1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở việt nam hiện nay

37 684 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn, Dương Anh Tuấn, Lê Phạm Nhật Tuyên, Vương Bích Tuyền, Nguyễn Thị Mộng Tuyền, Đỗ Thị Kim Tuyến, Võ Nguyễn Giang Tú, Phạm Thị Thanh Vân, Bạch Thị Hồng Vân, Hoàng Thị Hải Vân, Vũ Bảo Vân, Ngô Thị Kim Vân, Đỗ Thị Thúy Vân, Nguyễn Xuân Vinh, Huỳnh Ngọc Vinh, Hồ Kim Vũ, Nguyễn Thị Hải Yến, Đinh Phan Toàn Trung, Đào Minh Xuyên, Nguyễn Nhất Linh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 919,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khủng hoảng kinh tế Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế bao gồm các hoạt động trong thị trường tiền tệ, tài chính, thị trường sản xuất kéo dài và trầm trọng hơn cả

Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 6

# "

STT Họ & Tên Chữ ký Ghi chú

01 Nguyễn Văn Tuấn

02 Dương Anh Tuấn

17 Nguyễn Thị Hải Yến

Trang 2

LỜI GIỚI THIỆU

# "

Giữa năm 2007, khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã bất ngờ nổ ra, ảnh hưởng sâu sắc đến kinh tế nước Mỹ và hệ thống tài chính toàn cầu Hàng loạt tổ chức tài chính bị phá sản, cùng với đó là suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới Tại Mỹ, cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện và đã bị khuếch đại bởi sự chứng khoán hóa các khoản cho vay mua nhà không đủ tiêu chuẩn Chính phủ các nước Châu Âu cũng phải vào cuộc để cứu vãn tình thế, tránh một cuộc đổ vỡ hệ thống tài chính, suy thoái kinh tế

Khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra rất nhiều hiệu quả không lường, thiệt hại vô cùng

to lớn đến nền kinh tế các quốc gia trên thế giới Mỗi cuộc khủng hoảng thường có nguyên nhân khác nhau Do đó, các nhà kinh tế luôn quan tâm nghiên cứu tìm hiểu để đưa ra những giải pháp đúng đắn để ngăn ngừa cũng như vượt qua nó, hạn chế tối thiểu thiệt hại cho nền kinh tế

Bên cạnh khủng hoảng kinh tế thì lạm phát cũng là vấn đề mà bất cứ quốc gia nào cũng quan tâm nghiên cứu bởi vì lạm phát xảy ra sẽ gây nên sự bất ổn cho nền kinh tế một quốc gia Việt Nam là một quốc gia đang trên đường hội nhập và phát triển cùng thế giới,

có nền kinh tế phát triển với tốc độ cao trên thế giới Do đó, lạm phát cao xảy ra là điều khó tránh khỏi Đặc biệt trong những năm gần đây tình hình kinh tế thế giới bất ổn đã ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề lạm phát cao ở Việt Nam

Vì vậy việc nghiên cứu những vấn đề trên sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn các vấn đề đang xảy ra trên thế giới và Việt Nam Không nằm ngoài mục đích này nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này và hy vọng sẽ giúp ích cho mọi người nhìn nhận các vấn đề này một cách

dễ dàng và đúng đắn hơn

Bài viết sẽ không hoàn thiện nếu thiếu sự tham gia góp ý từ các anh chị và các bạn Chân thành cảm ơn

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

# "

1 Quỹ tiền tệ quốc tế (International monetary Fund) – IMF

2 Ngân hàng thế giới (World Bank) – WB

3 Cục dự trữ liên bang Mỹ (Federal Reserve System) – FED

4 Lãi suất linh hoạt (Adjustable-rate Mortgage) – ARM

5 Ngân hàng trung ương châu Âu (European Central Bank) – ECB

6 Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (Asset-Backed Securities) – ABS

7 Cổ phiếu được đảm bảo bởi các khoản cho vay thế chấp (Mortgage Backed Securities) – MBS

8 Trái phiếu được đảm bảo bằng nợ có bảo đảm (The Collateralized Debt Obligations) – CDO

Trang 4

MỤC LỤC

# "

PHẦN 1: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2008 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1 Khái niệm về khủng hoảng 6

1.1 Khủng hoảng kinh tế 6

1.2 Khủng hoảng tài chính 6

2 Các nguyên nhân của khủng hoảng tài chính 7

2.1 Sự gia tăng lãi suất 7

2.2 Sự gia tăng tình trạng không chắc chắn 7

2.3 Ảnh hưởng giá cả tài sản đến bảng cân đối 7

2.4 Những vấn đề trong khu vực ngân hàng 8

3 Tác động của khủng hoảng tài chính 8

3.1 Tiêu cực 8

3.2 Tích cực 9

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ 10

1 Toàn cảnh bức tranh Khủng hoảng tài chính thế giới – 2008 10

2 Nguyên nhân khủng hoảng 11

2.1 Tín dụng thứ cấp và bong bóng bất động sản 11

2.2 Chứng khoán hóa 15

3 Tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2009 đến nền kinh tế thế giới 16

3.1 Tác động và ảnh hưởng chung đến thế giới 16

3.2 Tác động và ảnh hưởng đến Việt Nam 19

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 22

1 Một số kiến nghị cho thế giới 22

2 Một số kiến nghị cho Việt Nam 22

2.1 Về thị trường bất động sản 22

2.2 Về hệ thống tài chính ngân hàng 22

2.3 Về hỗ trợ các doanh nghiệp trong nền kinh tế 23

2.4 Về hỗ trợ đời sống người dân 23

Trang 5

PHẦN II: VẤN ĐỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 24

1 Định nghĩa 24

2 Công thức tính 24

3 Phân loại lạm phát 24

3.1 Lạm phát vừa phải 24

3.2 Lạm phát phi mã 24

3.3 Siêu lạm phát 24

4 Nguyên nhân 25

4.1 Do sức ỳ của nền kinh tế 25

4.2 Do cầu kéo 25

4.3 Do chi phí đẩy 25

4.4 Do chính sách tiền tệ 26

4.5 Do đầu tư công kém hiệu quả 26

4.6 Do xuất khẩu 26

4.7 Do nhập khẩu 26

5 Tác động của lạm phát 27

5.1 Tiêu cực 27

5.2 Tích cực 27

6 Các biện pháp kiềm chế lạm phát 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 28

1 Số liệu và thực trạng lạm phát ở Việt Nam 28

2 Nguyên nhân gây ra lạm phát 29

2.1 Lạm phát do cầu kéo 29

2.2 Lạm phát do chi phí đẩy 29

2.3 Lạm phát do xuất khẩu 29

2.4 Lạm phát do nhập khẩu 29

2.5 Lạm phát tiền tệ 31

2.6 Lạm phát do đầu tư công kém hiệu quả 31

3 Tác động và ảnh hưởng 32

3.1 Tích cực 32

3.2 Tiêu cực 32

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 35

1 Trong ngắn hạn 35

2 Trong dài hạn 35

Trang 6

CHUYÊN ĐỀ 5: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2008 &

VẤN ĐỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẦN 1: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH THẾ GIỚI 2008

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Khái niệm về khủng hoảng

1.1 Khủng hoảng kinh tế

Khủng hoảng kinh tế là sự suy giảm các hoạt động kinh tế bao gồm các hoạt động trong thị trường tiền tệ, tài chính, thị trường sản xuất kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái kinh tế trong chu kỳ kinh tế

Như vậy suy thoái kinh tế là gì?

Theo Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa

về suy thoái kinh tế “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng” Suy thoái kinh tế có thể liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số

kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát) hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát) trong thời kì đình lạm (đình đốn lạm phát)

Các biểu hiện của suy thoái kinh tế:

ƒ Việc làm: tình trạng mất việc, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng

ƒ Đầu tư: nhà đầu tư mất lòng tin vào nền kinh tế, đầu tư giảm dẫn đến thiếu vốn

ƒ Lợi nhuận giảm sút do chi phí đầu vào tăng, nguy cơ dẫn đến phá sản

ƒ Sự biến động giá cả gây nên giảm phát hoặc lạm phát, GDP sụt giảm

ƒ Thị trường tài chính bất ổn, nhiều biến động

Tóm lại một sự suy thoái trầm trọng và lâu dài được gọi là khủng hoảng kinh tế

1.2 Khủng hoảng tài chính

1.2.1 Khái niệm

Khủng hoảng tài chính là sự thất bại của một hay một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình Khủng hoảng tài chính xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với cung Nhu cầu tiền mặt của người dân hay của nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng

và thị trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán

có thể sụp đổ Trong nền kinh tế thế giới hiện đại, sự lây lan của khủng hoảng tài

chính thường đi kèm với sự khủng hoảng kinh tế kéo dài

1.2.2 Dấu hiệu của khủng hoảng tài chính

Tùy theo mức độ và phạm vi, khủng hoảng tài chính thể hiện qua các điểm sau đây:

ƒ Lãi suất tín dụng gia tăng: lãi suất tăng kéo theo cầu tiền tệ, tín dụng sụt giảm làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bị sụt giảm

Trang 7

ƒ Hệ thống ngân hàng bị tê liệt: các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi tiền hay các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng xếp loại A cũng không thể hoàn trả các khoản vay cho ngân hàng

ƒ Thị trường cổ phiếu sụt giá nhanh chóng

ƒ Các hoạt động kinh tế bị suy giảm

Một số dạng khủng hoảng đặc thù:

ƒ Khủng hoảng ngân hàng

ƒ Khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng nợ quốc gia

ƒ Khủng hoảng cán cân thanh toán, cán cân vãng lai, cán cân vốn

ƒ Khủng hoảng ngân sách

2 Các nguyên nhân của khủng hoảng tài chính

2.1 Sự gia tăng lãi suất

Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, các cá nhân và doanh nghiệp có những dự

án rủi ro cao luôn sẵn lòng vay vốn với lãi suất rất cao Nếu như lãi suất thị trường

bị lôi kéo tăng cao do bởi cầu tín dụng gia tăng hoặc do bởi cung tiền tệ giảm xuống, thì những dự án có rủi ro tín dụng thấp ít có khả năng vay mượn vốn trong khi các dự án có rủi ro tín dụng cao vẫn sẵn lòng vay vốn Kết quả của sự lựa chọn đối nghịch là những người cho vay vốn không muốn cho vay nữa Sự giảm

đi đáng kể trong thị trường cho vay sẽ dẫn đến thu hẹp đầu tư và các hoạt động kinh tế

2.2 Sự gia tăng tình trạng không chắc chắn

Một khi thị trường tài chính có sự gia tăng đột biến tình trạng không chắn do sự thua lỗ của các công ty tài chính hoặc phi tài chính, sự suy thoái hoặc sụp đổ thị trường chứng khoán, làm cho những người cho vay rất khó để sàn lọc rủi ro tín dụng Do không có khả năng để giải quyết vấn đề lựa chọn đối nghịch làm cho những người cho vay không sẵn lòng cho vay; dẫn đến thu hẹp tín dụng đầu tư và các hoạt động kinh tế tổng thể

2.3 Ảnh hưởng giá cả tài sản đến bảng cân đối

Trạng thái bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp có ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình trạng thông tin bất cân xứng trên thị trường tài chính Sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán là một trong những yếu tố có thể dẫn đến giảm sút nghiêm trọng trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp Kéo theo có thể làm gia tăng vấn đề đối nghịch và rủi ro đạo đức trong thị trường tài chính và châm ngòi cho cuộc khủng hoảng

Thật vậy, sự giảm giá chứng khoán nghĩa là giá trị thuần của công ty cũng sụt giảm, do giá cả chứng khoán định giá trị thuần của công ty (chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả) Giá trị thuần đóng vai trò như là tài sản thế chấp, nên khi giá trị thuần sụt giảm sẽ làm gia tăng rủi ro đối với người cho vay và sự lựa chọn đối nghịch làm cho họ không sẵn lòng cho vay Thêm vào đó, sự sụt giảm giá trị thuần của công ty do sự giảm giá chứng khoán làm gia tăng rủi ro đạo đức Các

Trang 8

công ty có động cơ vay mượn vốn nhiều hơn để đầu tư vào các dự án có rủi ro cao Rủi ro đạo đức làm thu hẹp hoạt động cho vay, đầu tư và các hoạt động kinh tế

2.4 Những vấn đề trong khu vực ngân hàng

Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính bởi vì nó tham gia tích cực vào việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế Trạng thái bảng cân đối tài sản của ngân hàng có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu như ngân hàng đối mặt với sự giảm sút trong bảng cân đối tài sản và vì thế phải thu hẹp đáng kể nguồn vốn để cho vay Nếu như sự giảm sút trong bảng cân đối của ngân hàng ở mức nghiêm trọng, các ngân hàng rơi vào tình trạng thua lỗ, và tạo ra phản ứng dây chuyền trong hệ thống Điều này còn gọi là sự “náo loạn ngân hàng” Trong điều kiện thông tin bất cân xứng, người gởi tiền không rõ chất lượng danh mục đầu tư của ngân hàng, nhưng lo sợ cho sự an toàn tiền gởi, họ ào ạt đến ngân hàng rút tiền ra khỏi hệ thống Các ngân hàng bị thiếu hụt nguồn vốn thanh toán và thu hẹp mức cung cho vay, dẫn đến lãi suất tăng cao Kết quả sự náo loạn ngân hàng làm gia tăng vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong thị trường tín dụng, làm giảm đáng kể

số vốn cho vay, thu hẹp đầu tư và các hoạt động kinh tế

3 Tác động của khủng hoảng tài chính

Khi khủng hoảng xảy ra thì tùy tình hình thực tế của mỗi nước, mỗi khu vực sẽ có những ảnh hưởng và để lại những hậu quả khác nhau Nhưng nhìn chung sau các cuộc khủng hoảng đều có những tác động đến các nước Trong đó, lĩnh vực kinh

tế chịu tác động nặng nề theo 2 chiều hướng tích cực và tiêu cực như sau:

3.1 Tiêu cực

3.1.1 Tác động đến hệ thống ngân hàng

ƒ Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính vì nó tham gia tích cực vào việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế Khi lãi suất biến động và có xu hướng tăng cao thì những dự án có rủi ro tín dụng thấp ít có khả năng vay mượn trong khi những dự án có rủi ro cao vẫn có nhiều khả năng xảy ra, điều này sẽ dẫn đến sự gia tăng tỷ lệ nợ xấu,

gia tăng những khoản nợ khó thu hồi được trong các hệ thống ngân hàng

ƒ Ngân hàng là một hệ thống chặt chẽ nên một cuộc khủng hoảng tài chính xảy

ra sẽ kéo theo và lây lan tạo ra sự khủng hoảng trong hệ thống ngân hàng Trong đó, nhiều ngân hàng không còn khả năng kinh doanh, mất khả năng thanh toán, trả nợ và phá sản làm giảm sự cung ứng vốn cho những người đi

vay dẫn đến giảm tổng số những hoạt động trung gian tài chính từ ngân hàng

3.1.2 Tác động đến thị trường chứng khóan và bất động sản

ƒ Khủng hoảng tài chính làm sức mua trên thị trường giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đến kế hoạch doanh thu, lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết, làm

giá cổ phiếu, vốn sụt giảm lại khó có khả năng phục hồi

ƒ Khủng hoảng tài chính làm ảnh hưởng đến tâm lý, niềm tin các nhà đầu tư trong nước và nước ngòai, nhà đầu tư cân nhắc mua bán cổ phiếu, nếu số

Trang 9

lượng bán ròng cổ phiếu, trái phiếu tăng cao dẫn đến sự giảm mạnh của thị trường chứng khoán đe dọa tính thanh khoản của thị trường

ƒ Khủng hoảng tài chính làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường bất động sản, xảy ra hiện tượng bán tháo nhà đất để thu hồi vốn, làm cho thị trường bị đóng băng

3.1.3 Tác động đến xuất, nhập khẩu và khu vực sản xuất kinh doanh của các công

ty, xí nghiệp

ƒ Khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến các quốc gia nói riêng, kinh tế toàn cầu nói chung rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng trưởng giảm, điều này mang đến hệ lụy đối với các nước xuất khẩu trong khi cung đối với mặt hàng nhập khẩu sẽ tăng, điều này gây nên sự mất cân đối trong cán cân ngoại thương dẫn đến thâm hụt ngoại thương, thương mại

ƒ Đối với khu vực doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tình trạng cạn kiệt tín dụng do khan hiếm và lãi suất cho vay tăng cao, tỷ giá ngoại tệ biến động sẽ gây nên nhiều bất lợi và khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

3.1.4 Tác động chung đến nền kinh tế vĩ mô

ƒ Các nước nằm trong khu vực bị khủng hoảng sẽ bị ảnh hưởng trước nhất đó là

sự mất ổn định của đồng tiền và các thị trường tiền tệ trong khu vực Sự giảm sút các luồng tiền, các nguồn vốn FDI, ODA nước ngoài đổ vào mỗi nước và trong khu vực sẽ làm cho hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm cùng với sự giảm sút nguồn vốn trong nước do lãi suất tăng cao và yếu tố lòng tin

ƒ Thêm vào đó sự mất ổn định nền kinh tế, sự xáo trộn các thị trường tài chính, tiền tệ sẽ gây ra tình trạng lạm phát, bất ổn tỷ giá, sự cố gắng giữ giá bản tệ dẫn đến dự trữ ngoại tệ sụt giảm, thâm hụt ngân sách tăng cao làm cho sự mất cân đối ngân sách ngày càng nghiêm trọng Tất cả những điều đó tạo ra sự giảm sút tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và tăng tài khoản thâm hụt vãng lai

ƒ Sự phá giá bản tệ làm tăng các chi phí dịch vụ nợ và chất thêm gánh nặng nợ nần cho các công ty, làm tăng tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến tình trạng phá sản

ƒ Khủng hoảng cũng góp thêm vào làm tăng nhanh chóng tình trạng thất nghiệp

ở các nước trong khu vực do các công ty thu hẹp qui mô sản xuất, dẫn đến gia

tăng tỷ lệ thất nghiệp

3.2 Tích cực

3.2.1 Khủng hoảng tài chính báo hiệu sự chấm dứt thế độc tôn của các “ông lớn”

trên thị trường tài chính, góp phần thiết lập trật tự kinh tế mới

ƒ Trong bối cảnh hệ thống tài chính Mỹ và Châu Âu đang rơi vào khủng hoảng

và thế giới đang mất niềm tin vào mô hình kinh tế Mỹ, theo nhiều chuyên gia tài chính, sức mạnh tài chính Mỹ sẽ suy giảm, “ thương hiệu Mỹ” cũng giảm sức lôi cuốn, trong khi các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ…

Trang 10

đang có thế mạnh và có thể chi phối thị trường tài chính toàn cầu Sự trỗi dậy của nhiều nền kinh tế khác dường như hứa hẹn sẽ tạo ra một trật tự kinh tế mới

ƒ Một trật tự tài chính thế giới mới dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau đang trở thành một vấn đề rất được quan tâm Các tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (International monetary Fund – IMF), ngân hàng thế giới (World Bank – WB) trở lại với vai trò được ghi nhận đậm nét hơn trong nỗ lực chung sức khắc phục hậu quả của khủng hoảng tài chính toàn cầu Quyền lực của các nước đang phát triển tại IMF và WB cũng được tăng cường với sự chấm dứt tình trạng chỉ có Mỹ và Châu Âu thay nhau luân phiên nắm giữ chức vụ lãnh đạo của IMF và WB

3.2.2 Khủng hoảng tài chính góp phần thay đổi hệ thống giám sát tài chính

ƒ Cuộc khủng hoảng lần này đã làm lộ rõ những bất ổn trong hệ thống tài chính thế giới Bởi vậy, đã đặt ra yêu cầu cần phải tăng cường cơ chế quản lý, giám sát đối với hệ thống tài chính thế giới Đây cũng là vấn đề cần thiết để ngăn ngừa tái khủng hoảng

ƒ Sự sụp đổ của hàng loạt các định chế tài chính tên tuổi đã đặt ra dấu hỏi lớn về một cơ chế giám sát tài chính hiệu quả để tránh những hậu quả đáng tiếc như

đã xảy ra Bởi vậy, cuộc khủng hoảng là bài học lớn, góp phần thay đổi yêu cầu về một hệ thống giám sát tài chính chặt chẽ, hiệu quả và kịp thời hơn Hệ thống tài chính mang tính toàn cầu, do đó, đây là vấn đề không chỉ của quốc gia mà đã mang tính khu vực và quốc tế Việc giám sát chặt chẽ và xây dựng một hệ thống tài chính lành mạnh luôn là đòi hỏi cấp thiết, không chỉ để ngăn ngừa khủng hoảng, tái khủng hoảng mà còn để tránh được những rủi ro cho nền kinh tế

ƒ Khủng hoảng tài chính buộc người ta phải xem xét, sửa đổi các nguyên tắc đã quy định lên hệ thống tài chính từ trước tới nay, loại bỏ những nguyên tắc đã không còn thích hợp để theo kịp những biến đổi trong xã hội, từ đó có cái nhìn đúng đắn hơn và có thể chủ động ứng phó với những cuộc khủng hoảng trong

tương lai

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ

1 Toàn cảnh bức tranh Khủng hoảng tài chính thế giới - 2008

2/1 : Giá dầu thô lần đầu tiên vượt 100 USD mỗi thùng

16/3 : Bear Stears tuyên bố phá sản, báo hiệu chuỗi đổ vỡ của các định chế tài

chính vào những tháng tiếp theo

11/7 : Giá dầu chạm mức lịch sử 147,27 USD mỗi thùng

7/9 : Mỹ chi 200 tỷ USD tiếp quản Freddie Mac và Fannie Mae

14/9 : Bank of America mua lại Merrill Lynch

15/9 : Lehman Brothers tuyên bố phá sản

16/9 : Mỹ giải cứu AIG

21/9 : Goldman Sachs và Morgan Stanley thay đổi mô hình hoạt động

28/9 : Ngân hàng Bradford & Bingley (Anh) sụp đổ

29/9 : Quốc hội Mỹ bác kế hoạch 700 tỷ USD, khiến Dow Jones có mức sụt

giảm lớn nhất lịch sử, gần 778 điểm và phố Wall mất 1.200 tỷ USD

Trang 11

3/10 : Hạ viện Mỹ thông qua gói 700 tỷ USD

7/10 : Anh chi 88 tỷ USD cứu hệ thống ngân hàng

8/10 : Các ngân hàng trung ương đồng loạt hạ lãi suất

12/10 : Chính phủ Iceland có nguy cơ sụp đổ vì khủng hoảng tài chính

27/10 : IMF bơm tiền hỗ trợ hàng loạt nền kinh tế

5/11 : Ông Barack Obama đắc cử Tổng thống Mỹ, với đường lối kinh tế được

thế giới kỳ vọng thay đổi hiện trạng kinh tế Mỹ và toàn cầu

10/11 : Trung Quốc chi gần 600 tỷ USD kích thích kinh tế

14/11 : 15 nước châu Âu thừa nhận lâm vào suy thoái

17/11 : Nhật thông báo đã suy thoái

25/11 : Mỹ chi thêm 800 tỷ USD hỗ trợ kinh tế

1/12 : Mỹ thừa nhận đã suy thoái từ cuối năm 2007

11/12 : Vụ lừa đảo 50 tỷ USD của Bernard Madoff vỡ lở, với hàng nghìn nạn

nhân

2 Nguyên nhân khủng hoảng

Sau cuộc khủng bố ngày 11/09/2001, kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy giảm mạnh Để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng đua nhau hạ lãi suất cho vay tiền, cộng với việc chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà, làm cho thị trường bất động sản (BĐS) trở nên vô cùng sôi động Trong đó, có rất nhiều các khoản cho vay dưới chuẩn Và

đa số các khoản vay dưới chuẩn này đều theo hình thức vay thế chấp với lãi suất linh hoạt (ARM: adjustable-rate mortgage)

Nhờ chính sách tiền tệ mở rộng, kinh tế Mỹ đã khôi phục và tăng trưởng trở lại đồng thời kéo theo lạm phát ở mức cao, vào lúc này FED thực hiện chính sách thu hẹp tiền tệ để giảm lạm phát đã làm cho lãi suất tăng cao Mặt khác, giá nhà lúc này giảm mạnh làm cho người đi vay không đủ khả năng trả nợ Bên cạnh đó, do mục đích tìm kiếm thêm lợi nhuận những nhà đầu tư đã bán khoản vay này cho các ngân hàng đầu tư, sau đó họ biến chúng thành những tài sản chứng khoán hóa (ABS, MBS, CDO) và bán chúng lại cho các nhà đầu tư chứng khoán khoán trên thị trường tài chính quốc tế Chính điều này làm gia tăng khả năng phá sản và vỡ

nợ lên nhiều lần khi thị trường bất động sản sụp đổ

Sụp đổ bong bóng nhà ở cùng với sự sụp đổ từ hệ thống tài chính ngân hàng do giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007, bùng phát mạnh từ cuối năm 2008 Thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chung mật thiết của Hoa Kỳ với nhiều nước, cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, và do chính sách tiền tệ của các quốc gia không ổn định dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới

2.1 Tín dụng thứ cấp và bong bóng bất động sản

Đây là nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này - suy sụp của thị trường BĐS

Trang 12

ƒ Các đối tượng đi vay có mức tín nhiệm thấp;

ƒ Tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thanh toán nợ đến hạn;

ƒ Người cho vay nhận thức rõ rằng chất lượng khoản cho vay của mình là xấu;

ƒ Rủi ro tín dụng được bù đắp chủ yếu bằng lãi suất cho vay cao và bằng tài sản

thế chấp

Nếu điểm tín dụng của một cá nhân thấp thì khoản vay mang hình thức dưới chuẩn (đây là khoản vay với chất lượng thấp hơn so với khoản vay đạt chuẩn - cho vay với đầy đủ các giấy tờ cần thiết) Để bù đắp lại rủi ro cao, những khoản vay này là những khoản vay với lãi suất cao hoặc người đi vay phải vay theo lãi suất ARM với lãi suất ban đầu thấp sau đó được điều chỉnh dần lên những mức cao hơn Bên cạnh đó, các nhà môi giới khi dàn xếp các khoản vay rủi ro này cũng yêu cầu khoản phí cao

Như vậy, hoạt động của toàn hệ thống được thúc đẩy bởi khối lượng tín dụng cao, tiêu chuẩn tín dụng thấp, lãi suất, giá nhà và phí cao Hầu hết những người cho vay không nhận ra cái bẫy họ đang bước vào Năm 2005 có tới 28% số nhà được mua với mục đích đầu cơ, 12% mua chỉ để không và được vay theo lãi suất ARM

thay vì lãi suất cố định

2.1.1 Chính sách tiền tệ mở rộng của chính phủ Mỹ

ƒ Tình hình kinh tế thế giới nửa đầu năm 2001 đã có chiều hướng đi xuống Tuy nhiên, sau sự kiện 11/9 kinh tế thế giới lâm vào tình trạng suy giảm mạnh trên toàn cầu Điều này được thể hiện qua các báo cáo của Liên Hiệp Quốc và Quỹ tiền tệ quốc tế “hậu quả của cuộc tấn công vào Mỹ ngày 11/9 đã làm mức tăng trưởng GDP của thế giới giảm từ 2,4% xuống còn 1,4%” Các thị trường tài chính toàn cầu ngay lập tức đã phản ứng tiêu cực, các thị trường chứng khoán (TTCK) chao đảo vì sụt giảm giá trị cũng như khả năng huy động vốn

ƒ Trước nguy cơ suy thoái đó, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã cắt giảm lãi suất đến mức tối đa, hạ lãi suất xuống còn 3% Đặc biệt, lãi suất đối với khoản vay cố định 30 năm chỉ ở mức 4% đến 5%, thấp nhất trong vòng 40 năm qua Đây là một động thái kịp thời của FED nhằm trấn an người dân và nhà kinh doanh sau vụ khủng bố, kích thích nền kinh tế thoát khỏi thời điểm khó khăn Sau hành động cắt giảm lãi suất của FED, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cũng cắt giảm lãi suất Tuy nhiên đến giữa năm 2002, nền kinh tế đã thực sự phục hồi nhưng mối lo ngại về việc suy thoái có thể quay trở lại khiến cho FED quyết định giữ nguyên lãi suất chỉ đạo ở mức 1% trong suốt 2 năm

2003 và 2004

Trang 13

ƒ Tháng 9/2001, FED cũng đã bơm một số tiền lên tới 38,25 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng Mỹ để duy trì sự lưu thông tiền tệ thông suốt và tuyên bố sẵn sàng bơm thêm tiền nếu cần thiết Bên cạnh đó khối lượng tín dụng còn được thúc đẩy bởi các dòng vốn nước ngoài chảy vào một cách ổn định.

Như vậy, với việc hạ lãi suất, bơm tiền vào nền kinh tế làm cho lượng cung tiền tăng mạnh nhưng FED không hề thực hiện bất kỳ một biện pháp nào để “trung hòa hóa” tác động của dòng vốn vào đối với cung tiền vì họ tin rằng nền kinh tế vẫn đang trong quá trình phục hồi Với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế vào cuối năm 2002 làm cho thu nhập cá nhân và lợi nhuận của công ty đều tăng lên đáng kể

Diễn biến thay đổi lãi của lãi suất chính sách ở Hoa Kỳ (đường màu xanh)

2.1.2 Hiện tượng bong bóng bất động sản

ƒ Cuối năm 2002, hoạt động của thị trường nhà ở diễn ra sôi động nhờ thu nhập

cá nhân tăng, lãi suất cho vay thế chấp thấp và các khoản tín dụng dồi dào Điều này đã khiến cho tất cả các chủ thể tham gia thị trường đều muốn tranh thủ kiếm lời

ƒ Người dân đổ xô đi mua nhà nhằm kiếm lời bởi họ tin rằng giá nhà sẽ tăng cao hơn Nhiều nhà đầu cơ đã thu lợi lớn chỉ đơn giản bằng cách mua nhà và bán lại, thậm chí ngay cả khi những ngôi nhà đó chưa được xây xong và đưa vào

sử dụng Các nhà môi giới cho vay thế chấp nôn nóng đẩy nhanh và kết thúc các giao dịch nhằm thu về các khoản phí và chuyển sang các giao dịch kế tiếp

ƒ Những người cho vay cảm thấy an toàn vì rủi ro vỡ nợ đang giảm theo thời gian do giá nhà vẫn tiếp tục tăng Giá trị tài sản của những người sở hữu nhà cũng tăng theo tương ứng

Hầu hết các khoản vay dưới chuẩn đều theo hình thức vay thế chấp với lãi suất linh hoạt (ARM: adjustable-rate mortgage) Theo truyền thống, người mua thường muốn vay tiền mua nhà với lãi suất cố định hơn là lãi suất linh hoạt Theo đó, họ sẽ phải thanh toán hàng tháng tiền lãi với lãi suất cố định trong suốt 30 năm (lãi suất 4-5%) Tuy nhiên, lãi suất ARM lại rất thấp (1%/năm) với thời hạn từ 3 đến 5 năm Chính vì vậy, nó đã thu hút được những người

Trang 14

mua có thu nhập thấp Tuy nhiên, các khoản tiền lãi phải trả hàng tháng đã tăng dần theo thời gian do lãi suất cho vay được điều chỉnh lên những mức cao hơn.

Diễn biến thay đổi giá nhà trong thời kì “bong bóng” thị trường nhà ở

2.1.3 Nhận thức sai về rủi ro và bong bóng bất động sản

ƒ Nhìn chung, tất cả các thành viên thị trường đã đánh giá sai về mức rủi ro thực

và đến khi họ nhận ra thì rủi ro đã biến thành khủng hoảng

ƒ Những người mua nhà không cảm nhận được rủi ro bởi vì sự gia tăng liên tục của giá nhà cho phép họ trả nợ rất dễ dàng bằng cách vay thêm Những người cho vay cũng không duy trì các khoản nợ của họ trong sổ sách mà bán chúng cho các ngân hàng đầu tư để những ngân hàng này biến chúng thành những tài sản được chứng khoán hóa và bán cho các nhà đầu tư chứng khoán Do vậy, những người cho vay thế chấp đã liên tục có được tiền mặt và tiếp tục tạo ra các khoản nợ tương tự, đẩy giá nhà lên cao hơn và một chu trình mới lại bắt đầu Bong bóng BĐS được hình thành

2.1.4 FED tăng lãi suất

ƒ Tuy nhiên, vào đầu năm 2006, thị trường nhà đất bắt đầu có dấu hiệu suy giảm Những ngôi nhà mới xây đã không bán được và hậu quả là sự tăng giá bắt đầu giảm mạnh Nguyên nhân của tình trạng này là sự đảo ngược chính sách tiền tệ của FED Nền kinh tế Mỹ đã bước vào năm thứ 4 tăng trưởng liên tục và những dấu hiệu lạm phát gia tăng mạnh đã xuất hiện Một loạt các chỉ

số giá khác cũng gia tăng FED đã phản ứng lại bằng cách liên tục tăng lãi suất

ƒ Chính sách tiền tệ thắt chặt của FED đã làm cho lãi suất ARM tăng cao Lãi suất tăng gây bất ngờ đối với những người vay nợ dưới chuẩn Do tình trạng tài chính eo hẹp, nhiều người đã không đủ khả năng thanh toán Tỷ lệ nợ quá hạn và vỡ nợ bắt đầu tăng mạnh

Trang 15

2.2.2 Quy trình chứng khoán hóa

Sơ đồ biểu diễn nghiệp vụ Chứng khoán hóa

ƒ Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (Asset-Backed Securities- ABS)

ƒ Trái phiếu được đảm bảo bằng nợ có bảo đảm (The Collateralized Debt Obligation- CDO)

Bức tranh đã hoàn toàn rõ ràng khi các sự kiện được kết nối lại Toàn bộ quá trình

từ việc cho vay thế chấp ban đầu đến đóng gói, phân phối và thu lời chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường lãi suất thấp, tính thanh khoản cao và một lòng tin mãnh liệt vào thị trường Lúc đó, sẽ có một dòng người mua không ngớt

đổ vào thúc đẩy thị trường tăng liên tục Tiếp theo, người bán có thể kết thúc giao dịch với một khoản lợi nhuận để lặp lại một chu trình giao dịch khác tương tự Nhưng từ sự nghi ngờ về giá trị của tất cả các khoản bảo đảm bắt đầu xuất hiện Quá trình định giá tài sản đi đến sụp đổ, thị trường tài chính mất phương hướng và khả năng vận hành Khủng hoảng tài chính xảy ra tại Mỹ với tỷ lệ thanh toán chậm đã tăng 36%, đạt kỷ lục cao nhất trong 16 năm qua Năm 2007, vị thế tài sản

Trang 16

của những người sở hữu nhà đã thay đổi từ “thanh toán chậm” đến “tịch thu tài sản” để thế nợ và tỷ lệ này đã tăng gấp đôi so với năm 2006 Các khoản vay thế chấp dưới chuẩn chỉ chiếm 16% tổng số vốn vay thế chấp, nhưng lại chiếm tới 50% các khoản vỡ nợ Khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã lan rộng các thị trường tài chính quốc tế khác, các quỹ đầu tư và ngân hàng lớn phá sản hàng loạt Sự sụp đổ của hệ thống tài chính làm toàn bộ các chủ thể còn lại trong nền kinh tế khủng hoảng theo Khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra do tác động “dây chuyền”.

3 Tác động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 - 2009 đến nền

kinh tế thế giới

3.1 Tác động và ảnh hưởng chung đến thế giới

3.1.1 Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính

ƒ Hoa Kỳ: là điểm xuất phát và là trung tâm của cuộc khủng hoảng tài chính Thế giới 2008-2009 Ngay khi bong bóng nhà ở vỡ cuối năm 2005, kinh tế Hoa Kỳ bắt đầu tăng trưởng chậm lại Tuy nhiên, bong bóng vỡ đã dẫn tới các khoản vay không trả nổi của người đầu tư nhà ở đối với các tổ chức tài chính ở nước này Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa Kỳ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản Giá chứng khoán Hoa Kỳ bắt đầu giảm dần Sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm vào tháng 10 năm 2008 khi ngay cả những ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây, như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Citigroup, AIG, … cũng lâm nạn Tình trạng đói tín dụng xuất hiện làm cho khu vực kinh tế thực của Hoa Kỳ cũng rơi vào tình thế khó khăn, điển hình là cuộc khủng hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010

ƒ Theo thống kê gần nhất, trong năm 2010 đã có 157 ngân hàng Mỹ phá sản, nhiều hơn so với con số 140 của năm 2009, và nhiều nhất kể từ năm 1992 khi khủng hoảng nợ và tiết kiệm bùng phát Mặc dù số lượng các ngân hàng phá sản tăng, quy mô trung bình của các ngân hàng này nhỏ hơn rất nhiều so với các ngân hàng phá sản năm 2009 Các ngân hàng phá sản trong năm nay có tổng tài sản trị giá 92,1 tỷ USD, giảm 45,7% so với con số 169,7 tỷ USD của năm ngoái Trong số các ngân hàng bị phá sản, có khoảng một nửa có trụ sở chính đặt tại California, Florida, Georgia, và Illinois Các khoản vay khiến họ lâm vào tình trạng khó khăn chủ yếu là các khoản vay thương mại

ƒ Theo Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC), số các ngân hàng gặp vấn đề có thể đe dọa tới các hoạt động tài chính tính tới ngày 30/9/2010 là 860, cao nhất kể từ năm 1993 Theo lịch sử ghi nhận, khoảng 1/5 các ngân hàng trong danh sách theo dõi của FDIC sẽ đi đến phá sản

ƒ Nhiều tổ chức tài chính của các nước phát triển, nhất là các nước ở châu Âu, cũng tham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa Kỳ Chính vì vậy, bóng bóng nhà ở của Hoa Kỳ bị vỡ cũng làm các tổ chức tài chính này gặp nguy hiểm tương tự như các tổ chức tài chính của Hoa Kỳ Những nước châu

Âu bị rối loạn tài chính nặng nhất là Anh, Ireland, Bỉ và Tây Ban Nha

ƒ Ngay từ tháng 9 năm 2007, Northern Rock của Anh bị tình trạng đột biến rút tiền gửi và hậu quả là phải chịu quốc hữu hóa Đột biến rút tiền gửi còn làm căng thẳng các ngân hàng khác của nước này Sang năm 2008, đến lượt

Trang 17

Bradford & Bingley Plc của Anh phải chịu chia nhỏ thành 2 công ty riêng biệt Các ngân hàng khác phải chịu đổi chủ sở hữu bao gồm Catholic Building Society, Alliance & Leicester London Scottish Bank và Dunfermline Building Society phải chịu sự giám sát đặc biệt của Chính phủ Anh

ƒ Ở Ireland: đã xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân hàng trên diện rộng Ngay quý I năm 2008, GDP của Iceland giảm 1,5%, mức giảm lớn nhất kể từ năm

1983 tới thời điểm này Glitnir, Straumur Investment Bank, Reykjavík Savings Bank phải chịu quốc hữu hóa Kaupthing, Landsbanki của nước này phải chịu đặt dưới sự quản lý của cơ quan giám sát tài chính quốc gia Đầu năm 2008, xếp hạng tín dụng của Ngân hàng Ireland bị giảm, khiến cho giá cổ phiếu của ngân hàng này sụt ghê gớm, giá cổ phiếu tại thời điểm đầu tháng 3 Năm 2008 giảm tới 99% so với giá đỉnh cao vào năm 2007 Đầu năm 2009, Anglo Irish Bank bị quốc hữu hóa Allied Irish Banks cũng phải chịu tình trạng cổ phiếu mất giá ghê gớm và phải chấp nhận cải cách để nhận được khoản vay tái cơ cấu của Chính phủ

ƒ Cuối năm 2008, Fortis của Bỉ bắt đầu bị bán dần, chỉ còn lại các bộ phận kinh doanh dịch vụ bảo hiểm Dexia chịu khoản lỗ 3,3 tỷ euro và phải xin Chính phủ Bỉ cho vay để củng cố

ƒ Ở Hà Lan: để đảm bảo hệ số an toàn vốn, ING Group đã phải xin Chính phủ

Hà Lan cho vay

ƒ Ở Đức: ngay từ đầu năm 2008, người ta phát hiện ra rằng Bayern LB đã chịu những khoản lỗ lớn do tham gia vào thị trường tín dụng nhà ở thứ cấp ở Hoa

Kỳ Sau đó, ngân hàng này đã phải cầu xin sự giúp đỡ của Chính phủ Liên bang Đức

3.1.2 Sự khủng hoảng của ngành công nghiệp ô tô

ƒ Cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ nổ ra, bùng phát mạnh từ cuối năm

2008 và nhanh chóng lan sang nhiều nước khác trên thế giới Sự việc này khiến cho nền kinh tế các nước bị suy thoái nặng nề Cùng với việc giá nhiên liệu tăng cao đã làm cho ngành công nghiệp ôtô bị khủng hoảng nghiệm trọng Doanh số của GM, Chrysler và Ford thời điểm đó ngày càng sụt giảm nghiêm trọng, doanh số của tam vị đại gia giảm thê thảm và đứng ở mức thấp nhất trong trong vòng 25 năm

ƒ Khủng hoảng tài chính Hoa Kỳ đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền công nghiệp ô

tô Mỹ và gây ra những hậu quả nặng nề:

- Thứ 1, Ba đại gia của ngành công nghiệp ôtô Mỹ (GM, Chrysler và Ford) phải bán bớt cổ phần của mình lại cho Chính phủ và các đối thủ cạnh tranh Bên cạnh đó còn bán bớt các nhãn xe nổi tiếng lại cho các đối thủ cạnh tranh

Æ Giảm sức cạnh tranh của ngành ô tô Mỹ trên phạm vi toàn cầu và đây cũng

là 1 trong những ngành công nghiệp quan trọng của Hoa Kỳ

- Thứ 2, việc các tập đoàn ôtô Mỹ tái cải tổ bộ máy tổ chức và thu hẹp quy mô hoạt động trên phạm vi toàn cầu Æ cắt giảm một lượng lớn lao động, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao

Trang 18

- Thứ 3, việc khủng hoảng ngành ô tô của Mỹ là một cơ hội tốt để các đối thủ cạnh tranh từ Nhật, Trung Quốc, Châu Âu mở rộng và chiếm lấy thị phần tại

Mỹ (Một thị trường lớn ôtô lớn nhất hiện nay Vì vậy trong năm 2010 Toyota

đã vượt qua GM và vươn lên trở thành nhà sản xuất ôtô lớn nhất thế giới

3.1.3 Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng ở các quốc gia

Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm 2008-2009 đã khiến nhiều tổ chức kinh tế phải tiến hành cắt giảm hàng loạt lao động trên phạm vi rộng nhằm tinh giảm chi phí, thu hẹp quy mô để tránh tình trạng đi vào phá sản Trong đó lĩnh vực tài chính (Non-farm employment) và công nghiệp ô tô là có mức cắt giảm lớn nhất Trước tình hình đó tỷ lệ thất nghiệp của các nước tăng cao, đạt mức cao nhất trong 5-10 năm trở lại đây và rơi vào tình trạng báo động nghiêm trọng Theo dự báo đến năm 2012 thì tỷ lệ thất nghiệp mới có khả năng suy giảm

do “dư âm” của cuộc khủng hoảng vẫn còn kéo dài và việc tái cấu trúc với quy mô lớn của các tập đoàn sau thời kỳ hậu khủng hoảng

Qua Hình 1 ta thấy tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong năm 2008-2009 cao nhất trong

10 năm trở lại đây là đạt đĩnh điểm vào tháng 11/2009 đạt mức 10.2% Tỷ lệ thất nghiệp này tiếp tục tăng ở mức cao trong năm 2010 và 2011

T

Tỷ lệ thất nghiệp của Nhật trong thời kỳ khủng hoảng cũng tăng cao nhất trong vòng 05 năm trở lại đây, đạt đỉnh điểm vào 08/2009 với tỷ 5.7% và vượt qua mức

kỷ lục trong giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á giai đoạn 1999-2001 (5,6%)

Hình 1: Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ năm 2000 đến 01/2011

Hình 2: Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Nhật từ năm 2000 đến 01/2011

Ngày đăng: 27/12/2013, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Giáo trình “Kinh tế vĩ mô” của TS. Phan Nữ Thanh Thuỷ và TS.Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư – Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
4. Giáo trình “Kinh tế vĩ mô” của Ths. Trần Thị Hoà – Học viện công nghệ bưu chính viễn thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế vĩ mô
14. Website: http://vi.wikipedia.org/wiki Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wikipedia
Nhà XB: Wikimedia Foundation
Năm: 2025
9. Báo điện tử dantri.com.vn 10. Website: http://www.gso.gov.vn/ Link
11. Website: http://www.saga.vn/ Link
12. Website: http://www.tradingeconomics.com/ Link
13. Website: http://www.xaluan.com/ Link
1. Nhập môn Tài chính – Tiền tệ, tác giả PGS.TS Sử Đình Thành – PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng, NXB Lao động xã hội 2008 Khác
2. Khủng hoảng tài chính toàn cầu, thách thức với Việt Nam, tác giả TS Nguyễn Đức Hưởng Khác
5. "Bài giảng kinh tế vĩ mô - Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, 2006 của Trương Quang Hùng&#34 Khác
7. Tạp chí phát triển kinh tế tháng 12/2010 Khác
8. Tạp chí Công Nghệ Ngân Hàng (số 58+59), Trường ĐH Ngân Hàng TP.HCM Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ biểu diễn nghiệp vụ Chứng khoán hóa - Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở việt nam hiện nay
Sơ đồ bi ểu diễn nghiệp vụ Chứng khoán hóa (Trang 15)
Hình 1: Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ năm 2000 đến 01/2011 - Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở việt nam hiện nay
Hình 1 Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ năm 2000 đến 01/2011 (Trang 18)
Hình 2: Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Nhật  từ năm 2000 đến 01/2011 - Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở việt nam hiện nay
Hình 2 Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Nhật từ năm 2000 đến 01/2011 (Trang 18)
Hình 4: Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của khu vực Châu Âu  từ năm - Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở việt nam hiện nay
Hình 4 Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của khu vực Châu Âu từ năm (Trang 19)
Hình 3: Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Anh  từ năm 2000 đến 01/2011 - Khủng hoảng tài chính thế giới 2008 và vấn đề lạm phát ở việt nam hiện nay
Hình 3 Biểu đổ tỷ lệ thất nghiệp của Anh từ năm 2000 đến 01/2011 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w