Lý thuyết và ứng dụng trong quản lý về Tiền tệ - Ngân hàng đã trở thành một lĩnh vực khoa học hấp dẫn, nhạy cảm và cần thiết đối với tất cả mọi tầng lớp xã hội, đồng thời cũng là lĩnh vực rộng lớn, phức tạp và đầy bí ẩn không dễ chinh phục. Những hiện tượng kinh tế vĩ mô luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý và công chúng, trong đó lạm phát là vấn đề đáng chú ý nhất, được cập nhật thường xuyên trên các phương tiên thông tin đại chúng. Trước một nền kinh tế có nhiều biến động như hiện nay, việc chỉ đạo chính sách tiền tệ là vô cùng cần thiết. Giải pháp kiềm chế lạm phát của Chính phủ đang là khâu trung tâm trong những cuộc tranh luận về đường lối kinh tế. Lạm phát được coi như là một căn bệnh thế kỉ của nền kinh tế thị trường , nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể đạt được kết quả khả quan nhất. Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, luôn rình rập và đe dọa nền kinh tế nước ta bất cứ lúc nào. Xuất phát từ thực trạng trên, em đã chọn đề tài “Lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho mình. Bài của em được chia làm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lạm phát Chương 2: Tình hình lạm phát ở Việt Nam năm 2010, 2011 và sự tác động của lạm phát tới nền kinh tế. Chương 3: Kết luận.
Trang 1CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LẠM PHÁT 3 CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH LẠM PHÁT CỦA VIỆT NAM NĂM 2010, 2011
VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT TỚI NỀN KINH TẾ 18 CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 26
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CLI : Chỉ số giá sinh hoạt
CPI : Chỉ số giá tiêu dùng
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 2Lý thuyết và ứng dụng trong quản lý về Tiền tệ - Ngân hàng đã trởthành một lĩnh vực khoa học hấp dẫn, nhạy cảm và cần thiết đối với tất cả mọitầng lớp xã hội, đồng thời cũng là lĩnh vực rộng lớn, phức tạp và đầy bí
ẩn không dễ chinh phục Những hiện tượng kinh tế vĩ mô luôn là vấn đềquan tâm hàng đầu của các nhà quản lý và công chúng, trong đó lạm phát làvấn đề đáng chú ý nhất, được cập nhật thường xuyên trên các phương tiênthông tin đại chúng Trước một nền kinh tế có nhiều biến động như hiệnnay, việc chỉ đạo chính sách tiền tệ là vô cùng cần thiết Giải pháp kiềm chếlạm phát của Chính phủ đang là khâu trung tâm trong những cuộc tranh luận
về đường lối kinh tế Lạm phát được coi như là một căn bệnh thế kỉ củanền kinh tế thị trường , nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có sựđầu tư lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể đạt được kết quả khả quannhất Lạm phát ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, luôn rình rập
và đe dọa nền kinh tế nước ta bất cứ lúc nào Xuất phát từ thực trạng trên, em
đã chọn đề tài “Lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay” làm
đề tài nghiên cứu cho mình
Bài của em được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về lạm phát
Chương 2: Tình hình lạm phát ở Việt Nam n ă m 2 0 1 0 , 2 0 1 1
và sự tác động của lạm phát tới nền kinh tế.
Chương 3: Kết luận.
Trang 3Theo Các Mác, lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các luồng lưuthông những tờ giấy bạc thừa, dẫn dến giá cả tăng vọt.
Các nhà kinh tế học Mỹ như J.P Luthebing, L.V Chandeler và D.CClinder cho rằng : “ Thời kỳ mà giá hàng tăng, không kể sự biến động ấy làlâu dài, có tính chất chu kỳ hoặc ngoại lệ là thời kỳ lạm phát”
Nhà kinh tế Thụy Điển, Bentet Hanxen viết “ Khi chúng ta nóiđến lạm phát tức là chúng ta quyện nó vào việc nâng giá” Nhà kinh tế PhápEmin Giam nói: “ Hiện tượng cơ bản của lạm phát là sự tăng giá” còn nhàkinh tế người Đức Euyun Danner thì cho rằng “ Lạm phát là sự nâng giá kéodài”
Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu
là Milton Friedman đã định nghĩa: lạm phát là hiên tượng giá cả tăng nhanh
và liên tục trong một thời gian dài.Theo trường phái này, sự tăng lên của mứcgiá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất củalạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá, đó là sự tăng giá với tốc
độ cao và kéo dài Quan điểm này cũng được các nhà kinh tế học trường pháiKeynes ủng hộ, và đặc biệt phù hợp với mục tiêu ổn định giá cả trong dàihạn của NHTW
Trong nền kinh tế hiện đại, lạm phát là sự tăng mức giá chung củahàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế trong một thời kỳ Khi giá tăng,mỗi đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn; do đó, tỷ lệ lạmphát hàng năm làm giảm sức mua của đồng tiền – sự giảm giá trị thực tếcủa vật trung gian để trao đổi trong nội địa và đơn vị tính toán trong nền kinhtế
Đặc trưng cơ bản của lạm phát:
Trang 4- Sự thừa tiền quá mức.
- Sự tăng giá đồng bộ và liên tục theo sự mất giá của tiền giấy
- Sự phân phối lại qua giá cả
- Sự bất ổn về kinh tế - xã hội
Với ý nghĩa như vậy, ta hiểu như sau: Lạm phát được định nghĩa là
sự gia tăng liên tục trong mức giá chung của nền kinh tế trong một thời kỳnhất định Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức muatrong nước của đồng nội tệ
2 Phương pháp đo lường lạm phát
Vì biểu hiện của lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung nên để
đo lường mức độ lạm phát, ta căn cứ vào tốc độ tăng của mức giá chung (còngọi là tỷ lệ lạm phát) và được xác định theo các phương pháp sau:
Tỷ lệ lạm phát được tính bằng phần trăm thay đổi của mức giá chung
Trong đó
Πt : Tỷ lệ lạm phát thời kỳ t (tháng, quý hoặc năm)
Pt : Mức giá chung thời kỳ tPt-1: Mức giá chung thời kỳ t-1
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): CPI đo giá cả các hàng hóa hay được
mua bởi "người tiêu dùng thông thường" một cách có lựa chọn Trong nhiềuquốc gia công nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong cácchỉ số này là con số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đonày thường được sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người laođộng mong muốn có khoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc caohơn tỷ lệ tăng của CPI
Trang 5CPI đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hoá và dịch vụ màmột người tiêu dùng điển hình mua CPI của một năm (thời kỳ) nào đó chính
là tỷ số giữa giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm đó và giá trị (chi phí) giỏhàng của năm cơ sở nhân với 100
Chỉ số giá tiêu dùng thường được dùng để theo dõi sự thay đổi củachi phí sinh hoạt theo thời gian Nó phản ánh xu thế và mức độ biến động củagiá bán lẻ hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ dùng trong sinh hoạt của dân cư vàcác hộ gia đình
CPI tăng có nghĩa là mức giá trung bình tăng
CPI được tính theo công thức:
Trong đó:
CPI t : Là chỉ số giá tiêu dùng năm t.
n: Số hàng hoá và dịch vụ của trong giỏ hàng hoá
pt i : Là giá hàng hoá i thời kỳ (năm) t.
p0
i: Là giá hàng hoá i thời kỳ (năm) cơ sở
q0
i: Là lượng hàng hoá của hàng hoá i trong năm cơ sở
Ví dụ: CPIt = 110 có nghĩa là so với năm gốc thì mức giá chung đãtăng lên là 10%
Chỉ số giá sản xuất (PPI): PPI đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận
được không tính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác vớiCPI là sự trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là giá trị nhậnđược bởi các nhà sản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanhtoán Tuy nhiên chỉ số giá sản xuất (PPI) được xác định theo phương pháptương tự chỉ số CPI nhưng do việc thu thập số liệu và xác định tỷ lệ phức tạp
Trang 6nên không phải quốc gia nào cũng tính và công bố tỷ số này.
Chỉ số giảm phát (điều chỉnh) GDP: dựa trên việc tính toán tổng
sản phẩm quốc nội Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế với tổnggiá trị GDP của năm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theogiá so sánh
Chỉ số điều chỉnh DGDP được tính bằng tỷ số giữa GDP danh nghĩa
và GDP thực tế Nó phản ánh mức giá hiện hành so với mức giá năm cơ sở.Chỉ số điều chỉnh GDP ở những năm sau (thời kỳ sau) phản ánh sự gia tăngcủa GDP danh nghĩa so với năm gốc, nó chỉ cho biết sự thay đổi sản lượng
do giá thay đổi chứ không cho biết sự gia tăng của GDP thực tế
Ví dụ: DGDPt = 110 có nghĩa là mức giá chung năm t tăng 10% sovới năm trước
So sánh chỉ số giá tiêu dùng CPI và chỉ số điều chỉnh GDP
Cả hai đều đo lường mức giá chung của nền kinh tế Tuy nhiên, chỉ
số điều chỉnh DGDP đo lường mức giá trung bình của tất cả các hàng hoá
và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra ở trong nước, còn CPI đo lường mứcgiá trung bình của mọi hàng hoá, dịch vụ mà một mà một hộ gia đình/mộtngười điển hình tiêu dùng
CPI có được nhờ so sánh giá của một giỏ hàng hoá và dịch vụ cốđịnh ở năm tính toán so với năm cơ sở Giỏ hàng này thường được cố địnhtrong nhiều năm Trong khi đó DGDP có được nhờ so sánh giá của nhữnghàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong năm hiện hành với giá của nhữnghàng hoá ấy trong năm cơ sở Do vậy, nhóm hàng hoá và dịch vụ dùng đểtính DGDP luôn thay đổi theo thời gian Nếu giá của tất cả hàng hoá và dịch
vụ thay đổi với cùng một tỷ lệ thì có đẳng thức: DGDP = CPI Ngược lạiDGDP # CPI Thông thường, CPI và tỷ lệ lạm phát tỷ lệ thuận với giálương thực, thực phẩm Do giỏ hàng hoá, dịch vụ của chúng ta lương thực,thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn
CPI không phải là thước đo chi phí sinh hoạt hoàn hảo vì 3 lý do sau:
Trang 7(1) CPI không tính đến sự gia tăng sức mua của đồng tiền do sựxuất hiện của hàng hoá mới đem lại.
(2) Nó không đo lường được những thay đổi về chất lượng củahàng hoá và dịch vụ trong giỏ hàng hóa tiêu dùng
(3) Nó không tính đến trường hợp người tiêu dùng sử dụng hànghoá thay thế có giá rẻ hơn tương đối theo thời gian
Trong thực tế ở Việt Nam, chúng ta thường hay sử dụng chỉ số giátiêu dùng hơn là chỉ số điều chỉnh DGDP hơn Chỉ số giá tiêu dùng thườngđược sử dụng nhằm điều chỉnh các biến số kinh tế để loại trừ ảnh hưởng củalạm phát
3 Phân loại
3.1 Căn cứ vào mức độ (về định lượng)
Đó là dựa trên tỷ lệ phần trăm lạm phát được tính trong năm, phântheo cách này thì lạm phát có các loại sau:
Lạm phát vừa phải (Normal inflation): là loại lạm phát một số
(sigit-digit inflation).Tỷ lệ tăng giá thấp, dưới 10%/năm.Có thể nói giá cả tương đối
ổn định, bởi vì sự thay đổi của nó hầu như rất khó nhận biết Dân chúng tintưởng vào giá trị đồng tiền Do đó người ta sẽ không lãng phí thời gian và sứclực trong việc cố gắng bảo tồn của cải dưới các dạng tài sản khác với tiền
Lạm phát phi mã (Galloping iflation): là loại lạm phát hai hay ba
số, tức trong khoảng hơn 10%, 50%, 200%, 800% một năm
Trong thập niên 1980 đã có nhiều nước lâm vào tình trạng lạmphát phi mã đến 700% chẳng hạn Argentina, Brazil, Việt Nam…Đồng tiền
bị mất giá một cách nhanh chóng, lãi suất thực thường âm Trong điềukiện đó, không ai cho vay với mức lãi suất bình thường Phần lớn các hợpđồng kinh tế được chỉ số hóa theo tỷ lệ lạm phát hoặc được tính toán theongoại tệ mạnh hay theo vàng Ít có ai nắm giữ lượng tiền mặt quá mức tốithiểu cần thiết cho việc giao dịch hàng ngày, ngược lại hàng hóa sẽ được ưachuộng hơn, nhất là các hàng hóa lâu bền Chính điều đó làm cho lạm phátcàng có nguy cơ tăng tốc,đôi khi dẫn đến hiện tượng xoáy trôn ốc rất nguyhiểm Lúc này thị trường tài chính có nguy cơ lụn bại Mặc dầu vậy, phần lớncác nước có lạm phát phi mã vẫn có khả năng cứu vãn được mà không cầnđến những biện pháp cực đoan.Hơn nữa,một số nước vẫn tăng trưởng tốtvới tỷ lệ lạm phát 100-200%, điển hình là Brazil và Ixaren vào thập niên
Trang 81970 Tuy nhiên sự tăng trưởng đó đã bị biến dạng, bởi vì phần lớn đầu tưđược đưa ra nước ngoài, làm giảm đầu tư trong nước.
Siêu lạm phát (Hyperainflation): xảy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa
mức lạm phát phi mã, có thể lên tới hàng nghìn lần Các cuộc siêu lạmphát điển hình như ở Bolivia vào 1985 với tỷ lệ 50000%, ở Đức xảy ra vàotháng 11 năm 1923 với tỷ lệ 10.000.000.000% so với tháng 1 năm 1982.Zimbabwe hiện là một trong những quốc gia có tình trạng siêu lạm phát tồi
tệ nhất trong lịch sử thế giới với tỷ lệ vượt mức 40 triệu % Tỷ lệ lạm pháttăng từ 1000% vào năm 2006 lên đến 12000% vào năm 2007 Chính phủ phải
bỏ đi 10 chữ số 0 trên tờ tiền Zimbabwe để đảm bảo máy tính có thể tínhđược Quả thật không thể nói bất cứ điều tốt lành nào trong các cuộc siêulạm phát cả Người ta bị chìm ngập trong khối tiền tệ trong khi mọi thứhàng hóa đều khan hiếm
Chức năng sơ đẳng nhất của tiền là làm phương tiện trao đổi cũng cóthể bị mất đi Có tiền chưa chắc mua được hàng bởi vì không ai muốn bánhàng để lấy những đồng tiên vô giá trị Nền tài chính hoàn toàn bị lụn bại,nhiều giao dịch diễn ra trên cơ sở đổi hàng Siêu lạm phát có sức phá hủymạnh toàn bộ hoạt động nền kinh tế va đi kèm là suy thoái kinh tế nghiêmtrọng Thông thường, siêu lạm phát chỉ có thể được cứu chữa bằng chính sáchcải cách tiền tệ, là biện pháp cực đoan mà chính phủ các nước phải sử dụngkhi lạm phát cao đến mức không thể cứu vãn nổi
Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát:
Thứ nhất, các hiện tượng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử
dụng tiền pháp định
Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong
thời gian sau chiến tranh, nội chiến, hoặc cách mạng, do sự căng thẳng vềngân sách chính phủ Dựa trên các bằng chứng lịch sử, dường như thâm hụtngân sách kéo dài được tài trợ bằng phát hành tiền trong khoảng từ 10-12%của GDP sẽ gây ra siêu lạm phát
Tiêu chí để xác định siêu lạm phát:
(1) Người dân không muốn giữ tài sản của mình ở dạng tiền
(2) Giá cả hàng hóa trong nước không còn tính bằng nội tệ nữa
mà bằng một ngoại tệ ổn định
(3) Các khoản tín dụng sẽ tính cả mức mất giá cho dù thời gia tíndụng là rất thấp
Trang 9(4) Lãi suất, tiền công và giá cả được gắn với chỉ số giá và tỷ lệlạm phát cộng dồn trong ba năm lên tới 100 phần trăm.
3.2 Căn cứ vào tính chất
Lạm phát thuần túy: là loại lạm phát mà tất cả các hàng hóa và dịch vụ đều
tăng cùng một tỷ lệ, nên giá cả tương đối giữa các mặt hàng là không thay đổi Do
đó, lạm phát thuần túy không làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và dịch trong tiêu dùng
Lạm phát dự đoán được: Hiện nay, lạm phát có thể được các cơ
quan chức năng và các doanh nghiệp dự báo trước Đó là loại lạm phát xảy ratrong một thời gian tương đối dài và tỷ lệ lạm phát hàng năm khá đềuđặn, ổn định.Do vậy, người ta có thể dự đoán trước được tỷ lệ lạm phátcho những năm tiếp sau Về mặt tâm lý, người dân đã quen với tình hìnhlạm phát đó và người ta đã có những chuẩn bị để thích nghi với tình trạng lạmphát này
Lạm phát không dự đoán được: xảy ra có tính đột biến mà trước
đó chưa hề xuất hiện Do vậy, về tâm lý, cuộc sống và thói quen của mọingười đều chưa thích nghi được Lạm phát bất thường gây ra những cú sốccho nền kinh tế và sự thiếu tin tưởng của người dân vào chính quyền đươngđại
II Nguyên nhân gây ra lạm phát
1 Cung ứng tiền tệ và lạm phát
Câu nói nổi tiếng của Milton Friedman: “Lạm phát luôn luôn và bất
kỳ ở đâu đều là hiện tượng của tiền tệ.” Ông chỉ ra nguồn gốc quá trình lạmphát là tỷ lệ tăng cung tiền cao Đây là quan điểm của các nhà kinh tế theotrường phái trọng tiền Quan điểm này cho rằng lạm phát là kết quả củaviệc tăng thêm tiền với một tỉ lệ cao Nó cũng cho rằng lạm phát là kết quảcủa tăng trưởng tiền tệ cao song cũng phải thừa nhận lạm phát cao kéo theo
sự tăng trưởng tiền tệ cao
M.Friedman nói “ Lạm phát xuất hiện và chỉ có thể xuất hiện khinào số lượng tiền trong lưu thông tăng lên với nhịp độ nhanh hơn so với sảnxuất” Điều đó có nghĩa trong mọi trường hợp mà tỷ lệ lạm phát của mộtnước là cực kỳ cao thì tỷ lệ tăng trường của cung ứng tiền tệ cũng cực kỳcao Kết luận này dựa trên hai điều:
Trang 10Thứ nhât, lạm phát gây ra bởi sự dư thừa tổng cầu so với tổng cung, và
nguyên nhân của sự dư cầu này là do có quá nhiều tiền trong lưu thông,
nó khẳng định rằng lạm phát gây ra bởi sức ép từ phía cầu, chứ khôngphải từ phía cung
Thứ hai, nếu giả sử rằng mối quan hệ nhân quả bắt nguồn từ tác
động của cung ứng tiền đến mức giá, chứ không phải ngược lại là giá cảtăng lên làm tăng lượng tiền cung ứng Với giả thiết về thị trường cân bằng,
và bắt đầu từ vị trí cân bằng trên thị trường tiền tệ, khi đó sự gia tăng trongcung tiền tệ sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trên thị trường tiền tệ Để thiết lậptrạng thái cân bằng, một phần của số tiền dư thừa được dùng để mua hànghóa,dịch vụ Tuy nhiên, vì số lượng hàng hóa và dịch vụ được quy định bởicác nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế,do đó xuất hiện dư cầu trên thịtrường hàng hóa Điều này đến lượt nó sẽ gây áp lực làm giá cả tăng lên đểthiết lập trạng thái cân bằng mới trên thị trường hàng hóa Trong mô hìnhtổng cầu-tổng cung, sự gia tăng mức cung ứng tiền tệ sẽ dẫn đến sự dịchchuyển sang bên phải của đường tổng cầu và làm tăng mức giá do đường tổngcung thẳng đứng trong dài hạn
2 Lạm phát do cầu kéo
Là trường hợp khi tổng cầu trong nền kinh tế cao hơn tổng cungtrong cùng thời điểm đó Điều này xuất hiện có thể là do tổng cầu tăngnhưng tổng cung không đổi, hoặc tổng cung cũng tăng nhưng không tăngbằng tổng cầu
Lạm phát cầu kéo giải thích rằng: khi tổng cầu tăng tức là có nhiềungười muốn mua và sẵn sàng mua hàng hóa, trong khi đó lượng cungkhông tăng hoặc không tăng bằng tổng cầu, thì trên thị trường sẽ xảy ratình trạng thiếu hụt hàng hóa, theo quy luật cung cầu thì trong thị trườngnày gia cả thị trường tăng lên là điều tất yếu Do vậy xuất hiện lạm phát
HÌNH 1.1 : MÔ HÌNH LẠM PHÁT CẦU KÉO
Trang 11Tổng cầu trong nền kinh tế bao gồm chi tiêu của hộ gia đình-C,chi tiêu của chính phủ-G, đầu tư trong nền kinh tế-I, nhu cầu hàng hóa choxuất khẩu-X, lượng hàng hóa nhập khẩu-M Hàng hóa nhập khẩu làmphong phú thêm hàng hóa trong nước làm giảm căng thẳng của tổng cầunên được biểu diễn bằng dấu âm (-) trong biểu thức cộng các yếu tố củatổng cầu Nếu gọi
tổng cầu là AD thì:
AD = C + I + G + X – MTổng cầu tăng có thể do một hoặc một số các yếu tố trong vế bênphải của các yếu tố tăng lên
- Các hộ gia đình tăng chi tiêu do thu nhập tăng hoặc được Chínhphủ giảm thuế, tăng trợ cấp hoặc cảm thấy các chế độ an sinh xã hội hay bảohiểm tốt nên quyết định cắt giảm tiết kiệm để chi tiêu
- Chính phủ tăng các khoản chi tiêu cho an ninh quốc phòng, tăngcác khoản đầu tư cũng lạm tăng tổng cầu
- Các doanh nghiệp tăng đầu tư do xuất hiện nhiều cơ hội kinh doanhhấp dẫn
- Kim ngạch XNK thay đổi theo hướng chênh lệch (X-M) ngàycàng tăng do đồng nội tệ mất giá so với ngoại tệ, chất lượng sản phẩm ngàycàng tốt hơn nên bán được nhiều hơn
3 Lạm phát do chi phí đẩy
Trang 12Lạm phát xảy ra khi một số loại chi phí đồng loạt tăng lên trongtoàn bộ nền kinh tế Lạm phát này xuất hiện khi chi phí đầu vào cho sảnxuất tăng hoặc năng lực sản xuất của nền kinh tế giảm sút Chi phí đầu vàotăng có thể do giá các nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất tăng giá.Điều kiện khai thác khó khăn hơn đòi hỏi nhiều chi phí hơn; thiên tai, mấtmùa, lụt, bão, động đất…làm giảm năng lực sản xuất; khủng hoảng ngànhdầu mỏ do các liên minh dầu mỏ tăng giá hoặc chiến tranh vùng vịnh làmtăng giá, giá dầu tăng làm tăng chi phí trong ngành năng lượng, từ đó làmtăng chi phí đầu vào trong các ngành khác Các chi phí sản xuất tăng làmtăng giá thành sản phẩm và buộc doanh nghiệp tăng giá bán để bù đắp chiphí Giá bán tăng tạo lạm phát Nhưng mặt khác, giá bán tăng, theo quy luậtcung cầu sẽ làm tổng cầu giảm xuống, các doanh nghiệp sẽ cắt giảm sảnxuất sa thải nhân công Hậu quả dẫn đến cho nền kinh tế lúc này là vừaxuất hiện lạm phát lại vừa bị suy thoái Chính vì vậy, loại lạm phát nàyđược gọi là lạm phát do chi phí đẩy hay lạm phát kèm suy thoái.
HÌNH 1.2 : MÔ HÌNH LẠM PHÁT CHI PHÍ ĐẨY
Ba loại chi phí có thể gây ra lạm phát là : tiền lương, thuế gián thu
và giá nguyên liệu nhập khẩu Khi công đoàn thành công trong việc đẩymạnh tiền lương lên cao, các doanh nghiệp sẽ tìm cách tăng giá và kết quả
là lạm phát xuất hiện Vòng xoáy đi lên tiền lương và giá cả sẽ tiếp diễn vàtrở nên nghiêm trọng nếu chỉnh phủ tìm cách tránh suy thoái bằng cách mởrộng tiền tệ
Việc Chính phủ tăng những loại thuế tác động đồng thời đến tất cảcác nhà sản xuất cũng có thể gây ra lạm phát Ở đây, thuế gián thu (kể cả
Trang 13thuế nhập khẩu, các loại lệ phí bắt buộc) đóng vai trò quan trọng vì chúngtrực tiếp tác động tới giá cả hàng hóa Đối với nền kinh tế nhập khẩu nhiềunguyên liệu, cấu kiện cần thiết mà nền công nghiệp trong nước chưa sảnxuất được, thì sự thay đổi giá cả của chúng (có thể do giá quốc tế thay đổihoặc tỷ giá biến động) sẽ có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình lạm pháttrong nước.
Nếu lạm phát do cầu kéo ở mức vừa phải là một điều kiện rất tốtcho nền kinh tế, nó sẽ kích thích đầu tư mở rộng sản xuất, người ta còn ví nónhư một chất dầu mở dùng để bôi trơn cho bộ máy kinh tế Nhưng lạm phátchi phí đẩy thì dù bất kỳ mức độ nào cũng đều không tốt, vì bản thân nó
đã mang trong mình sự suy thoái kinh tế Cùng một hiện tượng là lạm phát,nhưng bản chất và nguyên nhân khác nhau nên tác động của chúng là khácnhau
4 Một số nguyên nhân khác
Lạm phát do thâm hụt ngân sách
Khi có tình trạng thâm hụt ngân sách Chính phủ có thể khắc phụcbằng biện pháp phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường để vay vốntrong dân chúng, bù đắp cho phần bị thiếu hụt Biện pháp này không làm ảnhhưởng đến cơ số tiện tệ và do đó, không tăng cung ứng tiền tệ và không gây
ra lạm phát Chính phủ cũng có thể sử dụng biện pháp khác là phát hànhtiền Biện pháp này trực tiếp làm tăng thêm cơ số tiền tệ, do đó tăng cungứng tiền, đẩy tổng cầu lên cao và làm tăng tỷ lệ lạm phát
Ở các nước đang phát triển do thị trường tài chính còn hạn chế nênviệc phát hành trái phiếu để bù đắp cho thiếu hụt ngân sách là rất khóthực hiện, con đường duy nhất đối với họ là “ sử dụng máy in tiền” Vì thế,khi tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước của các quốc gia đó tăng cao thì tiềntện cũng sẽ tăng nhanh và lạm phát tăng
Đối với các nước kinh tế phát triển, thị trường vốn phát triển, vì vậymột khối lượng lớn trái phiếu Chính phủ có thể được bán ra và nhu cầutrang trải cho thâm hụt ngân sách nhà nước được thực hiện từ nguồn vốnvay của Chnhs phủ Tuy nhiên nếu Chính phủ cứ tiếp tục phát hành tráiphiếu ra thị trường, cầu về vốn vay sẽ tăng, do đó lãi suất sẽ tăng cao Đểhạn chế việc tăng lãi suất thị trường, Ngân hang Trung ương sẽ phải mua vàocác trái phiếu đó, điều này lại làm cho cung tiền tệ tăng
Trong mọi trường hợp, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước cao,kéo dài sẽ là nguồn gốc tăng cung ứng tiền và gây ra lạm phát