CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁTCHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LẠM PHÁT Trong kinh tế vĩ mô macroeconomics, lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mấ
Trang 1DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Tên bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ Trang
Bảng 1: Sơ đồ cấu trúc chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2009-2014 43
Bảng 5: Tình hình biến động lạm phát từ năm 2007 - 2010 52Bảng 6: CPI cả nước qua các tháng năm 2011 và 9 tháng năm 2012 53Bảng 7: Chỉ số giá tiêu dung theo tháng trong năm 2012 55
Bảng 9: Tỷ lệ tang CPI so với cùng kỳ năm 2003 60
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 1
MỞ ĐẦU 5
PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT 7
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LẠM PHÁT 7
1 Lịch sử của lạm phát 8
2 Các định nghĩa liên quan 10
3 Đo lường lạm phát 12
3.1 CPI 12
3.2 Chỉ số giá sản xuất 13
3.3 Chỉ số giá hàng hóa 14
3.4 Chỉ số giá cơ bản 14
3.5 Các đo lường lạm phát phổ biến khác là: 14
4 Các vấn đề trong đo lường 15
CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT 18
1 Các ảnh hưởng chung 18
2 Các ảnh hưởng tích cực 18
2.1 Điều chỉnh thị trường lao động 18
2.2 Dự phòng cơ động 19
2.3 Hiệu ứng Mundell–Tobin 19
2.4 Bất ổn định với giảm phát 20
2.5 Không hiệu quả thị trường tài chính với giảm phát 20
3 Các ảnh hưởng tiêu cực 21
3.1 Lạm phát đẩy chi phí 21
3.2 Tích trữ 22
3.3 Tình trạng bất ổn xã hội và các cuộc khởi nghĩa 22
3.5 Hiệu quả phân bổ 22
3.6 Chi phí da giày 22
Trang 33.7 Chu kỳ kinh doanh 23
CHƯƠNG III NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT 24
1 Quan điểm của học thuyết Keynes 24
2 Quan điểm của Chủ nghĩa tiền tệ 27
3 Quan điểm của Lý thuyết kỳ vọng hợp lý 29
4 Học thuyết Hóa đơn thực tế 29
5 Lý thuyết chống cổ điển hay lý thuyết ủng hộ 30
CHƯƠNG VI: KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 31
1 Kích thích tăng trưởng kinh tế 31
2 Chính sách tiền tệ 31
3 Tỷ giá hối đoái cố định 32
4 Bản vị vàng 32
5 Kiểm soát tiền lương và giá cả 33
6 Trợ cấp chi phí sinh hoạt 34
PHẦN 2: LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM 36
CHƯƠNG I: CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM 36
1 Mục đích 36
2 Khái niệm, định nghĩa 36
2.1 Giá tiêu dùng 36
2.2 Chỉ số giá tiêu dùng 36
2.3 Danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện 39
2.4 Quyển số giá tiêu dùng 41
2.5 Khu vực điều tra 42
2.6 Điểm điều tra 42
3 Cấu trúc của Chỉ số giá tiêu dùng 42
4 Công thức tính Chỉ số giá tiêu dùng 44
CHƯƠNG II: CHỈ SỐ GIÁ CPI QUA CÁC THỜI KỲ 45
1 Năm 2006 45
2 Năm 2007 48
3 Năm 2008 50
Trang 44 NĂM 2009 51
5 Năm 2010 53
6 Năm 2011 54
7, Năm 2012 56
8 Năm 2013 58
9 Năm 2014 61
10 NĂM 2015 64
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO 67
CHƯƠNG 1: NHÌN LẠI CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT VÀ TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM 67
1 Có phải mọi hiện tượng lạm phát đều bắt nguồn từ nguyên nhân suy thoái kinh tế? 67
2 Việt Nam có tránh được lạm phát như đã diễn ra không? 69
3 Đánh giá các giải pháp thực thi về kiềm chế lạm phát 75
3.1 Các giải pháp “nhạy cảm” 75
3.2 Đánh giá về các giải pháp căn cơ (chiến lược) để kiềm chế lạm phát 77
4 Góp thêm các giải pháp về kiềm chế lạm phát 79
5 Những tín hiệu khả quan cho phục hồi kinh tế 81
6 Những dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam thời hậu khủng hoảng 82
CHƯƠNG 2: DỰ BÁO NĂM 2016 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay Việt Nam hội đã đang và sẽ hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh
tế thế giới Quan hệ hợp tác song phương, đa phương về mọi mặt với các nước trên thế giơí Vị trí của Việt Nam trong mắt bạn bè trên thế giới ngày càng được nâng cao một cách ro rệt Để làm được những điều này chúng ta cần phải xây dựng được một nền kinh tế phát triển và ổn định.
Một trong các yếu tố để đánh giá sự phát triển và ổn định của nền kinh tế đó chính là chỉ số lạm phát Đây là một trong các yếu tố quan trọng để đánh giá sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Đánh giá được tỷ lệ lạm phát sẽ giúp ta hiểu sâu hơn
về nền kinh tế hiện nay Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng thì sự kiểm soát lạm phát là một nhu cầu thiết yếu mà chúng ta cần thực hiện.
Ngoài ra, lạm phát là một trong những vấn đề kinh tế cơ bản mà mỗi sinh viên kinh tế nào cũng phải học và biết Nhưng hiện nay sự hiểu biết về lạm phát của một bộ phận sinh viên còn chưa hiểu sâu về lạm phát của nền kinh tế Do vậy vẫn còn hiểu sai
về lạm phát, về kinh tế hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề lạm phát trong nèn kinh tế hiện nay,
tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu vấn đề lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2006- 2015”.
2 Mục đích đề tài nghiên cứu
Đưa ra những cái nhìn tổng quan nhất về lạm phát qua các năm để từ đó có thể hiểu sâu hơn về nền kinh tế chuẩn bị các điều kiện tốt nhất để Việt Nam hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về lạm phát của Việt Nam qua các năm.
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ số giá tiêu dùng CPI ảnh hưởng đến lạm phát từ năm
2006 đến năm 2015
Trang 64 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp: Phương pháp thống
kê, phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá dựa trên các tài liệu sưu tầm được … kết hợp với suy luận để làm sáng tỏ đề tài.
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa lý luận về lạm phát, các ảnh hưởng và nguyên nhân gây ra lạm pháp Đánh giá chỉ số CPI qua các thời kỳ thời điểm khác nhau tỷ lệ lạm pháp qua các năm một cách tổng quát.
Nhận định một số giải pháp mà chính phủ đang thực hiện và dự báo cho các năm sau.
6 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 phần:
PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
PHẦN 2: LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
PHẦN 3: ĐÁNH GIÁ VÀ DỰ BÁO
Trang 7PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LẠM PHÁT
Trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics), lạm phát là sự tăng mức giá chung
của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ Khi
so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gianày so với các loại tiền tệ của quốc gia khác Theo nghĩa đầu tiên thì người tahiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốcgia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tácđộng đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó Phạm vi ảnh hưởng củahai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ
mô Ngược lại với lạm phát là giảm phát Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay mộtchỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả"
Trong kinh tế học , lạm phát là một sự gia tăng liên tục của tổng mức
giá của hàng hóa và dịch vụ trong một nền kinh tếtrong một khoảng thời gian Khi giá cả tăng, mỗi đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít lượng hàng hóa và dịch vụhơn Do đó, lạm phát phản ánh sự giảm sức mua trên một đơn vị tiền Sự mất giátrị thực sự trong các phương tiện trao đổi và đơn vị tính toán trong nền kinh tế Lạm phát ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nhiều cách tích cực và tiêucực Tác động tiêu cực của lạm phát bao gồm sự gia tăng chi phí cơ hội của việcnắm giữ tiền bạc, sự không chắc chắn về lạm phát trong tương lai mà có thểngăn cảnđầu tư và tiết kiệm, và nếu lạm phát là đủ nhanh, tình trạng thiếuhụt hàng hóa khi người tiêu dùng bắt đầu tích trữ vì lo rằng giá sẽ tăng trongtương lai Tác động tích cực bao gồm việc giảm gánh nặng thực sự của nợ công
và tư nhân, giữ lãi suất danh nghĩa trên không để các ngân hàng trung ương cóthể điều chỉnh lãi suất để ổn định nền kinh tế, và giảm tỷ lệ thất nghiệp do độcứng lương danh nghĩa
Các nhà kinh tế thường tin rằng tỷ lệ lạm phát cao và siêu lạm phát đượcgây ra bởi một sự tăng trưởng quá mức của cung tiền Tuy nhiên, tăng trưởngcung tiền không nhất thiết gây ra lạm phát Một số nhà kinh tế cho rằng đó là
Trang 8các nguyên nhân của một cái bẫy thanh khoản , lượng tiền tệ lớn đẩy vào nềnkinh tế một cách nhanh chóng Lạm phát thấp hoặc vừa phải có thể là do biếnđộng về thực nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ, hoặc những thay đổi trongnguồn cung cấp sẵn như trong thời gian khan hiếm Tuy nhiên, quan điểm đồngthuận là một khoảng thời gian dài duy trì lạm phát là do cung tiền tăng trưởngnhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế
Ngày nay, hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ một tỷ lệ thấp và ổn định của lạmphát thấp (như trái ngược với không hoặctiêu cực ) lạm phát làm giảm mức độnghiêm trọng của kinh tế suy thoái bằng cách cho phép các thị trường lao động
để điều chỉnh nhanh hơn trong suy thoái, và làm giảm nguy cơ một cái bẫythanh khoản ngăn cản chính sách tiền tệ từ việc ổn định nền kinh tế [13] cácnhiệm vụ giữ tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định thường được đưa ra để cơ quan tiền
tệ Nói chung, các cơ quan tiền tệ là các ngân hàng trung ương kiểm soát chínhsách tiền tệ thông qua các thiết lập của lãi suất , thông qua nghiệp vụ thị trường
mở , và thông qua các thiết lập của ngân hàng dự trữ bắt buộc
1 Lịch sử của lạm phát
Các gia tăng số lượng tiền hoặc trong cung tiền tổng thể (hoặc giảm giá tiềncủa các phương tiện trao đổi) đã xảy ra ở nhiều xã hội khác nhau trong suốt lịch
sử, bằng sự thay đổi với các hình thức khác nhau của tiền được sử dụng
Ví dụ, khi vàng được sử dụng như tiền tệ, chính phủ có thể thu thập tiềnvàng, làm tan chảy chúng ra, trộn chúng với các kim loại khác như bạc, đồng,chì, và phát hành lại chúng ở cùng một giá trị danh nghĩa Bằng cách pha loãngvàng với kim loại khác, chính phủ có thể phát hành thêm tiền xu mà không cầnphải tăng số lượng vàng được sử dụng để làm ra chúng Khi chi phí của mỗiđồng xu vàng được hạ xuống theo cách này, lợi nhuận của chính phủ là từ sự giatăng trong quyền lực lãnh chúa Thực hành này sẽ làm tăng cung tiền nhưngđồng thời giá trị tương đối của mỗi đồng xu vàng sẽ bị hạ xuống Vì giá trịtương đối của các đồng tiền trở nên thấp hơn, người tiêu dùng sẽ cần phải cungcấp thêm tiền để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ tương tự như trước đây Những
Trang 9hàng hóa và dịch vụ sẽ trải nghiệm một sự gia tăng giá cả vì giá trị của mỗi đồngtiền bị giảm đi.
Nhà Tống Trung Quốc giới thiệu việc thực hành in tiền giấy để tạo ra sắclệnh tiền tệ] trong thế kỷ 11 và, theo Daniel Headrick, "tiền giấy cho phép cácchính phủ chi tiêu nhiều hơn so với họ nhận được trong các loại thuế trongthời kỳ chiến tranh, và nhà Tống đã thường xuyên có chiến tranh, thâm hụt chitiêu như vậy đã gây ra lạm phát phi mã." Vấn đề lạm phát tiền giấy vẫn tiếp tụcsau triều đại nhà Tống Peter Bernholz viết rằng "từ đó, hầu hết các triều đạiTrung Quốc đến nhà Minh đều bắt đầu bằng cách phát hành một số tiền giấy ổnđịnh, có thể chuyển đổi và kết thúc với lạm phát rõ rệt do lưu thông ngày càngtăng số lượng tiền giấy để tài trợ cho thâm hụt ngân sách."
Dưới triều đại nhà Nguyên Mông Cổ, chính phủ đã chi rất nhiều tiền chốnglại các cuộc chiến tranh tốn kém, và đã phản ứng bằng cách in nhiều tiền hơn,dẫn đến lạm phát.Vấn đề lạm phát trở nên nghiêm trọng nên người dân đã ngừng
sử dụng tiền giấy, thứ tiền mà họ coi như "giấy vô giá trị."Lo sợ sự lạm phát mà
đã cản trở triều đại nhà Nguyên, nhà Minh ban đầu đã từ chối việc sử dụng tiềngiấy, chỉ sử dụng đồng tiền xu Triều đại này đã không phát hành tiền giấy chođến 1375
Trong lịch sử, lan truyền vàng hoặc bạc vào một nền kinh tế cũng dẫn đếnlạm phát Từ nửa sau của thế kỷ 15 đến nửa đầu thế kỷ 17, Tây Âu đã trải quamột chu kỳ lạm phát lớn được gọi là "cách mạng giá cả" với giá cả trung bìnhtăng gấp sáu lần, có lẽ, sau hơn 150 năm Điều này phần lớn do các dòng độtngột của vàng và bạc từ Tân thế giới chảy vào Habsburg Tây Ban Nha.Bạc lanrộng trong suốt một Châu Âu đói tiền mặt trước đây và gây ra lạm phát trên diệnrộng Các yếu tố nhân khẩu học cũng góp phần tăng áp lực lên giá cả, với mứctăng trưởng dân số châu Âu sau suy giảm dân số do đại dịch Cái chết đen
Đến thế kỷ XIX, các nhà kinh tế phân loại ba yếu tố riêng biệt mà gây ra
một tăng hoặc giảm giá cả hàng hóa: một sự thay đổi trong giá trị hoặc chi phí sản xuất hàng hóa, một sự thay đổi trong giá tiền mà sau đó là thường biến động trong giá hàng hóa của nội dung kim loại trong tiền tệ, và sự mất giá đồng
Trang 10tiền từ một cung tiền gia tăng liên quan đến số lượng của hỗ trợ cho tiền tệ này
bằng kim loại có thể chuộc lại Theo sự gia tăng của tiền giấy được in trong Nộichiến Hoa Kỳ, thuật ngữ "lạm phát" bắt đầu xuất hiện như một tham chiếu trực
tiếp đến mất giá đồng tiền xảy ra khi số lượng tiền giấy có thể chuộc lại vượt xa
số lượng kim loại có sẵn để chuộc lại chúng Tại thời điểm đó, thuật ngữ lạmphát chỉ sự mất giá của đồng tiền, và không chỉ sự tăng giá hàng hoá
Mối quan hệ này giữa sự dư thừa cung tiền giấy vàsự mất giá là kết quảtrong giá trị của chúng đã được ghi nhận bởi các nhà kinh tế cổ điển trước đónhư David Hume và David Ricardo, những người sẽ chuyển sang xem xét và
tranh luận những tác động của việc mất giá tiền tệ (sau này được gọi là lạm phát
tiền tệ) có trên giá hàng hoá (sau này gọi làlạm phát giá cả, và cuối cùng chỉ gọi
là lạm phát).
Việc áp dụng sắc lệnh tiền tệ của nhiều quốc gia, từ thế kỷ thứ 18, đã gây ranhiều biến thể lớn hơn trong việc cung cấp tiền có thể Kể từ đó, sự gia tăng rấtlớn trong việc cung cấp tiền giấy đã diễn ra tại một số quốc gia, tạo ra các siêulạm phát - các kịch bản của tỷ lệ lạm phát cực cao hơn nhiều so với những tỉ lệlạm phát được quan sát trong thời gian trước đó của tiền tệ hàng hóa Siêu lạmphát tại Cộng hòa Vây-ma của Đức là một ví dụ đáng chú ý
Một ví dụ điển hình của siêu lạm phát là vào năm 1913, tức là ngay trướckhi chiến tranh thế giới nổ ra, một USD có giá trị tương đương với 4 mark Đức,nhưng chỉ 10 năm sau, một USD đổi được tới 4 tỉ mark Vào thời đó, báo chí đãđăng tải những tranh ảnh biếm họa về vấn đề này: người ta vẽ cảnh một ngườiđẩy một xe tiền đến chợ chỉ để mua một chai sữa, hay một bức tranh khác chothấy ngày đó đồng mark Đức được dùng làm giấy dán tường hoặc dùng như mộtloại nhiên liệu
2 Các định nghĩa liên quan
Thuật ngữ "lạm phát" ban đầu được chỉ các gia tăng trong số lượng tiềntrong lưu thông, và một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này Tuynhiên, hầu hết các nhà kinh tế hiện nay sử dụng thuật ngữ "lạm phát" để chỉ một
sự gia tăng trong mức giá Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền
Trang 11tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là 'lạmphát giá cả' Các nhà kinh tế nói chung đều đồng ý rằng về lâu dài, lạm phát là
do tăng cung tiền
Các khái niệm kinh tế khác liên quan đến lạm phát bao gồm:
- Giảm phát : một sụt giảm trong mức giá chung
- Thiểu phát : giảm tỷ lệ lạm phát
- Siêu lạm phát :một vòng xoáy lạm phát ngoài tầm kiểm soát
- Tình trạng lạm phát : một sự kết hợp của lạm phát, tăng trưởngkinh tế chậm và thất nghiệp cao
- Tái lạm phát: một nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áplực giảm phát
Vì có thể có nhiều cách đo lường mức giá cả, có thể có nhiều đo lường củalạm phát giá cả Thường xuyên nhất, thuật ngữ "lạm phát" đề cập đến một sự giatăng chỉ số giá mở rộng đại diện cho mức giá tổng thể đối với hàng hóa và dịch
vụ trong nền kinh tế
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI),
- chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCEPI) và
- số giảm phát GDPlà một số ví dụ về các chỉ số giá mở rộng
Tuy nhiên, "lạm phát" cũng có thể được sử dụng để mô tả một sự tăng mứcgiá trong một tập hợp hẹp của tài sản, hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế, chẳnghạn như hàng hóa (bao gồm thực phẩm, nhiên liệu, kim loại), các tài sản hữuhình (như bất động sản), các tài sản tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu), dịch vụ(chẳng hạn như giải trí và chăm sóc sức khỏe), hoặc lao động Chỉ số CRBReuters (CCI), Chỉ số giá sản xuất và Chỉ số chi phí nhân công (ECI) là những
ví dụ của chỉ số giá hẹp được sử dụng để đo lường lạm phát giá cả trong các lĩnhvực cụ thể của nền kinh tế Lạm phát cơ bản là một thước đo lạm phát cho mộttập hợp con của giá tiêu dùng không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng,tăng và giảm hơn so với các giá cả khác trong ngắn hạn Cục dự trữ liênbang đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ lạm phát cơ bản để có được một ước tính tốthơn về xu hướng lạm phát dài hạn trong tương lai tổng thể
Trang 123 Đo lường lạm phát
3.1 CPI
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): đo lường sự tăng hoặc giảm giá của một giỏ cốđịnh hàng hoá và dịch vụ của quốc gia theo thời gian, được mua bởi một "ngườitiêu dùng điển hình"
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ tiêu tương đối phản ánh xu hướng và mức
độ biến động giá cả chung qua thời gian của một số lượng cố định các loại hànghoá và dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng, phục vụ đời sống bình thườngcủa người dân
CPI là thước đo sự biến động của giá tiêu dùng, đó là giá được người tiêudùng thực tế đã trả cho những hàng hoá và dịch vụ đã mua
Giá tiêu dùng không bao gồm các loại giá niêm yết, giá khuyến mại hay giádanh nghĩa (không thực tế) Trong CPI không tính đến những sản phẩm do hộgia đình tự sản xuất ra để tiêu dùng, giá thuê nhà của chính người chủ nhà vàdịch vụ tài chính
Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia
quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với kỳ cơ
sở Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1 Cố định giỏ hàng hóa: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định lượnghàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua
2 Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ hàng hoá tạimỗi thời điểm
3 Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số lượngnhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại
4 Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá tiêu dùngbằng công thức sau:
CPI t= Chi phí để mua giỏ hàng hóa theonămt
Chi phí để mua giỏhàng hóa theo năm gốc x 100 (%)
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước
Trang 13Để minh họa cho phương pháp tính, vào tháng Giêng năm 2007, chỉ số giátiêu dùng của Mỹ là 202,416, và vào tháng Giêng năm 2008 là 211,080 Côngthức để tính toán tỷ lệ phần trăm lạm phát hàng năm bằng chỉ số CPI trong suốtnăm 2007 là
Kết quả là tỷ lệ lạm phát đối với CPI trong khoảng thời gian một năm này
là 4,28%, có nghĩa là mức giá chung cho người tiêu dùng điển hình của Mỹ đãtăng khoảng bốn phần trăm trong năm 2007
Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chínhdẫn đến hạn chế của CPI sau đây:
1 CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hoá
cố định Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khácthì người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quáđắt đỏ mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn Yếu tố này làm CPI
đã đánh giá cao hơn thực tế mức giá
2 CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sửdụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn
vị tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn CPI không phản ánh được
sự gia tăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơnthực tế
3 Không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì nếu mứcgiá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng tăng tương ứng thậmchí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng Chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìnchung đều có xu hướng được nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá
3.2 Chỉ số giá sản xuất
(PPI) đo lường sự thay đổi trung bình trong giá nhà sản xuất trong nướcnhận được cho đầu ra của họ Điều này khác với chỉ số CPI trong đó trợ cấp giá,lợi nhuận và thuế có thể làm cho số tiền nhận của nhà sản xuất khác với những
gì người tiêu dùng trả Ngoài ra còn thường có một sự chậm trễ giữa sự gia tăng
Trang 14chỉ số PPI và bất kỳ sự gia tăng cuối cùng nào trong chỉ số CPI Chỉ số giá sảnxuất đo áp lực được đưa vào sản xuất do chi phí nguyên liệu của họ Điều này cóthể được "truyền" cho người tiêu dùng, hoặc nó có thể được hấp thụ bởi lợinhuận, hoặc được bù đắp bởi năng suất ngày càng tăng Ở Ấn Độ và Hoa Kỳ,một phiên bản cũ của PPI được gọi làChỉ số giá bán buôn.
3.3 Chỉ số giá hàng hóa
Đo lường giá của một lựa chọn các mặt hàng Hiện nay chỉ số giá hànghóa được gia quyển bằng tầm quan trọng tương đối của các thành phần đối vớichi phí "tất cả trong" một nhân công
3.4 Chỉ số giá cơ bản
Vì giá thực phẩm và dầu có thể thay đổi nhanh chóng do sự thay đổi trongđiều kiện cung và cầu trong thị trường thực phẩm và dầu, nó có thể khó pháthiện các xu hướng dài hạn trong mức giá khi những giá này được bao gồm Vìvậy hầu hết cơ quan thống kê cũng báo cáo một đo lường 'lạm phát cơ bản',trong đó loại bỏ các thành phần dễ bay hơi nhất (như thực phẩm và dầu) khỏimột chỉ số giá rộng như chỉ số CPI Vì lạm phát cơ bản là ít bị ảnh hưởng bởinguồn cung ngắn hạn và điều kiện nhu cầu tại các thị trường cụ thể, các ngânhàng trung ương dựa vào nó để đo lường tốt hơn các tác động lạm phátcủa chính sách tiền tệ hiện tại
3.5 Các đo lường lạm phát phổ biến khác là:
3.5.1 Hệ số giảm phát GDP
Đo sự tăng hoặc giảm giá của tất cả hàng hóa và dịch vụ mà các doanhnghiệp có quốc tịch khác nhau được sản xuất và phục vụ trong lảnh thổ mộtquốc gia Bộ Thương mại Mỹ công bố một loạt số giảm phát GDP của Mỹ, đượcđịnh nghĩa là số đo GDP danh nghĩa chia cho số đo GDP thực tế của nó
3.5.2 Lạm phát lịch sử
Trước khi thu thập dữ liệu kinh tế phù hợp đã trở thành tiêu chuẩn cho cácchính phủ, và với mục đích so sánh tuyệt đối, chứ không phải là tiêu chuẩntương đối của cuộc sống, nhiều nhà kinh tế đã tính toán con số lạm phát đượcban cho Hầu hết các dữ liệu lạm phát trước đầu thế kỷ 20 được quy gán dựa
Trang 15trên chi phí hàng hóa được biết đến, chứ không phải biên soạn vào thời điểm đó.
Nó cũng được sử dụng để điều chỉnh cho sự khác biệt trong tiêu chuẩn thực sựcủa cuộc sống cho sự hiện diện của công nghệ
3.5.3 Lạm phát giá tài sản
Là sự gia tăng quá mức trong giá tài sản thực và tài chính, chẳng hạnnhư cổ phần (vốn) và bất động sản Trong khi không có chỉ số chấp nhận rộngrãi của loại hình này, một số ngân hàng trung ương đã cho rằng sẽ là tốt hơn khinhằm mục đích bình ổn đo lường lạm phát mức giá chung rộng lớn hơn bao gồmmột số giá tài sản, thay vì chỉ ổn định CPI và lạm phát cơ bản Lý do là bằngviệc việc tăng các lãi suất khi giá cổ phiếu hoặc giá bất động sản tăng, và làmgiảm chúng khi giá tài sản giảm, ngân hàng trung ương có thể thành công hơntrong việc tránh bong bóng và bị treo giá tài sản
4 Các vấn đề trong đo lường
Đo lường lạm phát trong một nền kinh tế đòi hỏi phải có phương tiện Mụctiêu của việc phân biệt những thay đổi trong giá danh nghĩa trên một tập hợpchung của hàng hoá và dịch vụ, và phân biệt với những thay đổi giá do nhữngthay đổi trong giá trị như khối lượng, chất lượng hay hiệu suất
Ví dụ, nếu giá của 100 kg gạo có thể thay đổi từ 1.000.000 VNĐ đến1.200.000 VNĐ trong suốt một năm, không có thay đổi về chất lượng, thì chênhlệch giá này đại diện cho lạm phát Tuy nhiên, sự thay đổi mức giá đơn lẻ này sẽkhông đại diện cho lạm phát chung trong một nền kinh tế tổng thể Để đo lườnglạm phát tổng thể, sự thay đổi giá của một "giỏ" lớn hàng hóa và dịch vụ đạidiện được đo Đây là mục đích của một chỉ số giá, đó là giá kết hợp của một "rổ"nhiều hàng hóa và dịch vụ Giá kết hợp là tổng giá cả gia quyền của các mặthàng trong "rổ" Một giá cả gia quyền được tính bằng cách nhân đơn giá của mộtmặt hàng với số lần mua tiêu dùng trung bình mặt hàng đó Giá cả gia quyền làmột phương tiện cần thiết để đo lường tác động của các thay đổi đơn giá cụ thểđối với lạm phát tổng thể của nền kinh tế Chỉ số giá tiêu dùng, ví dụ, sử dụng
dữ liệu thu thập bởi các khảo sát hộ gia đình để xác định tỷ lệ của tổng chi tiêucủa người tiêu dùng điển hình được chi cho hàng hóa và dịch vụ cụ thể, trọng
Trang 16lượng và giá trung bình của những mặt hàng phù hợp Những mức giá bình quângia quyền này được kết hợp để tính toán giá tổng thể Để liên hệ tốt hơn các thayđổi giá theo thời gian, chỉ số này thường chọn giá một "năm cơ sở" và gán cho
nó một giá trị 100 Chỉ số giá trong những năm tiếp theo sau đó được thể hiệntrong mối quan hệ với giá năm cơ sở Trong khi so sánh các đo lường lạm phátđối với các thời gian khác nhau người ta cũng phải đi vào xem xét các hiệu ứng
cơ bản của lạm phát
Các đo lường lạm phát thường được sửa đổi theo thời gian, hoặc là cho giaquyền tương đối của hàng hóa trong giỏ, hoặc trong cách thức mà hàng hóa vàdịch vụ từ hiện tại được so sánh với hàng hóa và dịch vụ trong quá khứ Theothời gian, điều chỉnh được thực hiện cho các loại hàng hóa và dịch vụ được lựachọn để phản ánh những thay đổi trong các loại hàng hóa, dịch vụ mua củangười tiêu dùng điển hình Sản phẩm mới có thể được giới thiệu, các sản phẩm
cũ biến mất, chất lượng sản phẩm hiện tại có thể thay đổi, và sở thích của ngườitiêu dùng có thể thay đổi Cả các loại hàng hóa và dịch vụ được bao gồm trong
"rổ" và giá cả gia quyền được sử dụng trong các đo lường lạm phát sẽ được thayđổi theo thời gian để bắt kịp với các thay đổi thị trường
Các con số lạm phát thường điều chỉnh theo mùa để phân biệt các thay đổigiá cả theo chu kỳ dự kiến Ví dụ, chi phí sưởi ấm nhà dự kiến sẽ tăng trongnhững tháng lạnh hơn, và điều chỉnh theo mùa thường được sử dụng khi đolường lạm phát để bù đắp cho các gai nhọn chu kỳ trong nhu cầu năng lượng,nhiên liệu Các con số lạm phát có thể được tính trung bình hoặc bị các kỹ thuậtthống kê loại bỏ nhiễu thống kê và biến động của các giá cả cụ thể
Khi xem xét lạm phát, các tổ chức kinh tế có thể chỉ tập trung vào một số
loại giá cả, hoặc chỉ số đặc biệt, chẳng hạn như chỉ số lạm phát cơ bản được sử
dụng bởi các ngân hàng trung ương để xây dựng chính sách tiền tệ
Hầu hết các chỉ số lạm phát được tính từ trung bình gia quyền của các thayđổi giá cả được lựa chọn Điều này nhất thiết phải giới thiệu biến dạng, và có thểdẫn đến các tranh chấp mang tính hợp pháp về việc tỷ lệ lạm phát thực sự là baonhiêu Vấn đề này có thể được khắc phục bằng cách bao gồm tất cả các thay đổi
Trang 17về giá có sẵn trong tính toán, và sau đó chọn giá trị trung bình Trong một sốtrường hợp khác, các chính phủ có thể cố ý báo cáo sai tỷ lệ lạm phát, ví
dụ, chính phủ Argentina đã bị chỉ trích bởi các thao túng dữ liệu kinh tế, chẳnghạn như số liệu lạm phát và GDP, cho lợi ích chính trị và giảm thanh toán củamình trong nợ quốc gia tính theo chỉ số lạm phát
Trang 18CHƯƠNG II: ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT
1 Các ảnh hưởng chung
Sự gia tăng trong mức giá chung hàm ý giảm sức mua của đồng tiền Cónghĩa là, khi mức chung của giá cả tăng lên, mỗi đơn vị tiền tệ mua được ít hànghóa và dịch vụ hơn Ảnh hưởng của lạm phát được phân bố không đều trong nềnkinh tế, và kết quả là có những chi phí ẩn để một số và lợi ích cho người khácđiều này làm giảm sức mua của tiền bạc Ví dụ, với lạm phát, những phân đoạntrong xã hội mà sở hữu tài sản vật chất, chẳng hạn như bất động sản, chứngkhoán vv, được hưởng lợi từ giá trên giá trị cổ phần của họ đi lên, trong khinhững người tìm kiếm để có được chúng sẽ cần phải trả nhiều tiền hơn Khảnăng của họ để làm như vậy sẽ phụ thuộc vào mức độ mà thu nhập của họ là cốđịnh Ví dụ, sự gia tăng trong thanh toán cho người lao động và người về hưuthường tụt hậu so với lạm phát, và cho một số người có thu nhập cố định Ngoài
ra, các cá nhân hoặc tổ chức có tài sản tiền mặt sẽ phải trải nghiệm một sự suygiảm sức mua của đồng tiền Tăng mức giá (lạm phát) làm xói mòn giá trị thựccủa tiền (đồng tiền chức năng) và các mặt hàng khác có tính chất tiền tệ cơ bản.Khách nợ có khoản nợ được với lãi suất danh nghĩa cố định của lãi suất sẽ giảmlãi suất "thực sự" như tỷ lệ lạm phát tăng Lãi suất thực tế trên một khoản vay làlãi suất danh nghĩa trừ đi tỉ lệ lạm phát Ví dụ, khi tỷ lệ lạm phát là 3%, mộtkhoản vay với lãi suất danh nghĩa 5% sẽ có một tỷ lệ lãi suất thực tế khoảng 2%.Bất kỳ sự gia tăng bất ngờ nào trong tỷ lệ lạm phát sẽ làm giảm lãi suất thực.Các ngân hàng và cho vay khác điều chỉnh cho rủi ro lạm phát này bằng cáchbao gồm cả phí bảo hiểm rủi ro lạm phát với các khoản vay lãi suất cố định,hoặc cho vay với tỷ lệ điều chỉnh
2 Các ảnh hưởng tích cực
2.1 Điều chỉnh thị trường lao động
Tiền lương danh nghĩa là chậm để điều chỉnh Điều này có thể dẫn đến sựmất cân bằng kéo dài và thất nghiệp cao trong thị trường lao động Vì lạm phátcho phép tiền lương thực tế giảm ngay cả khi tiền lương danh nghĩa được giữ
Trang 19không đổi, lạm phát vừa phải cho phép thị trường lao động đạt được trạng tháicân bằng nhanh hơn
tỷ lệ hơn nữa (vì lãi suất danh nghĩa âm là không thể) để kích thích nền kinh tế tình trạng này được biết đến như một bẫy thanh khoản Mức độ vừa phải củalạm phát có xu hướng đảm bảo rằng lãi suất danh nghĩa ở trên không đủ để nếu
-có nhu cầu ngân hàng -có thể cắt giảm lãi suất danh nghĩa
2.3 Hiệu ứng Mundell–Tobin
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel Robert Mundell lưu ý rằng lạm phát vừa phải
sẽ khiến người gửi tiết kiệm thay thế cho vay đối với một số tiền nắm giữ nhưmột phương tiện để tài trợ cho chi tiêu trong tương lai Thay thế đó có thể làmcho lãi suất thực tế thanh toán bù trừ thị trường giảm Lãi suất thực thấp hơn cóthể sẽ gây ra vay nhiều hơn để đầu tư tài chính Tương tự, người đoạt giải NobelJames Tobin lưu ý rằng lạm phát như vậy sẽ có thể làm cho các doanh nghiệpđầu tư thay thế trong vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho tàng) cho số dư tiềntrong danh mục đầu tư tài sản của họ Thay thế đó có nghĩa là sự lựa chọn làmcác khoản đầu tư với tỉ lệ lợi nhuận thấp hơn hoàn vốn thực tế (Tỷ suất hoànvốn này thấp hơn bởi vì các khoản đầu tư với tỉ lệ hoàn vốn cao hơn đã đượcthực hiện trước đây.) Hai tác động có liên quan này được gọi là hiệu ứngMundell-Tobin Trừ khi nền kinh tế đã đầu tư quá mức theo các mô hình của lýthuyết tăng trưởng kinh tế, mà đầu tư tăng thêm đó do hiệu ứng này có thể sẽđược xem là tích cực
Trang 202.4 Bất ổn định với giảm phát
Nhà kinh tế S.C Tsaing lưu ý rằng một khi giảm phát đáng kể được dựkiến, hai tác động quan trọng sẽ xuất hiện; cả hai có kết quả là việc nắm giữ tiềnthay thế cho vay như một phương tiện để tiết kiệm Tác động đầu tiên là giá cảliên tục giảm và dẫn đến khuyến khích tích trữ tiền sẽ gây ra bất ổn do sự sợ hãikhả năng tăng, trong khi các tích trữ tiền tăng giá trị, mà giá trị của những tíchtrữ này có rủi ro, vì mọi người nhận ra rằng một phong trào trao đổi các cất giấutiền này thành hàng hóa và tài sản thực tế sẽ nhanh chóng thúc đẩy giá cả tănglên Bất kỳ trào lưu chi tiêu nào cho những tích trữ này "một khi bắt đầu sẽ cóthể trở thành một trận tuyết lở rất lớn, mà có thể hung hăng một thời gian dàitrước khi nó chi tiêu cho chính mình." Do đó, một chế độ giảm phát lâu dài cóthể bị gián đoạn bởi các gai nhọn có tính chu kỳ của lạm phát nhanh chóng vàcác gián đoạn kinh tế thực sự tiếp theo Lạm phát trung bình và ổn định sẽ có thểtránh một hình răng cưa của các biến động giá
2.5 Không hiệu quả thị trường tài chính với giảm phát
Tác động thứ hai được lưu ý bởi Tsaing là khi những người tiết kiệm đãthay thế giữ tiền cho vay trên các thị trường tài chính, vai trò của các thị trườngnày trong việc hướng các tiết kiệm vào kênh đầu tư bị suy yếu Với lãi suất danhnghĩa định hướng về không, hoặc gần bằng không, từ sự cạnh tranh với một tàisản tiền lợi nhuận cao, sẽ không có cơ chế giá trong bất cứ điều gì còn lại củacác thị trường này Với các thị trường tài chính bị cho chết một cách hiệu quả,giá cả các hàng hóa còn lại và tài sản vật lý sẽ di chuyển theo các hướng ngoan
cố Ví dụ, một mong muốn tăng thêm để tiết kiệm không có thể đẩy lãi suất tiếptục xuống (và do đó khuyến khích đầu tư) mà thay vào đó sẽ gây ra hiện tượngtích trữ tiền bạc, dẫn dắt giá tiêu dùng tiếp tục đi xuống và làm cho đầu tư sảnxuất hàng tiêu dùng do đó kém hấp dẫn Lạm phát vừa phải, một khi kỳ vọngcủa nó được kết hợp vào lãi suất danh nghĩa, sẽ cung cấp dự phòng cho các lãisuất này để cả đi lên và đi xuống để đáp ứng với sự thay đổi các cơ hội đầu tư,hoặc các sở thích của người gửi tiết kiệm, và do đó cho phép các thị trường tàichính hoạt động một cách bình thường hơn
Trang 213 Các ảnh hưởng tiêu cực
Tỷ lệ lạm phát cao hoặc không thể đoán trước được coi là có hại cho nềnkinh tế Chúng thêm sự thiếu hiệu quả trong thị trường, và làm cho nó khó khăncho các công ty với ngân sách hoặc kế hoạch dài hạn Lạm phát có thể hoạt độngnhư một lực cản đối với năng suất do các công ty buộc phải chuyển các nguồnlực từ các sản phẩm và dịch vụ để tập trung vào lợi nhuận và thua lỗ từ lạm pháttiền tệ Không chắc chắn về sức mua tương lai của tiền không khuyến khích đầu
tư và tiết kiệm Và lạm phát có thể áp đặt tăng thuế ẩn, do thu nhập tăng cao đẩyngười nộp thuế vào thuế suất thuế thu nhập cao hơn trừ khi khung thuế đượcchỉnh theo lạm phát
Với lạm phát cao, sức mua được phân phối lại từ những người thu nhậpdanh nghĩa cố định, chẳng hạn như một số người nghỉ hưu có lương hưu khôngđược lập chỉ mục với mức giá, hướng tới những người có thu nhập biến đổi màthu nhập của họ có thể giữ cho tốc độ tốt hơn với lạm phát.[23] Phân bố lại sứcmua này cũng sẽ xảy ra giữa các đối tác thương mại quốc tế Nơi các tỷ giá cốđịnh được áp dụng, lạm phát cao hơn trong một nền kinh tế hơn một nơi khác sẽgây ra xuất khẩu của nền kinh tế đầu tiên trở nên đắt hơn và ảnh hưởng đến cáncân thương mại Cũng có thể có tác động tiêu cực đối với thương mại từ một sựbất ổn gia tăng trong trao đổi tiền tệ do lạm phát không thể đoán trước
3.1 Lạm phát đẩy chi phí
Lạm phát cao có thể nhắc nhở nhân viên yêu cầu tăng lương nhanh chóng,
để theo kịp với giá tiêu dùng Trong lý thuyết lạm phát đẩy chi phí, lương tănglần lượt có thể giúp lạm phát nhiên liệu Trong trường hợp thương lượng tập thể,tăng lương sẽ được thiết lập như là một hàm của những kỳ vọng lạm phát, mà sẽcao hơn khi lạm phát cao Điều này có thể gây ra một vòng xoáy tiền lương.[33] Trong một nghĩa nào đó, lạm phát đem lại kỳ vọng tiếp tục lạm phát, mà điềunày đem lại lạm phát tiếp tục
Trang 223.2 Tích trữ
Người ta mua hàng hóa lâu bền và/hoặc không dễ hư hỏng và các hàng hóakhác như các tồn trữ của cải, để tránh những tổn thất dự kiến từ sức mua suygiảm của tiền bạc, tạo ra tình trạng thiếu thốn do hàng hóa bị tích trữ
3.3 Tình trạng bất ổn xã hội và các cuộc khởi nghĩa
Lạm phát có thể dẫn đến các cuộc biểu tình lớn và các cuộc cách mạng Ví
dụ, lạm phát và cụ thể là lạm phát thực phẩm được coi là một trong những lý dochính gây racách mạng Tunisia năm 2010-2011[34] và cách mạng Ai Cập năm
2011,[35] theo một số nhà quan sát bao gồm Robert Zoellick,[36] chủ tịch của Ngânhàng Thế giới Tổng thống Tunisia Zine El Abidine Ben Ali đã bị lật đổ, Tổngthống Ai Cập Hosni Mubarak cũng bị lật đổ chỉ sau 18 ngày kể từ ngày các cuộcbiểu tình, và các cuộc tuần hành nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước Bắc Phi vàTrung Đông
3.4 Siêu lạm phát
Nếu lạm phát bị hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát (trong chiều hướng tăng),
nó hết sức có thể cản trở hoạt động bình thường của nền kinh tế, làm tổn thươngkhả năng cung cấp hàng hóa Siêu lạm phát có thể dẫn đến việc từ bỏ việc sửdụng đồng tiền của đất nước, dẫn đến thiếu hiệu quả của hàng đổi hàng
3.5 Hiệu quả phân bổ
Một sự thay đổi trong cung cấp hoặc nhu cầu cho một tốt bình thường sẽgây ra giá tương đối của nó thay đổi, báo hiệu cho người mua và người bán rằng
họ nên tái phân bổ nguồn lực để đáp ứng với các điều kiện thị trường mới.Nhưng khi giá thay đổi liên tục do lạm phát, các thay đổi giá cả do các tín hiệugiá tương đối chính hãng rất khó để phân biệt với những thay đổi giá do lạmphát chung, vì vậy các tác nhân chậm để đối phó với chúng Kết quả là một mấtmát hiệu quả phân bổ
3.6 Chi phí da giày
Lạm phát cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ số dư tiền mặt và cóthể gây ra cho người đến một phần lớn tài sản của họ trong các tài khoản thanhtoán Tuy nhiên, vì tiền mặt vẫn cần thiết để thực hiện các giao dịch này có
Trang 23nghĩa là nhiều "chuyến đi đến ngân hàng" hơn là cần thiết để rút tiền, tốn kémnhiều "da giày" với mỗi chuyến đi.
3.7 Chu kỳ kinh doanh
Theo Lý thuyết Chu kỳ kinh doanh Áo, lạm phát đặt ra chu kỳ kinh doanh.Các nhà kinh tế Áo giữ điều này là ảnh hưởng tác hại nhất của lạm phát Theo lýthuyết Áo, lãi suất thấp giả tạo và sự gia tăng liên quan đến cung cấp tiền dẫnđến liều lĩnh, vay đầu cơ, dẫn đến các cụm đầu tư hiểm độc, mà cuối cùng phảiđược thanh lý khi chúng trở nên không bền vững
Trang 24CHƯƠNG III NGUYÊN NHÂN LẠM PHÁT
Trong lịch sử, rất nhiều tài liệu kinh tế đã quan tâm đến những câu hỏi vềhiệu quả những gì gây ra lạm phát và những gì nó có Có những trường pháikhác nhau về tư tưởng như các nguyên nhân của lạm phát Phần lớn có thể đượcchia thành hai khu vực chính: lý thuyết chất lượng của lạm phát và lý thuyết sốlượng của lạm phát Lý thuyết chất lượng của lạm phát dựa trên sự mong đợi củamột đồng tiền chấp nhận bán để có thể trao đổi tiền tệ sau một thời gian đối vớihàng hoá là mong muốn như một người mua Lý thuyết số lượng của lạm phátdựa trên các phương trình lượng tiền, có liên quan cung tiền, vòng quay của nó,
và giá trị danh nghĩa của trao đổi Adam Smith và David Hume đã đề xuất một
lý thuyết số lượng của lạm phát với tiền bỏ ra, và một lý thuyết chất lượng củalạm phát sản xuất Hiện nay, lý thuyết số lượng tiền tệ được chấp nhận rộng rãinhư là một mô hình chính xác của lạm phát trong thời gian dài Do đó, hiện nay
là thỏa thuận rộng rãi giữa các nhà kinh tế rằng về lâu dài, tỉ lệ lạm phát cơ bảnphụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng cung tiền liên quan đến sự tăng trưởng của nềnkinh tế Tuy nhiên, trong tình trạng lạm phát ngắn hạn và trung hạn có thể bị ảnhhưởng bởi nguồn cung cấp và nhu cầu áp lực trong nền kinh tế, và chịu ảnhhưởng của độ đàn hồi tương đối của tiền lương, giá cả và lãi suất.[18] Các câu hỏiliệu những tác động ngắn hạn kéo dài đủ lâu là quan trọng là chủ đề trung tâmcủa cuộc tranh luận giữa người theo chủ nghĩa tiền tệ và các nhà kinh tế họcKeynes Trong chủ nghĩa tiền tệ giá và lương điều chỉnh một cách nhanh chóng đủ
để làm cho các yếu tố khác chỉ đơn thuần là hành vi biên trên một chung xu hướngtrực tuyến Trong quan điểm học thuyết Keynes, giá cả và tiền lương điều chỉnh ởmức độ khác nhau, và những khác biệt này có đủ các hiệu ứng trên sản lượng thực
tế là "lâu dài" theo quan điểm của những người trong một nền kinh tế
1 Quan điểm của học thuyết Keynes
Kinh tế học Keynes đề xuất rằng những thay đổi trong cung tiền không trựctiếp ảnh hưởng đến giá cả, và rằng lạm phát có thể nhìn thấy là kết quả của các
áp lực trong nền kinh tế tự thể hiện mình trong giá
Trang 25Có ba loại chính của lạm phát, như một phần của những gì Robert J.Gordon gọi là "mô hình tam giác": [38]
Lạm phát cầu kéo là do sự gia tăng tổng cầu do tăng chi tiêu cá nhân và
chính phủ, vv Lạm phát nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh tế vì nhu cầuquá mức và các điều kiện thị trường thuận lợi sẽ kích thích đầu tư và mở rộng
Lạm phát chi phí đẩy, còn gọi là "lạm phát sốc cung," là do sự sụt giảm
tổng cung (sản lượng tiềm năng) Điều này có thể là do thiên tai, hoặc tăng giácủa nguyên liệu đầu vào Ví dụ, giảm đột ngột trong việc cung cấp dầu, dẫn đếngiá dầu tăng lên, có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy Các nhà sản xuất dầu chongười mà dầu là một phần chi phí của họ sau đó có thể chuyển thông tin này chongười tiêu dùng dưới hình thức giá tăng lên Một ví dụ khác xuất phát từ tổn thấtđược bảo hiểm bất ngờ cao, hoặc là hợp pháp (thảm họa) hoặc gian lận (mà cóthể là đặc biệt phổ biến trong thời kỳ suy thoái)
Lạm phát vốn có được gây ra bởi kỳ vọng thích nghi, và thường được liên
kết với "vòng xoáy giá/lương" Nó liên quan đến công nhân cố gắng giữ tiềnlương của họ với giá (trên tỷ lệ lạm phát), và các công ty chuyển những chi phílao động cao hơn này cho khách hàng của họ như giá cao hơn, dẫn đến một
"vòng luẩn quẩn" Lạm phát vốn có phản ánh các sự kiện trong quá khứ, và do
đó có thể được xem như lạm phát nôn nao
Lý thuyết cầu kéo nói rằng lạm phát tăng tốc khi tổng cầu tăng vượt quákhả năng của nền kinh tế để sản xuất (sản lượng tiềm năng của nó) Do đó, bất
kỳ yếu tố nào làm tăng tổng cầu đều có thể gây ra lạm phát.[39] Tuy nhiên, về lâudài, tổng cầu có thể được tổ chức trên năng lực sản xuất chỉ bằng cách tănglượng tiền trong lưu thông nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng thực của nềnkinh tế Một nguyên nhân khác (mặc dù ít phổ biến) có thể là một sự suy giảm
nhanh chóng trong nhu cầu đối với tiền bỏ ra, như đã xảy ra ở châu Âu
trong Black Death, hoặc trong vùng lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm đóng ngaytrước sự thất bại của Nhật Bản trong năm 1945
Ảnh hưởng của tiền trên lạm phát là rõ ràng nhất khi các chính phủ tài trợcho chi tiêu trong một cuộc khủng hoảng, chẳng hạn như một cuộc chiến tranh
Trang 26dân sự, bằng cách in tiền quá mức Điều này đôi khi dẫn đến lạm phát phi mã,một điều kiện mà giá có thể tăng gấp đôi trong một tháng hoặc ít hơn Cung tiềncũng được cho là đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ vừaphải của lạm phát, mặc dù có sự khác biệt về quan điểm về tầm quan trọng của
nó Ví dụ: các nhà kinh tế theo chủ nghĩa tiền tệ tin rằng liên kết là rất mạnh mẽ,các nhà kinh tế Keynes, ngược lại, thường nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trongnền kinh tế chứ không phải là cung tiền trong việc xác định lạm phát Có nghĩa
là, đối với phái Keynes, cung tiền chỉ là một yếu tố quyết định của tổng cầu.Một số nhà kinh tế phái Keynes cũng không đồng ý với quan điểm chorằng ngân hàng trung ương hoàn toàn kiểm soát cung tiền, cho rằng ngân hàngtrung ương có ít kiểm soát, do cung tiền thích nghi với nhu cầu cho tín dụngngân hàng được phát hành bởi ngân hàng thương mại Điều này được gọi là lýthuyết của tiền nội sinh, và đã được ủng hộ mạnh mẽ bởi những người sauKeynes từ những năm 1960 Nó ngày nay đã trở thành một trọng tâm của nhữngngười ủng hộ quy tắc Taylor Vị trí này không được chấp nhận phổ biến - cácngân hàng tạo ra tiền bằng cách làm ra các khoản vay, nhưng tổng khối lượngcác khoản vay này giảm đi khi lãi suất thực tăng Như vậy, các ngân hàng trungương có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp tiền bằng cách làm cho tiền rẻ hơnhoặc đắt hơn, do đó tăng hoặc giảm sản xuất
Một khái niệm cơ bản trong phân tích lạm phát là mối quan hệ giữa lạmphát và thất nghiệp, được gọi là đường cong Phi-líp Mô hình này cho thấy rằng
có một đánh đổi giữa sự ổn định giá cả và việc làm Vì vậy, một số mức độ lạmphát có thể được xem là hấp dẫn để giảm thiểu tình trạng thất nghiệp Mô hìnhđường cong Phillips mô tả tốt kinh nghiệm của Mỹ vào những năm 1960 nhưngkhông thành công để mô tả sự kết hợp của lạm phát tăng cao và kinh tế trì trệ
(đôi khi được gọi là tình trạng lạm phát) có trải nghiệm trong những năm 1970.
Như vậy, kinh tế vĩ mô hiện đại mô tả lạm phát bằng cách sử dụng đường
cong Phillips rằng các thay đổi (nên sự đánh đổi giữa các thay đổi lạm phát và
thất nghiệp) vì những vấn đề như các cú sốc cung và lạm phát trở thành xâydựng cho các hoạt động bình thường của nền kinh tế Các đề cập trước đây đến
Trang 27các sự kiện như cú sốc dầu lửa những năm 1970, trong khi những đề cập sau nàyđến vòng xoáy giá/lương ốc và các kỳ vọng lạm phát ngụ ý rằng nền kinh tế bịlạm phát "một cách bình thường" Như vậy, đường cong Phi-líp chỉ đại diện chothành phần cầu kéo của mô hình tam giác.
Một khái niệm khác cần lưu ý là sản lượng tiềm năng (đôi khi được gọi là
"tổng sản phẩm quốc nội tự nhiên"), một mức độ của GDP, khi nền kinh tế đang
ở mức sản xuất tối ưu của nó được thể chế và tự nhiên (Mức độ sản lượng nàytương ứng với Tỷ lệ thất nghiệp không đẩy mạnh lạm phát, NAIRU, hoặc tỷ lệthất nghiệp "tự nhiên" hoặc tỷ lệ thất nghiệp đầy đủ việc làm) Nếu GDP vượtquá tiềm năng của nó (và thất nghiệp là dưới NAIRU), lý thuyết này nói rằng
lạm phát sẽ tăng tốc do các nhà cung cấp tăng giá của họ và lạm phát tích hợp
nặng hơn Nếu GDP giảm xuống dưới mức tiềm năng của nó (và thất nghiệp là
trên NAIRU), lạm phát sẽ giảm tốc do các nhà cung cấp cố gắng để điền vào
công suất dư thừa, bằng cách giảm giá và phá hoại lạm phát có sẵn.[40]
Tuy nhiên, một vấn đề với lý thuyết này cho mục đích hoạch định chínhsách là mức độ chính xác của sản lượng tiềm năng (và của NAIRU) nói chung làkhông rõ và có xu hướng thay đổi theo thời gian Lạm phát cũng có vẻ hànhđộng một cách không đối xứng, tăng nhanh hơn so với giảm Tệ hơn, nó có thểthay đổi vì chính sách: ví dụ, tỷ lệ thất nghiệp cao dưới thời Thủ tướngAnh Margaret Thatcher có thể đã dẫn đến sự gia tăng trong NAIRU (và giảmtiềm năng) bởi vì nhiều người thất nghiệp tự thấy mình như thất nghiệp cơcấu (xem thêm thất nghiệp), không thể tìm được việc làm phù hợp với kỹ năngcủa họ Một gia tăng trong thất nghiệp cơ cấu ngụ ý rằng một tỷ lệ phần trămnhỏ của lực lượng lao động có thể tìm việc làm ở NAIRU, nơi nền kinh tế tránhvượt qua ngưỡng vào lĩnh vực thúc đẩy lạm phát
2 Quan điểm của Chủ nghĩa tiền tệ
Lạm phát và sự tăng cung tiền (M2)
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ tin rằng yếu tố quan trọng nhất ảnhhưởng đến lạm phát hay giảm phát là tốc độ cung tiền tăng lên hoặc co lại Họcoi chính sách tài khóa, hoặc chi tiêu chính phủ và thuế, là không có hiệu quả
Trang 28trong việc kiểm soát lạm phát.[43] Theo nhà kinh tế theo chủ nghĩa tiền tệ nổi
tiếng Milton Friedman,"Lạm phát là luôn luôn có và ở khắp mọi nơi là một hiện
tượng tiền tệ."[44] Tuy nhiên, một số người theo chủ nghĩa tiền tệ sẽ chấp nhậnđiều này bằng cách làm một ngoại lệ cho các trường hợp rất ngắn hạn
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ khẳng định rằng các nghiên cứu thựcnghiệm lịch sử tiền tệ cho thấy lạm phát luôn luôn là một hiện tượng tiền
tệ Thuyết số lượng tiền tệ, chỉ đơn giản nói rằng bất kỳ thay đổi nào trong sốlượng tiền trong một hệ thống sẽ làm thay đổi mức giá Lý thuyết này bắt đầuvới phương trình trao đổi:
ở đây
là số lượng tiền danh nghĩa
là vòng quay tiền tệ trong các tiêu dùng cuối cùng;
là mức giá chung;
là một chỉ số của giá trị thực tế của các tiêu dùng cuối cùng;
Trong công thức này, mức giá chung có liên quan đến mức độ hoạt động
kinh tế thực (Q), lượng tiền (M) và vòng quay của tiền (V) Công thức này là một đồng nhất thức vì vòng quay của tiền (V) được định nghĩa là tỷ lệ chi tiêu
danh nghĩa cuối cùng ( ) với số lượng tiền (M).
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ cho rằng vòng quay của tiền không bịảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ (ít nhất là trong thời gian dài), và giá trị thựccủa sản lượng được xác định trong thời gian dài bởi năng lực sản xuất của nềnkinh tế Theo các giả định, động lực chính của sự thay đổi trong mức giá chung
là thay đổi trong lượng tiền Với vòng quay ngoại sinh (có nghĩa là, vòng quayđược xác định bên ngoài và không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ), cungtiền xác định giá trị sản lượng danh nghĩa (bằng chi phí cuối cùng) trong ngắnhạn Trong thực tế, vòng quay không phải là ngoại sinh trong ngắn hạn, và do
đó, công thức không nhất thiết có nghĩa là một mối quan hệ ngắn hạn ổn địnhgiữa cung tiền và sản lượng không đáng kể Tuy nhiên, về lâu dài, những thayđổi trong vòng quay được giả định được xác định bởi sự phát triển của các cơ
Trang 29chế thanh toán Nếu vòng quay tương đối không bị ảnh hưởng bởi chính sáchtiền tệ, tỷ giá dài hạn của tăng giá (tỷ lệ lạm phát) bằng với tỷ lệ dài hạn tăngtrưởng của cung tiền cộng với lãi dài hạn ngoại sinh của tốc độ phát triển trừ đithời gian dài tốc độ tăng trưởng của sản lượng thực tế.[45]
3 Quan điểm của Lý thuyết kỳ vọng hợp lý
Lý thuyết kỳ vọng hợp lý cho rằng tác nhân kinh tế tìm cách hợp lý trongtương lai khi cố gắng tối đa hóa phúc lợi của họ, và không đáp ứng chỉ với chiphí cơ hội và áp lực trước mắt Theo quan điểm này, trong khi thường căn cứvào trọng tiền, kỳ vọng và chiến lược trong tương lai cũng là quan trọng đối vớilạm phát
Một sự khẳng định cốt lõi của lý thuyết kỳ vọng hợp lý là tác nhân kinh tế
sẽ tìm cách "đón đầu" các quyết định của ngân hàng trung ương bằng cách hànhđộng bằng cách thực hiện những dự đoán lạm phát cao hơn Điều này có nghĩarằng các ngân hàng trung ương phải thiết lập sự tin cậy của họ trong cuộc chiếnchống lạm phát, hoặc tác nhân kinh tế sẽ đặt cược rằng các ngân hàng trungương sẽ mở rộng cung tiền nhanh chóng, đủ để ngăn chặn suy giảm, thậm chí tạicác chi phí làm tăng lạm phát Vì vậy, nếu một ngân hàng trung ương có tiếng là
"mềm dẻo" đối với lạm phát, khi công bố một chính sách chống lạm phát mớivới các tác nhân kinh tế tăng trưởng tiền tệ hạn chế sẽ không tin rằng chính sáchnày sẽ vẫn tồn tại; kỳ vọng lạm phát của họ vẫn ở mức cao, và do đó sẽ lạmphát Mặt khác, nếu các ngân hàng trung ương có tiếng là "cứng rắn" đối vớilạm phát, thì một thông báo chính sách như vậy sẽ được tin tưởng và kỳ vọnglạm phát sẽ giảm xuống nhanh chóng, do đó cho phép lạm phát nó đi xuốngnhanh chóng với sự gián đoạn kinh tế tối thiểu
Lạm phát, tiền tệ được bảo đảm hàng hóa, có khả năng tăng cung với tốc
độ khác hơn tăng trưởng kinh tế Do đó nó đã được chứng minh là giảm phát cao
và mất ổn định, kể cả trong trường hợp nó gây ra và kéo dài suy thoái.[50]
4 Học thuyết Hóa đơn thực tế
Trong bối cảnh của một cơ sở tiền đồng cố định đối với tiền, một trongnhững tranh cãi quan trọng là giữa lý thuyết số lượng tiền và học thuyết hóa đơn
Trang 30thực tế (RBD) Trong bối cảnh đó, lý thuyết số lượng áp dụng cho mức độ kếtoán dự trữ phân đoạn đã cho phép chống lại tiền đồng, vàng nói chung, bị nắmgiữ bởi ngân hàng Các trường phái kinh tế tiền tệ và hoạt động ngân hàng tranhluận RBD, các ngân hàng cũng sẽ có thể phát hành tiền tệ chống lại các hóa đơntrao đổi, đó là các "hóa đơn thực tế" mà họ mua từ các thương gia Lý thuyết này
là quan trọng vào thế kỷ 19 trong cuộc tranh luận giữa các trường phái "hoạtđộng ngân hàng" và "tiền tệ" về tính đúng đắn của tiền tệ, và trong sự hình thànhcủa Dự trữ Liên bang Theo sau sự sụp đổ của bản vị vàng quốc tế sau năm
1913, và di chuyển theo hướng thâm hụt tài chính của chính phủ, RBD vẫn làmột chủ đề nhỏ, chủ yếu quan tâm trong các bối cảnh hạn chế, chẳng hạn nhưcác vị tiền tệ Nó được nắm một cách chung trong danh tiếng ốm yếu ngày hômnay, với Frederic Mishkin, một thống đốc của Dự trữ Liên bang đi xa đến mứcnói rằng nó đã bị "hoàn toàn mất uy tín."
Các cuộc tranh luận giữa các trường phái tiền tệ, hoặc lý thuyết số lượng,
và hoạt động ngân hàng ở Anh trong thế kỷ 19 tiên báo câu hỏi hiện nay về độtin cậy của tiền trong hiện tại Trong thế kỷ 19 trường phái hoạt động ngân hàng
có ảnh hưởng lớn hơn trong chính sách của Hoa Kỳ và Anh, trong khi trườngphái tiền tệ đã có nhiều ảnh hưởng "ở châu lục", đó là ở các nước ngoài Anh,đặc biệt trong Liên minh tiền tệ Latin và liên minh tiền tệ Scandinavia trước đó
5 Lý thuyết chống cổ điển hay lý thuyết ủng hộ
Một vấn đề khác liên quan đến kinh tế chính trị cổ điển là giả thuyết chống
cổ điển của tiền bạc, hay "lý thuyết ủng hộ" Lý thuyết ủng hộ lập luận rằng giátrị của tiền được xác định bởi các tài sản và nợ phải trả của cơ quan phát hành.[51] Không giống như Lý thuyết số lượng của kinh tế chính trị cổ điển, lý thuyếtủng hộ lập luận rằng cơ quan phát hành có thể phát hành tiền mà không gây ralạm phát, miễn là các tổ chức phát hành tiền có đủ tài sản để chuộc lại Có rất ítcác nhà lý luận ủng hộ, làm cho lý thuyết số lượng trở thành lý thuyết thống trịgiải thích lạm phát
Trang 31CHƯƠNG VI: KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1 Kích thích tăng trưởng kinh tế
Nếu tăng trưởng kinh tế phù hợp với sự tăng trưởng của cung tiền, lạm phát
sẽ có thể không xảy ra khi các nhân tố khác cũng cân bằng nhau Một số lượnglớn các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tốc độ của cả hai Ví dụ: đầu tư trong sảnxuất thị trường, cơ sở hạ tầng, giáo dục, và chăm sóc y tế dự phòng tất cả có thểtăng trưởng một nền kinh tế với số lượng lớn hơn chi tiêu đầu tư
2 Chính sách tiền tệ
Ngày nay, công cụ chính để kiểm soát lạm phát là chính sách tiền tệ Hầuhết các ngân hàng trung ương được giao nhiệm vụ giữ lãi suất cho vay liên ngânhàng ở mức thấp, thường là cho một tỷ lệ mục tiêu khoảng 2% đến 3% mỗi năm,
và trong một phạm vi lạm phát mục tiêu thấp, ở đâu đó trong khoảng từ 2% đến6% mỗi năm Một lạm phát dương thấp thường là mục tiêu, do các điều kiệngiảm phát được xem là nguy hiểm cho sức khỏe của nền kinh tế
Có một số phương pháp đã được đề xuất để kiểm soát lạm phát Các ngânhàng Trung ương như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể ảnh hưởng đến lạm phát
ở một mức độ đáng kể thông qua thiết lập lãi suất và thông qua các hoạt độngkhác Các lãi suất cao và tốc độ tăng trưởng cung tiền chậm chạp là những cáchtruyền thống thông qua đó ngân hàng trung ương chống lại hoặc ngăn chặn lạmphát, mặc dù chúng có cách tiếp cận khác nhau Ví dụ, một số theo một mục tiêulạm phát đối xứng trong khi những phương pháp khác chỉ kiểm soát lạm phátkhi nó lên trên một mục tiêu, cho dù rõ ràng hay ngụ ý
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc duy trì tốc độ tăngtrưởng tiền ổn định, và sử dụng chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát (tăng lãisuất, làm chậm sự gia tăng cung tiền) Những người theo học thuyết Keynesnhấn mạnh việc giảm tổng cầu trong quá trình mở rộng kinh tế và việc gia tăngnhu cầu trong thời kỳ suy thoái để giữ lạm phát ổn định Kiểm soát tổng cầu cóthể đạt được bằng cách sử dụng cả chính sách tiền tệ và chính sách tàikhóa (tăng thuế hoặc giảm chi tiêu của chính phủ để giảm cầu)
Trang 323 Tỷ giá hối đoái cố định
Dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, đồng tiền của một quốc gia đượcgắn về giá trị với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ khác (hoặc đôi khi đếnmột thước đo giá trị, chẳng hạn như vàng) Một tỷ giá hối đoái cố định thườngđược sử dụng để ổn định giá trị đồng tiền, đối diện đồng tiền mà nó cố định vào
Nó cũng có thể được sử dụng như một phương tiện để kiểm soát lạm phát Tuynhiên, vì giá trị của đồng tiền tham chiếu tăng lên và hạ xuống, do đó, đồng tiềnkhông ổn định so với nó Điều này về cơ bản có nghĩa là tỷ lệ lạm phát của nước
có chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị xác định bởi tỷ lệ lạm phát của nước màđồng tiền này cố định vào Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cố định ngăn chặn chính phủtrong việc sử dụng chính sách tiền tệ trong nước để đạt được sự ổn định kinh tế
vĩ mô
Theo thỏa thuận Bretton Woods, hầu hết các nước trên thế giới đã có đồngtiền được cố định với đồng đô-la Mỹ Lạm phát hạn chế này tại các quốc gia,nhưng cũng đẩy họ đến việc tiếp xúc với nguy cơ của các tấn công đầu cơ Saukhi thỏa thuận Bretton Woods bị phá vỡ trong những năm 1970, các quốc giadần dần chuyển sang tỷ giá hối đoái thả nổi Tuy nhiên, trong phần sau của thế
kỷ 20, một số nước trở lại tỷ giá hối đoái cố định như một phần của một nỗ lực
để kiềm chế lạm phát Chính sách sử dụng một tỷ giá hối đoái cố định để kiểmsoát lạm phát này đã được sử dụng ở nhiều quốc gia ở Nam Mỹ trong phần saucủa thế kỷ 20 (ví dụ: Argentina (1991-2002), Bolivia, Brazil và Chile
hộ vàng sẽ được thực hiện, bao gồm cả số lượng tiền vàng trên một đơn vị tiền
tệ Loại tiền tệ chính nó không có giá trị bẩm sinh, nhưng được chấp nhận bởi
Trang 33các thương nhân vì nó có thể được hoàn trả lại cho tiền vàng tương đương Một
Mỹ chứng nhận bạc, ví dụ, có thể được hoàn trả cho một phần bạc thực tế
Bản vị vàng đã bị bỏ rơi một phần thông qua việc áp dụng quốc tế của Hệthống Bretton Woods Theo hệ thống này tất cả các loại tiền tệ chính khác bịbuộc ở mức giá cố định với đồng đô-la Mỹ, mà bản thân nó đã gắn liền với vàng
ở mức 35 USD một ounce Hệ thống Bretton Woods bị phá vỡ vào năm 1971,làm cho hầu hết các nước chuyển sang tiền tệ sắc lệnh - tiền tệ được hỗ trợ chỉbởi luật pháp của đất nước đó
Theo Lawrence H White, một Giáo sư Lịch sử kinh tế F.A Hayek "ngườilàm nên giá trị cho truyền thống Áo", các nền kinh tế dựa trên bản vị vàng hiếmkhi gặp lạm phát trên 2 phần trăm mỗi năm Tuy nhiên, trong lịch sử, Mỹ đãnhìn thấy lạm phát hơn 2% vài lần và đỉnh điểm lạm phát cao hơn theo bản vịvàng khi so sánh với lạm phát sau bản vị vàng Dưới một bản vị vàng, tỷ lệ lạmphát (hoặc giảm phát) dài hạn sẽ có thể bị xác định bởi tốc độ tăng trưởng củanguồn cung vàng so với tổng sản lượng.Các phê bình cho rằng điều này sẽ gây
ra biến động tùy ý trong tỷ lệ lạm phát và chính sách tiền tệ về cơ bản sẽ đượcxác định bằng việc khai thác vàng
5 Kiểm soát tiền lương và giá cả
Một phương pháp khác đã được thử trong quá khứ là kiểm soát tiền lương
và giá cả ("chính sách thu nhập") Việc kiểm soát tiền lương và giá cả kết hợpvới phân phối đã thành công trong môi trường chiến tranh Tuy nhiên, việc sửdụng chúng trong các bối cảnh khác là hỗn hợp hơn rất nhiều Thất bại đáng chú
ý của việc sử dụng bao gồm áp đặt kiểm soát tiền lương và giá cả năm 1972bởi Richard Nixon Ví dụ thành công hơn bao gồm Hòa ước giá cả và thunhập tại Úc và Thỏa hiệp Wassenaar tại Hà Lan
Nói chung, kiểm soát tiền lương và giá cả được coi là một biện pháp tạmthời và đặc biệt, chỉ có hiệu quả khi kết hợp với các chính sách được thiết kế đểlàm giảm những nguyên nhân cơ bản của lạm phát trong chế độ kiểm soát tiềnlương và giá cả, ví dụ, chiến thắng cuộc chiến đang chiến đấu Chúng thường cótác dụng hư hỏng, do các tín hiệu méo mó mà chúng gửi cho thị trường Giá
Trang 34thấp giả tạo thường gây ra phân phối và sự thiếu hụt và khuyến khích đầu tưtrong tương lai, dẫn đến tình trạng thiếu nhưng xa hơn Phân tích kinh tế thôngthường là bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ mà dưới giá đều được tiêu thụ quánhiều Ví dụ, nếu giá chính thức của bánh mì là quá thấp, sẽ có quá ít bánh mìvới giá chính thức, và có quá ít đầu tư trong việc làm bánh mì của thị trường đểđáp ứng nhu cầu trong tương lai, do đó làm trầm trọng thêm các vấn đề trong lâudài.
Kiểm soát tạm thời có thể bổ sung cho một cuộc suy thoái như là một cách
để chống lạm phát: điều khiển làm cho suy thoái kinh tế hiệu quả hơn như mộtcách để chống lạm phát (làm giảm sự cần thiết phải tăng tỷ lệ thất nghiệp), trongkhi suy thoái kinh tế ngăn chặn các loại biến dạng mà kiểm soát gây ra khi nhucầu cao Tuy nhiên, nói chung những lời khuyên của các nhà kinh tế không phải
là áp đặt kiểm soát giá cả mà là tự do hóa giá cả bằng cách giả định rằng nềnkinh tế sẽ điều chỉnh và từ bỏ hoạt động kinh tế mang lại lợi nhuận Hoạt độngthấp hơn sẽ đặt nhu cầu ít hơn bất cứ điều gì trên mặt hàng được dẫn dắt lạmphát, cho dù lao động, tài nguyên, và lạm phát sẽ giảm với tổng sản lượng kinh
tế Điều này thường tạo ra một cuộc suy thoái nghiêm trọng, như năng lực sảnxuất được phân bổ lại và do đó thường rất phổ biến với những người mà sinh kế
bị phá hủy (xem phá hủy sáng tạo)
6 Trợ cấp chi phí sinh hoạt
Sức mua thực tế của các khoản thanh toán cố định đang bị xói mòn bởi lạmphát trừ khi chúng được điều chỉnh lạm phát để giữ giá trị thực sự không đổi Ởnhiều nước, hợp đồng lao động, trợ cấp hưu trí, và các quyền lợi của chính phủ(ví dụ như an sinh xã hội) được gắn với một chỉ số chi phí sinh hoạt, thường
đến chỉ số giá tiêu dùng Một trợ cấp chi phí sinh hoạt (COLA) điều chỉnh
lương dựa trên những thay đổi trong chỉ số chi phí sinh hoạt Tiền lương thườngđược điều chỉnh hàng năm trong nền kinh tế lạm phát thấp Trong khi lạm phátphi mã nó được điều chỉnh thường xuyên hơn Chúng cũng có thể được gắn vớimột chỉ số giá sinh hoạt mà thay đổi theo vị trí địa lý khi di chuyển nhân viên
Trang 35Khoản điều chỉnh hàng năm trong hợp đồng lao động có thể chỉ định hồi tốhoặc tăng tỷ lệ phần trăm tương lai trong lương công nhân mà không bị ràngbuộc với bất kỳ chỉ số nào Những gia tăng trả tiền được đàm phán này được gọimột cách thông tục là các điều chỉnh chi phí sinh hoạt ("COLA") hoặc gia tăngchi phí sinh hoạt vì sự tương đồng của chúng với các gia tăng gắn liền với cácchỉ số được xác định bên ngoài.
Trang 36PHẦN 2: LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM
CHƯƠNG I: CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM
- Tổng cục Thống kê, các Cục Thống kê sử dụng Chỉ số giá tiêu dùng đểloại trừ yếu tố biến động (tăng/giảm) giá trong việc tính toán một số chỉ tiêuthống kê tổng hợp theo giá so sánh
- Chỉ số giá tiêu dùng được công bố rộng rãi để người dân biết được mức
độ biến động giá tiêu dùng chung, mức tăng giảm giá của những nhóm hàng hóadịch vụ chính, qua đó, người dân có thể đưa ra những quyết định đúng về tiêudùng cho đời sống hàng ngày
2 Khái niệm, định nghĩa
2.1 Giá tiêu dùng
Giá tiêu dùng là giá mà người tiêu dùng mua hàng hoá hoặc chi trả chocác dịch vụ phục vụ trực tiếp cho đời sống hàng ngày Giá tiêu dùng được biểuhiện bằng giá bán lẻ hàng hoá, dịch vụ trên thị trường (bao gồm cả thuế VAT)phục vụ sinh hoạt đời sống; không bao gồm giá đất đai, giá hàng hoá bán chosản xuất và các công việc có tính chất sản xuất kinh doanh
2.2 Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ tiêu thống kê phản ánh xu hướng và
mức độ biến động giá cả chung qua thời gian của một số lượng cố định các loại
Trang 37hàng hoá và dịch vụ đại diện cho tiêu dùng cuối cùng, phục vụ đời sống bìnhthường của người dân
Để tính mức độ biến động giá chung của các loại hàng hoá dịch vụ nàycần chọn ra một danh mục các loại hàng hoá dịch vụ chủ yếu, đang được tiêudùng phổ biến; danh mục này còn được gọi là “rổ” hàng hoá Nói cách khác, chỉ
số giá tiêu dùng là chỉ tiêu thống kê phản ánh mức độ biến động giá cả qua thờigian của toàn bộ “rổ” hàng hoá tiêu dùng
Ví dụ, khi nói Chỉ số giá tiêu dùng tháng này so với tháng trước là100,5% có nghĩa là mức tăng giá chung của toàn bộ “rổ” hàng hoá tháng này sovới tháng trước là 0.5%
Chỉ số giá tiêu dùng được tính và công bố hàng tháng Các gốc so sánhcủa chỉ số giá tiêu dùng là năm gốc (năm 2009), cùng tháng năm trước, tháng
12 năm trước, tháng trước và bình quân cùng kỳ
Với các gốc so sánh này, chỉ số giá tiêu dùng cho thấy mức độ biến độngcủa giá cả sau một tháng, một số tháng và một năm
+ Chỉ số giá tiêu dùng bình quân cùng kỳ đến tháng 4/2010 là 111,3%, có nghĩa
là chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2010 so với 4 tháng đầu năm
Trang 38thịt gà đắt hơn giá thịt bò, mà chỉ đơn giản là giá thịt gà tháng này so với thángtrước đã tăng (3,5%) cao hơn so với mức tăng giá của thịt bò (2,0%).
- Chỉ số giá tiêu dùng đo lường sự biến động giá qua thời gian, khôngphản ánh mức biến động giá theo không gian, có nghĩa là CPI không so sánhmức giá giữa các tỉnh, thành phố khác nhau Nếu chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh
A tháng này so tháng trước là 100,5%, chỉ số giá tiêu dùng của tỉnh B tháng này
so tháng trước là 100,3%, có nghĩa là tốc độ tăng giá tiêu dùng chung của tỉnh
A tháng này so tháng trước cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng chung của tỉnh B;không có nghĩa là giá tiêu dùng của tỉnh A cao hơn tỉnh B
- Chỉ số giá tiêu dùng phản ánh sự biến động thuần tuý về giá (đã loại trừảnh hưởng của những thay đổi về lượng hoặc chất lượng của hàng hoá và dịch
vụ liên quan)
Ở nước ta, chỉ số giá tiêu dùng đã được tính từ năm 1998 (trước đó là chỉ
số giá bán lẻ hàng hoá) Xuất phát từ nhu cầu thông tin thống kê phục vụ quản
lý kinh tế của các cấp từ Trung ương đến địa phương, chỉ số giá tiêu dùng củanước ta đã và đang được tính cho cả nước, 6 vùng kinh tế và 63 tỉnh/thành phốtrực thuộc Trung ương
Chỉ số giá tiêu dùng của cả nước không tính trực tiếp từ giá mà được tínhbằng phương pháp bình quân gia quyền giữa chỉ số giá tiêu dùng của các vùngkinh tế với quyền số tương ứng (là tỷ trọng chi tiêu của mỗi vùng so với cảnước phân theo các nhóm hàng chia ra hai khu vực nông thôn và thành thị)
Chỉ số giá tiêu dùng của 6 vùng kinh tế được tính bằng phương pháp bìnhquân gia quyền giữa chỉ số giá tiêu dùng của các tỉnh/thành phố trong vùng vớiquyền số tương ứng (là tỷ trọng chi tiêu của mỗi tỉnh so với toàn vùng phântheo các nhóm hàng chia ra hai khu vực nông thôn và thành thị)
Chỉ số giá tiêu dùng của từng tỉnh/thành phố được tính bằng phương pháptính bình quân gia quyền giữa mức biến động giá của các nhóm mặt hàng vớiquyền số tương ứng (là tỷ trọng chi tiêu từng nhóm hàng trên tổng số chi tiêucho đời sống, phân ra hai khu vực nông thôn và thành thị)
Trang 39Sau mỗi chu kỳ 5 năm, danh mục mặt hàng đại diện, quyền số lại đượccập nhật cho phù hợp với thị trường tiêu dùng và cơ cấu chi tiêu cho đời sốnghàng ngày của người dân trong giai đoạn hiện tại (lần cập nhật này, sẽ dùng chothời kỳ 2009-2014)
2.3 Danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện
Để tính chỉ số giá tiêu dùng, cần phải thu thập giá của các loại hàng hoá
và dịch vụ đại diện, tiêu dùng phổ biến của dân cư trong một giai đoạn nhấtđịnh, theo một danh mục xác định, bởi vì:
+ Các hộ gia đình tiêu dùng nhiều loại hàng hoá và dịch vụ khác nhaucho đời sống hàng ngày; trong đó nhiều mặt hàng trong một nhóm hàng có thể
có sự biến động giá tương tự như nhau
+ Các hộ gia đình thường tiêu dùng tập trung vào một số loại hàng hoá vàdịch vụ chủ yếu, các loại hàng hoá và dịch vụ khác có thể được tiêu dùng vớimức độ ít hơn
Trong thống kê giá, danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện này được gọi
là “rổ” hàng hoá Sự biến động giá của các mặt hàng trong “rổ” hàng hoá này sẽđại diện cho sự biến động giá cả chung của toàn bộ các loại hàng hoá và dịch vụtiêu dùng của dân cư
Danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện bao gồm các mặt hàng và dịch
vụ chủ yếu, đại diện cho tiêu dùng của dân cư trong một giai đoạn nhất định, được sử dụng để điều tra thu thập giá định kỳ, phục vụ tính chỉ số giá tiêu dùng.
Tổng cục Thống kê xây dựng danh mục hàng hoá dịch vụ đại diện chungthời kỳ 2009-2014 như sau:
+ Năm 2009, tiến hành khảo sát thị trường tại 63 tỉnh/thành phố để nắmđược tình hình lưu thông hàng hoá thị trường, tập quán tiêu dùng của nhân dântrong giai đoạn hiện tại
+ Nghiên cứu kết quả cuộc điều tra Khảo sát mức sống hộ gia đình vàđiều tra quyền số chỉ số giá tiêu dùng năm 2008 (do Tổng cục Thống kê thực
Trang 40hiện) để xem xét mức độ và tỷ trọng tiêu dùng của từng nhóm hàng hoá dịch vụchủ yếu trong tổng số chi tiêu cho đời sống hàng ngày của người dân.
+ Tham khảo danh mục quốc tế về Phân loại hàng hoá tiêu dùng cá nhân
theo mục đích sử dụng (danh mục COICOP) và danh mục điều tra giá tiêu dùngcủa một số nước khác
Trên cơ sở đó, Tổng cục Thống kê chọn ra các loại hàng hoá, dịch vụ vàsắp xếp chúng thành một danh mục đáp ứng các yêu cầu sau đây:
- Có đầy đủ các loại hàng hoá, dịch vụ phục vụ đời sống hàng ngày củangười dân (với mức thu nhập trung bình) trong thời kỳ hiện tại; đó là các nhómhàng hoá, dịch vụ như: lương thực, thực phẩm; đồ uống và thuốc lá; may mặc,
mũ nón, giày dép; nhà ở, vật liệu xây dựng; thiết bị và đồ dùng gia đình; dượcphẩm, y tế; phương tiện đi lại, bưu chính, viễn thông; giáo dục; văn hoá thể thao,giải trí; hàng hoá và dịch vụ khác Ngoài ra, trong danh mục điều tra giá củanước ta có hai mặt hàng đặc biệt là vàng và đô la Mỹ được sử dụng để tính chỉ
số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
- Là những hàng hoá, dịch vụ đại diện, được nhân dân ưa chuộng, đangtiêu dùng phổ biến và có khả năng tồn tại lâu dài trên thị trường
- Tương đối phù hợp với danh mục điều tra của các nước khác để đảm bảotính so sánh quốc tế của chỉ số giá
Danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện này sẽ được sử dụng trong 5 năm(2009-2014) Do sự phát triển của nền kinh tế, của hàng hoá thị trường và nhucầu tiêu dùng của người dân luôn biến động, vì thế, sau mỗi thời kỳ 5 năm, danhmục này lại được điều chỉnh, bổ sung những hàng hoá hoặc dịch vụ mới, loại đinhững hàng hoá hoặc dịch vụ đã lạc hậu, đảm bảo đại diện cho tiêu dùng củadân cư trong thời kỳ mới
Với cách làm nêu trên, danh mục hàng hoá và dịch vụ đại diện chung cảnước dùng cho giai đoạn 2009-2014 bao gồm 572 mặt hàng và dịch vụ tiêudùng; được sắp xếp theo cấu trúc của chỉ số (Phụ lục 1)
Để thu thập được giá, mỗi mặt hàng hoá và dịch vụ trong danh mục điều tra đều phải mô tả chi tiết về qui cách, phẩm cấp, nhãn mác cụ thể