Mục tiêu nghiên cứu: trước hết là hệ thống lại một cách rõ ràng,mạch lạc giúp củng cố lại những kiến thức cơ bản về lạm phát đặc biệt là lý luận về các giải pháp giảm thiểu lạm phát để ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia.
Trang 1MỤC LỤC
Mục lục……….1
Danh mục bảng biểu đồ………3
Lời mở đầu………4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT……….6
1.1,Khái niệm và phân loại lạm phát……….6
1.2,Nguyên nhân gây ra lạm phát……… 8
1.2.1,Cung ứng tiền tệ và lạm phát……… 8
1.2.2,Chỉ tiêu công ăn việc làm và lạm phát……… 9
1.2.3,Thâm hụt Ngân sách và lạm phát……… 11
1.2.4,Lạm phát theo tỷ giá hối đoái………11
1.3,Tác động của lạm phát……… 11
1.3.1,Lạm phát và lãi suất……… 11
1.3.2,Lạm phát và thu nhập thực tế………12
1.3.3,Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng………12
1.3.4,Lạm phát và nợ quốc gia……… 13
1.4,Biện pháp khắc phục lạm phát……… 13
1.4.1,Biện pháp tình thế……… 13
1.4.2,Biện pháp chiến lược……….14
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM……… 16
2.1,Tình hình lạm phát ở Việt Nam qua các giai đoạn………16
2.1.1,Giai đoạn 1981 – 2007……… 16
2.1.2,Giai đoạn 2007 – nay……….17
Trang 22.2,Đánh giá thực trạng:………20 2.2.1,Giai đoạn 1981-2007……… 20 2.2.2,Giai đoạn 2007-nay……….21CHƯƠNG 3 : KHẮC PHỤC LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY……… 24Kết luận……….27Danh mục tài liệu tham khảo……….28
TRẦN THỊ THU HIỀN
Trang 3DANH MỤC BẢNG , BIỂU ĐỒ
Hình 1: Cung ứng tiền tệ và lạm phát (trang 8)
Hình 2: Lạm phát chi phí đẩy (trang 9)
Hình 3: Lạm phát do cầu kéo (trang 10)
Bảng 1: Tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1981-1988 (trang 17)Bảng 2: Tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1991-2000 (trang 17)
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007 là mốc đánh dấu bước ngoặt lớn của nền kinh tế Việt Nam.Từ mộtnền kinh tế thuần nông, đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào cây lúa nước naychúng ta đã có thể sánh vai với các nước trên thế giới-Việt Nam ra nhập WTO.Nềnkinh tế thị trường đang dần hoàn chỉnh, Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 sẽtrở thành nước công nghiệp hóa phát triển.Trong nền kinh tế thị trường hoạt độngđầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi nhuận cao và đứng vững trênthương trường Các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải nhanh chóng tiếpcận, nắm vững các vấn đề của nền kinh tế mới.Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinhdoanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong nền kinh tế.Một trong những vấn
đề nổi cộm đó là lạm phát Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường,
nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới
có thể mong muốn đạt được kết quả khả quan Chống lạm phát không chỉ là việccủa các doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của Chính phủ Lạm phát ảnh hưởngtoàn bộ tới nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động Ởnước ta hiện nay chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định, cân đối
là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sốngnhân dân
Bài viết này với đề tài: “Vấn đề lạm phát ở Việt Nam”
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết,cấp bách, đặc biệt thấyđược tầm quan trọng của lạm phát.Vì vậy, với lượng kiến thức còn hạn chế,emthiết nghĩ quan tâm nghiên cứu đến đề tài này cũng là một phương pháp tìm hiểu
nó một cách thấu đáo, sâu sắc hơn
Mục tiêu nghiên cứu: trước hết là hệ thống lại một cách rõ ràng,mạch lạc giúp
củng cố lại những kiến thức cơ bản về lạm phát đặc biệt là lý luận về các giải phápgiảm thiểu lạm phát để ổn định và phát triển kinh tế của một quốc gia.Trên cơ sở lýthuyết đó làm rõ thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1981- nay,để thấy đượcquy luật phổ biến và những diễn biến phức tạp của nó
Phương pháp nghiên cứu:đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
duy vật biện chứng và các quan điểm về lạm phát của các nhà kinh tế hiện đại của
Trang 5nước ngoài và Việt Nam,các quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về kiềmchế để lý giải các chỉ số và đề xuất giải pháp khắc phục thông qua các phươngpháp : so sánh và phần tích giữa các giai đoạn.
Bài viết bao gồm ba chương:
Chương 1 : Cơ sở lý thuyết về lạm phát
Chương 2 : Thực trạng lạm phát ở Việt Nam
Chương 3 : Khắc phục lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Trang 6
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LẠM PHÁT
1.1,Khái niệm và phân loại lạm phát:
Milton Friedmen thì quan niệm: “lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéodài”.Ông cho rằng: “lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”.Ýkiến đó của ông đã được đa số các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ và pháiKeynes tán thành
Ở Việt Nam,ông Bùi Duy Khoát thì chia sẻ quan điểm của luận thuyết “lạm phátcầu kéo” và cho là lạm phát nảy sinh do sự mất cân đối giũa cung và cầu,khi cầu cókhả năng vượt quá khả năng cung của nền kinh tế làm giá cả hàng hóa tăng lên
Song định nghĩa ngắn gọn và chính xác nhất về lạm phát là: lạm phát là hiện tượng giá cả chung tăng lên và giá trị (sức mua thực tế) của đồng tiền giảm xuống.
Lạm phát được đo bằng chỉ số giá cả
-Chỉ số giá cả được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số giá cả hàng tiêu dùng CPI(Consumer Price Index),CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch vụtrên thị trường, các nhóm chính đó là hàng lương thực, thực phẩm, quần áo, nhàcửa, chất đốt, vật tư y tế
Công thức:
CPIt =( Pt gạo/P0 gạo) x 100 x phần chi cho gạo + (Pt chất đốt/P0 chất đốt ) x 100 xphần chi cho chất đốt
Trang 7Trong đó: + Pt gạo: giá gạo trong năm t
+P0 gạo: giá gạo trong năm gốc
-Chỉ số thứ hai cũng thường được sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất (PPI:Producer Price Index), đây là chỉ số giá bán buôn.PPI được xây dựng để tính giá cảtrong lần bán đầu tiên do người sản xuất ấn định
-Ngoài hai chỉ số nói trên,chỉ số giảm phát GNP cũng được sử dụng.Chỉ sốgiảm phát GNP là chỉ số giá cả cho toàn bộ GNP, nó được xác định như sau:
Chỉ số giảm phát GNP = GDP danh nghĩa/ GDP thực tế
Chỉ số này toàn diện hơn CPI vì nó bao gồm giá của tất cả các loại hàng hóa vàdịch vụ trong GNP
1.1.2,Phân loại lạm phát:
Có nhiều cách phân loại lạm phát dựa trên các tiêu thức khác nhau:
+ Xét về mặt định lượng: dựa trên độ lớn nhỏ của tỉ lệ phần trăm (%) lạm pháttính theo năm, người ta chia lạm phát ra thành:
-Lạm phát một con số mỗi năm (lạm phát vừa phải) : xảy ra khi giá cả tăngchậm và tỉ lệ lạm phát dưới 10% một năm.Đây là mức lạm phát mà nền kinh tếchấp nhận được,với mức lạm phát này,những tác động kém hiệu quả của nó làkhông đáng kể
-Lạm phát hai con số mỗi năm:ở mức lạm phát hai chữ số thấp(11, 12, 13%),nói chung những tác động tiêu cực của nó là không đáng kể,nền kinh tế vẫn có thểchấp nhận được.Nhưng khi tỉ lệ tăng giá ở mức hai chữ số cao thì lạm phát có tácđộng tiêu cực rất lớn.Lạm phát hai chữ số trở thành mối đe dọa đến sự ổn định củanền kinh tế
-Siêu lạm phát: những tác động tiêu cực của nó đến đời sống và đến nền kinh
tế trở nên nghiêm trọng.Kinh tế suy sụp một cách nhanh chóng,thu nhập thực tếcủa người lao động giảm mạnh
+Về mặt định tính:
-Lạm phát cân bằng và lạm phát không cân bằng:
Trang 8Lạm phát cân bằng:khi nó tăng tương ứng với thu nhập,do vậy lạm phát khôngảnh hưởng tới đời sống của người lao động.
Lạm phát không cân bằng:tỷ lệ lạm phát tăng khồn tương ứng với thunhập,trường hợp này trên thực tế hay xảy ra nhất
-Lạm phát dự đoán trước và lạm phát bất thường:
Lạm phát dự đoán trước:lạm phát xảy ra trong một thời gian tương đối dài với
tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đều đặn,ổn định.Do vậy người ta có thể dự đoán trướcđược tỷ lệ cho những năm tiếp theo
Lạm phát bất thường:lạm phát xảy ra có tính đột biến mà trước đó chưa hề xuấthiện,gây ra những cú sốc cho nền kinh tế
1.2,Nguyên nhân gây ra lạm phát:
1.2.1,Cung ứng tiền tệ và lạm phát:
Hình 1: Cung ứng tiền tệ và lạm phát tiền tệ
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ,khi cung tiền tệ tăng lênkéo dài sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài và gây ra lạm phát
Ban đầu,nền kinh tế ở điểm 1, với sản lượng đạt ở mức sản lượng tự nhiên Y*
tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên,mức giá cả P1 – điểm giao nhau của đường tổng cung AS1
và đường tổng cầu AD1 Khi cung tiền tệ tăng lên thì đường tổng cầu di chuyểnsang phải đến AD2 Trong một thời gian rất ngắn nền kinh tế sẽ chuyển động đếnđiểm 1’ và sản phẩm tăng lên trên mức sản lượng tự nhiên, tức là đạt tới Y (Y >
1' 2 2' 3
O
Trang 9Y*) Điều đó đã làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên,tiền lương tăng lên và làm giảm tổng cung – đường tổng cung dịch chuyểnđến AS2 Tại đây nền kinh tế quay trở lại mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm trênđường tổng cung dài hạn Ở điểm cân bằng mới ( điểm 2),mức giá đã tăng từ P1 đến
P2
Cung tiền tệ tiếp tục tăng lên,đương tổng cầu dịch chuyển đến AD3 và đườngtổng cung dịch chuyển đến AS3,nền kinh tế đạt tới mức cân bằng mới tại điểm3.Tại đây,mức giá cả đã tăng lên đến P3.Nếu cung tiền tệ vẫn tiếp tục tăng thì sựdịch chuyển của đương tổng cầu và tổng cung như trên lại tiếp tục diễn ra và nềnkinh tế đạt tới mức giá cả ngày càng cao hơn,lạm phát tăng cao
Những quan điểm của phái Keynes: việc tăng chi tiêu Chính phủ hoặc cắt giảmthuế,những cú sốc tiêu cực lên tổng cung đều làm giá cả tăng lên.Nhưng đó chỉ lànhững hiện tượng nhất thời
1.2.2,Chỉ tiêu công ăn việc làm cao và lạm phát:
Hình 2: Lạm phát chi phí đẩy
Có hai loại lạm phát là kết quả của chính sách ổn định năng động nhằm thúcđẩy một mức công ăn việc làm cao,đó là lạm phát phí-đẩy và lạm phát cầu-kéo.+Lạm phát phí –đẩy xảy ra do những cú sốc cung tiêu cực hoặc do kết quả củanhững cuộc đấu tranh đòi tăng lương gây ra
Giả sử nền kinh tế ở trạng thái cân bằng ban đầu tại điểm 1 – điểm cắt của AD1
và AS1 với mức giá P1 Như vậy, với sự gia tăng của chi phí sản xuất,những bước
di chuyển vào (sang trái) của đường AS từ AS1→AS2→AS3…,lúc này sản lượng
1' 2'
3' 43 2 1
1
P1
P2
P3P
O
Trang 10thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng,thất nghiệp tăng lên.Chính phủ đuổitheo chỉ tiêu công ăn việc làm cao phải dịch chuyển đường AD sang phải liên tục
từ AD1→AD2→AD3…,để giữ cho sản lượng ở mức tiềm năng và thất nghiệp ởmức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.Kết quả là làm tăng liên tục trong mức giá cả từ P1
Hình 2 sử dụng khuôn khổ AD-AS :giả sử nền kinh tế cân bằng ban đầu tạiđiểm 1- điểm cắt của AD1 và AS1 với mức giá P1.Như vậy một chỉ tiêu thất nghiệpquá thấp tức một chỉ tiêu sản lượng Y quá cao làm dịch chuyển đường tổng cầu
AD sang phải từ AD1 →AD2 →AD3…,trong khi đó đương tổng cung AS dịchchuyển sang trái từ AS1→AS2 →AS3…,kết quả là làm tăng liên tục mức giá từ
P1→P2→P3…
Hình 3: Lạm phát do cầu kéo
1' 2 2' 3
Trang 111.2.3,Thâm hụt Ngân sách và lạm phát:
Thâm hụt Ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng cung ứngtiền tệ và gây ra lạm phát cao
Chính phủ có thể khắc phục tình trạng thâm hụt bằng cách phát hành tiền,biệnpháp này trực tiếp làm tăng thêm cơ số tiền tệ, do đó tăng cung ứng tiền,đẩy tổngcầu lên cao và làm tăng tỷ lệ lạm phát
Một biện pháp khác là phát hành trái phiếu Chính phủ,biện pháp này dường nhưkhông làm tăng cung ứng tiền tệ,nhưng để giữ cho lãi suất không tăng (khi cầu vềvốn tăng),Ngân hàng Trung ương sẽ phải mua vào các trái phiếu đó,điều này lạilàm cho cung tiền tệ tăng
Do vậy,trong mọi trường hợp, tình trạng thâm hụt Ngân sách cao,kéo dài sẽ lànguồn gốc tăng cung ứng tiền tệ và gây ra lạm phát
1.2.4,Lạm phát theo tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ cũng là nguyên nhân gây
ra lạm phát
Khi tỷ giá tăng,đồng nội tệ mất giá,trước hết nó tác động đến tâm lý của nhữngnhà sản xuất trong nước,muốn kéo giá hàng lên theo mức tăng của tỷ giá hối đoái Thứ hai,khi tỷ giá tăng,giá nguyên liệu,hàng hóa nhập khẩu cũng tăng cao đẩychi phí về phía nguyên liệu tăng (lạm phát chi phí đẩy).Việc tăng giá của nguyênliệu và hàng hóa nhập thường gây ra phản ứng dây chuyền,làm giá của nhiều mặthàng khác cũng tăng lên
1.3,Tác động của lạm phát:
Trong thực tế những tác động của lạm phát tới nền kinh tế và đời sống xã hộihầu hết là các tác động tiêu cực.Dưới đây tôi xin trình bày các khía cạnh bức xúccủa vấn đề lạm phát
1.3.1,Lạm phát và lãi suất:
Trang 12Từ thực tế diễn biến lạm phát của các nước trên thế giới,các nhà kinh tế cho
rằng:lạm phát cao và triền miên có ảnh hưởng xấu đến mọi mặt cảu đời sống kinh
tế ,chính trị và xã hội của một quốc gia
Tác động đầu tiên của lạm phát là tác động lên lãi suất
Để duy trì và ổn định hoạt động của mình,hệ thống ngân hành phải luôn luôn cốgắng duy trì tính hiệu quả của cả tài sản nợ và tài sản có của mình,tức là luôn luônphải giữ cho lãi suất thực tế ổn định.Ta đã biết: lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa –
tỷ lệ lạm phát Do đó,khi tỷ lệ lạm phát tăng cao,để giữ lãi suất thực ổn định thìphải tăng lãi suất danh nghĩa.Việc tăng lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn đến hậu quả mànền kinh tế phải gánh chịu là suy thoái và thất nghiệp gia tăng
đó làm cho số tiền thuế thu nhập mà người có tiền cho vay phải nộp tăng cao (mặc
dù thuế suất vẫn không tăng).Kết quả cuối cùng là thu nhập ròng(thu nhập sauthuế) ,thu nhập thực(sau khi đã trừ đi lạm phát) mà người cho vay nhận được bịgiảm đi
Suy thoái kinh tế,thất nghiệp gia tăng,đời sống của lao động trở nên khó khănhơn sẽ làm giảm lòng tin của dân chúng tới Chính phủ và những hậu quả về chínhtrị,xã hội có thể xảy ra
1.3.3,Lạm phát và phân phối thu nhập không bình đẳng:
Trong quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay,khi lạm phát tăngcao,người cho vay sẽ là người chịu thiệt và người đi vay sẽ là người được lợi.Điềunàu đã tạo nên sự phân phối không bình đẳng giữa người đi vay và người chovay.Hơn thế nữa,nó còn thúc đẩy những người kinh doanh tăng cường thu hút tiền
Trang 13vay để đầu cơ kiếm lợi.Do vậy càng tăng thêm nhu cầu tiền vay trong nền kinhtế,đẩy lãi suất lên cao.
Lạm phát tăng cao còn khiến những người thừa tiền và giàu có,dùng tiền củamình vơ vét và thu gom hàng hóa,tài sản,nạn đầu cơ xuất hiện,tình trạng này cànglàm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung-cầu hàng hóa trên thị trường,giá cảhàng hóa cũng lên cơn sốt cao hơn.Cuối cùng,những người dân nghèo vốn đãnghèo càng trở nên khốn khó hơn.Họ thậm chí không mua nổi những hàng hóa tiêudùng thiết yếu,trong khi đó,những kẻ đầu cơ đã vơ vét sạch hàng hóa và trở nêncàng giàu có hơn.Tình trạng lạm phát như vậy có thể sẽ gây ra những rối loạntrong nền kinh tế và tạo ra khoảng cách lớn về thu nhập,về mức sống giữa ngườigiàu và nghèo
1.3.4,Lạm phát và nợ quốc gia:
Lạm phát cao làm cho Chính phủ được lợi do thuế thu nhập đánh vào ngườidân,nhưng những khoản nợ nước ngoài sẽ trở nên trầm trọng hơn.Chính phủ đượclợi trong nước nhưng sẽ bị thiệt với nợ nước ngoài.Lý do là vì: lạm phát đã làm tỷgiá tăng cao và đồng tiền trong nước trở nên mất giá nhanh hơn so với đồng tiềnnước ngoài tính trên các khoản nợ
1.4,Biện pháp khắc phục lạm phát:
1.4.1,Những biện pháp tình thế:
Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giảm tức thời “cơm sốt lạmphát” ,trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài.Các biện phápnày thường được áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát
Thứ nhất: Các biện pháp tình thế thường được các nước áp dụng,trước hết làphải giảm lượng tiền giấy trong nền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào lưuthông.Biện pháp này còn được gọi là chính sánh đóng băng tiền tệ.Tỷ lệ lạm pháttăng cao,ngay lập tức Ngân hàng Trung ương phải dừng các biện pháp có thể đưađến tăng cung ứng tiền tệ như ngừng thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và táichiết khấu đối với các tổ chức tín dụng, dừng việc mua vào các chứng khoán ngắnhạn trên thị trường tiền tệ,không phát hành tiền bù đắp bội chi Ngân sách Nhànước.Áp dụng các biện pháp làm giảm lượng tiền cung ứng trong nền kinh tế như:Ngân hàng trung ương bán ra các chứng khoán trên thị trường tiền tệ,bán ngoại tệ
Trang 14và vay,phát hành các công cụ của Chính phủ để vay tiền trong nền kinh tế bù đắpcho bội chi Ngân sách Nhà nước,tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tiền gửi tiết kiệmdân cư.Các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thểgiảm bớt được một khối lượng lớn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế quốc dân,do đógiảm được sức ép lên giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường.
Thứ hai: Thi hành “chính sách tài chính thắt chặt” như tạm hoãn các khoản chichưa cần thiết trong nền kinh tế, cân đối lại Ngân sách và cắt giảm chi tiêu đếnmức có thể được
Thứ ba:Tăng quỹ hàng hóa tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưuthông bằng cách khuyến khích tự do mậu dịch, giảm nhẹ thuế quan và các biệnpháp khác cần thiết để thu hút hàng hóa từ ngoài vào
Thứ tư: Đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài
Thứ năm: Cải cách tiền tệ.Đây là biện pháp cuối cùng phải xử lý khi tỷ lệ lạmphát lên quá cao mà các biện pháp trên đây chưa mang lại hiệu quả mong muốn
1.4.2,Những biện pháp chiến lược:
Đây là những biện pháp có tác động lâu dài đến sự phát triển của nền kinh tếquốc dân.Tổng hợp các biện pháp này sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế lâu dài của đấtnước, làm cơ sở cho sự ổn định tiền tệ một cách bền vững.Các biện pháp chiếnlược thường được sử dụng là:
-Thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng lưu thông hàng hóa: có thể nóiđây là biện pháp chiến lược hàng đầu để hạn chế lạm phát,duy trì sự ổn định tiền tệtrong nền kinh tế quốc dân.Sản xuất trong nước ngày càng phát triển,quỹ hàng hóađược tạo ra ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về chủng loại,tạo tiền đề vữngchắc nhất cho sự ổn định tiền tệ.Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển sản xuất hànghóa cho tiêu dùng trong nước,Chính phủ cần phải chú trọng phát triển các ngànhcác hoạt động làm tăng thu ngoại tệ như xuất khẩu hàng hóa, phát triển ngành dulịch…
-Kiện toàn bộ máy hành chính,cắt giảm biên chế quản lí hành chính.Thực hiện tốtbiện pháp này sẽ góp phần to lớn vào việc giảm chi tiêu thường xuyên của Ngânsác Nhà nước,trên cơ sở đó giảm bội chi Ngân sách Nhà nước