôn soi sáng sự nghiệp trồngngười ở Việt Nam Tư tưởng đó không chỉ là cơ sở lý luận cho việc xác định chiếnlược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ đạo phát triển nền giáo dục ViệtNam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà còn là những bài học, những kinhnghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết thực và hiệu quả đối với người làmcông tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói chung hiện nay

1.1.2 Hồ Chí Minh về tấm gương sáng về tinh thần tự học, tự giáo dục

Trong lịch sử dân tộc và thế giới đã chứng minh: Tự học là một trong những yếu

tố quan trọng góp phần tạo nên thành công của sự nghiệp mỗi con người Trên thếgiới, chúng ta biết đến C.Mác, Ph.Ăngghen, Khổng Tử, V.I Lênin như những vĩnhân của nghị lực học phi thường và sự học không biết mệt mỏi Dân tộc ta cũng cóbiết bao tấm gương tự học và học tập không ngừng như: Bùi Xương trạch, Cao BáQuát, Phan Bội Châu, Lương Thế Vinh Và đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh, HồChí Minh là tấm gương sáng chói nhất về tinh thần tự học và học tập suốt cuộc đời Ýthức tự học được nuôi dưỡng bởi quê hương giàu truyền thống hiếu học và kế thừa bởitinh thần của gia đình nho sĩ có truyền thống yêu nước Năm 13 tuổi Nguyễn TấtThành được nghe những từ: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” Qua ông ngoại và cha, từtấm bé, Nguyễn Tất Thành đã sớm được tiếp nhận tinh hoa của Tứ thư, Minh tâm bảogiám hay Ấu học ngũ ngôn thi Năm 21 tuổi, khát vọng cháy bỏng là ra đi tìm đườnggiải phóng dân tộc

Trước khi ra đi tìm đường cứu nước (1911), Nguyễn Tất Thành đã học lớp trungđẳng (lớp nhì) tại Trường Quốc học Huế và lớp cao đẳng (lớp nhất) ở Trường Tiểu họcQuy Nhơn với thầy Phạm Ngọc Thọ Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn

Ái Quốc có học ở Trường Đại học Phương Đông (1923), Đại học Quốc tế Lênin(1934), nghiên cứu sinh Viện nghiên cứu các vấn đề thuộc địa (1937) với luận án về

Trang 17

cách mạng ruộng đất ở Đông Nam châu Á Trong quá trình tự học trên đất khách,Nguyễn Ái Quốc rất kiên trì và luôn tìm phương pháp học đạt kết quả cao.

Nguyễn Ái Quốc đã tự học cách viết báo, ban đầu chỉ viết 3 dòng, 5 dòng, sau đóviết 10 dòng rồi 1.5 cột báo, đến đây lại viết rút ngắn lại, từ 1.5 cột báo lại rút lại 10dòng Tập đi tập lại nhiều lần như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã viết được báo, rồi bác lại

có ý định thử viết truyện ngắn bằng tiếng Pháp Nuyễn Ái Quốc tự rút kinh nghiệmtrong học viết của mình Nguyễn Ái Quốc nói viết cũng như mọi việc khác, phải cóchí, chớ giấu dốt nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ, có quyết tâm thì việc gì khómấy cũng làm được Để học tốt ngoại ngữ, sau khi hỏi được nghĩa từ mới, Nguyễn ÁiQuốc viết vào một mảnh giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất, có khi viết cả vào cánh tay

để trong lúc làm việc vẫn học được Lại cả khi đi đường, Nguyễn Ái Quốc cũng nhẩmbài học Ban đêm khi chưa ngủ, Nguyễn Ái Quốc lấy tay viết mò những chữ khóxuống chăn cho kỳ nhớ mới thôi, và thế là đã học thêm được vài từ mới nữa

Từ đó, chúng ta thấy Hồ Chí Minh học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủnghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, đặcbiệt là văn hoá Phương Đông và văn hoá Phương Tây, Hồ Chí Minh biết sử dụngthông thạo trên 10 ngoại ngữ, nhờ tự học chứ không qua một trường đào tạo chính quynào, Hồ Chí Minh tự học ở sách báo, đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân, người tự học từthực tiễn cuộc sống

Năm 1959, Hồ Chí Minh có chuyến thăm nước Indonesia, Hồ Chí Minh đượcmời phát biểu với sinh viên trường Đại học Băng Dung Hồ Chí Minh nói: “Khi tôicòn trẻ, tôi không có dịp đến trường học, cuộc sống du lịch và làm việc là trường đạihọc của tôi Trường đại học ấy dạy cho tôi khoa học xã hội, khoa học quân sự, lịch sử

và chính trị, nó dạy cho tôi yêu nước, yêu loài người, yêu dân chủ và hoà bình căm thù

áp bức ích kỷ ” [25, tr 74]

Người đến với chủ nghĩa cộng sản bằng con đường tự học Tại đại hội VII Quốc

tế Cộng sản (tháng 7 năm 1935) với bí danh Lin khi khai lý lịch trả lời câu hỏi: Trình

độ học vấn (tiểu học, trung học, đại học)? Hồ Chí Minh ghi: Tự học Với câu hỏi:Đồng chí biết những ngoại ngữ nào? Hồ Chí Minh trả lời: Anh, Pháp, Trung Quốc, Ý

Có thể thấy Hồ Chí Minh đã rất coi trọng trách nhiệm tự học của chính người học, tựhọc thêm để làm chủ được tri thức, để biến hạt hiểu biết cơ bản được gieo xuống banđầu trong đầu óc mình nảy nở thành cây tri thức vững chãi

Trang 18

Ngày 21/7/1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại họcNhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế Không ai có thể tự cho mình đã biết

đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, chonên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [13, tr 215]

Ngày 1/9/1961, Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp ở Việt Nam, Hồ ChíMinh đến dự, Hồ Chí Minh đã tâm sự: “Về văn hoá tôi chỉ học hết tiểu học, về sự hiểubiết phổ thông năm 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 20 tuổi mớiđược nghe Radio lần đầu, nhưng chúng ta ai cũng biết, Hồ Chí Minh có một trình độhọc vấn rộng lớn, uyên bác mà cả thế giới phải khâm phục và thừa nhận Hồ Chí Minhnhắc nhở các đồng chí cách mạng và thế hệ trẻ phải có nỗ lực học, tự học “Học hỏi làmột việc phải tiếp tục suốt đời thế giới ngày càng đổi mới nhân dân ta ngày càng tiến

bộ Cho nên chúng ta phải tiếp tục học, học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [27, tr.216] Năm 1961, trong buổi nói chuyện với cán bộ Đảng viên hoạt động lâu năm, HồChí Minh tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học công việc có tiếntriển, không học không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau” [16, tr 465]

Hồ Chí Minh luôn coi lời dạy của Lênin: “Học, học nữa, học mãi” và lời dạy củaKhổng Tử: “Học không biết chán, dạy không biết mỏi” là phương châm sống, phươngchâm hành động của mình Hồ Chí Minh nói: “Lênin khuyên chúng ta học, học nữa,học mãi, mỗi người đều phải nhớ và thực hành điều đó Tuy trong học thuyết củaKhổng Tử có những điều không đúng, song những điều hay trong đó thì chúng ta phảihọc” [29, tr 45]

Đại tướng Hoàng Văn Thái kể rằng, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thườngthấy trên chiếc bàn cạnh bên giường của Hồ Chí Minh để đầy sách báo đang xem Ông

lo lắng đến sức khỏe của Hồ Chí Minh, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc

ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức” Hồ Chí Minh trả lời, giọng nhưtâm sự mà rành rẽ, dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ? - Dù giàyếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là để nắm vững tìnhhình chứ !” Những cuốn sách Hồ Chí Minh đọc ở thời gian cuối đời là các cuốn: Cuộckháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông, vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ, The truthabout Vietnam (sự thật về vấn đề Việt Nam, Nxb Green Leaf Classic, 1966)

Đó là bài học sâu sắc về tấm gương tự học của Hồ Chí Minh Nhờ ý chí quyếttâm học tập, nhờ tham gia nhiều hoạt động thực tiễn trong các phong trào cách mạng,

Trang 19

Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác- Lênin và trở thành chiến sỹ kiên cường đấutranh cho chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản Trong suốt cuộcđời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần tự học đểkhông ngừng nâng cao kiến thức phục vụ tốt nhất cho cách mạng, cho dân tộc Người

đã để lại tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập suốt đời mà chúng ta phảinoi theo

Những mẩu chuyện cảm động cuối đời với nghị lực phi thường của Hồ Chí Minhcàng làm chúng ta thêm kính yêu Hồ Chí Minh hơn Thật tự hào và vinh dự cho dântộc Việt Nam vì đã sinh ra một vị lãnh tụ thiên tài như thế Hồ Chí Minh mãi mãi lànguồn ánh sáng và động lực mạnh mẽ cho dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách

để xây dựng một Việt Nam giàu đẹp như Hồ Chí Minh từng mong muốn

1.1.3 Quan điểm về tự học trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Vai trò và vị trí của tự học đã được nhân loại khẳng định từ lâu Tư tưởng đóluôn được coi trọng trong mỗi thời đại lịch sử

Lịch sử Trung Hoa ngay từ rất sớm đã xuất hiện nhiều nhà giáo dục lỗi lạc, nổibật hơn cả là Khổng Tử Khổng Tử (551- 479 TCN) là bậc thầy của muôn đời, là mộtnhà giáo dục lớn, tư tưởng của ông đã gây ảnh hưởng khá sâu sắc đến các thế hệ saunày Đối với Khổng Tử thì đối tượng giáo dục là “hữu giáo vô loài” (Bất cứ ai, khôngphân biệt giàu nghèo, sang hèn đều có thể dạy) Quan niệm này mặc dù xuất phát từmột nhà giáo dục lớn ở thời cổ đại, nhưng có thể nói nó hoàn toàn phù hợp với xã hội

ta, với công tác “phổ cập giáo dục”, “xã hội hóa giáo dục” hiện nay

Theo Khổng Tử: ''Ai không biết tức giận vì tri thức hạn hẹp của mình, ta khônggợi mở cho Ai không biết tự mình nỗ lực, bộc bạch tâm sự, ta không giúp cho phátbiểu tư tưởng được Vật có bốn góc, ta vén cho một góc Ai không tự mình vén ba góccòn lại thì là người không thể giáo dục được'' [64]

Nghĩa là, ông đòi hỏi môn sinh phải tự suy nghĩ, tự tìm tòi, tự học, tự hành Ông

đã để lại nhiều câu nói bất hủ có giá trị: ''Ngọc bất trác bất thành khí'', ''Nhân bất họcbất tri lí'' Khổng Tử luôn nhấn mạnh đến tính chủ động tích cực và độc lập ở ngườihọc Một đời Khổng Tử đề cao việc học và chính ông cũng là tấm gương học tậpkhông mệt mỏi Ông là một người thầy vĩ đại, một nhà sư phạm có đóng góp lớn laokhông chỉ cho thời đại của ông mà cho đến bây giờ những tư tưởng giáo dục của ôngvẫn luôn được nghiên cứu và vận dụng

Trang 20

Chính C.Mác thời trẻ cũng đã nhận xét: “Điều mà tôi làm nên từ cá nhân tôi thìtôi làm từ bản thân mình cho xã hội bằng cách tự mình xây dựng thành một thực thể xãhội” [57]

Còn với V.I.Lênin, Hồ Chí Minh cho rằng: “Tất cả những kiến thức mà nhân loạitiếp thu được từ trước đến nay thanh niên phải học, một là học, hai là học, ba là học”.[6]

Hồ Chí Minh với tư cách là một nhà văn hóa kiệt xuất, nhà giáo dục thực thụ,nhà sư phạm thiên tài đã trực tiếp đào tạo ra nhiều thế hệ học trò xuất sắc, những chiến

sĩ cách mạng kiên cường và để lại trong kho tàng văn học dân tộc một hệ thống lí luậngiáo dục vô cùng uyên bác Cuộc đời của Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời

về tự học, thực hiện việc tự học trong suốt cuộc đời mình với phương châm về cáchhọc: ''Phải lấy tự học làm cốt''

Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng 8 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khai sinh

ra một nền giáo dục mới – nền giáo dục XHCN nhằm đào tạo ra một thế hệ công dân

có ích cho Tổ Quốc Để làm được điều đó, Hồ Chí Minh đòi hỏi nền giáo dục XHCNphải khác những nền giáo dục trước đó về nội dung lẫn phương pháp giáo dục Ở nềngiáo dục mới, giáo dục dân chủ nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu người học năng động,độc lập không bị phụ thuộc Kể cả khi không có thầy hướng dẫn, thì người học vẫn tựđộng học tập được Điều này khác giáo dục theo lối cũ, học trò chỉ có thể tiến hànhhọc khi có thầy Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập(6/5/1950), Hồ Chí Minh đã nói: “ Học tập ở trường đoàn thể không phải như học ởcác trường lối cũ, không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa Phải biết tựđộng học ” [11, tr 50]

Kế thừa tư tưởng của cá bậc tiền bối, đồng thời khái quát từ chính cuộc đời hoạtđộng cách mạng của mình, trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, vấn đề tự học, tựđào tạo giữ vai trò xuyên suốt, cốt lõi, được xem là biểu hiện nổi bật của nền giáo dụcmới

Theo Hồ Chí Minh, học là để hành, “ học để làm việc”, muốn hành tốt phải hiểu

kĩ, từ đó mới tiến lên sáng tạo ra cái mới Ngày xưa học để kiếm lấy mảnh bằng ra làmquan, ngày nay học để làm việc thì mỗi ngày mỗi mới, mới nhiều hơn Hồ Chí Minhnói: “ So với trước, công việc bây giờ khó khăn, to lớn hơn, phức tạp hơn Một cáimáy tính một giây làm ra được hàng ngàn phép toán, to lớn hơn, phức tạp hơn, khôngphải cộng trừ nhân chia thông thường Ta phải học toán, toán rất cao Liên xô bắn tênlửa trúng đích xa một vạn ngàn cây số Phải có tính toán giỏi mới trúng đích hay như

Trang 21

con tàu vũ trụ bay cao hơn ba ngàn cây số, lại bay vòng quả đất Bây giờ bảo chúngmình có bay được không?” [10, tr 463 – 464]

Hồ Chí Minh cho rằng, cốt lõi của học tập là tự học Trong tác phẩm Sửa đổi lốilàm việc (1947), khi đề cập đến công tác huấn luyện cán bộ, người viết: “Lấy tự họclàm cốt Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [20, tr 273] Sau này, nói về công tác huấnluyện học tập (1950) Hồ Chí Minh lại nhấn mạnh: “Nâng cao và hướng dẫn việc tựhọc ” [17, tr 50] Học bao giờ cũng là tự học Không ai học thay được chính mình.Nếu học là quá trình biến những kiến thức khoa học được tích luỹ từ nhiều thế hệ củanhân loại thành kiến thức của chính mình, thì tự học chính là yếu tố cơ bản nhất làmcho quá trình ấy diễn ra nhanh nhất và hiệu quả nhất

Tự học chính là nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản thân ngườihọc một cách có kế hoạch trên tinh thần tự nguyện, tự giác Một yếu tố quan trọng đảmbảo thành công trong học tập là khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra.Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng, thói quen và ý chí tựhọc, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào những tình huống mới thì sẽ tạocho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người, phát huy nội lựclàm cho kết quả học được nhân lên gấp bội, đồng thời sớm thích ứng với cuộc sốngcộng đồng

Ngày nay tri thức của loài người đang tăng nhanh về khối lượng, đổi mới nhanh

về chất lượng, với nội dung ngày càng chuyên môn hoá, càng phức tạp Giáo dục nhàtrường không còn là nguồn thông tin duy nhất đem đến cho học sinh trong lứa tuổi họcđường những tri thức mới mẻ của loài người Nhưng giáo dục nhà trường dưới sự chỉđạo của giáo viên vẫn là con đường đáng tin cậy nhất và có hiệu quả nhất làm cho thế

hệ trẻ tiếp thu có mục đích, có chọn lọc, có hệ thống tri thức của nhân loại Không nênnghĩ rằng người ta có thể sớm thay thế việc học có sự chỉ đạo của người dạy trong nhàtrường bằng việc tự học hoàn toàn với sự trợ giúp của các thiết bị thông tin Ngược lại,phải coi giáo dục nhà trường là nền tảng, là giai đoạn đầu của quá trình học tập suốtđời và như vậy, vai trò của người dạy càng quan trọng Có điều là chức năng của họ đãthay đổi, đó là dạy phương pháp học để người học có thể tự học suốt đời, học cái bấtbiến để ứng với cái vạn biến Như vậy tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề tự học vừamang tính khoa học, tính thời đại hơn nữa còn thể hiện tính nhân văn sâu sắc

Trang 22

Theo Hồ Chí Minh, tự học được thực hiện khi người học xác định rõ mục đíchhọc tập cho mình và xây dựng được động cơ học tập đúng đắn Trong lời khuyên đốivới vấn đề tự học, việc xác định mục đích học tập được Hồ Chí Minh nhắc đến đầutiên: “Phải biết tự động học tập”, “ Không phải có thầy thì học, thầy không đến thìđùa” [44, tr 50], phải tìm lấy sách mà đọc, lấy sách làm thầy Trả lời câu hỏi: “Học đểlàm gì?”, Hồ Chí Minh cho rằng, “Học để sửa chữa tư tưởng… Học để tu dưỡng đạođức cách mạng Học để tin tưởng Học để hành” [47, tr 50] Muốn hành tốt phải hiểu

kỹ, từ đó mới có thể tiến lên sáng tạo cái mới Ngày xưa, học để kiếm lấy mảnh bằng

để làm quan Ngày nay, “học để làm việc”, mà việc thì mỗi ngày mỗi nhiều, mỗi mới.Bởi vậy, còn sống còn phải học “Học hành là vô cùng, học càng nhiều, biết càngnhiều càng tốt” [64, tr 309], học mãi để tiến bộ mãi, để bắt kịp với xu thế của thời đại.Không ai có thể tự cho mình là biết đủ rồi “Thế giới ngày càng đổi mới, nhân dân tangày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”[11, tr 125] Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã nói: “ Tri chi giả bất như hiếu tri giả,hiếu tri giả bất như lạc tri giả” (Nghĩa là: “ Biết mà học không bằng thích mà học,thích mà học không bằng say mê mà học”) cũng có nghĩa là như vậy

Muốn tự học thành công phải có kế hoạch, phải sắp xếp thời gian học tập khoahọc, phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch, không lùi bước trước mọi khó khăn, trởngại Hồ Chí Minh căn dặn: “sắp xếp thời gian và bài học phải cho khéo, phải có mạchlạc với nhau mà không xung đột với nhau” [30, tr 273] Kho tàng tri thức của nhânloại là vô tận, học sinh phải biết lựa chọn nội dung phù hợp, chớ nên tham nhiều vàtránh chồng chéo về nội dung Phải lập ra cho mình thời gian biểu hợp lý, khoa học vàquyết tâm thực hiện kế hoạch đã lập ra

Trong quá trình học, tiếp thu bài giảng của giảng viên, sinh viên phải tự nghiêncứu sách giáo khoa, đọc tài liệu, làm bài tập mục đích trước hết và tối thiểu mà ngườihọc phải đạt được là hiểu Chính việc tự hỏi, tự trả lời, tự đánh giá là quá trình pháthiện ra những điều không hiểu, không thông suốt và cần phải tìm cách giải quyếtnhững thắc mắc đó Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở người học “ không được tin một cách

mù quáng từng câu một trong sách”, “ phải đặt câu hỏi “ vì sao”, phải suy nghĩ kỹ càngxem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắmmắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều Phải suy nghĩ chín chắn” [55, tr 500] Đâychính là quá trình mà người học rèn luyện phương pháp tư duy cho bản thân, nâng cao

Trang 23

năng lực tìm tòi, giải đáp các câu hỏi đặt ra, qua đó mà nắm vững hơn những nội dungcần thiết, cần áp dụng Trong quá trình ấy đòi hỏi mỗi sinh viên “phải nêu cao tácphong độc lập suy nghĩ đọc tài liệu thì phải đào sâu, có vấn đề gì chưa thông suốt thìmạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ” [20, tr 500] Nếu tự mình thấy không thỏa mãn

ở chỗ nào thì tìm thêm tài liệu tham khảo mà đọc, chưa thật thông hiểu có thể hỏingười khác và tiếp thu lời giải đáp, nhờ đó có thể hiểu hơn, khả năng hành động, giảiquyết vấn đề vững chắc hơn

Quan điểm trên của Hồ Chí Minh tương đồng với bốn trụ cột của giáo dục toànThế Giới trong thế kỉ XXI: Học để biết; Học để làm; Học để tồn tại; Học để chungsống Hồ Chí Minh rất chú trọng thực hành trong tự học Hồ Chí Minh kịch liệt phêphán lối học vẹt, lối dạy sách vở, biến con người thành mọt sách với lối nói suông vănhoa chữ nghĩa Ngày 21/10/1964, nói chuyện với cán bộ giảng dạy và sinh viên trườngĐại học Sư phạm Hà Nội, Hồ Chí Minh khuyên: “các cháu học sinh không nên họcgạo, học vẹt Học và hành phải kết hợp với nhau” [23, tr 331] Theo Hồ Chí Minh,học và hành là hai khâu của một quá trình nhận thức, luôn gắn bó khăng khít với nhau.Hành bản thân nó cũng là một phương pháp học Hành không chỉ là vận dụng nhữngđiều đã học, mà còn là nguồn gốc của tri thức mới, là biện pháp rèn luyện con ngườimột cách toàn diện, dẫn đến sự xác minh tri thức, lòng quyết tâm thực hiện điều đã họcmột khi những điều đó đã được công nhận là chân lý Chính vì vậy, Hồ Chí Minhkhuyên học sinh: Học thì phải hành, học để hành, học mà không hành thì học vô ích,hành mà không học thì hành không trôi chảy Học đi đôi với hành cho phép cùng mộtlúc hình thành cả tri thức và kỹ năng, hành trở thành một hình thức chính của học, quátrình tự học xảy ra trong chính quá trình hành Chính vì học và hành chưa gắn chặt vớinhau cho nên, ngày nay phần lớn sinh viên ra trường lúng túng trong công việc vàthậm chí phải đào tạo lại Vấn đề đặt ra là phải sửa đổi giáo trình cho sát với thực tếcuộc sống, giảm thời lượng dạy lý thuyết, tăng cường các hoạt động thí nghiệm, thực

tế, thực hành Đối với sinh viên, tập suy luận và phân tích theo phương pháp logic biệnchứng, tập viết luận văn, tập thuyết trình, tập xử lý các tình huống, tập phân tích cáchiện tượng kinh tế xã hội, đi thực tập, đi nghiên cứu thực tế… Đó chính là bắt đầu vậndụng các kiến thức và kỹ năng vào cuộc sống

Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở mọi người phải biết trau dồi kiến thức cho mình quanhiều hình thức học tập đa dạng, học mọi lúc, mọi nơi Trả lời câu hỏi “ Học ở đâu? ”

Hồ Chi Minh cho rằng: Học ở trường, học ở sách vở và học nhân dân, không học nhân

Trang 24

dân là một thiếu sót lớn Sinh viên cần có thái độ khiêm tốn học hỏi những người xungquanh, học những mặt tốt, những kinh nghiệm hay của người khác, phải biết vận dụngnhững tổ chức, những hoạt động sẵn có trong xã hội như thư viện, câu lạc bộ, sáchbáo, các buổi nói chuyện của các chuyên gia, các hội thảo khoa học để làm giàu vốnkiến thức cho mình, đáp ứng yêu cầu của xã hội Sinh viên phải luôn ghi nhớ lời dạycủa Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn thích hợp được với tình thế, muốn cùng tiến hayvượt các bạn khác ta cần phải nhận thức và tự giáo dục không ngừng” [9, tr 26].

Có thể nói, tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tưtưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Ngày 21/7/1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chínhtrị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phảitiếp tục suốt đời Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế Không ai có thể tựcho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngàycàng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” [22,

tr 215]

Đề cập đến vấn đề học để làm gì? Hồ Chí Minh viết: “Học để làm việc, làmngười, làm cán bộ Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhânloại Muốn đạt mục đích cần phải: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” [21, tr.684] Như vậy, quan niệm về học tập của Hồ Chí Minh rất toàn diện: Học tập tri thức

đi đôi với rèn luyện đạo đức cách mạng; học tập nhằm hoàn thiện đạo làm người, nângcao trình độ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ; học để phục vụ lợi ích của Đảng, nhândân, Tổ quốc và cả nhân loại

Xuất phát từ quan điểm “học để làm việc’’, về nội dung học, Hồ Chí Minh đòihỏi phải thiết thực, gắn với yêu cầu công việc hơn là gắn với bản thân Về phươngpháp, Hồ Chí Minh rất chú trọng cách học Hồ Chí Minh nói: “Phải lấy tự học làm cốt,

do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” tức là thực hiện kết hợp ba khâu: cá nhân người học,tập thể và người giảng dạy [20, tr 273]

Trong đó, tự học của cá nhân giữ vai trò “làm cốt” trung tâm quyết định Cònthảo luận của tập thể và hướng dẫn của người dạy mang tính chất bổ sung cho toàndiện kiến thức Theo Hồ Chí Minh, tự học giữ vai trò làm cốt bởi “thời gian các bạnnghiên cứu ở trường này tương đối ngắn ngủi Cho nên không thể yêu cầu quá cao,quá nhiều Những điều các bạn nghiên cứu ở đây có thể ví như hạt cát nhỏ bé” [19, tr.215] Vì vậy, người học nếu muốn có kiến thức sâu rộng, muốn hạt cát ấy lớn hơn phảibiết “tự động học tập”, tức là “tiếp tục săn sóc vun xới, làm cho hạt nhân ấy mọc thànhcây và dần dần nở hoa kết quả” [13, tr 215] Tuy nhiên, công việc tự học không hề dễ

Trang 25

dàng mà vô cùng khó khăn Mỗi người phải có kế hoạch cụ thể, kiên trì, bền bỉ, vượtqua mọi khó khăn, cám dỗ của đời thường Như trong một bài thơ, Hồ Chí Minh căndặn:

“Gạo đêm vào giã bao đau đớn Gạo giã xong rồi trắng tựa bông Sống ở trên đời người cũng vậy Gian nan rèn luyện mới thành công” [24, tr 350]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc đối với

sự nghiệp giáo dục của đất nước ta, đặc biệt là có ý nghĩa quan trọng trong việc đàotạo nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng CNH - HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu''dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh''

1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nâng cao chất lượng tự học

Tự học theo quan điểm của Hồ Chí Minh là tiếp nhận tinh hoa từ các nguồn ánhsáng khác rồi gộp chúng lại, tìm ra cho bản thân mình, dân tộc mình con đường giảiphóng Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trongnhững yếu tố quyết định tạo nên thiên tài và trí tuệ của Hồ Chi Minh Hồ Chí Minh đãlĩnh hội được cả hệ thống trí thức đồ sộ của nhân loại và có sự nhạy cảm sắc sảo vềchính trị, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam

Qua tấm gương tự giáo dục của Hồ Chí Minh, chúng ta cần nhận thấy tự học cómột vai trò, vị trí vô cùng quan trọng là một hình thức học tập không thể thiếu của sinhviên ở các trường đại học

Tự học không chỉ giúp người học không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quảhọc tập khi ngồi trên ghế nhà trường mà còn đặt nền móng cho họ mọi sự say mê,hứng thú, cho thói quen tự học mọi lúc, mọi nơi của cuộc sống sau này để khôngngừng hoàn thiện tri thức, nhân cách bản thân

Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về tự học, có thể rút ra một số nội dung cơ bản

về nâng cao chất lượng tự học cho sinh viên

1.2.1 Mục đích học tập của sinh viên

Học tập là hoạt động đòi hỏi phải nhận thức rõ ràng tính mục đích Hồ Chí Minh

ý thức rất rõ điều này nên luôn chú trọng giải thích tại sao phải học, học để làm gì chomỗi tầng lớp nhân dân thông suốt mà hăng hái đi học

Hồ Chí Minh viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sựđoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [30, tr 684] Học trước hết là đểđáp ứng yêu cầu của công việc thực tế, mà công việc ngày càng nhiều càng khó nên

Trang 26

học là không cùng, còn sống còn phải học Như vậy, quan niệm về học tập của Hồ ChíMinh rất toàn diện: Học tập tri thức đi đôi với rèn luyện đạo đức cách mạng; học tậpnhằm hoàn thiện đạo làm người, nâng cao trình độ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ;học để phục vụ lợi ích của Đảng, nhân dân, Tổ quốc và cả nhân loại.

Với sinh viên- những người chủ tương lai của nước nhà, Hồ Chí Minh khuyênphải học để sau này làm tròn nhiệm vụ người chủ của nước nhà, học để yêu Tổ quốc,yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu đạo đức và triệt để chống lại những gìtrái với quyền lợi của Tổ quốc và lợi ích chung của nhân dân, trái với khoa học, tráivới đạo đức; học để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân giàu nướcmạnh Hồ Chí Minh lý giải thanh niên phải học để biết phải trái, làm việc phải, tránhviệc trái, nhận rõ bạn thù ở ngoài và ở trong mình ta

1.2.2 Thái độ học tập của sinh viên

Sinh viên không chỉ xác định đúng mục đích mà còn phải có thái độ học tập đúngđắn

Trong thái độ học tập của mỗi người, quan trọng nhất là phải khiêm tốn thật thà.Đây là thái độ thể hiện ý thức cầu học, cầu tiến bộ của con người mới Hồ Chí Minhnói: “Phải nêu cao tinh thần khiêm tốn thật thà cái gì biết thì nói là biết, không biếtthì nói không biết Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [23, tr.499] Chỉ có khiêm tốn thật thà với chính bản thân, con người mới nhận ra kiến thứccủa mình, mới nhận ra mình thiếu chỗ nào, đủ chỗ nào? Hồ Chí Minh cho rằng:

“Người nào tự cho mình biết đủ rồi, thì đó là người dốt nhất” [22, tr 499]

Bởi trong cuộc sống không ai hoàn thiện, biết hết mọi thứ Tri thức nhân loạingày càng phát triển, không bao giờ dừng một chỗ Vì vậy, một người ngày hôm nayđược đánh giá là một người hiểu rộng, nhưng ngày mai nếu kiến thức mai một đi thìchính mình tự đánh mất mình, biến mình thành kẻ chậm tiến của thời đại Vì nhận thứcđược mình để biết rằng, phải học thật nhiều để thấy mình còn biết quá ít

Hồ Chí Minh cũng phê phán nghiêm khắc tệ giấu dốt, lười biếng học tập, tự chomình là giỏi nhất thiên hạ Năm 1957, Hồ Chí Minh nói với lớp lý luận chính trị khóa Itrường Nguyễn Ái Quốc: “Cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết Kiêungạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập” [31, tr 450] Năm sau, trong bàiđạo đức cách mạng đăng trên tạp chí Học tập số 12, năm 1958, Hồ Chí Minh viết:

“Hiện nay, chủ nghĩa cá nhân đang ám ảnh một số đồng chí Họ tự cho mình là cái gì

Trang 27

cũng giỏi, họ xa rời quần chúng, không muốn học hỏi quần chúng và chỉ muốn làmthầy quần chúng” [35, tr 290].

Như vậy, để có kết quả tốt trong việc tự học, tự rèn luyện, thì trước hết sinh viêncần phải có mục đích học tập đúng đắn, có sự đánh giá chân thực về năng lực của bảnthân, như vậy mới có ý chí vươn lên và vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống

1.2.3 Phương pháp học tập

Từ chỗ xác định đúng đắn mục đích học tập, có thái độ học tập chân thực vàkhiêm tốn, Hồ Chí Minh yêu cầu việc tự học của người học phải có phương pháp họctập khoa học và hiệu quả

* Sinh viên phải có ý thức tự nguyện, tự giác trong học tập

Song song với thái độ khiêm tốn, thật thà, Hồ Chí Minh còn yêu cầu người họcphải tự nguyện, tự giác trong học tập, phải ham học hỏi Hồ Chí Minh nói: “Thanhniên bây giờ là một thế hệ vẻ vang vì vậy cho nên phải tự nguyện tự giác mà tự độngcải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình” [34, tr 172] Tựnguyện, tự giác cải tạo tư tưởng là tự nguyện tự giác bổ sung thêm vốn kiến thức, vốnhiểu biết Đây là biểu hiện cao của tự học, tự giáo dục Hồ Chí Minh nói: “Phải tựnguyện, tự giác xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ phải hoàn thành chođược” [36, tr 499]

Muốn vậy, sinh viên phải tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình bằngnhiều phương pháp như: Tự giác tìm tài liệu tham khảo, tự giác trao đổi thảo luận vớibạn bè, hỏi thầy cô, anh chị, cha mẹ… Đồng thời, làm chủ được quá trình học tập ởmình Khi đã tự nguyện, tự giác sinh viên mới tích cực học tập, tự động hoàn thành kếhoạch học tập “không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào trong học tập” [31, tr 499]

Tự nguyện, tự giác trong học tập ở trường thì sẽ tự nguyện, tự giác khi học tập ở nhà.Nếu không tự nguyện tự giác thì sẽ không tự học thành công

* Sinh viên phải chống học vẹt, đọc thuộc lòng và phải tư duy trong học tập Theo Hồ Chí Minh khi đã nghiên cứu, tự giác học tập thì phải chống học vẹt,phải suy nghĩ trong học tập

Học vẹt là biểu hiện của nền giáo dục nô dịch, người khuyên “Các cháu khôngnên học gạo, không nên học vẹt’’ [22, tr 498] Mà học tập nên suy nghĩ tìm tòi HồChí Minh thường nhắc nhủ cần tránh lối học thuộc lòng từng câu từng chữ, nhất là đối

Trang 28

với học lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, vì lý luận Mác –Lênin là kim chỉ nam chomọi hành động, đầy tính sáng tạo

Ý thức tự nguyện tự giác là biểu hiện cao của học tập, và cũng là một phươngpháp có hiệu lực để chống học vẹt, cho nên phải để cho tư tưởng được tự do, không

mù quáng theo sách vở, có thế mới đạt được chân lý khách quan Hồ Chí Minh nói:

“Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng, đọc tài liệu thì phải đàosâu hiểu kỹ không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề gì chưathông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ Đối với bất cứ vấn đề gì đều phảiđặt câu hỏi “vì sao”, đều phải suy nghĩ xem nó có hợp với thực tế không, có thật đúng

ý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều” [23,

tr 499] Một điều chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, việc học vẹt và học thuộc lòngtừng câu chữ sẽ đưa đến một kết quả ngược lại so với những gì người học mong đợi

Đó là làm cho người học tiếp thu kiến thức một cách thụ động, không chịu suy nghĩ và

tư duy Từ đó, nó làm mất đi khả năng chủ động và linh hoạt, tích cực và sáng tạotrong lĩnh hội tri thức của người học Ngược lại, khi có phương pháp học tập khoa học,đúng đắn, chúng ta sẽ phát huy được nội lực của bản thân, tiến đến làm chủ tri thức,biến đổi và cải tạo thực tiễn

* Sinh viên phải kết hợp học đi đôi với hành

Hiện nay, sinh viên nói chung và sinh viên trường đại học Quảng Bình nói riêngđang phải đối mặt với một thực trạng đó là: Sự quá tải của chương trình học, việc học

và học ở trường, ở nhà, ở trung tâm; học thầy, học bạn; học trong sách vở, tài liệu, họctrên mạng Điều này, đã làm cho người học cảm thấy áp lực, mệt mỏi và quan trọnghơn là ngày càng xa dần với hiện thực đời sống và khả năng vận dụng tri thức của cácsinh viên còn hạn chế Trong thực trạng đó, chúng ta càng thấm thía lời dạy của HồChí Minh: Học phải đi đôi với hành, lý luận phải đi đôi với thực tiễn

Trong quá trình giáo dục và chỉ đạo giáo dục, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: Lýluận phải gắn liền với thực tiễn Trong giáo dục, lý luận chính là nội dung các mônhọc Nó là sự đúc kết từ thực tiễn, từ nghiên cứu khoa học thành tri thức, phạm trù,quy luật… Thực tiễn là một sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, của hoạt độngcon người, thậm chí cả sự vận dụng lý luận

Theo Hồ Chí Minh: “Học để vận dụng, chứ không phải học lý luận vì lý luậnhoặc vì tạo cho mình cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng” [19, tr 497]

Trang 29

Hồ Chí Minh từng nói: “Học và hành phải đi đôi Học mà không hành thì học vô ích.Hành mà không học thì hành không trôi chảy” [29, tr 50].

Cốt lõi của tự đào tạo là tự học, mà công cụ quan trọng nhất của tự học là sách.Siêng xem sách và xem được nhiều sách là điều đáng quý, nó sẽ bổ sung vốn kiến thứccho con người Nhưng thế không phải là đã biết lý luận, Hồ Chí Minh nói: “Lý luậncốt để áp dụng vào thực tế Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông Dùxem được hàng ngàn, hàng vạn cuốn sách nếu không biết đem ra thực hành thì khácnào một cái hòm đựng sách” [44, tr 234].Vì vậy, cần có sự thống nhất giữa học vàhành, học đi đôi với hành giúp mỗi người hình thành cả tri thức lẫn kĩ năng

Như vậy, lý luận và thực tiễn là hai phạm trù có mối quan hệ gắn bó hữu cơ vớinhau Vận dụng nguyên tắc này trong học tập cho sinh viên vừa có ý nghĩa quan trọng

và thiết thực, lại vừa trang bị cho các em phương pháp và kỹ năng trong rèn luyện đạođức và cuộc sống

1.2.4 Thời gian học và không gian học

Không chỉ có phương pháp, thái độ và mục đích học tập đúng đắn mà sinh viêncần phải biết cách học vào thời gian nào là hiệu quả và học ở đâu là tốt nhất

Theo Hồ Chí Minh thì để tự học có hiệu quả thì người học phải “Sắp xếp thờigian và bài học phải cho khéo, phải mạch lạc với nhau” [43, tr 502] Có sắp xếp thờigian người học mới chủ động được thời gian học Bài học mạch lạc thì khi tiến hành tựhọc có tuần tự và logic Muốn tự học thành công, sinh viên phải có kế hoạch học tập.Tranh thủ thời gian mọi lúc, mọi nơi để học tập: Học ở thầy cô, bạn bè, học ở sách vở,học ở lớp, học vào lúc rảnh rỗi, triệt để sử dụng mọi phương tiện, mọi hoàn cảnh đểhọc

Với tinh thần học tập như thế, Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động cáchmạng ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc vừa làm việc vừa học Để có hiệu quả cao,Nguyễn Ái Quốc đề ra cho mình một kế hoạch thật khoa học và nghiêm túc thực hiện

Để học tốt ngoại ngữ, sau khi hỏi được nghĩa từ mới, Nguyễn Ái Quốc viết vàomột mảnh giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất, có khi viết cả vào cánh tay để trong lúc làmviệc vẫn học được Lại cả khi đi đường, Nguyễn Ái Quốc cũng nhẩm bài học Banđêm khi chưa ngủ, Nguyễn Ái Quốc lấy tay viết mò những chữ khó xuống chăn cho kỳnhớ mới thôi, và thế là đã học thêm được vài từ mới nữa

Trong việc viết báo, Nguyễn Ái Quốc nói viết cũng như mọi việc khác, phải cóchí, chớ giấu dốt nhờ tự phê bình và phê bình mà tiến bộ, có quyết tâm thì việc gì khó

Trang 30

mấy cũng làm được Nguyễn Ái Quốc học ngoại ngữ, học viết báo, nghiên cứu chủnghĩa Mác - Lênin, biết sử dụng thông thạo trên 10 ngoại ngữ, là nhờ tự học chứkhông qua một trường đào tạo chính quy nào, Nguyễn Ái Quốc tự học ở sách báo,đồng nghiệp, bạn bè, nhân dân, tự học từ thực tiễn cuộc sống.

Đồng thời Hồ Chí Minh căn dặn chúng ta, tự học ở trường là khi vừa học theobài giảng của thầy vừa “độc lập suy nghĩ” là khi không có thầy cũng học, chứ khôngphải “thầy không đến thì đùa” [38, tr 50] Hồ Chí Minh học còn phải học tập “khôngphải chỉ ở tại nhà trường, có lên lớp, mới học tập, tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạođược” [38, tr 28] Bởi vì cuộc sống ngoài trường lớp phong phú và đa dạng hơn nhiều,những cái đó đều có ích cho người học.Tuy nhiên, ngoài trường sinh viên còn bị chiphối bởi các hoạt động khác vì thế để có thể vừa học ,vừa hoàn thành công việc khác,sinh viên sẽ không chỉ học trong sách vở học theo thầy mà còn phải học bạn bè, họchỏi lẫn nhau, thực hành thí nghiệm, tự luận, học trong thực tế, học trong nhân dân…để

có được tri thức vừa chuyên sâu, vừa toàn diện

Như vậy, có thể thấy rằng thời gian và không gian học trong quan điểm của HồChí Minh không bó hẹp và khuôn mẫu Để đạt chất lượng và hiệu quả cao, đòi hỏingười học phải có kế hoạch thật sự khoa học và nghiêm túc thực hiện nó với tinh thần

tự giác cao độ

Trang 31

Kết luận chương 1

Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo nói chung

và tự học nói riêng trở thành tài sản quý báu của dân tộc, là ngọn hải đăng soi đường

sự nghiệp trồng người của Đảng và Nhà nước ta; là cơ sở lý luận cho việc xác địnhchiến lược đào tạo con người trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước

Tấm gương học tập, vượt qua khó khăn thử thách để vươn lên trong học tập vàcuộc sống của Hồ Chí Minh là mẫu mực để cho các thế hệ thanh niên học tập và rènluyện, tu dưỡng đặc biệt đối với thanh niên, sinh viên những chủ nhân tương lai củađất nước Nếu trong quá trình giảng dạy, người dạy biết vận dụng tấm gương tự họccủa Hồ Chí Minh để giáo dục đạo đức cho sinh viên thì sinh viên sẽ có thêm được kinhnghiệm học tập rèn luyện, có định hướng đúng đắn về nghề nghiệp trong tương lai,biết yêu quý sức lao động của chính mình và tôn trọng thành quả lao động của ngườikhác, từng bước rèn luyện kiến thức, kĩ năng sống, hình thành phát triển nhân cách tốtđẹp Từ đó giáo dục sinh viên ý thức trách nhiệm với chính bản thân mình, tráchnhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, có niềm tin sâu sắc vào con đường xây dựngCNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn Vì vậy, trong qúa trình giáo dục ý thức tựhọc cho sinh viên việc vận dụng tấm gương sáng về tinh thần tự học và học tập suốtđời của Hồ Chí Minh là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa hết sức quantrọng

Trang 32

Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG TỰ HỌC CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC CHO SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 2.1 Vài nét khái quát về trường Đại học Quảng Bình

Trường Đại học Quảng Bình ra đời ngày 24/10/2006 theo Quyết định số237/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở là Trường Cao Đẳng Sư Phạm màtiền thân là Trường Trung cấp Sư phạm Quảng Bình được thành lập năm 1959 Trảiqua hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, trường đã có nhiều cống hiến cho quêhương Quảng Bình và đất nước, đã đào tạo hơn 5 vạn cán bộ, giáo viên, cử nhân, kỹ

sư, cung cấp nguồn nhân lực quan trọng cho tỉnh Quảng Bình và các tỉnh khác ĐượcNhà nước tặng Huân chương chiến công hạng Ba, Huân chương kháng chiến hạng Ba,Huân chương lao động hạng Ba, Huân chương lao động hạng Nhì và nhiều bằng khen

cờ thi đua của tỉnh và Bộ Giáo Dục- Đào Tạo Lịch sử hình thành và phát triển trườngĐại Học Quảng Bình cho đến nay đã trải qua bảy giai đoạn:

+ Giai đoạn 7 ( từ 2006 đến nay)

Trường Đại học Quảng Bình là trường đại học công lập, đa cấp, đa ngành Làtrung tâm nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ với nhiệm vụ đàotạo nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hộinhập của tỉnh Quảng Bình và các vùng lân cận Trường Đại học Quảng Bình phát triểntheo hướng toàn diện, hiện đại phù hợp với sự phát triển chung của hệ thống giáo dụcđại học Việt Nam, phấn đấu là trường đại học có uy tín trong cả nước, nơi đào tạo độingũ nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu xã hội và trở thành trung tâm hàngđầu trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao các ứng dụng khoa học công nghệ củatỉnh Được tọa lạc tại trung tâm thành phố Đồng Hới xinh đẹp, cơ sở của trường vớidiện tích 12 ha, là một cơ ngơi khang trang, gồm khu nhà hiệu bộ, khu làm việc củacác đơn vị, trung tâm học liệu, giảng đường, khu thể dục thể thao và ký túc xá sinh

Trang 33

viên Khuôn viên nhà trường có đầy đủ hệ thống cây xanh, sân cỏ, có sân thể dục thểthao, nhà gửi xe cho giáo viên và sinh viên, phòng bảo vệ, phòng y tế và các vănphòng riêng tạo môi trường cảnh quan “xanh - sạch - đẹp” Cơ cấu tổ chức, bộ máyquản lý Trường Đại học từng bước được hoàn thiện Hiện nay trường Đại học, có 11khoa, 8 phòng ban, và 4 Trung tâm Tin học – Ngoại ngữ, Trung tâm học liệu, Trungtâm nghiên cứu và thực nghiệm nông lâm, Trung tâm hổ trợ sinh viên và quan hệdoanh nghiệp

Từ một trường CĐSP trở thành cơ sở đào tạo đại học đa ngành, đa cấp, đa hệ là

sự cố gắng to lớn của cán bộ, giảng viên Nhà trường và sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh

ủy, UBND Tỉnh, Bộ Giáo dục – Đào tạo, của các cơ quan ban ngành Đến nay TrườngĐại học Quảng Bình đã có quy mô, ngành nghề khá bề thế; đội ngũ cán bộ, giảng viêntăng nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng (hiện nay có 314 viên chức, giảng viên vàlao động hợp đồng, 194 giảng viên, 120 viên chức hành chính và lao động hợp đồng,trong đó có 3 PGS, 37 TS, 158 thạc sĩ); các giảng viên của trường tích cực trong việcnghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm thông qua việc tổ chức các chuyên đềchuyên môn, hội thảo cấp trường, viết sáng kiến kinh nghiệm Các thầy cô giáo tíchcực trong việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.100% giảng viên của trường đều đạt chuẩn, quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng; cơ

sở, vật chất, trang thiết bị được tăng cường, đã và đang là địa chỉ quan tâm của ngườihọc và của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ sở đào tạo trong và ngoài nước

Bên cạnh việc nâng cao chất lượng văn hóa nhà trường luôn coi trọng giáo dụcchính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên Trường thường xuyên tổ chức cácsân chơi bổ ích đã thu hút sự tham gia tích cực của sinh viên Hoạt động văn nghệ, thểdục thể thao trong cán bộ, giảng viên và sinh viên được quan tâm, trường đạt nhiều kếtquả trong các phong trào của địa phương, của ngành

Với sự cố gắng của giảng viên và sinh viên trong những năm qua, trường Đại họcQuảng Bình đã đạt được nhiều thành tích đáng trân trọng và tự hào, nhưng trước yêucầu nhiệm vụ mới đòi hỏi các giảng viên và sinh viên phải nỗ lực cố gắng nhiều hơnnữa, đồng thời tiếp tục nâng cao vị thế là trường tốp đầu về chất lượng đào tạo trongnước Phát huy tốt truyền thống hiếu học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh

Trang 34

2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên trường Đại học Quảng Bình

Qua tổng hợp nghiên cứu chúng tôi cho rằng sự hình thành và phát triển năng lực

tự học của sinh viên chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau đây:

2.2.1 Ý thức học tập và động cơ nhận thức của bản thân sinh viên

Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong quá trình hìnhthành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Vì xét cho cùng chất lượng học tậpphải là kết quả trực tiếp của sự nỗ lực của chính bản thân người học Nếu người họckhông xác định được vai trò quyết định của mình trong sự thành bại của sự học, thìkhông bao giờ tự học thành công Chỉ khi đã xác định được mục đích và động cơ họctập đúng đắn Sinh viên mới có thể phát huy được “nội lực” trong học tập, từ đó kếthợp các yếu tố “ngoại lực” khác để tổ chức các hoạt động học tập diễn ra một cách hợp

lý và thu được kết quả cao

2.2.2 Vốn tri thức hiện có của bản thân sinh viên

Hầu hết các môn học đều được sắp xếp theo dạng phát triển, những tri thức sauđược xây dựng trên những cơ sở của tri thức đã có trước Để chiếm lĩnh các tri thứckhoa học nói chung, người học cũng như người trèo thang không qua nấc thang thấpthì không thể tiến lên nấc cao hơn Để tự học có hiệu quả thì người học phải tự trang bịcho mình vốn kiến thức tối thiểu để tự nghiên cứu vấn đề mình quan tâm

2.2.3 Năng lực trí tuệ và tư duy

Năng lực trí tuệ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri thứckhoa học nhanh hay chậm của mỗi sinh viên Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi làquyết định đến khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng Những người

có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có đủ vốn tri thức tốithiểu nhiều khi họ có thể độc lập làm việc một mình mà không cần tới sự hướng dẫncủa giảng viên

Phương pháp tư duy: Khả năng vận dụng các thao tác tư duy cũng là một yếu tố

có ảnh hưởng lớn đến khả năng tự học của sinh viên

Ngoài ra, trong quá trình học tập để tiếp thu tri thức, kết quả học tập của sinhviên tùy thuộc phần lớn vào tính chất và cơ cấu của tư duy tích cực của sinh viên Trithức là kết quả của tư duy, đồng thời lại là những điều kiện, phương tiện của tư duy

Vì vậy, tăng cường khả năng tư duy là một yêu cầu để nâng cao chất lượng học tập và

tự học

Trang 35

2.2.4 Phương pháp học tập của sinh viên

Nhà sinh lý học người Pháp Penna từng nói: “phương pháp học tốt giúp ta pháthuy được tài năng vốn có; phương pháp học dở sẽ cản trở tài năng phát triển” Nhưvậy phương pháp học tập có vai trò rất quan trọng để người đó có thể thành công tronghọc tập

Mỗi người có một phương pháp làm việc riêng, thói quen hoạt động trí óc riêngkhông ai giống ai Theo A.D.LaGarandrie thì mỗi người có thể có những thói quensau:

+ Thói quen gợi lại những cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng ngày

+ Thói quen ghi nhớ máy móc

+ Thói quen suy luận logic

+ Thói quen tưởng tượng sáng tạo

Trong quá trình dạy học giảng viên không nên ép buộc sinh viên phải suy nghĩtheo thói quen suy nghĩ của mình Mặt khác cần chú ý bồi dưỡng phát triển các thóiquen chưa có cũng như còn yếu của sinh viên, từ đó cũng góp phần hình thành phươngpháp học tập, phương pháp tự học cho họ

Phương pháp tự học là cách thức hoạt động của người học trong quá trình lĩnhhội tri thức, hình thành kỹ năng, tìm tòi tri thức mới Theo Rubakin “Hãy mạnh dạn tựmình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm câu trả lời Đó chính là phương pháp tự học”.Trong tự học, yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp tự học.Nếu người học rèn luyện được thói quen, phương pháp, kỹ năng tự học thì sẽ tạo cho

họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi người, làm cho kết quả học tậpđược tăng lên, thích ứng quá trình học tập của sinh viên và phương pháp dạy học củagiảng viên

2.2.5 Phương pháp dạy học của giảng viên

Phương pháp dạy học là con đường mà chủ thể dùng để tác dụng nhằm biến đổiđối tượng theo mục đích đã định

Theo Từ điển Giáo dục học: “Phương pháp dạy học, cách thầy (cô) tiến hành dạynội dung đi đôi với việc dạy cách học cho học trò nhằm giúp cho trò trau dồi phươngpháp tự học để nắm vững nội dung đang học, đồng thời để rèn luyện cách tự học suốtđời”

Trang 36

Theo GS – TSKH Nguyễn Bá Kim (Trong cuốn “Phương pháp dạy học môntoán”): “Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động và giao lưu của thầy gây nênnhững hoạt động và giao lưu cần thiết của trò nhằm đạt được mục tiêu dạy học” Nhưvậy, có thể thấy rằng: Phương pháp dạy học của giảng viên cũng có ảnh hưởng cực kỳquan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của sinh viên Cụ thể:Trong dạy học giảng viên không chỉ là người nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn

là gợi động cơ học tập cho sinh viên Điều này làm cho sinh viên ý thức được nhữngmục đích đặt ra và tạo được động lực bên trong giúp sinh viên học tập tự giác, tích cựcchủ động sáng tạo

Thông qua việc dạy học của giảng viên, sinh viên nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹxảo, hình thành năng lực và thế giới quan Từ đó mà phương pháp tự học của sinh viênđược hình thành kéo theo đó là sự hình thành và phát triển năng lực tự học của sinhviên

Hoạt động kiểm tra đánh giá của thầy ảnh hưởng đến hoạt động tự kiểm tra đánhgiá của trò Thật vậy, trong quá trình tự tìm ra kiến thức, người học tự tạo ra một sảnphẩm ban đầu, có thể chưa chính xác, chưa khoa học Nhưng thông qua trao đổi vớibạn bè và kiểm tra kết luận của giảng viên, người học tự kiểm tra để sửa sai hoặc hoànthiện sản phẩm của mình Nếu quá trình này diễn ra thường xuyên sẽ hình thành nănglực tự kiểm tra đánh giá của sinh viên, làm cho năng lực tự học ngày càng phát triển.Qua hoạt động dạy học, giảng viên còn hướng dẫn sinh viên đọc giáo trình và cáctài liệu tham khảo làm cho năng lực tự đọc, tự nghiên cứu của học sinh ngày càngđược hình thành và phát triển Đây cũng là con đường quan trọng để người học tiếpthu tri thức, để người học có thể tự học suốt đời

2.2.6 Nội dung, chương trình đào tạo

Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức ngày cànglớn, trong khi đó, thời gian đào tạo không tăng, chương trình đào tạo còn đang thay đổi

và hoàn thiện nên đòi hỏi người học phải tăng cường tự học

2.2.7 Giáo trình, tài liệu học tập và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình và xã hội

Khi đánh giá vai trò của SGK đối với quá trình tự học của sinh viên, PGS.TS BùiVăn Nghị nhận xét: “Nếu người viết sách đặt mình vào vị trí người đọc, trình bày mộtvấn đề có nguồn gốc (từ thực tiễn hoặc từ nội bộ toán học) có hướng đích gợi động cơ,gợi vấn đề, có các hoạt động tương thích với nội dung và mục đích thì sách viết ra sẽhấp dẫn người học Giúp người học ngoài việc học các tri thức khoa học, còn học đượccách suy nghĩ, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề vừa thu được những tri thức sựviệc, vừa thu được những tri thức phương pháp”

Trang 37

Trong quá trình dạy học, sinh viên còn chịu ảnh hưởng của môi trường xungquanh Đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, điều kiện văn hóa xã hội, cơ sở vậtchất… các yếu tố này cũng có ảnh hưởng rất lớn, vì nó tác động không những đếnngười học, mà cả người dạy học.

2.3 Thực trạng chất lượng tự học của sinh viên trường ĐH Quảng Bình

Để đánh giá một cách chính xác, khách quan hoạt động tự học của sinh viêntrường Đại học Quảng Bình hiện nay, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng phiếu điềutra lấy ý kiến về chất lượng tự học

Phiếu điều tra chất lượng tự học của sinh viên gồm các câu hỏi có nội dung đềcập đến những vấn đề liên quan chất lượng hoạt động tự học của trường Đại họcQuảng bình hiện nay Cụ thể tập trung một số vấn đề sau:

- Nhận thức của sinh viên về tự học và vai trò tác dụng của tự học

- Thực trạng về thực hiện tự học của sinh viên

- Những khó khăn trong quá trình tự học

Trong khi soạn thảo các câu hỏi, chúng tôi đã cố gắng tuân thủ yêu cầu trình bày

rõ ràng, dễ hiểu, các phương án bao quát được phạm vi vấn đề nghiên cứu và đảm bảotính khoa học Các câu hỏi chủ yếu là câu hỏi đóng, một số câu hỏi mở ở cuối, giúpkhách thể nghiên cứu thuận tiện dễ trả lời Phiếu điều tra không yêu cầu ghi rõ tênnhằm đảm bảo tính chân thực khi trả lời các câu hỏi

Tổng số phiếu điều tra có 800 phiếu, trong đó 200 phiếu dành cho khóa 58, 200phiếu cho khóa 57, 200 phiếu cho khóa 56, 200 phiếu cho khóa 55, Chúng tôi đã thống

kê và tổng hợp số liệu, đạt kết quả một số mặt như sau:

2.3.1 Nhận thức của sinh viên trường Đại học Quảng Bình về vai trò và tác dụng của tự học trong việc nâng cao chất lượng tự học của sinh viên

Để tìm hiểu nhận thức của sinh viên về vai trò và tác dụng của tự học, trước hếtchúng tôi tìm hiểu xem sinh hiểu biết và quan niệm như thế nào về tự học Khi điều tra

800 sinh viên về vấn đề này thì bạn đều có những quan niệm khác nhau Có những

sinh viên cho rằng“tự học rất quan trọng”, “tự học bình thường”, “tự học không quan trọng”” Như vậy, có thể thấy sinh viên chưa thực sự hiểu thế nào là tự học.

Chính vì vậy các sinh viên chưa thấy được nhận thức được vai trò to lớn của tự học đốivới quá trình học tập của mình

Ngày đăng: 09/02/2019, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w