1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TAC PHAM TRIET HOC CNDV VÀ CNKN

47 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 227,5 KB
File đính kèm TAC PHAM TRIET HOC.rar (42 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn cảnh ra đời và bố cục tác phẩm.- Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Cuối thế kỉ XIX, Chủ nghĩa Tư bản đã bắt đầu bước vào con đường đi lênChủ nghĩa đế quốc và giai cấp tư sản ở tất cả các nư

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tác phẩm “Chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” là một trong những tác phẩm vĩ đạinhất của chủ nghĩa duy vật chiến đấu Nó đánh dấu một giai đoạn quan trọngtrong sự phát triển của triết học và xã hội học Mácxít

Trong tác phẩm vĩ đại này Lênin đã bảo vệ, phát triển và làm phong phúthêm những vấn đề quan trọng nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, đã giải quyết những vấn đề triết học cấp bách trong phong trào cáchmạng của giai cấp vô sản Cùng với các tác phẩm “Làm gì?”, “Một bước tiến haibước lùi”, qua đó trình bày những nguyên tắc về tư tưởng, về tổ chức và sáchlược của đảng kiểu mới, là công cụ cần thiết cho đảng của giai cấp vô sản trongcuộc đấu tranh cách mạng chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại nhằm bảo

vệ chủ nghĩa Mác trong điểu kiện lịch sử mới, trong việc giải quyết nhữngnhiệm vụ đã chín muồi do cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga đặt ra

Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” luônđược coi là cuốn sách giáo khoa, là cuốn sách cần thiết trong học tập lý luận,trong đấu tranh chống lại các hệ tư tưởng tư sản, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xétlại và bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin Đặc biệt trong điều kiệnhiện nay, có nhiều tư tưởng đang tìm cách xuyên tạc, chống phá chủ nghĩa Mác

và lý tưởng cao cả của Đảng ta.Trước tình hình đó, đặt ra yêu cầu phải nghiêncứu kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin thật khách quan.Trong đó, tác phẩm

“Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” là một trong những tácphẩm trọng tâm

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1.1 Vài nét về tác giả

Vlađimir Ilich Lênin tên thật là Vlađimir Ilich Ulianov, sinh ngày 22tháng 4 năm 1870 ở Simbirsk ( nay là Ulianovsk), V.I.Lênin là người bảo vệ,vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng, mở

ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của chủ nghĩa Mác Vì thế học thuyếtnày mang tên Chủ nghĩa Mác – Lênin

Tốt nghiệp xuất sắc bậc trung học, V.I.Lênin vào khoa Luật Đại học Tổnghợp Kazan.Tại đây, V.I.Lênin tham gia nhóm cách mạng trong sinh viên, nêntháng Chạp 1887 thì bị đuổi học.Tháng 10 năm 1888, V.I.Lênin trở về Kazangia nhập nhóm Mácxít ở đó Nhờ tự học, sau 2 năm, V.I.Lênin đã thi đỗ tất cảcác môn học của chương trình 4 năm khoa Luật trường Đại học Tổng hợp Kazanvới tư cách thí sinh tự do

Sau khi tốt nghiệp, V.I.Lênin làm trợ lý luật sư ở Samara.Năm 1895,Lênin gặp Krupskaia và kết hôn cùng bà

Năm 1895, “Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân” doV.I.Lênin thành lập ở Perterburg bị phát giác, V.I.Lênin đã bị bắt và bị đày ởSibir.Trong thời gian lưu đày V.I.Lênin đã viết xong hơn 30 tác phẩm trong đó

có cuốn khá đồ sộ: Sự phát triển chủ nghĩa tư bản ở nước Nga (1899)

Năm 1900, V.I.Lênin ra nước ngoài, cùng với Plekhanov lập ra tờ báo Tialửa.Năm 1903, Đại hội lần thứ II Đảng công nhân xã hội - dân chủ Nga được tổchức tại Luân Đôn.V.I.Lênin đưa ra nguyên tắc xây dựng Đảng vô sản kiểu mới

có kỷ luật nghiêm minh đủ sức tổ chức, lãnh đạo quần chúng Nhóm đa số ủng

hộ Lênin gọi là “Bolshevik”, nhóm thiểu số chủ trương đấu tranh theo kiểu nghịtrường gọi là“Menshevik” Về những nguyên tắc tư tưởng và tổ chức của đảngkiểu mới này được Lênin trình bày trong cuốn Làm gì (1902), Một bước tiến hai

Trang 3

bước lùi (1904) Trong thời kỳ cách mạng 1905-1907 Lênin đã phát triển tưtưởng độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản trong cuộc cách mạng dân chủ tưsản thành cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai sách lược dân chủ xã hội trong cáchmạng dân chủ 1905.

Tháng 4 năm 1905, tại Đại hội lần thứ III Đảng cộng hoà xã hội - dân chủNga ở Luân Đôn, V.I.Lênin được bầu làm chủ tịch Đại hội Đại hội này bầu ra

Uỷ ban Trung ương do V.I.Lênin đứng đầu Tháng 11 năm 1905, V.I.Lênin bímật trở về Peteburg để lãnh đạo cách mạng Nga.Từ tháng chạp 1907, V.I.Lêninsống ở nước ngoài tiếp tục đấu tranh bảo vệ và củng cố Đảng hoạt động bí mật.Cuối tháng 7 năm 1914, V.I.Lênin bị cảnh sát Áo bắt nhưng sau đó ít lâu đượctrả lại tự do và đi Thuỵ Sĩ

Sau cách mạng tháng 2 năm 1917, ở Nga tồn tại 2 chính quyền song song,một bên là chính phủ lâm thời tư sản và một bên là Xô viết các đại biểu côngnhân và binh sĩ Tháng 4 năm 1917, Hội nghị lần VII toàn Nga của Đảng Côngnhân xã hội dân chủ Nga ở Petrograd đã nhất trí thông qua đường lối khởi nghĩa

vũ trang giành chính quyền vơi khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các XôViết ”do V.I.Lênin đề ra

Đầu tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin từ Phần Lan bí mật trở vềPetrograd vạch kế hoạch khởi nghĩa vũ trang và được Uỷ ban trung ương ĐảngCông nhân xã hội dân chủ Nga thông qua Tối ngày 6 tháng 11 năm 1917,V.I.Lênin đến Cung điện Smolnưi trực tiếp chỉ đạo cuộc khởi nghĩa Ngày 7tháng 11 năm 1917 (lịch Nga thời Nga Hoàng 25-10-1917), Cách mạng thángMười Nga toàn thắng Chính quyền đã về tay nhân dân Nhà nước công nôngđầu tiên trên thế giới do Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo đã ra đời

Tại Đại hội các Xô Viết toàn Nga lần thứ II, V.I Lênin được bầu làm Chủtịch Hội đồng nhân Dân uỷ Sau cách mạng tháng Mười, V.I.Lênin tiếp tục lãnhđạo Đảng và Nhà nước Xô Viết đấu tranh chống sự can thiệp quân sự của nướcngoài và lực lượng phản cách mạng trong nước và lãnh đạo quá trình cải tạo xã

Trang 4

hội chủ nghĩa ở nước Nga Sau khi đập tan sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc,V.I.Lênin thi hành chính sách đối ngoại với nguyên tắc cùng tồn tại hoà bìnhgiữa các quốc gia có chế độ xã hội khác nhau.

V.I.Lênin là người sáng lập Quốc tế Cộng Sản III là tổ chức của nhữngngười cộng sản được thành lập 3 - 1919) ở Moscow và giải tán năm 1943, đượctái sinh lại năm 1947 và giải tán năm 1956 Cương lĩnh hoạt động của Quốc tếIII là đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội chủnghĩa, thiết lập chuyên chính vô sản.Vạch ra chiến lược, sách lược chỉ đạophong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và để

ra biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít

V.I.Lênin soạn thảo kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ( công nghiệphoá đất nước, hợp tác hoá nông nghiệp, cách mạng văn hoá), là người sáng lập

ra Kế hoạch điện khí hoá toàn nước Nga (GOELRO), người đề ra Chính sáchkinh tế mới (NEP) Năm 1921 chính sách NEP của Lênin được thông qua tạiĐại hội lần thứ X Đảng Cộng sản Nga và chính sách kinh tế mới được thực hiện

là cho nền kinh tế nga được phát triển nhanh chóng Rất tiếc Chính sách kinh tếmới sau khi V.I Lênin mất không được thực hiện đầy đủ do điều kiện cáchmạng nước Nga trước đại chiến thế giới lần thứ II nhiều thử thách nghiêm trọng

Tháng 1 -1922 đến tháng 3 -1922 do bệnh tình tái phát nghiêm trọng, V.I.Lênin không thể tự ghi chép được nên Ông đã đọc cho thư ký và những ngườicộng sự ghi âm một số bài báo quan trọng như: Những trang nhật ký, Bàn vềhợp tác hóa, Bàn về cách mạng của chúng ta, Thà ít mà tốt, Thư gửi Đại hội đểlại cho Đảng Cộng sản Nga cơ sở định ra đường lối phù hợp với tư tưởng củaV.I.Lênin

Ngày 21 tháng 4 năm 1924 do bị ốm nặng,V.I.Lênin qua đời tại làngGorki, Maxcơva

Trang 5

1.2 Hoàn cảnh ra đời và bố cục tác phẩm.

- Hoàn cảnh ra đời tác phẩm

Cuối thế kỉ XIX, Chủ nghĩa Tư bản đã bắt đầu bước vào con đường đi lênChủ nghĩa đế quốc và giai cấp tư sản ở tất cả các nước thì cũng nhanh chóng vứt

bỏ nền dân chủ hình thức để chuyển hẳn sang lập trường phản động nhất; vì vậy,

về mặt triết học chúng đã mở ra một cuộc đấu tranh mới chống chủ nghĩa duyvật một cách toàn diện với những “vũ khí” mới, mà một trong những vũ khí mớiđược sử dụng lúc này chính là triết học kinh nghiệm hay chủ nghĩa Mach - mộtthứ triết học về thực chất là chủ nghĩa duy tâm chủ quan, một biến dạng của chủnghĩa thực chứng, nhưng ngoài mặt lại làm ra vẻ như một thứ triết học “tối tân”,

“hiện đại” đã khắc phục được sự phiến diện của cả chủ nghĩa duy vật lẫn chủnghĩa duy tâm Còn tại nước Nga, tình hình chính trị sau sự thất bại của cuộccách mạng 1905 là hết sức căng thẳng, chế độ Nga hoàng ra sức đàn áp cáchmạng Trong Đảng dân chủ xã hội Nga, một số phần tử cơ hội đã ngả nghiêng vềmặt triết học nên có xu hướng ngày càng ngả theo triết học duy tâm và tôn giáo.Nga hoàng thẳng tay đàn áp cách mạng, khủng bố nhân dân, tước đoạt nhữngquyền lợi mà nhân dân đã giành được trong cách mạng dân chủ Những ngườiphản động tìm mọi cách làm cho quần chúng xa rời cách mạng, không tin tưởngvào tương lai của một cao trào cách mạng mới mà thỏa hiệp với trật tự đươngthời Chúng đã tấn công tất cả các phong trào cách mạng trên mọi lĩnh vực chínhtrị, kinh tế, tư tưởng.Chúng huy động tất cả bộ máy tác động tư tưởng vào mựcđích đen tối đó

Một số người trong gia cấp tư sản vốn là bạn đồng minh của cách mạng

và một số trí thức là đảng viên Đảng xã hội – dân chủ vì không kiên định lậptrường đã rời bỏ hàng ngũ cách mạng để thích ứng với chế độ đương thời Họtuyên truyền tư tưởng an phận, hưởng lạc, bi quan để lôi kéo quần chúng ra khỏicuộc đấu tranh cách mạng Còn những người Menshevik thì mất tinh thần vàhoảng sợ.Họ đòi phải thủ tiêu Đảng, thủ tiêu đấu tranh chính trị và thỏa hiệp vớichế độ phản động

Trang 6

Lợi dụng tình hình rối ren đó, phái Mach ở Nga tiến hành sự xét lại côngkhai triết học Mác nhằm khôi phục triết học duy tâm bằng cách làm giả nhậnthức luận duy vật biện chứng một cách tinh vi thông qua việc dùng các thuật ngữtựa hồ như là duy vật để che đậy chủ nghĩa duy tâm, nhưng thực tế là họ đã hoàntoàn rời bỏ chủ nghĩa duy vật rồi Có thể coi Mach là người đại diện cho thựcchứng luận đầu thế kỉ XX, vì ông có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong vật lý học vàtriết học lúc đó Về phần vật lý, Mach chống lại nguyên tử luận, không côngnhận vật lý học tồn tại với tư cách là một khoa học nghiên cứu về “thực tạikhách quan”, đồng thời ông cũng công kích mạnh mẽ thuyết động lực học phân

tử cho nên lúc đầu rất ít nhà vật lý ủng hộ ông ta, nhưng do sự phát triển của vật

lý học, khi mà những quan điểm siêu hình, máy móc ngày càng vấp phải nhữngnan giải thì nhiều nhà vật lý học cũng bắt đầu xa lánh chủ nghĩa duy vật mà chịu

sự ảnh hưởng của chủ nghĩa thực chứng (trong đó có cả Albert Einstein) Cáctác phẩm của Mach về sau này được nhiều nhà vật lý học đón đọc vì ở đó cótrình bày các phương án để giải quyết cuộc khủng hoảng trong vật lý học thôngqua các kết luận của vật lý học cổ điển và những tư tưởng triết học thời kì trước

- tức là từ Berkely đến Hume và I.Kant Thông qua các tác phẩm đó, Mach đãlén đưa chủ nghĩa duy tâm chủ quan và bất khả tri vào trong khoa học, điều nàychẳng những không khắc phục được sự khủng hoảng thế giới quan trong khoahọc mà còn như “đổ thêm dầu vào lửa” làm cho cuộc khủng hoảng thêm gay gắt

Lúc bấy giờ cũng có khá nhiều người thực tâm muốn bảo vệ chủ nghĩaMác nên đã đứng ra phê phán chủ nghĩa Mach, song vì sự phê phán không quyếtliệt lại phạm phải nhiều sai lầm trong khi trình bày triết học duy vật biện chứngnên hiệu quả đạt được thấp và còn gây ra một số tổn hại khác cho triết học Mácnói chung

Đứng trước tình hình đó, từ khoảng tháng 2 đến tháng 10 năm 1908,Lênin đã viết tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”dưới dạng một tác phẩm luận chiến để vừa có thể trình bày những nội dung cốtlõi của triết học duy vậy biện chứng vừa có thể trình bày cả về mặt phương pháp

Trang 7

luận để tiến hành cuộc đấu tranh toàn diện chống lại các trào lưu triết học phảnđộng, mà cụ thể ở đây là chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán hay còn được biếtdưới cái tên chủ nghĩa Makhơ

- Bố cục của tác phẩm (Tác phẩm in riêng 1960)

Ngoài hai lời tựa do Lênin viết và phần phụ lục, tác phẩm được chia thànhsáu chương với phần kết luận và phần bổ sung mục 1 chương 4:

- Lời tựa lần thứ nhất từ trang 5 - trang 7

- Lời tựa lần thứ hai 1920 từ trang 8 - trang 9

- Thay lời dẫn “Một số người “mácxít” 1908 và một số nhà duy tâm 1710

đã bài xích chủ nghĩa duy vật như thế nào?” Trang 9 - trang 34

- Chương 1: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán vàcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng (I) Trang 35 - trang120

- Chương 2: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán vàcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng (II).Trang 121 - trang187

- Chương 3: Lý luận về nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán vàcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng (III) Trang 188 - trang 262 Trong ba chươngnày, Lênin đã tập trung phê phán lý luận nhận thức của “chủ nghĩa kinh nghiệmphê phán ” và trình bày một cách hệ thống lý luận nhận thức của chủ nghĩa duyvật biện chứng

- Chương 4: Các nhà duy tâm, bạn chiến đấu và kế thừa của những ngườikinh nghiệm phê phán Trang 263 - trang 346

Trong chương này, Lênin vạch ra mối liện hệ giữa chủ nghĩa kinh kiệmphê phán với một số trào lưu triết học duy tâm và bất khả tri

- Chương 5: Cuộc cách mạng cận đại trong khoa học tự nhiên và chủnghĩa duy tâm triết học Trang 347 - trang 436

Trang 8

Lênin phâm tích thực chất của cuộc khủng hoảng về mặt thế giới quantrong khoa học tự nhiên.

- Chương 6: Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và chủ nghĩa duy vật lịch

- Kết luận Trang 501 - trang 502

- Bổ sung mục 1 chương IV: Tsecnưsepxky phê phán chủ nghĩa Cant từphía nào Trang 503 - trang 506

1908 - 1920 Bọn họ là những kẻ không hiểu gì về chủ nghĩa duy vật biệnchứng, nhưng vẫn tự xưng là người mác-xít về triết học.Họ là những kẻ phá hoạichủ nghĩa duy vật biện chứng và không hề ngại ngùng chấp nhận chủ nghĩa tínngưỡng (gán cho tín ngưỡng ý nghĩa quan trọng nào đó), họ không có dũng khí

và mất hết sự tôn trọng đối với niềm tin của chính mình.Lênin chỉ rõ bọn rốp, Bogdanov, Lu-na-tsac-xky, Bec-man, Ghen-phôn-đơ đều “không hiểu

Trang 9

Ba-đa-rằng Mác và Ăngghen đã nhiều lần gọi quan điểm triết học của mình là chủnghĩa duy vật biện chứng Tất cả những người đó, mặc dù họ có quan điểmchính trị khác nhau rõ rệt, đều liên kết với nhau vì cùng thù ghét chủ nghĩa duyvật biện chứng, đồng thời họ vẫn tự mệnh danh là những người mác-xít trongtriết học! đã không chút ngại ngùng đi đến chỗ thừa nhận ngay thuyết tínngưỡng, nhưng khi cần phải tỏ rõ thái độ của họ đối với Mác và Ăngghen thì họlại mất hết cả dũng khí, mất hết cả sự tôn trọng đối với niềm tin của bản thânhọ”.

1.2 Lê nin đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm chủ quan và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc giải quyết vấn đề cơ sở của triết học.

Chủ nghĩa Mach xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX.Đại biểu của

nó là nhà vật lý học, nhà triết học Áo Ernst Mach (1838 - 1916) và nhà triết học Đức R Avenarius (1843 - 1896).

Nét chung của chủ nghĩa duy tâm chủ quan là đi đến phủ nhận sự tồn tạikhách quan của thế giới, coi cảm giác của con người là sự tồn tại duy nhất, từ đósuy ra rằng mọi sự vật, hiện tượng đều là “tổ hợp”, “phức hợp” của những cảmgiác

Năm 1883, trong cuốn “Cơ học’, Mach cho rằng: Cảm giác không phải lànhững tượng trưng của vật.Ngược lại vật là một tượng trưng tư tưởng của mộtphức hợp cảm giác có một tính ổn định tương đối

R Avenarius trong tác phẩm “Tự luận về phê phán kinh nghiệm thuầntúy” đã viết: Chỉ có cảm giác mới có thể được quan niệm là đang tồn tại thôi

Từ những quan niệm coi sự vật hiện tượng là sự phức hợp của cảm giác,Mach coi nhiệm vụ của khoa học là đi nghiên cứu những mối liên hệ của cảmgiác Trong “Nhiệm vụ của khoa học (1872) – chỉ có thể là: 1 Nghiên cứunhững quy luật về mối liên hệ giữa các biểu tượng (tâm lý học) 2 Tìm ra nhữngquy luật về mối liên hệ giữa các cảm giác (vật lý học) 3.Giải thích những quy

Trang 10

luật về mối liên hệ giữa cảm giác và biểu tượng (tâm lý vật lý học).” [t 18,tr.tr.36]

Mach viết: Tất cả các khoa học tự nhiên chỉ có thể miêu tả những phứchợp của những yếu tố mà chúng ta thường gọi là những cảm giác.[ t 18, tr.tr.53]

Thực chất ở đây là Mach và Avenariusđã “ sự gạt bỏ thực tại khách quan

ở bên ngoài ý thức, tức là ở sự thay thế chủ nghĩa duy vật bằng chủ nghĩa duytâm và chủ nghĩa bất khả tri” thông qua sự xâm nhập của chủ nghĩa duy tâm “vật

lý học” - một trào lưu mới trong vật lý học chỉ coi những khám phá mới như lànhững tượng trưng, những dấu hiệu, những kí hiệu có ích lợi thực tiễn, tức là nóphủ nhận sự tồn tại khách quan, độc lập của thế giới vật chất, phủ nhận thực tạikhách quan được đem lại cho chúng ta trong cảm giác và do ý thức của chúng taphản ánh Những nhà triết học kiêm vật lý học có quan hệ mật thiết nhất với chủnghĩa duy tâm “vật lý học” Mach, Avenarius và các đồ đệ của họ ở Nga đã lợidụng những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên để chống lại chủ nghĩaduy vật và làm sống lại chủ nghĩa duy tâm và hoài nghi luận của Berkeley, củaHume và của I.Kant Có những bằng chứng cho thấy việc một số nhà vật lý ngảtheochủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa Kant và chủ nghĩa bất khả tri Hume là nhữngtác giả chính gây ra “sự nhầm lẫn” trong việc tìm hiểu và giải thích những thànhtựu của vật lý học lúc bấy giờ

V.I Lênin khẳng định học thuyết Mach coi vật chất là phức hợp cảm giác

là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chỉ là sự nhai lại lý luận của Berkeley TheoMach, nếu vật thể là những phức hợp cảm giác, hay theo Berkeley, vật thể lànhững tổ hợp cảm giác thì tất nhiên sẽ đi đến kết luận rằng toàn bộ thế giớichằng qua là biểu tượng của tôi mà thôi [t 18, tr.tr.39]

Ông ta nói: tôi hoàn toàn không quan niệm được rằng người ta có thể nóiđến tồn tại tuyệt đối của những vật mà không nghĩ rằng có người nào đó tri giácđược chúng Tồn tại có nghĩa là bị tri giác (their, tức là những vật esse ispercipi,- đó là danh ngôn của Berkely được dẫn ra trong các sách giáo khoa về

Trang 11

lịch sử triết học) “Một kiến giải được lưu hành một cách kỳ quái trong mọingười là : nhà cửa, núi, sông, nói tóm lại, tất cả những vật có thể cảm giác được,đều có một sự tồn tại tự nhiên hay hiện thực, ở bên ngoài việc lý tính tri giácđược chúng” Béc-cli cho rằng kiến giải ấy là một “mâu thuẫn hiển nhiên”.“Vìnhững đối tượng ấy là gì, nếu không phải là những vật mà chúng ta tri giác đượcthông qua giác quan của chúng ta?mà chúng ta tri giác cái gì, nếu không phải lànhững ý niệm hay cảm giác (ideas or sensations) của chúng ta? và nếu tin rằngnhững ý niệm hay cảm giác nào đó hay những tổ hợp của chúng có thể [t 18,tr.16] tồn tại mà không bị tri giác thì há chẳng phải là vô nghĩa hay sao?” [t 18,tr.17]

Theo Lênin, nếu cho rằng sự vật là phức hợp cảm giác thì cũng có nghĩa

là khẳng định tất cả những gì tồn tại đều là phức hợp cảm giác của tôi, tất cảnhững người khác cũng chỉ là sự phức hợp cảm giác của tôi Như vậy, chỉ cómình tôi là tồn tại thực sự mà thôi Đó là thư chủ nghĩa duy ngã Lênin nói:

“Xuất phát từ các tiền đề ấy thì ngoài bản thân mình ra, không thể thừa nhận sựtồn tại của người khác: Đó là chủ nghĩa duy ngã thuần túy.”[ t 18,tr.39]

Năm 1883 trong Lời tựa quyển “Cơ học”, Mach đã dẫn “Tự luận” của Avenarius(1876) hoan nghênh tư tưởng rất gần gũi với mình Trong Cơ học: “Tất cả cáckhoa học tự nhiên chỉ có thể miêu tả những phức hợp của những yếu tố màchúng ta thường gọi là những cảm giác.” [t 18, tr.53]

Như vậy, sự phát hiện ra những yếu tố của thế giới là ở chỗ:

1 Coi tất cả mọi cái tồn tại đều là cảm giác,

2 Gọi cảm giác là yếu tố,

3 Chia các yếu tố thành yếu tố vật lý và yếu tố tâm lý, - yếu tố sau phụthuộc vào thần kinh của con người và, nói chung, phụ thuộc vào cơ thể conngười; còn yếu tố trước thì không phụ thuộc vào những cái đó;

Trang 12

4 Cho rằng mối liên hệ giữa yếu tố vật lý và yếu tố tâm lý không thể tồntại tách rời nhau; chúng chỉ tồn tại cùng nhau;

5 Chỉ có thể tạm thời không kể đến mối liên hệ này hay mối liên hệ khác;

6 Tuyên bố rằng lý luận “mới” không có “tính chất phiến diện.” [t.18,tr.54]

Lênin cho rằng: nếu coi yếu tố là cảm giác thì không thể thừa nhận sự tồntại của chúng ở ngoài sự phụ thuộc vào thần kinh, vào ý thức của tôi “Nhưngmột khi anh thừa nhận rằng những đối tượng vật lý tồn tại không phụ thuộc vàothần kinh hay cảm giác của tôi và chỉ gây ra cảm giác bằng cách tác động vàovõng mạc của tôi thì như vậy là anh đã rời bỏ một cách nhục nhã chủ nghĩa duytâm “phiến diện” của anh, để chuyển sang một thứ chủ nghĩa duy vật “phiếndiện”! [t 18, tr.55]

“Và đó chính là chủ nghĩa duy vật : vật chất gây nên cảm giác bằng cáchtác động vào giác quan của chúng ta Cảm giác phụ thuộc vào óc, thần kinh,võng mạc, v.v., nghĩa là vào vật chất được tổ chức theo một cách thức nhất định

Sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác Vật chất là cái có trước.Cảm giác, tư tưởng, ý thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theomột cách thức đặc biệt Đó là quan điểm của chủ nghĩa duy vật nói chung, vàcủa Mác và Ăngghen nói riêng.” [t 18, tr.56]

màu sắc là kết quả của sự tác động của một đối tượng vật lý vào võngmạc = cảm giác là kết quả của sự tác động của vật chất vào giác quan của chúng

ta [t 18, tr.58]

Để chống cái gọi là “sự phát hiện ra những yếu tố của thế giới” của phái Mach,Lênin viết: “Nhưng một khi anh thừa nhận rằng những đối tượng vật lý tồn tạikhông phụ thuộc vào thần kinh hay cảm giác của tôi và chỉ gây nên cảm giácbằng cách tác động vào võng mạc của tôi thì như vậy là anh đã rời bỏ một cáchnhục nhã chủ nghĩa duy tâm “phiến diện” của anh, để chuyển sang một thứ chủnghĩa duy vật “phiến diện”! Nếu màu sắc là cảm giác chỉ vì nó phụ thuộc vào

Trang 13

võng mạc (như khoa học tự nhiên buộc anh phải thừa nhận điều đó) thì như thế

có nghĩa là những tia ánh sáng, khi chiếu đến võng mạc, sẽ đem lại cảm giác vềmàu sắc Thế tức là ở ngoài chúng ta, không phụ thuộc vào chúng ta và ý thứccủa chúng ta, vẫn có sự vận động của vật chất, ví dụ những làn sóng trường cómột độ dài và một tốc độ nhất định, chúng tác động vào võng mạc, đem lại chocon người cảm giác về màu sắc nào đó Đó chính là quan điểm của khoa học tựnhiên Khoa học này giải thích những cảm giác khác nhau về một màu sắc nào

đó bằng độ dài khác nhau của những sóng ánh sáng tồn tại ở ngoài võng mạccủa con người, ở ngoài con người và không phụ thuộc vào con người Và đóchính là chủ nghĩa duy vật: vật chất gây nên cảm giác bằng cách tác động vàogiác quan của chúng ta Cảm giác phụ thuộc vào óc, thần kinh võng mạc, v.v.,nghĩa là vào vật chất được tổ chức theo một cách thức nhất định Sự tồn tại củavật chất không phụ thuộc vào cảm giác.Vật chất là cái có trước Cảm giác, tưtưởng, ý thức là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thứcđặc biệt Đó là quan niệm của chủ nghĩa duy vật, nói chung, và của Mác vàĂngghen, nói riêng Mach và Avenarius đã lén lút du nhập chủ nghĩa duy vậtbằng cách dùng chữ “yếu tố”, tựa hồ như chữ này cứu được lý luận của họ thoátkhỏi “tính phiến diện” của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, và tựa hồ như nó chophép thừa nhận sự phụ thuộc của cái tâm lý vào võng mạc, thần kinh, v.v., thừanhận tính độc lập của cái vật lý đối với cơ thể của con người Thật ra, thủ đoạnlợi dụng từ “yếu tố”, chỉ là một lối ngụy biện hết sức thảm hại, vì người duy vật,khi đọc tác phẩm của Mach và Avenarius, sẽ đặt ra ngay câu hỏi: “yếu tố” là gì?Thật là trẻ con nếu nghĩ rằng bịa ra một từ mới, là có thể tránh được những tràolưu triết học cơ bản”.[ t 18, tr.55-56]

V.I Lênin đã vạch ra mâu thuẫn trong những lập luận của chủ nghĩaMach: Nếu coi yếu tố vật lý là cảm giác thì chúng không thể tồn tại bên ngoài,không phụ thuộc vào thần kinh Còn nếu cho rằng yếu tố vật lý có thể tồn tại màkhông phụ thuộc vào thần kinh thì chẳng khác nào thừa nhận yếu tố vật lý khôngphải là cảm giác mà là vật chất

Trang 14

Lênin khẳng định lập trường của chủ nghĩa duy vật duy vật trong việc giảiquyết vấn đề cơ bản của triết học Lênin chứng minh vật chất là cái có trước,cảm giác, tư duy là cái có sau Trước hết, Lênin khẳng định sự khác nhau giữachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Mach là: Chủ nghĩa duy vật coi vật chất

là cái có trước, cảm giác, tư duy, ý thức là cái có sau

“Vậy là chỗ khác nhau giữa chủ nghĩa duy vật và “chủ nghĩa Mach” trongvấn đề này, chung quy là như sau đây Chủ nghĩa duy vật hoàn toàn nhất trí vớikhoa học tự nhiên, coi vật chất là cái có trước, ý thức, tư duy, cảm giác là cái cósau, vì cảm giác, trong hình thái rõ rệt của nó, chỉ gắn liền với những hình tháicao của vật chất (vật chất hữu cơ).”[ t 18, tr.43]

Theo Lênin, cảm giác là kết quả của sự tác động của thế giới bên ngoài,của sự chuyển hóa năng lượng của những kích thích bên ngoài Như vậy, nếukhông có thế giới bên ngoài, không có năng lượng bên ngoài kích thích lên cácgiác quan thì không thể có cảm giác được.Cảm giác là sự phản ánh những thuộctính riêng lẻ của các sự vật, hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vàocác giác quan của con người.Cảm giác là nguồn gốc của mọi sự hiểu biết, là kếtquả của sự chuyển hóa những năng lượng kích thích từ bên ngoài thành yếu tốcủa ý thức Chính vì thế mà Lênin đã viết: "Cảm giác là hình ảnh chủ quan củathế giới khách quan" Lối ngụy biện của chủ nghĩa duy tâm chủ quan không coicảm giác là hình ảnh của sự vật, hiện tượng bên ngoài mà trái lại coi cảm giác làtồn tại duy nhất (nghĩa là, cảm giác tồn tại hoàn toàn độc lập, không cần thế giớibên ngoài)

Cảm giác có sau vì nó do vật chất sinh ra khi tác động vào giác quan.Vậtchất thì không phụ thuộc vào cảm giác, còn cảm giác thì không thể tồn tại độclập vì nó phụ thuộc vào bộ óc, thần kinh, giác quan Còn có một lý do nữa khẳngđịnh cảm giác, tư duy, ý thức là cái có sau vì chúng là sản phẩm cao nhất của vậtchất được tổ chức theo một cách đặc biệt

Trang 15

“Vật chất gây nên cảm giác bằng cách tác động vào các giác quan củachúng ta Cảm giác phụ thuộc vào óc, thần kinh, võng mạc…, nghĩa là vật chấtđược tổ chức theo một cách nhất định Sự tồn tại của vật chất không phụ thuộcvào cảm giác.Vật chất là cái có trước Cảm giác, tư tưởng, ý thức là sản phẩmcao nhất của vật chất được tổ chức theo một cách thức đặc biệt Đó là quan điểmcủa chủ nghĩa duy vật nói chung và của Mác và Ăngghen nói riêng”[ t 18, tr.56]

V.I Lênin phê phán chủ nghĩa duy tâm chủ quan và khẳng định quanđiểm duy vật biện chứng về mối liên hệ giữa cảm giác, ý thức với bộ óc

“Óc của chúng ta không phải là nơi ở, là trụ sở của tư duy, là kẻ sáng tạo

ra tư duy, cũng không phải là công cụ hoặc khí quan của tư duy, là kẻ chứa đựng

tư duy, hoặc là cơ chất,… của tư duy”… “Tư duy không phải là người cư trútrong óc hay là chủ nhân của óc, nó không phải là một nữa hay một mặt của óc,

…nó cũng không phải là một sản phẩm của óc và thậm chí cũng không phải làmột chức năng sinh lý, hoặc ngay cả một trạng thái nói chung của óc.”[ t 18,tr.97]

Trong cuốn “Khảo sát”, Avenarius cũng nói không kém dứt khoát rằng: Biểutượng “không phải là những chức năng (sinh lý, tâm lý, tâm lý-vật lý) của óc”…Cảm giác không phải là “chức năng tâm lý của óc.”[ t 18, tr.97]

Qua sự phê phán những cách nhìn nhận sai trái trên, V.I Lênin khẳngđịnh quan điểm duy vật biện chứng: Ý thức, tư duy là sản phẩm của mộ dạng vậtchất có tổ chức cao là bộ óc người V.I Lênin trích dẫn câu nói của Ăngghen đểkhẳng định điểu đó.“Tư duy và ý thức là sản phẩm của óc con người”; “ý thức

và tư duy của chúng ta, xem ra tựa hồ như là siêu cảm giác, đều là sản phẩm củamột khí quan vật chất, của một khí quan nhục thể là bộ óc mà thôi.Vật chấtkhông phải là sản phẩm của tinh thần, nhưng tinh thần chỉ là sản phẩm cao cấpcủa vật chất mà thôi Đương nhiên đó là chủ nghĩa duy vật thần túy.” [t 18,tr.97-98]

Trang 16

Chủ nghĩa duy vật cho rằng giới tự nhiên là cái có trước, tinh thần là cái

có sau; nó đặt tồn tại lên hàng đầu và tư duy vào hàng thứ hai.Chủ nghĩa duytâm thì ngược lại Ăngghen nêu rõ sự khác nhau căn bản phân chia những nhàtriết học thuộc “các môn phái” của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vậtthành “hai phe lớn”, và dứt khoát buộc tội là “mập mờ” những kẻ dùng nhữngdanh từ chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật theo bất cứ một nghĩa nào khác

“Vấn đề tối cao của bất cứ triết học nào”, “vấn đề cơ bản lớn của bất cứtriết học nào và đặc biệt là của triết học tối tân - Ăngghen nói - là vấn đề về mốiquan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và giới tự nhiên”[ t 18, tr.112-113]

- Lênin nêu ra ba kết luận cơ bản của nhận thức luận mác-xít và nêu rađịnh nghĩa khoa học về vật chất (167 Tp; 151 Tp) Ba kết luận về nhận thức là:

a Mọi “khách thể tự nó” là hoàn toàn có thể nhận thức được Các biểutượng, quan niệm của chúng ta chỉ là những bản sao hay những phản ánh củanhững khách thể ấy tồn tại ngoài tinh thần mà thôi Lênin viết: “Có những vậttồn tại độc lập đối với ý thức của chúng ta, độc lập đối với cảm giác của chúng

ta, ở ngoài chúng ta, vì không nghi ngờ gì nữa rằng chất a-li-da-rin đã tồn tạingày hôm qua trong hắc ín của than đá, và cũng không nghi ngờ gì nữa rằngngày hôm qua chúng ta chẳng biết tý gì về sự tồn tại đó cả và chất a-li-da-rin đókhông đem lại cho ta một cảm giác nào cả” [ t 18, tr.117]

b Về nguyên tắc không có sự khác nhau giữa vật tự nó và hiện tượng.Giữa chúng là mối quan hệ biện chứng có thể chuyển hoá lẫn nhau Lênin viết:

“Dứt khoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắcgiữa hiện tượng và vật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức vàcái chưa được nhận thức Còn những điều bịa đặt triết học về ranh giới đặc biệtgiữa hai cái đó, về một vật tự nó nằm “ở bên kia” hiện tượng (Cant), về việc cóthể và cần phải dựng lên một bức tường triết học giữa chúng ta và vấn đề về cáithế giới mà một bộ phận nào đó chưa được nhận thức nhưng vẫn tồn tại ở ngoài

Trang 17

chúng ta (Hium) - tất cả những cái đó chỉ là những điều thuần túy bậy bạ,Schrulle, quái tưởng và bịa đặt mà thôi” [t 18, tr.117]

c Chân lý là một quá trình, chân lý không ở điểm đầu hay điểm cuối củanhận thức, chân lý là cụ thể chính ở mối quan hệ tương đối và tuyệt đối của nó(155Tp) Chân lý tuyệt đối là tổng vô hạn của các chân lý tương đối (174Tp).Lênin viết: “Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vực kháccủa khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằngnhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sựhiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy

đủ và không chính xác trở thành đầy đủ hơn và chính xác hơn như thế nào” [t

18, tr.117]

V.I Lênin đưa ra một số nội dung và phương pháp định nghĩa hoàn toànmới về phạm trù vật chất Một trong những đóng góp quan trọng của Lênintrong việc phát triển chủ nghĩa duy vật lên một bước mới là đã đưa ra được mộtđịnh nghĩa kinh điển về phạm trù vật chất

Vật chất là “cửa ải” mà tất cả các nhà vật lý học phải đi qua và bất kì mộtluận đề nào của vật lý học cũng đều được xây dựng từ đó Vật chất có thể coi làkhái niệm cơ sở, là viên gạch đầu tiên để xây dựng tòa lâu đài vật lý học Do đó,các nhà vật lý phải hiểu đúng về khái niệm đó thì mới có thể giúp vật lý học tiến

xa được; ngược lại, nếu hiểu sai hoặc hiểu chưa đầy đủ thì những khám phá vànhững phát minh mới sẽ không được lý giải một cách thấu đáo và điều đó lànguyên nhân trực tiếp đưa lại cuộc khủng hoảng trong vật lý học cuối thế kỉXIX, đầu thế kỉ XX Như Lênin đã vạch rõ: “Vật chất đã tiêu tan mất”, - người

ta có thể dùng câu nói đó để diễn đạt cái khó khăn cơ bản và điển hình đối vớinhiều vấn đề riêng biệt, khó khăn đã gây ra cuộc khủng hoảng ấy Cho nên trongkhi tranh luận với phái Makhơ xung quanh cuộc khủng hoảng của vật lý học,đặc biệt ở cách khắc phục cuộc khủng hoảng đó, Lênin đã phải xác lập một cáchhiểu mới về khái niệm “vật chất” để tránh cho cả khoa học tự nhiên lẫn triết học

Trang 18

những vấn đề nan giải do cách hiểu không đúng trước đó về khái niệm này gâyra.

Rõ ràng việc khắc phục cuộc khủng hoảng trong vật lý học đã gắn liền vớiviệc Lênin đưa ra định nghĩa mới về vật chất, điểm đặc biệt là định nghĩa vậtchất này của Lênin được nêu ra ở chương II và sang tiết 1 chương III thì có bànthêm “Vật chất là gì?,…” Điều đó đã nói lên lôgich của vấn đề mà Lênin đã tiếnhành là: lấy định nghĩa vật chất đó làm cơ sở quy chiếu cho toàn bộ các vấn đềcủa cuộc khủng hoảng thế giới quan, nghĩa là thông qua đó ta có thể tìm thấythực chất, nguyên nhân và cả lối thoát cho cuộc khủng hoảng vật lý học lúc đó

Để hiểu hơn về giá trị của định nghĩa vật chất của Lênin, chúng ta buộcphải điểm lại một cách sơ lược những cách hiểu về “vật chất” của các nhà triếthọc và vật lý học trước khi Lênin đưa ra định nghĩa ấy Từ thời Cổ đại, trongcuộc đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm, tất cả các nhà triết học duyvật (kiêm nhà vật lý học) luôn khẳng định bản chất thế giới là vật chất, song vậtchất là gì thì họ không thể thống nhất với nhau vì có quá nhiều cách hiểu khácnhau, nhưng tựu chung lại thì có thể chia thành hai quan điểm lớn:

- Quan điểm đa nguyên thể phổ biến ở đầu thời cổ đại, quan điểm này chorằng thế giới sự vật hiện tượng do một số các yếu tố vật chất đầu tiên hợp thành.Chẳng hạn như nhà triết học cổ đại Empêđôclơ và trường phái triết học khôngchính thống Lôkayata của Ấn Độ cổ đều cho rằng bốn yếu tố: đất, nước, lửa,không khí sinh ra mọi vật; còn triết học Trung Quốc cổ đại lại cho rằng ngũhành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) là những yếu tố khởi nguyên tạo nên mọi vật

- Quan điểm nhất nguyên thể cho rằng mọi sự vật, hiện tượng được bắtnguồn từ cùng một nguyên thể đầu tiên nào đó Với Talét đó là nước, Anaximencho đó là không khí, Hêraclit cho đó là lửa…Bước tiến quan trọng nhất trongnhững quan điểm nhất nguyên là học thuyết nguyên tử của hai thầy trò Lơxip vàĐêmôcrit, trong thuyết này hai ông coi nguyên tử cũng là vật chất

Trang 19

Dù đã rất cố gắng song các thuyết trên vẫn còn nhiều hạn chế như quy vậtchất về vật thể, chưa đạt tới cách hiểu có hệ thống và mang tính khái quát về vậtchất, đó vẫn chỉ là những giả thuyết thuần túy mang tính triết học dựa trên niềmtin và sự suy đoán chứ chưa được mô tả và chứng thực bằng những kết quả củathực nghiệm khoa học Nhưng dù sao thì học thuyết nguyên tử cũng đã tạo ramột bước ngoặt trên con đường hình thành phạm trù vật chất; trong một thờigian dài, nó được mặc nhiên thừa nhận như một “cột mốc” cho khoa học tựnhiên, nhất là vật lý học phấn đấu đạt tới Trong khi các giả thuyết khác về vậtchất lần lượt bị đào thải thì thuyết nguyên tử lại đứng vững và được bổ sungphát triển mạnh vào thời Phục hưng và Cận đại với những tên tuổi lớn trongngành vật lý và triết học như Galilê, Điđrô, Niutơn, …Thậm chí vào cuối thế kỉXIX, hầu hết các nhà triết học duy vật lẫn khoa học tự nhiên vẫn còn rất say sưavới giả thuyết nguyên tử, họ vẫn coi nguyên tử như là viên gạch cuối cùng cầnkhám phá của tòa lâu đài thế giới.

Mọi chuyện bắt đầu thay đổi với phát minh tình cờ của Rơnghen vào năm

1895, kể từ đó cho đến nay đã có một loạt các phát minh quan trọng khác chứng

tỏ nguyên tử có cấu trúc phức tạp, có thể bị chia nhỏ và chuyển hóa Điều đó làcái cớ trực tiếp gây ra một cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong các nhà vật

lý học, khiến cho các nhà vật lý học giỏi khoa học nhưng kém cỏi về triết họctrượt từ chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc đến chủ nghĩa tương đối, hoàinghi và cuối cùng rơi vào quan điểm của chủ nghĩa duy tâm “Vật chất tiêu tan”

và niềm tin vào chủ nghĩa duy vật của một bộ phận các nhà khoa học vật lý cũngtiêu tan, lợi dụng cơ hội này chủ nghĩa duy tâm triết học la lối lên rằng chủnghĩa duy vật dựa trên nền tảng vật chất đang tiêu tan ấy cũng phải bị biến mấttheo “Vật chất tiêu tan” đó là lời của những nhà khoa học tự nhiên yếu bóngvía, còn “chủ nghĩa duy vật sụp đổ” là lời cầu nguyện của những nhà triết họcduy tâm

Tình hình đó đã buộc Lênin đưa ra một định nghĩa mới và khoa học về vậtchất Trên cơ sở phân tích và khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học

Trang 20

tự nhiên, kế thừa những di sản lý luận của Mác và Ăngghen về sự đối lập giữa ýthức và vật chất, về bản chất và tính thống nhất vật chất của thế giới,…Lênin đãđưa ra được định nghĩa kinh điển về vật chất: Vật chất là một phạm trù triết họcdùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác,được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệthuộc vào cảm giác.

Trong phạm vi khóa luận này, tác giả sẽ không đi sâu phân tích nội dungcủa định nghĩa mà tập trung chỉ ra ý nghĩa của định nghĩa đó đối với việc giảiquyết cuộc khủng hoảng thế giới quan đối với các nhà vật lý học Đương nhiên,

ý nghĩa của định nghĩa vật chất của Lênin đã được nhiều nhà nghiên cứu mổ xẻrồi, ở đây tác giả khóa luận đặc biệt dựa vào các ý kiến của Vũ Trọng Phụng, tácgiả bài viết “Định nghĩa “vật chất” của V.I Lênin và ý nghĩa thế giới quan,phương pháp luận của nó” in trong cuốn “Sức sống của một tác phẩm triết học”

Đầu tiên, Lênin đã sử dụng một phương pháp định nghĩa đặc biệt đối vớiphạm trù vật chất, nghĩa là Lênin đã không quy khái niệm cần định nghĩa (vậtchất) vào một khái niệm rộng hơn để rồi từ đó chỉ ra đặc điểm riêng của nó Vìphạm trù này được xét theo nghĩa triết học chứ không phải theo cách hiểu củacác nhà vật lý học, cho nên nó là một phạm trù rộng lớn nhất, không thể cóphạm trù nào sâu rộng hơn nó, do đó về mặt phương pháp luận Lênin chỉ có thểđịnh nghĩa vật chất bằng cách đặt nó trong mối quan hệ đối lập với “ý thức”,một phạm trù đối lập với nó và chỉ rõ vật chất có trước, ý thức có sau, vật chấtquyết định ý thức Lênin viết: …thử hỏi trong những khái niệm mà lý luận vềnhận thức có thể sử dụng, có những khái niệm nào rộng hơn những khái niệm:tồn tại và tư duy, vật chất và cảm giác, cái vật lý và cái tâm lý, hay không?Không có Đó là những khái niệm rộng đến cùng cực, rộng nhất, cho đến naynhận thức luận vẫn chưa vượt quá được (trừ những thay đổi luôn luôn có thể có

về mặt thuật ngữ) Như vậy ngay từ đầu, hoàn toàn không cho phép lẫn lộn, nhưnhững người theo phái Mach, những học thuyết về kết cấu nào đó của vật chấtvới phạm trù nhận thức luận,…, nghĩa là phải tránh sự lẫn lộn từ trước cho đến

Trang 21

lúc đó trong cách hiểu về cùng một khái niệm “vật chất” của triết học và vật lýhọc Trong triết học, khái niệm “vật chất” được hiểu với tư cách là một phạmtrù, còn trong khoa học tự nhiên, khái niệm ấy có nghĩa là vật thể Đó là điều màtrong hơn hai ngàn năm đã qua không ai phát hiện ra.

Tiếp đến, từ trong định nghĩa ấy ta có thể rút ra thêm một số kết luận như:Một, “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan”.Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học thì đã là một sự trừu tượng, songtrong sự trừu tượng đó lại bao hàm một đặc tính chung nhất và bản chất nhất màmọi sự vật hiện tượng cụ thể đều có, đó là đặc tính tồn tại khách quan độc lậpvới ý thức con người Đặc tính này là tiêu chuẩn số một để phân biệt cái gì là vậtchất, cái gì không phải vật chất.Để hiểu vấn đề này thì cần nắm vững phép biệnchứng giữa tính trừu tượng và tính cụ thể của vật chất.Nếu chỉ thấy tính trừutượng mà quên mất những biểu hiện cụ thể thì không thấy vật chất đâu cả, sẽ rơivào lập trường duy tâm.Theo đó thì chúng ta hoàn toàn có thể nhận thức đượcvật chất bằng cách nghiên cứu những vật thể riêng biệt; song nếu chỉ thấy tínhhiện thực cụ thể thì vật chất sẽ bị đồng nhất với vật thể cụ thể

V.I Lênin đã vạch rõ sai lầm của chủ nghĩa Mach, cũng như của vật lýhọc mới là ở chỗ không tính đến luận điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng vềtính chất cơ bản nhất của vật chất Lênin viết: “Trong khi phủ nhận tính bất biếncủa những nguyên tố và của những đặc tính của vật chất đã được biết cho đếnnay, họ đã rơi vào chỗ phủ nhận vật chất, nghĩa là phủ nhận tính thực tại khácquan của thế giới vật lý Trong khi phủ nhận tính chất tuyệt đối của những quyluật quan trọng nhất và cơ bản, họ rơi vào chỗ phủ nhận mọi quy luật kháchquan trong tự nhiên, rơi vào chỗ tuyên bố rằng quy luật của giới tự nhiên là ước

lệ đơn thuần, là sự hạn chế việc chờ đợi, là “tất yếu lôgic”,… Nhấn mạnh tínhchất gần đúng và tương đối của những tri thức của chúng ta, họ đã rơi vào chỗphủ nhận khách thể độc lập đối với nhận thức, được nhận thức ấy phản ánh mộtcách gần chân thực, tương đối đúng

Trang 22

Quan điểm của Lênin coi “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉthực tại khách quan” đã khắc phục được sai lầm cơ bản của chủ nghĩa duy vậttrước Mác là thường qui “vật chất” về vật thể hay một dạng cụ thể của vật chất.Chính sự phát triển mạnh mẽ của vật lý học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đãđặt ra một câu hỏi về bản thể học sâu xa nhất “thực tại là gì?”, tất nhiên đây làmột luận đề đã được đem ra tranh cãi mấy ngàn năm trước đó Trước đây cácnhà vật lý học đã hy vọng tìm ra “vật chất” có hình dạng đồng nhất như việc nómuốn có trái cây với tính cách trái cây chứ không phải là trái anh đào, trái lê, tráimận Còn giờ đây định nghĩa đó đã cổ vũ các nhà khoa học đi sâu khám phá bảnchất thế giới vật chất như là một sự vô cùng, vô tận vì Lênin đã không đưa ra bất

kì giá trị nhỏ nhất nào Ngày nay, khoa học tiếp tục phát hiện thêm ngày càngnhiều những dạng hạt, phản hạt,…, song tất cả chúng chỉ thể hiện cho tính đadạng, sinh động của một thế giới vật chất vô cùng phong phú đa dạng Nói cáchkhác chúng chỉ minh chứng thêm cho tính đúng đắn của định nghĩa vật chất củaLênin

Hai, “thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác vàtồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.Với nội dung này Lênin đã làm rõ mốiquan hệ giữa thực tại khách quan và cảm giác (ý thức), trong đó thực tại kháchquan là cái có trước và không phụ thuộc vào cảm giác (ý thức).Vật chất là nộidung, là nguồn gốc, là nguyên nhân phát sinh ra ý thức, không có cái bị phảnánh là vật chất thì sẽ không có cái phản ánh là ý thức Theo Lênin thì: Chủ nghĩaduy vật, hoàn toàn nhất trí với khoa học tự nhiên, coi vật chất là tính thứ nhất,coi ý thức, tư duy, cảm giác là tính thứ hai… Ý nghĩa của vấn đề nằm ở chỗ nóchống lại những luận điệu sai lầm của chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức khichúng cố luận giải và khẳng định tinh thần là cái quyết định mọi sự vật và hiệntượng trong thế giới xung quanh chúng ta Việc thừa nhận tính có trước của vậtchất đã hàm chứa các yếu tố lịch sử - tự nhiên, bởi lẽ cách hiểu như thế có nghĩa

là trong lịch sử thì giới tự nhiên tồn tại trước ý thức con người và cả con ngườinữa Dễ hiểu là vì sao cái câu hỏi tưởng đâu là rất dễ trả lời: “Giới tự nhiên cótồn tại trước loài người hay không?” (mục đề tiết 4 chương I của tác phẩm “Chủ

Trang 23

nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”) lại khó khăn với nhữngngười theo phái Mach đến nỗi họ không dám thẳng thắng trả lời câu hỏi đó.Song phải chú ý rằng sự đối lập vật chất và ý thức với tư cách là “cái có trước”

và “cái có sau” chỉ được Lênin xét trong một phạm vi hết sức hạn chế, đó làtrong phạm vi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Lênin nhắc chúng ta:

“Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trongnhững phạm vi hết sức hạn chế; ở đây, thì chỉ vẻn vẹn trong giới hạn của vấn đềnhận thức luận cơ bản: thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau.Ngoài những giới hạn đó ra, tính tương đối của sự đối lập đó không còn nghingờ gì nữa”[ t 18, tr.138-139]

Ba, thực tại khách quan được cảm giác của chúng ta chép, chụp, phản ánh.Với nội dung này, Lênin đã chứng minh vật chất tồn tại khách quan nhưngkhông phải thần bí như Lơphevơrơ, một kẻ xét lại chủ nghĩa Mác từng tuyên bố:

“Chỉ có thể nói vật chất tồn tại nhưng không thể nói nó như thế nào”; ai cũngthấy vật chất thì tồn tại một cách hiện thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụthể mà con người bằng các giác quan (hoặc các dụng cụ nghiên cứu trong khoahọc) có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhận thức được chúng Nghĩa là ngoài dấuhiệu tồn tại khách quan, vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng nữa là có thểnhận thức được, vì vậy về nguyên tắc không có đối tượng nào không thể nhậnthức, chỉ có những đối tượng chưa được nhận thức mà thôi Lênin viết: …giới tựnhiên là vô tận cũng như các hạt nhỏ nhất của nó (kể cả điện tử) đều là vô tận,nhưng lý tính cũng đem chuyển hóa “vật tự nó” thành “vật cho ta” một cáchcũng vô tận như thế Ý nghĩa: Nội dung này đã hoàn toàn bác bỏ thuyết khôngthể biết để cổ vũ, động viên các nhà khoa học ngày càng đi sâu hơn vào thế giớivật chất, phát hiện ra kết cấu mới, những thuộc tính mới cũng như những quyluật vận động và phát triển mới của thế giới, từ đó làm giàu thêm kho tàng trithức của nhân loại Như vậy định nghĩa đã khẳng định khả năng nhận thức thếgiới của con người là vô hạn, chống lại bất khả tri luận, giải quyết mặt thứ haicủa vấn đề cơ bản trong triết học dựa trên quan điểm duy vật triệt để Songchúng ta cũng phải hiểu rằng khả năng nhận thức của con người có thể có được

Ngày đăng: 09/02/2017, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w