1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở NƯỚC TA

78 247 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Cổ Phần Hoá Doanh Nghiệp Nhà Nước
Người hướng dẫn PGS. TS. Mai Văn Bưu
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Thực tập chuyên ngành
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 415,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNKHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Giáo viên hướng dẫu : PGS TS Mai Văn Bưu

Trang 2

Hà nội - 5/2006

Trang 3

MỤC LỤC

B NG KÊ CH VI T T TẢ Ữ Ế Ắ 5

PH N M Ầ Ở ĐẦ 5U Chương I 7

M T S V N Ộ Ố Ấ ĐỀ LÝ LU N V DNNN Ậ Ề 7

VÀ C PH N HOÁ DNNNỔ Ầ 7

I Doanh nghi p Nh nệ à ướ 7c 1 Khái ni m DNNNệ 7

2.Vai trò c a DNNNủ 7

II C ph n hoá Doanh nghi p Nh nổ ầ ệ à ướ 8c 1 Khái ni m v th c ch t c a quá trình CPH DNNNệ à ự ấ ủ 8

2 S c n thi t ph i ti n h nh CPH DNNNự ầ ế ả ế à 9

2.1 Tình tr ng vô ch v ho t ạ ủ à ạ động thi u hi u qu c a các DNNNế ệ ả ủ 9

2.2 Thâm h t ngân sách v n nụ à ợ ước ngo ià 11

2.3 S thay ự đổi quan i m v v i trò i u ti t c a Nh nđ ể ề à đ ề ế ủ à ước trong n n kinh t th trề ế ị ường 12

3 Các tác động c a CPH DNNNủ 12

3.2 CPH v i s phát tri n c a th trớ ự ể ủ ị ường ch ng khoánứ 14

3.3 CPH v i các v n ớ ấ đề xã h iộ 15

4 M t s quan i m c b n ộ ố đ ể ơ ả để ự th c hi n CPHệ 18

5.Các hình th c CPH DNNNứ 20

6 Các phương pháp CPH 21

6.1 Bán c ph n cho nh ng ngổ ầ ữ ười qu n lý v lao ả à động trong doanh nghi pệ 21

6.2 Bán c ph n cho công chúngổ ầ 22

6.3 Bán c ph n cho t nhânổ ầ ư 23

7 Các ti n ề đề ủ c a CPH DNNN 23

7.1 Ti n ề đề kinh t , chính tr c a CPH DNNNế ị ủ 24

7.2 Ti n ề đề pháp lý 25

8 Quy trình c b n ơ ả để CPH m t DNNNộ 26

Chương II 30

TH C TR NG VÀ TRI N V NG C PH N HÓA DNNN Ự Ạ Ể Ọ Ổ Ầ 30

VI T NAM Ở Ệ 30

30

I Nh ng ch ng ữ ặ đường ã qua trong ti n trình c ph n hoáđ ế ổ ầ 30

1 Giai o n th c hi n thí i m: t tháng 6/1992 đ ạ ự ệ đ ể ừ đến 4/1996 30

2 Giai o n tri n khai m r ng: t tháng 5/1996 đ ạ ể ở ộ ừ đến 6/1998 32

3 Giai o n ch đ ạ ủ động: 7/1998 đến 6/2002 34

4 Giai o n t 7/2002 đ ạ ừ đến 10/2004 (th i k ờ ỳ đầ ủu c a Giai o n đ ạ đẩy m nh)ạ 37

II Th c tr ng ti n trình c ph n hoá DNNN trong giai o n hi n nayự ạ ế ổ ầ đ ạ ệ 43

1 Nh ng k t qu ã ữ ế ả đ đạ đượt c trong giai o n hi n nay (th i k sau c a đ ạ ệ ờ ỳ ủ Giai o n đ ạ đẩy m nh)ạ 43

Trang 4

2 Nh ng v n ữ ấ đề ầ c n ti p t c tháo g ế ụ ỡ 53

2.1 Ti n ế độ CPH ch m, quy mô nh , Nh nậ ỏ à ước n m c ph n chi ph i ắ ổ ầ ố .53

2.2 Vướng m c trong ho t ắ ạ động nh giá doanh nghi p v đị ệ à đấu giá c ổ ph nầ 57

2.3 Vướng m c trong qu n lý i u h nh DNNN sau c ph n hoáắ ả đ ề à ổ ầ 61

2.4 M i quan h gi a CPH v phát tri n TTCK ố ệ ữ à ể 62

Chương III 65

M T S KI N NGH NH M HOÀN THI NỘ Ố Ế Ị Ằ Ệ 65

QUÁ TRÌNH C PH N HOÁ DNNN NỔ Ầ Ở ƯỚC TA HI N NAYỆ 65

I Đẩy m nh t c ạ ố độ, m r ng quy mô c ph n hoá v thu h p di n doanh ở ộ ổ ầ à ẹ ệ nghi p Nh nệ à ước gi c ph n chi ph iữ ổ ầ ố 65

II Ho n thi n c ch nh giá doanh nghi p v à ệ ơ ế đị ệ à đấu giá c ph nổ ầ 67

III Đổi m i phớ ương th c qu n lý i u h nh DNNN sau c ph n hoáứ ả đ ề à ổ ầ 70

IV Ho n thi n m i quan h gi a c ph n hoá DNNN v i phát tri n TTCKà ệ ố ệ ữ ổ ầ ớ ể .73

K T LU NẾ Ậ 75

Trang 6

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã và đangtừng bước vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằngpháp luật Trong cơ chế quản lý kinh tế mới, khi hiệu quả sản xuất kinh doanhtrở thành yếu tố sống còn của mọi doanh nghiệp thì các doanh nghiệp Nhà nướclâm vào tình trạng sa sút khủng hoảng, làm ăn thua lỗ Trước tình hình đó, nhucầu cơ cấu sắp xếp lại kinh tế Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò chủđạo của nó trở thành một xu thế tất yếu Một trong những giải pháp chiến lược

để giải quyết vấn đề này là tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, chủtrương cổ phần hoá đã được đề ra từ khá lâu với mục tiêu huy động vốn toàn xãhội để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp,nâng cao sức cạnh tranh thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước Song quá trình

cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã gặp phải không ít khó khăn, cho đến naytiến độ cổ phần hóa vẫn còn chậm, các chỉ tiêu kinh tế xã hội chưa đạt được nhưmong muốn Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này để đánh giá đúng tình hình thực tế,tìm ra phương hướng, giải pháp tạo điều kiện thúc đẩy và hoàn thiện quá trìnhCPH DNNN là một hướng tiếp cận rất có ý nghĩa

Em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.Mai Văn Bưu đã tận tình hướng dẫn,chỉ bảo và giúp đỡ em hoàn thành được chuyên đề này!

Trang 7

Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DNNN

VÀ CỔ PHẦN HOÁ DNNN

I Doanh nghiệp Nhà nước

1 Khái niệm DNNN

DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và

tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiệnnhững mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, chịu tránhnhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do Nhà nước quản lý

2.Vai trò của DNNN

Trong nền kinh tế cũ, DNNN đóng vai trò quan trọng trong việc củng cốnền tảng kinh tế - xã hội, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh thốngnhất nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất của CNXH Ngày nay, vai trò củaDNNN nước cũng bắt nguồn từ mục tiêu xây dựng CNXH mà Đảng và nhândân ta đang phấn đấu thực hiện Tuy đã thoát ra khỏi tư duy máy móc về xã hộiXHCN với hai hình thức sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu là sở hữu Nhà nước và

sở hữu tập thể, tuy đã khẳng định sự cần thiết của nền kinh tế nhiều thành phần,Đảng ta vẫn nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Với tư cách là bộphận nòng cốt của thành phần kinh tế công, vai trò của DNNN được thể hiệnquan những khía cạnh sau:

Thứ nhất, DNNN phải chi phối được các lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa

quyết định đối với sự ổn định và phát triển của đất nước

Thứ hai, DNNN phải là động lực cho sự phát triển của các doanh

nghiệp khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền của công nghệ sản xuấthiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến

Thứ ba, DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của Nhà nước DNNN

phải tạo ra được sự đóng góp quyết định cho ngân sách Nhà nước Dựa và

Trang 8

những đóng góp chủ yếu của DNNN và thông qua việc sở hữu các doanhnghiệp, Nhà nước XHCN có trong tay tiềm lực kinh tế vững mạnh để thực hiệnnhững nhiệm vụ của mình.

Thứ tư, DNNN là mẫu mực trong việc giải quyết các chính sách xã

hội như chính sách việc làm, trợ cấp xã hội… Trong thực tiễn, Doanh nghiệpNhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, nhiềuchính sách xã hội được thực hiện tốt thông qua các DNNN Đây là vai trò cầnphát huy cao độ của DNNN trong điều kiện hiện nay

II Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước

1 Khái niệm và thực chất của quá trình CPH DNNN

CPH DNNN là quá trình chuyển đổi sở hữu từ doanh nghiệp mà Nhànước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nướcsang doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó có sở hữu của người lao động trongdoanh nghiệp, hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần theo Luật Doanhnghiệp

Xét về mặt hình thức, CPH là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộgiá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các tổ chức hoặc tư nhân trong

và ngoài nước, hoặc cho cán bộ quản lý và lao động của doanh nghiệp bằng đấugiá công khai hay thông qua thị trường chứng khoán để hình thành các công tytrách nhiệm hữu hạn hoặc CTCP

Xét về mặt thực chất, CPH chính là phương thức xã hội hoá sở hữu,chuyển hình thái kinh doanh với một chủ sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệpthành CTCP với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợpvới nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu kinh doanh hiện đại

Bản chất của CPH không phải lúc nào cũng được hiểu đúng Có quanđiểm đồng nhất CPH với tư nhân hoá, nhưng cần phải phân biệt rõ hai phạm trùnày, nhất là khi CPH được thực hiện trong bối cảnh kinh tế - chính trị của ViệtNam Tư nhân hoá được định nghĩa là việc chuyển một phần hay toàn bộ tài sảnthuộc sở hữu Nhà nước trong doanh nghiệp vào tay tư nhân CPH ở nước ta

Trang 9

cũng có điểm giống với tư nhân hoá, nhưng điểm khác biệt là sau khi thực hiệnquy trình CPH, bắt buộc phải chuyển đổi doanh nghiệp sang hình thức CTCP và

sẽ không có một cá nhân hay một gia đình nào chiếm được trên 50% số cổphiếu

2 Sự cần thiết phải tiến hành CPH DNNN

CPH DNNN là một biện pháp thiết yếu trong công cuộc cải cách khu vựckinh tế nhà nước, xuất phát từ thực tiễn:

2.1 Tình trạng vô chủ và hoạt động thiếu hiệu quả của các DNNN

Cũng như nhiều nước trên thế giới, DNNN ở Việt Nam trong thập niên

60, 70 của thế kỷ XX bắt đầu gặp phải những vấn đề về hiệu quả Một thực tế

mà ai cũng nhận thấy là khu vực kinh tế quốc doanh luôn hoạt động kém hiệuquả hơn so với khu vực kinh tế tư nhân Tình trạng kém hiệu quả này đã kéo dàitrong nhiều năm liền Theo Báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác định lại giá trịtài sản của DNNN (năm 2000) cho thấy: Tổng giá trị tài sản của DNNN theo sổsách kế toán là 517654 tỷ đồng Nợ phải thu là 187091 tỷ đồng, chiếm 35,5%giá trị tài sản của doanh nghiệp, gấp 1,43 lần vốn kinh doanh Hàng hoá tồn kho

là 45688 tỷ đồng, trong đó hàng ứ đọng, mất phẩm chất không dùng đến là 1600

tỷ đồng Doanh nghiệp có 1 đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồngcho kinh doanh, hệ số vốn vay và vốn chiếm dụng so với vốn sở hữu là 1,8 lần.Tổng số nợ phải trả là 353410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn Nhà nước cấp, gấp 2lần nợ phải thu trong đó nợ quá hạn phải trả là 10171 tỷ (4, tr 103)

Tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các DNNN bắt nguồn từ bảnthân sở hữu Nhà nước cùng với sự điều tiết trực tiếp của Nhà nước ở các doanhnghiệp này:

Thứ nhất, Nhà nước duy trì hệ thống kế hoạch hoá và tài chính cứng

nhắc không có tính thích ứng với cơ chế thị trường vì được quản lý theo một hệthống hành chính từ trên xuống với nhiều cấp trung gian Nguồn tài chính đượcphân bổ và sử dụng hoàn toàn theo kế hoạch duyệt từ đầu năm, không có sự

Trang 10

chuyển đổi linh hoạt hay chuyển giao cho năm sau nhằm sử dụng nguồn vốnmột cách hợp lý Điều này khiến cho các kế hoạch tài chính của doanh nghiệpkhông có động cơ tiết kiệm, vì vậy không hợp lý hoá được sản xuất và giá thànhsản phẩm luôn phải cộng nhiều chi phí so với các doanh nghiệp tư nhân.

Thứ hai, quyền tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh

doanh của các DNNN được thừa nhận khá rộng rãi, nhưng không có sự phânbiệt đầy đủ giữa quyền sở hữu Nhà nước và quyền quản lý kinh doanh của lãnhđạo và tập thể người lao động trong doanh nghiệp nên các quyết định kinhdoanh vừa không thống nhất vừa không rõ ràng về trách nhiệm, gây trở ngại tớihiệu quả công việc

Thứ ba, tình trạng độc quyền của các DNNN trên thị trường được

pháp luật và Nhà nước bảo vệ đã đánh mất những động lực nâng cao hiệu quảhoạt động của các doanh nghiệp này, đưa đến tình trạng xã hội buộc phải chấpnhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra với chất lượng ít được cảitiến nhưng giá cả ngày càng tăng không hợp lý, mà nếu không tăng giá thì Nhànước sẽ phải chịu những gánh nặng trợ cấp ngày một lớn

Thứ tư, các DNNN được thành lập từ nguồn vốn của Nhà nước, do

đó được che chắn bằng các khoản trợ cấp từ ngân sách, được sử dụng nguồn vốnnội bộ với lãi suất thấp hoặc được ưu tiên tiếp cận với các nguồn tài chính nướcngoài để tránh đến mức tối đa việc rơi vào tình trạng phá sản hoặc giải thể Vìvậy các DNNN không có động lực thúc đẩy nâng cao hiệu quả để tồn tại trongcạnh tranh với các doanh nghiệp tư nhân

Thứ năm, động cơ hoạt động của các DNNN đôi khi chỉ nhằm cố

gắng né tránh sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên cũng như tránh né sự xungđột trong nội bộ, tránh né sự cải tổ, đổi mới tổ chức quản lý để nâng cao hiệuquả, đảm bảo cho doanh nghiệp có điều kiện hoạt động dễ chịu và ổn định Dovậy, hiện tượng mua sắm trang thiết bị thừa thãi, biên chế cồng kềnh dẫn đến chiphí quá mức so với nguồn thu là rất phổ biến Đó là chưa kể đến "chi phí chínhtrị" to lớn để trốn tránh những cuộc kiểm tra của các cơ quan cấp trên như Quốc

Trang 11

hội hoặc các Bộ, ban, ngành… chủ quản Tình trạng này cũng là một nguyênnhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc tiết kiệm các nguồn lực và nâng cao hiệuquả hoạt động của doanh nghiệp.

Để khắc phục tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả, chủ trương xoá bỏbao cấp, trao quyền tự quản cho các DNNN là một giải pháp đã được tính đến.Tuy nhiên, cần thấy rằng cơ chế bao cấp tồn tại dai dẳng nhiều năm liền đã đểlại một "di chứng" nghiêm trọng trong cả ý thức lẫn thực tế cho đến nay: tài sảncủa DNNN là tài sản công, đồng nghĩa với tình trạng "cha chung không aikhóc", mọi người đựơc sử dụng một cách tuỳ tiện, không phải bận tâm giữ gìn

Vì vậy, thực hiện CPH sẽ vừa giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp, vừa xoá bỏ được tình trạng vô chủ gây thất thoát, lãng phí tài sản củaNhà nước

2.2 Thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài

Đây cũng là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy CPH: các khoản trợcấp ngày càng lớn cho khu vực kinh tế quốc doanh để đảm bảo Nhà nước kiểmsoát giá cả sản phẩm hoặc trang trải các chi phí về giá, vốn được duy trì thấp để

ổn định sản xuất ở một số ngành làm cho thâm hụt ngân sách càng thêm nghiêmtrọng Ngoài các khoản trợ cấp trực tiếp còn có những khoản gián tiếp như ưutiên vốn và ngoại tệ để nhập khẩu cho các DNNN với giá cả không phản ánhđược tính khan hiếm của chúng

Kết quả tài chính nghèo nàn của các DNNN đã làm tăng sự phụthuộc của chúng vào Ngân sách Nhà nước Trên thực tế, các nguồn tài chính cóthể được Chính phủ huy động và vay nợ để trang trải thâm hụt ngân sách ngàycàng suy giảm đã làm bộc lộ sự yếu kém của các DNNN và việc đánh giá lại vaitrò của khu vực kinh tế này ngày càng trở nên cấp bách Vấn đề CPH đã được cả

WB và IMF đặt ra như một bịên pháp quan trọng để giảm thâm hụt ngân sách vàhạn chế các khoản nợ nước ngoài ngày càng gia tăng ở các nước đang phát triểnnhư Việt Nam

Trang 12

2.3 Sự thay đổi quan điểm về vài trò điều tiết của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Vấn đề đa dạng hoá sở hữu được đặt ra và thực hiện là do có sự thay đổinhận thức từ chỗ nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh tế Nhà nước đến chỗ chútrọng nhiều hơn vào khu vực kinh tế tư nhân và vai trò điều tiết của cơ chế thịtrường Những thành tựu của công cuộc đổi mới cho phép xã hội nhận thức ngàycàng rõ hơn rằng bên cạnh hình thức sở hữu Nhà nước, các hình thức sở hữukhác cũng cần được tạo điều kiện tồn tại thuận lợi, cũng phát huy vai trò tíchcực trong nền kinh tế Đây là một bước phát triển mới về nhận thức đối với nềnkinh tế thị trường hỗn hợp, trong đó vai trò Nhà nước được coi như một biến sốcủa sự phát triển kinh tế - nó chỉ có tác dụng thúc đẩy khi sự can thiệp và điềutiết ở mức độ hợp lý dựa trên sự tôn trọng các quy luật khách quan của thịtrường

3 Các tác động của CPH DNNN

Bước chuyển biến sâu sắc trong nhận thức về đa dạng hóa sở hữu, về

vai trò của Nhà nước và sự điều tiết của "bàn tay vô hình" đã làm nền tảng chomột giải pháp quan trọng trong công cuộc cải cách, cải tổ khu vực kinh tế Nhànước CPH được coi là giải pháp triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên củanhững yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt động của DNNN - đó là vấn đề sởhữu Trong bối cảnh nước ta, CPH càng phát huy tác dụng to lớn hơn vì thựctrạng của DNNN ở Việt Nam đòi hỏi một sự cải cách sâu sắc, trong khi nhiệm

vụ đặt ra là không làm mất đi vài trò chủ đạo của chúng Tác động của CPHDNNN được biểu hiện cụ thể qua nhiều mặt:

3.1 CPH với tăng trưởng kinh tế

Một thực tế khó có thể phủ nhận là tốc độ và tính bền vững của sự tăngtrưởng kinh tế ở nước ta vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào khu vực kinh tế Nhà

Trang 13

nước Với tỷ trọng vốn và các nguồn lực khác được đầu tư, quy mô lao động,tiềm năng về khoa học công nghệ, chất xám và ưu thế về thị trường của khu vựcnày hơn hẳn so với các thành phần kinh tế khác, tăng trưởng của khu vực kinh tếNhà nước là một yếu tố quyết định trực tiếp đến sự tăng trưởng của toàn bộ nềnkinh tế.

Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy ở các nước có thành phần kinh tếcông lớn thì tốc độ tăng trưởng thường không cao Chính vì thế đối với nước ta,muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao cần cơ cấu lại thành phần kinh tế này CPH

sẽ sàng lọc và đào thải những doanh nghiệp kém hiệu quả, tạo môi trường cạnhtranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp và do đó, tạo ra động lực phát triển Khichuyển thành CTCP, doanh nghiệp đã có những người chủ thực sự, đó là các cổđông và người lao động Quyền lợi của họ gắn liền với sự thành bại của doanhnghiệp, lợi ích sỡ hữu sẽ phát huy sức mạnh và trí tuệ của các cổ đông tham giavào việc quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn nguồn lực của doanhnghiệp

Bên cạnh đó, Ngân sách Nhà nước không chỉ cần phấn bổ hợp lý màtài sản Nhà nước cũng cần được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả đầu tư tối đa.Việc giảm số lượng các DNNN thuần tuý (100 % vốn Nhà nước) sẽ giảm bớtđược một khoản bổ sung vốn từ ngân sách cho những doanh nghiệp này Mặtkhác, thông qua CPH, Nhà nước thu lại được một phần giá trị tài sản Nhà nướctrước đây giao cho các doanh nghiệp quản lý nhưng sử dụng kém hiệu quả Tất

cả các khoản tiền này sẽ được dùng để tài trợ cho những dự án quốc gia giàutính khả thi, hoặc đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mang lại nhiều lợi ích kinh

tế, xã hội quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững

Việc giảm đầu mối các DNNN sẽ làm giảm nhu cầu hỗ trợ và ưu đãi

về tín dụng của Nhà nước, đặc biệt là sẽ giảm bớt áp lực vay vốn lên các ngânhàng thương mại quốc doanh và các quỹ tín dụng Nhà nước Thực trạng tàichính của các ngân hàng này, do đó, được lành mạnh hóa và cơ hội để doanh

Trang 14

nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tiếp cận nguồn vốn vay sẽ mang tínhbình đẳng và thị trường hơn.

Bên cạnh đó, CPH DNNN tạo ra sản phẩm là các CTCP, nó là hệ quảtất yếu của lực lượng sản xuất được xã hội hoá, là hình thức tổ chức doanhnghiệp rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường Sự tồn tại của CTCP với cơ chếlưu chuyển cổ phần thông qua TTCK tạo ra quá trình luân chuyển vốn từ nơi cóhiệu quả thấp sang nơi có hiệu quả cao Cũng thông quan việc phát hành cổphiếu, doanh nghiệp sẽ dễ dàng thu hút các nguồn vốn trong xã hội, quy mô sảnxuất được mở rộng nhanh chóng, là nền tảng cho sự tăng trưởng kinh tế xã hội.Nguồn lực này còn được tăng thêm đáng kể khi Nhà nước cho phép các tổ chứcnước ngoài được mua cổ phiếu của DNNN CPH

Cuối cùng, việc chuyển đổi từ DNNN sang CTCP, nhờ vào nhữnglợi thế sẵn có của mình và những hỗ trợ ban đầu của Nhà nước, nếu biết tậndụng tốt thì các công ty này sẽ hoạt động rất hiệu quả, nhanh chóng vươn lênkhẳng định vị thế và chiếm lĩnh thị trường Chính chúng sẽ tạo ra áp lực cạnhtranh mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, từ đó tạo thànhmột vòng xoáy thúc đẩy sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế

3.2 CPH với sự phát triển của thị trường chứng khoán

TTCK được hình thành bắt nguồn tư nhu cầu mua bán, trao đổi cổ phiếu

và chứng khoán do các công ty phát hành Vì thế, có thể nói sự hình thành vàphát triển của các CTCP là điều kiện tiền đề để hình thành và phát triển TTCK.CPH DNNN sẽ tác động mạnh đến TTCK, đặc biệt là trong bối cảnh của ViệtNam khi khu vực kinh tế Nhà nước chiếm tỷ trọng rất lớn, song song với nó là

sự phát triển nghèo nàn của TTCK

Thúc đẩy TTCK Việt Nam (vốn đang chập chững những bước đi đầutiên) phát triển là một yêu cầu cấp bách của Nhà nước ta Thị trường chứngkhoán có sôi động hay không phụ thuộc vào khối lượng chứng khoán được giaodịch và độ hấp dẫn của chúng đối với các nhà đầu tư Các CTCP thường cung

Trang 15

cấp chứng khoán với tỷ lệ lớn hơn so với các doanh nghiệp khác Tuy nhiêntrước đây, số lượng CTCP ở nước ta không nhiều và nhất là không có tiềm lựckinh tế mạnh vì phần lớn là những công ty tư nhân, quy mô nhỏ CPH DNNN cótác dụng tạo hàng cho thị trường chứng khoán và hơn nữa, tạo ra những chủ thểphát hành chứng khoán có hiệu lực.

Có thể tóm tắt mối quan hệ tác động qua lại giữa TTCK với CPHDNNN trên một số khía cạnh:

Thứ nhất, sự tồn tại của thị trường chứng khoán làm tăng số lượng cổ

đông tiềm tàng cho các DNNN CPH Chứng khoán với tính thanh khoản cao sẽphát huy tác dụng trong việc huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội

Thứ hai, các công ty chứng khoán đóng vai trò lớn trong việc trợ

giúp DNNN đã CPH ở khía cạnh tư vấn, bảo lãnh phát hành cổ phần và giaodịch chứng khoán TTCK còn giúp xác định chính xác hơn giá trị của DNNNCPH vì giá trị các cổ phiếu trên TTCK được quyết định bởi quy luật cung cầu

Thứ ba, sự tham gia vào TTCK buộc các DNNN CPH phải thực hiện

chế độ tài chính kế toán minh bạch, phải công bố với các cổ đông và công chúng

về tình hình sản xuất kinh doanh, lợi nhuận và kế hoạch phát triển công ty.Những đòi hỏi này lại buộc những người quản lý công ty phải điều hành tốt hơn,hiệu quả của CTCP, do vậy, sẽ cao hơn nhiều và đó là một trong những lực hútcác DNNN bước vào quỹ đạo CPH

3.3 CPH với các vấn đề xã hội

Bất kỳ chính sách kinh tế nào cũng tác động đến các vấn đề xã hội Thực

tế này càng đúng với quá trình CPH DNNN, quá trình làm cho nhiều chủ thểkinh tế ra khỏi thị trường với tư cách là DNNN thuần tuý để thay vào đó là cácdoanh nghiệp đa sở hữu với sự hội tụ các thành phần kinh tế khác nhau xungquanh nòng cốt là sở hữu Nhà nước CPH tác động đến các vấn đề xã hội ởnhiều phương diện, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của nhiều đối tượng xãhội và làm phát sinh những mối quan hệ mới Ảnh hưởng của CPH có thể tích

Trang 16

cực song cũng có thể chứa đựng những yếu tố tiêu cực nếu không được xử lýđúng.

Một trong những đối tượng chịu tác động trực tiếp của CPH là ngườilao động Quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động dễ bị tổn thương trongquá trình CPH, đó chính là tác động nhạy cảm nhất của nó Một trong nhữngmục tiêu của chính sách CPH là thay đổi cơ cấu quản lý doanh nghiệp cho hợp

lý và hiệu quả hơn, bao gồm cả việc sắp xếp lại quy trình sản xuất kinh doanh.Những thay đổi này chắc chắn sẽ kéo theo sự thay đổi trong cách bố trí và sửdụng lao động Thêm vào đó, khi công nghệ, quy trình sản xuất và cơ chế quản

lý lao động mới được áp dụng sau CPH, nhu cầu sử dụng lao động của doanhnghiệp thường giảm xuống Nhưng ngay cả khi nhu cầu lao động không giảm,song do tính chất hiện đại của công nghệ, của quy trình sản xuất và quản lý, laođộng chưa qua đào tạo hay đào tạo không phù hợp với trình độ mới trong cácDNNN tiền thân sẽ phải được thay thế, nhất là khi việc tuyển dụng và bố trí laođộng trong doanh nghiệp CPH thuộc quyền tự chủ của công ty Lẽ tất nhiên,những người lao động trong biên chế Nhà nước trước đây phải đối mặt với nguy

cơ mất việc làm Việc làm là vấn đề sống còn đối với mọi người lao động Mấtviệc làm sẽ đe doạ trực tiếp cuộc sống của bản thân người lao động cũng như giađình họ Vì vậy đây thực sự là một thách thức không nhỏ trong quá trình CPHDNNN Hệ quả trên là lý do vì sao những người lao động trong các DNNNkhông mong muốn quá trình này diễn ra đối với doanh nghiệp mình, nếu không

có đảm bảo chắc chắn rằng nó có thể đem lại những điều tốt đẹp hơn

Tác động xã hội đáng lưu ý khác của CPH là sự tiềm ẩn trong nó khảnăng phân hoá xã hội và gia tăng khoảng cách giàu nghèo Nguy cơ phân hoágiàu nghèo với tư cách là ảnh hưởng của CPH thể hiện ở nhiều khía cạnh Thứnhất, khi doanh nghiệp bị CPH, một bộ phận người lao động phổ thông, chưaqua đào tạo sẽ bị mất việc làm Cơ hội tìm việc của họ là mong manh vì ngay cảnơi họ đã từng làm việc cũng không có việc cho họ Mất thu nhập, không kiếmđược việc làm cần thiết dễ đẩy những người lao động đến cảnh đói nghèo và

Trang 17

hành động tiêu cực Thứ hai, CPH có khả năng biến những người có quyền trongdoanh nghiệp và trong bộ máy Nhà nước thành những tỷ phú Việc định giákhông đúng tài sản của DNNN khi CPH, và tiếp đó là cơ chế bán cổ phần không

rõ ràng sẽ làm cho tài sản của Nhà nước rơi vào tay một nhóm người Thứ ba, áplực việc làm gia tăng do lực lượng lao động dôi dư trong quá trình CPH sẽ tham

ra vào đội quân thất nghiệp Điều này làm tăng sức ép lên thị trường lao độngnước ta vốn đã rất căng thẳng do tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu

Công cuộc CPH DNNN còn có tác dụng rất lớn trong việc đẩy lùitình trạng lãng phí, tham nhũng đang khá phổ biến tại các DNNN và những cơquan quản lý chúng Ở Việt Nam, tình trạng tham nhũng đang là một trở lực lớncho sự phát triển bền vững của đất nước Một trong những nguyên nhân củatham nhũng là cơ chế quản lý còn nhiều bất hợp lý, nhiều thủ tục hành chínhrườm rà còn chưa được tháo bỏ, quyền tự do dân chủ có lúc có nơi chưa đượctôn trọng thực sự Hơn nữa, sự thiếu minh bạch trong hoạt động quản lý tạo điềukiện thuận lợi cho những người thực thi quyền lực Nhà nước lợi dụng Đối vớiDNNN, tình trạng tham nhũng còn bắt nguồn từ chế độ chủ quản và cơ chế "xin

- cho" vốn đã tồn tại từ lâu

CPH sẽ là một giải pháp tích cực để hạn chế tình trạng tham nhũng,nâng cao dân chủ và công bằng xã hội Các doanh nghiệp sau CPH được đăng

ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Khi đó không còn tồn tại cơ quan chủquản, không còn cơ chế "xin - cho", mọi hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp bị chi phối bởi các quy luật thị trường và pháp luật Mối quan hệgiữa Nhà nước và CTCP giờ đây chỉ là quan hệ giữa cổ đông với công ty Cơquan đại diện sở hữu cho phần vốn góp của Nhà nước có các quyền và nghĩa vụnhư một cổ đông, quyền “ban phát” của các cơ quan này không còn như trướcnữa, đồng nghĩa với việc hạn chế mầm mống của tệ tham nhũng Mặt khác, việcquản lý CTCP được đảm nhiệm bởi guồng máy do các cổ đông lập ra Chính cổđông quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp, giám sát thườngxuyên, chặt chẽ hoạt động sản xuất kinh doanh của nó Vì lợi ích của chính

Trang 18

mình, các cổ đông sẽ phát hiện và tự mình thông qua nền dân chủ cổ phần xử lýkịp thời các hành vi mờ ám, gian lận hay tham ô vụ lợi của những người quản lý

và các cổ đông lớn trong công ty

4 Một số quan điểm cơ bản để thực hiện CPH

Thực hiện CPH cần xuất phát từ một số quan điểm cơ bản như sau:

Quan điểm thứ nhất: Việc lựa chọn doanh nghiệp để chuyển thành

CTCP cần được đặt trong chương trình tổng thể đổi mới khu vực kinh tế Nhànước và sắp xếp lại các DNNN

Quan điểm thứ hai: Việc lựa chọn doanh nghiệp để tiến hành CPH

thuộc thẩm quyền và chức năng của Nhà nước với tư cách là người sở hữu chứkhông tuỳ thuộc vào ý kiến của giám đốc và tập thể lao động trong doanhnghiệp Nguyên tắc này được nêu ra làm cơ sở cho các cơ quan chủ quản Nhànước phân loại các doanh nghiệp do mình quản lý để thực hiện CPH

Quan điểm thứ ba: Dựa trên bảng cân đối tài sản và kết quả hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, xác định các mục tiêu chủ yếu và

cụ thể đối với từng doanh nghiệp được lựa chọn CPH:

- Nếu nhằm mục đích thu hồi vốn để đầu tư vào lĩnh vực khác thìđiều kiện doanh lợi ít được chú ý hơn bảng cân đối tài sản Thực chất CPH loạihình doanh nghiệp này là Nhà nước không hướng vào mục tiêu huy động vốn đểtiếp tục kinh doanh, mà là bán doanh nghiệp với tình trạng pháp lý đầy đủ đểnhiều tư nhân có nhu cầu kinh doanh hùn vốn "mua lại pháp nhân" để hoạt động

- Nếu nhằm mục đích huy động vốn để Nhà nước tiếp tục kinh doanhthì điều kiện về doanh lợi và nhất là điều kiện kinh doanh cần được quan tâmhơn

- Nếu nhằm mục tiêu tạo điều kiện để người lao động thực sự làmchủ doanh nghiệp thì Nhà nước cần chú ý đến điều kiện mức thu nhập của công

nhân có khả năng mua cổ phần dưới dạng trả góp cũng như tỷ trọng vốn tự có

trong tổng số vốn pháp định của doanh nghiệp

Trang 19

Quan điểm thứ tư: Mọi tài sản của doanh nghiệp đều thuộc sở hữu

Nhà nước, trừ quỹ phúc lợi xã hội của tập thể là phần tiền lương không chia để

lại cho cán bộ công nhân viên trong công ty cùng hưởng Phần vốn tự có của các

DNNN thực chất là phần lợi nhuận và quỹ khấu hao được Nhà nước cho phépgiữ lại để tái sản xuất mở rộng, nên tất yếu là thuộc về Nhà nước và trở thànhvốn cổ phần của Nhà nước trong CTCP sẽ được hình thành Điều này là hợp lýnếu xét về mặt pháp lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

khi tất cả các khoản Có và Nợ của doanh nghiệp đều thuộc về Nhà nước Không

thể quy kết các khoản nợ của doanh nghiệp cho tập thể, vì vậy, lẽ đương nhiênkhi tiến hành lập bảng cân đối tài sản trong doanh nghiệp, xác lập giá trị còn lại

để CPH, cũng không thể đưa vốn tự có ra ngoài bảng cân đối với lý do nó là của

tập thể Xác định quan điểm này để bảo đảm việc chống lại sự phân tán tài sảncủa Nhà nước và sự phân phối không công bằng trong quá trình chuyển đổi sangcông ty cổ phần

Quan điểm thứ năm: Việc xác định giá trị doanh nghiệp để CPH

phải chú ý đến cả hai yếu tố cấu thành: giá trị hữu hình và giá trị vô hình Trongyếu tố giá trị hữu hình về cơ bản gồm có: giá trị toàn bộ tài sản hiện có củadoanh nghiệp và giá trị đất đai mà doanh nghiệp đang sử dụng làm mặt bằng sảnxuất kinh doanh Các yếu tố giá trị vô hình như uy tín và nhãn hiệu sản phẩmcủa doanh nghiệp, ưu thế về thị trường và khả năng cạnh tranh, các điều kiện vềđịa điểm, quảng cáo, bạn hàng… thường biểu thị ở khả năng sinh lợi hay tỷ suấtlợi nhuận của doanh nghiệp Trên cơ sở xem xét đầy đủ hai yếu tố cấu thànhnày, lựa chọn phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp nhất

Quan điểm thứ sáu: Phương pháp bán cổ phiếu cần thực hiện công

khai rõ ràng, thủ tục đơn giản và dễ hiểu đối với mọi người

Quan điểm thứ bảy: Để thực hiện thành công chương trình CPH,

Nhà nứơc cần chấp nhận một khoản phí tổn nhất định Đó là những khoản phítổn cần thiết mà ở nước nào cũng có như kinh phí bảo hiểm, trợ cấp cho ngườilao động mất việc làm… Với điều kiện đặc thù ở nước ta, còn có thêm những

Trang 20

phí tổn khác như việc bán các doanh nghiệp thấp hơn giá thị trường một chút đểkhuyến khích mọi người, mọi thành viên tham gia vì hiệu quả và lợi ích lâu dàicủa việc chuyển đổi mô hình kinh doanh; hoặc Nhà nước chấp nhận những điềukiện về trợ cấp, cho vay, bán giá ưu đãi cho một số tầng lớp nhân dân và cán bộcông nhân viên trong doanh nghiệp… vì mục tiêu đa dạng hoá sở hữu và tạođiều kiện cho người lao động làm chủ doanh nghiệp.

Quan điểm thứ tám: Các doanh nghiệp được lựa chọn để CPH cần

giải quyết rõ ràng, dứt điểm các vấn đề tồn đọng về tài chính và lao động trướckhi chuyển sang CTCP Các vấn đề tài chính có thể gồm:

Các tài sản đang chờ thanh lý

Các tài sản mất mát, thiếu hụt, cần phải truy cứu trách nhiệm rõ ràng vàkết luận dứt khoát về cách giải quyết

Các khoản nợ phải đòi, phải trả

Các nguồn vốn liên doanh, liên kết

Các vấn đề lao động

5.Các hình thức CPH DNNN

Theo Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, các hình thức CPH DNNN baogồm:

1) Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp và phát hành

cổ phần thu hút thêm vốn, áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH có nhu cầutăng thêm vốn điều lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô và nhucầu vốn của CTCP Hình thức này cho phép doanh nghiệp thu hút thêm vốn đểđổi mới và phát triển doanh nghiệp

2) Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệphoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu.Bằng hình thức này có thể kêu gọi thêm vốn từ các cá nhân, tổ chức có khả năngtài chính cũng như năng lực quản lý để không chỉ thu hút thêm vốn kinh doanh

mà còn cải cách công tác quản lý doanh nghiệp, làm cho hoạt động doanh

Trang 21

nghiệp có hiệu quả hơn Cũng bằng hình thức này, Nhà nước có thể đa dạng hoá

sở hữu ở những doanh nghiệp mà Nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ100% vốn điều lệ, tạo thêm nhiều động lực, tranh thủ các lợi thế để doanhnghiệp ngày càng phát triển

3) Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợpvừa bán toàn bộ vốn Nhà nước tại doanh nghiệp vừa phát hành thêm cổ phiếu.Hình thức này rất có ý nghĩa khi áp dụng cho những DNNN hoạt động trongngành nghề mà Nhà nước không nhất thiết phải nắm giữ cổ phần Bởi vì mộtthực tế là trong những năm qua, các DNNN được bao cấp một cách tràn lan,không định hướng, hoạt động không có hiệu quả, ngay cả những ngành thenchốt cần phát triển cũng không thoát khỏi vòng xoáy đó Với cơ chế quản lýkinh tế mới, với việc xác định DNNN là công cụ vật chất để Nhà nước điều tiếtnền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN, hình thức này cho phép Nhànước chuyển giao các DNNN mà thành phần kinh tế khác có khả năng hoạtđộng tốt hơn để tập trung vốn, phát triển những ngành nghề then chốt

6 Các phương pháp CPH

Trong phạm vi nghiên cứu về CPH DNNN, có ba phương pháp được cácnước áp dụng nhiều nhất, trong đó Nhà nước bán một phần hay toàn bộ cổ phầntrong doanh nghiệp

6.1 Bán cổ phần cho những người quản lý và lao động trong doanh

nghiệp

Phương pháp này thường được thực hiện đối với các doanh nghiệp có quy

mô vừa và nhỏ Ngoài tác dụng đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp, nó còn tạo ra

sự khuyến khích lớn đối với việc tăng năng suất lao động, đồng thời cũng làcách giải quyết vấn đề lao động trong trường hợp doanh nghiệp sắp bị giải thể.Tuy nhiên, kết quả thu được còn hạn chế ở nhiều nước, nhất là ở các nước đangphát triển

Trang 22

Trở ngại chính đối với phương pháp này là thiếu nguồn tài chính và tíndụng bảo đảm việc chuyển giao doanh nghiệp cho cán bộ quản lý và người laođộng Các biện pháp hỗ trợ về tài chính và tín dụng vẫn thường được Chính phủ

áp dụng khi bán cổ phần như ưu tiên giảm giá, cho những người mua vay lãisuất thấp và dài hạn Tuy vậy, sở hữu cổ phần gắn liền với sở hữu rủi ro, nhữngngười lao động có thể chấp nhận giảm tiền công để cơ cấu lại doanh nghiệp,nhưng nếu mất cả vốn góp lẫn việc làm trong doanh nghiệp thì họ sẽ thờ ơ với ýđịnh này của Chính phủ

6.2 Bán cổ phần cho công chúng

Đó là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ cổ phần thuộc sở hữu Nhànước trong doanh nghiệp cho công chúng Việc bán này thường được thực hiệnthông qua sở giao dịch chứng khoán hoặc một tổ chức tài chính trung gian Cũng

có thể kết hợp việc bán cổ phần cho công chúng cùng với các biện pháp khácnhư bán một phần nhất định cổ phần cho một số nhà đầu tư được định trước

Việc bán cổ phần cho công chúng đòi hỏi doanh nghiệp phải có tỷ lệ sinhlợi hấp dẫn, phải có đầy đủ các thông tin để thông báo công khai trên TTCK và

có cơ chế tổ chức để thu hút các nguồn đầu tư trong xã hội Phương pháp nàycho phép đông đảo các tầng lớp dân cư có thể mua được cổ phần, phù hợp vớimong muốn của Chính phủ khuyến khích việc mở rộng và đa dạng hoá cơ cấu

sở hữu trong DNNN Mặt khác, nó tránh được sự tập trung tài sản kinh tế lớncủa các nhóm tư nhân, mở rộng quy mô và chiều sâu của TTCK

Ngoài tính công khai, đơn giản, rõ ràng về mặt chính trị và tài chính đãkhắc phục sự không trong sạch và tuỳ tiện của các viên chức thực hiện công vụthì thông qua đó, biện pháp này cũng đồng thời giáo dục cho công chúng nhữngnguyên tắc đầu tư tài sản, tiền vốn trong nền kinh tế thị trường Vì vậy phươngpháp bán cổ phần cho công chúng thường được chấp nhận dễ dàng về mặt chínhtrị trong các đảng phái cũng như đối với quần chúng nhân dân

Trang 23

6.3 Bán cổ phần cho tư nhân

Thực hiện phương pháp này có nghĩa là Nhà nước bán một phần hay toàn

bộ số cổ phần thuộc sở hữu Nhà nước cho một số cá nhân hay một nhóm nhàđầu tư tư nhân thông qua đấu thầu có tính cạnh tranh, hoặc bán cho những ngườimua đã được định trước

Đặc điểm của phương pháp này là: tính linh hoạt trong các điều kiện cụthể, tính đơn giản về các yêu cầu pháp lý khi chuyển nhượng, tốc độ triển khaithực hiện nhanh hơn Do vậy phương pháp này thường được áp dụng đối với cácDNNN đang hoạt động yếu kém, những doanh nghiệp cần người chủ đủ mạnh

và có kinh nghiệm về kỹ thuật, tài chính, quản lý và thương mại, hay nhữngdoanh nghiệp có quy mô không đáng kể Phương pháp này là sự lựa chọn mangtính khả thi cao đối với những nước có thị trường vốn chưa phát triển như ViệtNam Trong một số trường hợp, việc bán cổ phần cho tư nhân là bước cần thiếtđầu tiên để tạo ra những cổ đông chủ lực có khả năng cải thiện được kết quảhoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện để bán cổ phần rộng rãi cho côngchúng sau này

Việc bán cổ phần cho tư nhân cũng có những mặt hạn chế, vì một bộ phậndân cư sẽ có khả năng mua và ngày càng tập trung quyền lực kinh tế chính trị,gây ra sự phân hoá xã hội sâu sắc Việc đặt giá khi tiến hành phương pháp nàycũng vấp phải nhiều ý kiến: đặt giá cao thì có ít người tham gia đấu giá, đặt giáthấp thì có thể bị kết tội là thông đồng, "cho không" tài sản Nhà nước

Mỗi phương pháp đều có những ý nghĩa nhất định Việc chọn lựa phươngpháp này hay phương pháp khác cần xuất phát từ tình hình thực tế hoạt động củadoanh nghiệp được CPH và mục tiêu của Nhà nước trong từng lĩnh vực, từngthời kỳ nhất định

7 Các tiền đề của CPH DNNN

Việc CPH DNNN ở nước ta có thể thực hiện được bởi sự hội tụ khá đầy

đủ những điều kiện kinh tế, chính trị và pháp lý cần thiết

Trang 24

7.1 Tiền đề kinh tế, chính trị của CPH DNNN

Sự tồn tại của các thành phần kinh tế khác, nhất là kinh tế tư nhân đã làmthay đổi tính chất của nền kinh tế nước ta, biến nó từ nên kinh tế thuần tuý sởhữu Nhà nước và tập thể sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Sở hữu

tư nhân về tư liệu sản xuất, quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh đã trởthành những hiện tượng bình thường của đời sống kinh tế Chính những yếu tốcủa cơ chế thị trường này đã tạo ra sự vận động của vốn và tài sản giữa các chủthể của thị trường Đặc biệt hơn là sự ra đời của TTCK, nơi cổ phần của cáccông ty được trao đổi, mua bán

Vai trò của các thành phần kinh tế tư nhân vốn bị coi là "phi Xã hội chủnghĩa" đã được pháp luật thừa nhận thông qua việc ban hành Luật Doanh nghiệp

tư nhân, Luật Công ty năm 1990 và sau đó được khẳng định một lần nữa trongHiến pháp 1992 Nghị quyết Quốc hội, sửa đổi bổ sung một số điều của Hiếnpháp 1992 trong năm 2001 đã coi kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành củanền kinh tế định hướng XHCN Mặt khác, với việc ban hành các Luật Đầu tưnăm 1987, năm 1993, năm 1996 (được sửa đổi năm 2000); Luật Công ty 1990;Luật Doanh nghiệp năm 1999; Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003; LuậtCác tổ chức tín dụng; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, trong nền kinh tếnước ta đã xuất hiện các loại doanh nghiệp đối vốn như CTCP, công ty tránhnhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp liên doanh Sự tồn tại của các công ty đối vốnchính là tiền đề kinh tế quan trọng nhất cho việc thực hiện CPH DNNN

Xét trên khía cạnh chính trị, CPH DNNN không nhằm mục tiêu tư nhânhoá nền kinh tế mặc dù trong CPH có chứa đựng yếu tố "tư nhân hoá" CPH làgiải pháp nhằm làm cho sở hữu trong DNNN từ "ảo" đến thực, chuyển từ sựkiểm soát bằng "chế độ quan liêu" sang sự kiểm soát hiệu quả thông qua lợi íchcủa các chủ sở hữu thực Đối với nước ta, CPH DNNN còn nhằm mục đích thuhút sự tham gia làm chủ thực sự của người lao động vào DNNN thông qua việc

để họ sở hữu một phần vốn trong doanh nghiệp Rõ ràng yếu tố đa sở hữu đãlàm cho cải cách DNNN trở nên triệt để hơn so với các cuộc cải cách trước đó

Trang 25

Với tư cách là một giải pháp cải cách kinh tế, CPH DNNN ở nước ta được tiếnhành với sự cân nhắc triệt để các hậu quả chính trị và xã hội của nó Đặc biệt, nóvẫn bảo đảm được định hướng XHCN của việc phát triển kinh tế thị trường,củng cố đựơc những thành quả của công cuộc cải tạo XHCN ở nước ta

Xuất phát từ nhận thức này, Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành nhiềunghị quyết cải cách khu vực kinh tế Nhà nước trong đó xác định vai trò chủ đạocủa phương pháp CPH Nghị quyết của các Đại hội VI, VII, VIII, IX đều khẳngđịnh sự cần thiết phải sắp xếp dổi mới nâng cao hiệu quả phát triển DNNN Đặcbiệt, tháng 8/2001, Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ ba (khoá IX) đã ra nghị quyết về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và pháttriển DNNN Hội nghị ban chấp hành Trung ương lần thứ chín (khoá IX) cũng

ra nghị quyết về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả khu vựcDNNN Những nghị quyết này đã tạo nên tiền đề chính trị vững chắc cho CPH

7.2 Tiền đề pháp lý

Trên thực tế, chưa có một vấn đề nào được Nhà nước ta quan tâm về mặthoàn thiện cơ sở pháp lý như lĩnh vực cải cách DNNN Chỉ riêng trong hai năm1991-1992 Nhà nước đã ban hành 57 văn bản pháp luật về DNNN và cải cáchDNNN Nhiều khái niệm và phạm trù nêu trong những văn bản này đã tạo cơ sởpháp lý quan trọng cho việc thực hiện công tác CPH Tiền đề pháp lý cho CPHDNNN được tạo nên bởi nhiều yếu tố:

Thứ nhất, tuy chưa được ban hành thành văn bản luật, song trong hệ thống

pháp luật hiện hành đã tồn tại nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phátsinh từ CPH trong doanh nghiệp Các quy định này tập trung chủ yếu ở Nghịđịnh 187/2004/NĐ-CP (thay thế cho Nghị định số 64/2002/NĐ-CP) và các vănbản hướng dẫn thi hành Toàn bộ các văn bản này tạo nên lĩnh vực pháp luật vềCPH khá đặc thù Bên cạnh các quan hệ phát sinh từ CPH còn có các quy phạmcủa các lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp khác như Luật Doanh nghiệp,Luật Chứng khoán, Luật Lao động

Trang 26

Thứ hai, yếu tố quan trọng hơn cả là trong hệ thống pháp luật đã có sự tồn

tại của các loại công ty đối vốn Chúng là những pháp nhân về mặt pháp luật và

là các thực thể kinh tế đa sở hữu Đặc điểm của loại hình công ty đối vốn là tínhtrường tồn của chúng bất chấp sự thay đổi cổ đông, là tính dễ chuyển nhượngphần vốn góp và khả năng thanh khoản của các cổ phần mà chúng phát hành.Đây là tiền đề pháp lý quan trọng vì không thể tiến hành CPH nếu trong hệthống pháp luật không có các công ty đối vốn này ở nước ta, vấn đề CPH đãđược đề cập khá sớm trong Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 Tuynhiên, các quy định của quyết định này về CPH chưa được triển khai thực hiệnvào thời gian đó Một trong những lý do của tình trạng "nằm nguyên trên giấy"này là thiếu các loại hình doanh nghiệp cần thiết để chuyển đổi DNNN

Thứ ba, trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định đã

hình thành rất nhiều phạm trù pháp lý vốn được coi là điển hình của nền kinh tếthị trường Những phạm trù như đối vốn, đối nhân, trách nhiệm hữu hạn, vô hạn,cạnh tranh, hội đồng quản trị, chứng khoán, cổ phiếu v.v… là cơ sở cho việcnhận thức đúng đắn về CPH từ góc độ pháp lý

8 Quy trình cơ bản để CPH một DNNN

Quy trình CPH mới nhất được ban hành kèm theo Thông tư số126/2004/TT-BTC (Hướng dẫn thi hành Nghị định 187/2004/NĐ-CP về chuyểndoanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần) gồm các bước sau:

Bước 1: Xây dựng phương án CPH

Cơ quan có thẩm quyền quyết định CPH ra quyết định thành lập Ban chỉđạo cổ phần hóa đồng thời với quyết định CPH doanh nghiệp Tiếp đó, Trưởngban chỉ đạo lựa chọn và lập ra Tổ giúp việo cổ phần hóa Trong thời hạn tối đa

10 ngày, Ban chỉ đạo, Tổ giúp việc cùng doanh nghiệp tiến hành lựa chọn thờiđiểm, phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp phù hợp với điều kiện củadoanh nghiệp và chuẩn bị đầy đủ các tài liệu liên quan bao gồm:

- Các Hồ sơ pháp lý về thành lập doanh nghiệp

- Các Hồ sơ pháp lý về tài sản của doanh nghiệp

Trang 27

- Hồ sơ về công nợ (đặc biệt là các khoán nợ tồn đọng, các khoản nợ đã

xử lý theo chế độ trước thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp)

- Hồ sơ về tài sản không cần dùng, vật tư, hàng hoá ứ đọng, kém, mấtphẩm chất (nếu có), tài sản hình thành từ nguồn quỹ khen thưởng phúc lợi

- Hồ sơ về các công trình đầu tư xây dựng dở dang (kể cả các công trình

đã có quyết định đình hoãn)

- Hồ sơ về các khoản vốn đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác

- Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế của công ty đến thời điểm xácđịnh giá trị doanh nghiệp

- Danh sách lao động thường xuyên làm việc tại công ty đến thời điểm cóquyết định CPH và phân loại lao động theo quy định

Xác định giá trị doanh nghiệp:

Trước hết, Tổ giúp việc phối hợp với doanh nghiệp tiến hành kiểm kê,phân loại tài sản và quyết toán tài chính, quyết toán thuế, phối hợp với các cơquan có liên quan xử lý những vấn đề tài chính đến thời điểm xác định giá trịdoanh nghiệp

Ban chỉ đạo CPH lựa chọn tổ chức định giá để giao cho doanh nghiệp kýkết hợp đồng định giá, hoặc giao cho Tổ giúp việc và doanh nghiệp tự xác địnhgiá trị doanh nghiệp, tuỳ điều kiện cụ thể

Trong vòng 50 ngày, Ban chỉ đạo phải hoàn tất việc thẩm tra kết quả kiểm

kê, phân loại tài sản và kết quả xác định giá trị doanh nghiệp, báo cáo cho cơquan quyết định giá trị doanh nghiệp và Bộ Tài chính để tiến hành công bố giátrị doanh nghiệp

Xây dựng phương án CPH

Căn cứ vào quy định hiện hành, vào tình hình thực tế của doanh nghiệp,ban chỉ đạo xem xét, quyết định thuê tổ chức tư vấn hoặc giao cho Tổ giúp việccùng doanh nghiệp lập phương án CPH với các nội dung cơ bản:

- Giới thiệu chung về doanh nghiệp, trong đó có kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh trong 3-5 năm liền kề trước khi CPH

Trang 28

- Đánh giá thực trạng doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanhnghiệp, bao gồm thực trạng tài sản, tài chính, lao động và các vấn đề khác.

- Phương án sắp xếp lại lao động sau CPH

- Phương án hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3-5 năm tiếp theo

- Phương án CPH, bao gồm: hình thức tiến hành CPH, vốn điều lệ và dựkiến cơ cấu vốn điều lệ, phương thức phát hành cổ phiếu

- Dự thảo Điều lệ tổ chức và hoạt động của CTCP

Sau khi xây dựng phương án CPH, Tổ giúp việc và doanh nghiệp tổ chứcđại hội công nhân viên chức (bất thường) để lấy ý kiến hoàn thiện phương ánCPH, phối hợp với các tổ chức tư vấn (nếu có) hoàn thiện phương án CPH vàtrình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trong thời gian không quá 5 ngày, cơquan quyết định CPH doanh nghiệp xem xét và phê duyệt phương án CPH

Bước 2: Tổ chức bán cổ phần

Ban chỉ đạo CPH lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định

Đối với trường hợp bán đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp: Tổ chức bán

đấu giá cổ phần cho nhà đầu tư, đồng thời xác định giá đấu thành công bìnhquân để bán cổ phần cho người lao động và nhà đầu tư chiến lược

Đối với trường hợp bán cổ phần tại tổ chức tài chính trung gian: Ban chỉ

đạo lựa chọn tổ chức tài chính trung gian giao cho doanh nghiệp ký hợp đồng,cùng doanh nghiệp phối hợp với tổ chức tài chính trung gian đó thực hiện bán cổphần cho người lao động, nhà đầu tư chiến lược và cho những nhà đầu tư kháctheo quy định

Đối với trường hợp bán cổ phần tại Trung tâm giao dịch chứng khoán:

Ban chỉ đạo CPH đăng ký trực tiếp hoặc thuê tổ chức trung gian đăng ký và phốihợp với Trung tâm giao dịch để bán cổ phần Nếu đăng ký trực tiếp, Ban chỉ đạoCPH phải nộp đơn đăng ký và các tài liệu liên quan, phối hợp để tổ chức pháthành cổ phiếu và phải thực hiện bán cổ phần cho người lao động và nhà đầu tưchiến lược

Trang 29

Tổng hợp kết quả bán cổ phần, báo cáo cơ quan ra quyết định CPH, cơquan này sẽ tiến hành điều chỉnh quy mô, cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp đốivới trường hợp không bán cổ phần cho các đối tượng theo đúng phương án CPHđược duyệt.

Bước 3: Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành CTCP

Ban chỉ đạo CPH, Tổ giúp việc và doanh nghiệp tổ chức Đại Hội đồng cổđông lần thứ nhất để thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động, phương án sảnxuất kinh doanh, bầu ra Hội đồng quản trị, ban Kiểm soát cùng bộ máy điềuhành của CTCP Căn cứ vào đó, Hội đồng quản trị CTCP sẽ thực hiện đăng kýkinh doanh

Cán bộ chuyên trách trong công ty mới thành lập có trách nhiệm lập báocáo tài chính tại thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh, thực hiện quyết toán thuế, quyết toán chi phí CPH, nộp tiền thu từ quátrình CPH về công ty, TCT hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Bộ Tàichính

Tổ chức ra mắt CTCP và thực hiện bố cáo trên phương tiện thông tin đạichúng Trường hợp doanh nghiệp được xác định sẽ niêm yết ngay trên thị trườngchứng khoán thì lập hồ sơ xin cấp phép niêm yết gửi Bộ Tài chính (Uỷ banchứng khoán Nhà nước) theo quy định hiện hành

Cuối cùng, thực hiện bàn giao cho Hội đồng quản trị CTCP vốn và tài sảncủa doanh nghiệp, danh sách người lao động trong doanh nghiệp, hồ sơ, danhsách cổ đông và toàn bộ hồ sơ, tài liệu sổ sách của doanh nghiệp dưới sự chứngkiến của Ban đổi mới quản lý tại doanh nghiệp và đại diện cơ quan quản lý vốn

và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp

Trang 30

Chương II

THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỔ PHẦN HÓA DNNN

Ở VIỆT NAM

I Những chặng đường đã qua trong tiến trình cổ phần hoá

1 Giai đoạn thực hiện thí điểm: từ tháng 6/1992 đến 4/1996

Nghị quyết Đại hội VII đã nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới toàn diện vàđồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc, lấy đổimới kinh tế là trọng tâm ” và nêu lên quan điểm: “chuyển một số doanh nghiệpquốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốcdoanh cổ phần mới” Tại hội nghị lần thứ 2 (khoá 7) quan điểm ấy tiếp tục đượckhẳng định: “chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công

ty cổ phần và thành lập một số công ty cổ phần mới, phải làm thí điểm chỉ đạochặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích hợp”

Tiếp theo những đổi mới trong việc sắp xếp lại DNNN, đổi mới cơ chếquản lý, thực hiện quyền tự chủ kinh doanh của DNNN, ngày 10/5/1990 Chínhphủ ra quyết định 143/HĐBT, trong đó có nội dung “Nghiên cứu và làm thử về

mô hình chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần”

Ngày 8/6/1992, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng ra Quyết định số 202/CT

“về việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần”.Một đề án CPH DNNN tương đối hoàn chỉnh được ban hành kèm theo quyếtđịnh này Có thể coi đây là cái mốc đầu tiên đánh dấu giai đoạn thực hiện thíđiểm CPH Việc nghiên cứu và tổ chức làm thử được quy định chỉ giới hạntrong phạm vi một số ít doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, mang tính chất tựnguyện Việc bán cổ phần cũng chỉ giới hạn ở những đối tượng là nhà đầu tưtrong nước, trong đó ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanhnghiệp

Trang 31

Sau tám tháng thực hiện quá chậm chễ, không đáp ứng được những yêucầu và tiến độ quy định, ngày 3/3/1993, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hànhChỉ thị 84/TTg xúc tiến tực hiện thí điểm CPH DNNN

Trong thời kỳ này, Chính phủ chỉ đạo thí điểm chuyển 7 DNNN thànhCTCP, đó là: Nhà máy Xà phòng Việt Nam, Xí nghiệp Vật liệu chế biến thức ăngia súc Hà Nội, Nhà máy Diêm Thống nhất, Xí nghiệp Chế biến gỗ lạng LongBình, Công ty Vật tư tổng hợp Hải Hưng, Xí nghiệp Sản xuất bao bì Hà Nội và

Xí nghiệp Dệt da may Legamet Hơn 30 doanh nghiệp khác đăng ký với Bộ Tàichính để thí điểm thực hiện CPH Bộ Tài chính đã quyết định danh sách DNNNtrong số các doanh nghiệp này để các Bộ chỉ đạo thí điểm chuyển thành CPH

Qua một thời gian tiến hành làm thử, 7 DNNN được Chính phủ chọn đềuxin rút Các DNNN do các Bộ chỉ đạo thí điểm cũng lần lượt xin rút hoặc không

đủ điều kiện Sau hơn 5 năm thực hiện thí điểm, cả nước chỉ có 5 doanh nghiệpđược chuyển thành CTCP, bao gồm: Công ty Đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộccông ty phát triển Hằng Hải - Bộ Giao thông), Công ty Cơ điện lạnh (thuộcUBND thành phố Hồ Chí Minh), Nhà máy giầy Hiệp An và Xí nghiệp thức ănchăn nuôi (thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ), Xí nghiệp Chế biến hàng xuất khẩuLong An (thuộc UBND tỉnh Long An) Tính đến thời điểm năm 1995, cả nướcmới chỉ có 2/61 tỉnh, thành phố và 3/7 Bộ có DNNN CPH Như vậy, việc triểnkhai thí điểm CPH còn quá chậm, chưa đồng đều giữa các ngành, địa phương,mục tiêu CPH cũng chưa được thực hiện

Chủ trương CPH DNNN ở nước ta được đặt ra khá sớm trong các văn bản

có tính chỉ đạo hành động trong các cơ quan quản lý nhà nước (từ cuối năm

1991 và liên tục trong những năm sau) Song thực tế triển khai giải pháp chiếnlược này thực sự đã vấp phải quá nhiều lực cản, chính vì thế mà nó diễn ra rất ìạch, bằng chứng là chỉ CPH được 5 doanh nghiệp trong suốt 5 năm liền

Những hạn chế trên là kết quả của nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan Có thể nêu lên một vài nguyên nhân chủ yếu :

Trang 32

- Vấn đề nhận thức: trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, sựphát triển của lực lượng sản xuất dựa gần như tuyệt đối vào chế độ sở hữu Nhànước Gánh nặng quá lớn của Ngân sách trong một thời gian dài buộc cácDNNN phải đối mặt với thực tế rằng Nhà nước không thể tiếp tục là "bầu sữa"cho họ Việc không còn dựa dẫm vào Nhà nước được nữa đã gây ra cho cácdoanh nghiệp tâm lý chán nản, muốn duy trì hình thức DNNN được ngày nàohay ngày ấy.

- Về quan điểm: còn lúng túng, chưa hoạch định được chủ trương nhấtquán, chưa có sự nhất trí cao về việc bắt buộc lựa chọn giải pháp CPH DNNN.Đây là nhân tố quyết định hàng đầu để đẩy nhanh quá trình CPH

- Cấp có thẩm quyền quyết định khi ấy vẫn chưa có được quyết tâm đủtầm, đủ độ để thực thi Trong đó trở ngại lớn nhất là chính sách xử lý lợi ích củacác bên liên quan: Nhà nước và người lao động, giám đốc và bộ máy quản lýDNNN cũng như lợi ích hợp pháp của các cổ đông sẽ tham gia CTCP thông quamua - sở hữu - chuyển nhượng cổ phiếu Một trở ngại nữa là công tác xác địnhgiá trị doanh nghiệp vẫn còn rất non nớt, có những doanh nghiệp 2 năm vẫnchưa định giá nổi

- Chưa có thị trường thứ cấp để lưu thông các cổ phiếu là một nguyênnhân đáng kể cản trở tiến trình CPH

Trong các nguyên nhân kể trên, vấn đề nhận thức quan điểm quyết tâmthực thi giải pháp chiến lược này của các nhà hoạch định chính sách vẫn lànguyên nhân cơ bản nhất của tình hình triển khai CPH trong giai đoạn này

2 Giai đoạn triển khai mở rộng: từ tháng 5/1996 đến 6/1998

Đến thời điểm này, Quyết định 202/TC năm 1992 đã không còn phù hợp,nhiều vấn đề nảy sinh từ phía doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước đòihỏi phải có các văn bản pháp luật khác thay thế để giải quyết những vấn đề bứcxúc Đáp ứng những yêu cầu này, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 28/CP

Trang 33

Tính pháp lý của cơ chế CPH DNNN đã được nâng cao lên một bậc (dướihình thức Nghị định), phạm vi đối tượng CPH được mở rộng Việc lựa chọn cácdoanh nghiệp cổ phần thuộc thấm quyền của Chính phủ, không nhất thiết phải

do các doanh nghiệp tự nguyện Khác với 2 văn bản trước, Nghị định 28/CP đãphân định rõ ra 3 hình thức CPH, bao gồm: giữ nguyên giá trị hiện có của doanhnghiệp và phát hành cổ phiếu; bán một phần hiện có tại doanh nghiệp và táchmột bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để CPH (so với trước đó, đã được

bổ sung thêm hình thức CPH bộ phận doanh nghiệp) Nghị định còn quy địnhkhá đầy đủ về thẩm quyền thực hiện CPH, chính sách ưu đãi đối với doanhnghiệp và người lao động cũng đã được cải thiện Về mặt tổ chức thực hiện,Nghị định này quy định rất cụ thể việc thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm của Ban chỉ đạo trung ương về CPH và cơ quan thường trực của ban nàycũng như thẩm quyền thực hiện CPH của các cơ quan quản lý Nhà nước khác.Ngoài ra, Nghị định cũng đề cập đến vấn đề thí điểm bán cổ phần cho các cánhân và tổ chức nước ngoài, điều mà trong 2 văn bản trước chưa từng có

Có thể nói, Nghị định 28/CP là mốc đánh dấu một bước kết thúc giai đoạnthí điểm và chuyển sang giai đoạn CPH mở rộng Những quy định mới trongNghị định đã góp phần đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN ở nước ta trong giaiđoạn này Nếu như trong cả giai đoạn thí điểm, chúng ta mới chỉ CPH được 5doanh nghiệp thì khi Nghị định 28/CP ra đời là cả một bước ngoặt lớn Tính đếntháng 6/1998 đã có 25 DNNN chuyển thành công ty cổ phần, nâng tổng sốDNNN được CPH lên con số 30, ngoài ra còn một số DNNN đang tiến hànhtriển khai các bước xác định giá trị doanh nghiệp Các địa phương, tỉnh, thànhphố, các Bộ, ngành và tổng công ty 91 đã đăng ký hơn 200 doanh nghiệp thựchiện CPH, chiếm trên 3% tổng số DNNN; đã có 3 Bộ, tổng công ty và 11 tỉnh,thành phố có doanh ghiệp CPH.(28) Các doanh nghiệp này sau khi CPH đều pháttriển tương đối ổn định với những chỉ tiêu tăng trưởng hàng năm cao Đây thực

sự là tín hiệu tốt khích lệ cán bộ, công nhân viên trong các DNNN khác chuẩn bịchuyển sang CTCP tiếp tục ủng hộ chủ trương CPH của Đảng và Chính phủ

Trang 34

Nhưng có một điều mà ai cũng có thể nhận thấy là tiến trình CPH DNNNdiễn ra quá chậm Trong giai đoạn này, người ta đã được chứng kiến mộtkhoảng thời gian kỷ lục cho việc tiến hành CPH một công ty: 3 năm đối vớitrường hợp công ty giầy Hiệp An (thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ).

Nguyên nhân diễn ra tình trạng này vẫn phải kể đến vấn đề quan điểm,nhận thức Lãnh đạo doanh nghiệp với trình độ non yếu, không chèo chống đượcvới nền kinh tế thị trường, muốn cố gắng kéo dài sự tồn tại của hình thức công

ty cũ, họ sợ khi chuyển sang CTCP, làm ăn thua lỗ sẽ bị mất chức, hầu toà…

Tình trạng tài chính yếu kém cũng là một nguyên nhân không nhỏ: nợ tồn,

nợ đọng, công nợ khó đòi của nhiều doanh nghiệp còn rất lớn, nhiều DNNN làm

ăn thua lỗ đến 2-3 năm liền Nếu chọn doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ảnh hưởngđến chỉ tiêu Ngân sách Nhà nước và giảm sút ngân sách của các nghành có liênquan Còn chọn doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì “những miếng xương xẩu” nàykhông ai muốn nhận

Vấn đề thủ tục cũng ảnh hưởng lớn đến tiến trình CPH, thủ tục phức tạpnhiều khâu, nhiều tầng nấc làm nản lòng biết bao người thi hành, thêm vào đó là

sự nhũng nhiễu quan liêu của cán bộ hành chính Nhà nước Mặt khác, lúc nàyphần lớn cán bộ nhân viên của các DNNN có thu nhập còn rất thấp, ít có khảnăng mua cổ phần, trong khi đó môi trường kinh tế, môi trường pháp lý chưacung cấp thông tin thường xuyên, không đảm bảo cho người mua cổ phiếu antâm với sự lựa chọn của mình

3 Giai đoạn chủ động: 7/1998 đến 6/2002

Cơ sở pháp lý cho hoạt động CPH DNNN trong giai đoạn này là Nghịđịnh 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998, thay thế cho Nghị định số 28/CP Việc tổchức thực hiện CPH được phân cấp giữa các cơ quan của Chính phủ, các Bộ, cácđịa phương và Hội đồng quản trị TCT Cùng với việc đẩy mạnh công tác tuyêntruyền, phổ biến các chính sách chủ chương của Đảng và Nhà nước về CPH và

đa dạng hoá sở hữu DNNN đến mọi tầng lớp nhân dân, cùng với sự ra đời vàhoạt động của TTCK Việt Nam, với những cải cách mang tính đột phá, Nghị

Trang 35

định 44/CP đã thực sự tạo ra một động lực mới, đẩy nhanh tiến trình CPHDNNN ở các Bộ, ngành, địa phương và các TCT trong giai đoạn này Nó đãkhắc phục một số điểm tồn tại trong Nghị định 28/CP:

Về đối tượng mua cổ phần: ngoài các đối tượng như trong quy định trước,

người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài cư trú lâu dài trênlãnh thổ Việt nam cũng được quyền mua cổ phần Mở rộng mức khống chế mua

cổ phần: đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không giữ cổ phần chi phốithì cá nhân, pháp nhân được mua gấp 2 lần so với quy định trước; đối với nhữngdoanh nghiệp mà Nhà nước không tham gia cổ phần thì không khống chế quyềnmua Sự thay đổi này đã mở rộng quy mô vốn nhàn rỗi huy động được cho cácdoanh nghiệp

Về đối tượng CPH: quy định rõ và giảm bớt danh mục các loại doanh

nghiệp, ngành nghề Nhà nước giữ 100% vốn, cổ phần đặc biệt, cổ phần chi phối

Điều này giúp các ngành, các cấp, địa phương chủ động trong việc lựachọn và tổ chức triển khai CPH

Về chính sách đối với người lao động: quy định tương đối đầy đủ, chặt chẽ

và cụ thể chính sách ưu đãi đối với người lao động Nghị định 44 đã bỏ hìnhthức cấp cổ phần không được chuyển nhượng, đề ra hình thức bán giảm 30% (sovới giá sàn) đối với số cổ phần được mua ưu đãi cho người lao động trong doanhnghiệp tính theo thâm niên công tác của họ (với 1 năm làm việc cho Nhà nướcngười lao động được mua tối đa 10 cổ phần ưu đãi giá trị mỗi cổ phần là

100000 đồng và chỉ phải trả 70000 đồng), người lao động có quyền sở hữu cổphần của mình và có thể chuyển nhượng Ngoài ra, Nghị định cũng thể hiện sựquan tâm chú ý đặc biệt tới người lao động nghèo theo tinh thần Thông báo số63/TB-TW ngày 4/9/1997 của Bộ Chính trị Những tiến bộ này đã khiến chủtrương CPH trở nên hấp dẫn hơn đối với doanh nghiệp cũng như người laođộng

Nghị định 44/CP còn đưa ra những quy định khá cụ thể, rõ ràng và hợp lýhơn các văn bản trước về xác định giá trị doanh nghiệp CPH, thẩm quyền quyết

Trang 36

định CPH và quyền được mua cổ phần lần đầu Đặc biệt ở giai đoạn này, Thủ

tướng chính phủ đã quyết định thành lập Ban đổi mới quản lý doanh nghiệp

Trung ương để giúp Thủ tướng tập trung chỉ đạo quá trình đổi mới doanh nghiệp

và CPH

Cùng với sự ra đời của Nghị định 44/CP, tiến độ CPH được đẩy nhanh rõrệt Trong các năm 1999, 2000 và 2001, bình quân mỗi năm hoàn thành chuyểnđối sở hữu trên 280 doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp và bộ phận doanhnghiệp được CPH tại thời điểm 31/12/2002 lên con số hơn 900 Kết quả điều tratrên 400 doanh nghiệp đã CPH và đa dạng hoá từ 1 năm trở lên cho thấy hầu hếtcác doanh nghiệp hoạt động tốt, các chỉ tiêu: doanh thu, lợi nhuận, nộp ngânsách, thu nhập và việc làm của người lao động đều tăng trưởng Người lao độngtrong công ty, sau khi trở thành người chủ thực sự, đã có những thay đổi rõ rệt,đời sống vật chất được nâng cao, tính chủ động sáng tạo trong lao động, ý thức

tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác, tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh cũng đượcnâng cao Về phía Nhà nước, không chỉ được tăng thu Ngân sách từ sự nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp CPH mà còn huy động đượcgần 2500 tỷ vốn nhàn rỗi trong và ngoài nước để đổi mới, phát triển doanhnghiệp cũng như giải quyết chính sách cho người lao động.(34)

Mặc dù những kết quả đạt được là khả quan, nhưng nếu so với mục tiêuđược đặt ra là cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, cơ cấu lại DNNN trong năm 5năm 2001-2005 thì tiến độ như vậy vẫn còn quá chậm (chỉ đạt khoảng 50% kếhoạch) Một số Bộ, địa phương và Tổng công ty 91 cũng đã có những chỉ đạonhưng kết quả đạt được rất hạn chế: Bộ Công nghiệp, Bộ thuỷ sản, các tỉnh CầnThơ, Khánh Hoà, Quảng Bình, Vĩnh Phúc, TCT Hoá chất, TCT Thép Đến hếtnăm 1999 vẫn còn 6/13 Bộ, 7/17 Tổng công ty 91 và 21/61 tỉnh chưa có DNNNnào được chuyển thành CTCP

Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trên vẫn chính lànhững bất cập trong cơ chế thực hiện CPH, bao gồm cả những quy định khôngcòn phù hợp với yêu cầu thực tế khách quan, như: sự chưa rõ ràng trong tiêu chí

Trang 37

phân loại và lựa chọn doanh nghiệp; sự hạn chế về quyền mua cổ phần của cácnhà đầu tư; những bất cập trong cơ chế xử lý tồn tại về tài chính, lao động dôi

dư cho doanh nghiệp trước khi CPH cũng như cơ chế xác định giá trị doanhnghiệp; sự trùng chéo của các cơ quan quản lý Nhà nước trong quá trình tổ chức

và thực hiện CPH… Vấn đề đặt ra là phải sớm thiết lập một hệ thống cơ chế mớimạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn để có thể thúc đẩy hơn nữa tốc độ CPH DNNN trongthời gian tiếp theo

4 Giai đoạn từ 7/2002 đến 10/2004 (thời kỳ đầu của Giai đoạn đẩy mạnh)

Quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trungương Đảng khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảDNNN: “đẩy mạnh tiến độ cổ phần hoá và mở rộng diện các Doanh nghiệp Nhànước cần cổ phần hóa, kể cả một số tổng công ty và doanh nghiệp lớn trong cácnghành như điện lực, luyện kim, cơ khí, hoá chất, phân bón, xi măng, xây dựng,vận tải đường bộ, đường sông, hàng không, hàng hải, viễn thông, ngân hàng,bảo hiểm”, trong 7 tháng đầu năm, Chính phủ đã ban hành một hệ thống vănbản mới có liên quan chặt chẽ đến công tác CPH DNNN: Nghị định số41/2002/NĐ-CP (ngày 11/4/2002) và các văn bản hướng dẫn về chính sách đốivới lao động dôi dư; Nghị định số 69/2002NĐ-CP (ngày 12/7/2002) và các vănbản hướng dẫn về xử lý nợ; Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg (ngày 26/4/2002)

về tiêu chí phân loại DNNN; và đặc biệt là Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ra đờingày 19 tháng 6 năm 2002 về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần, thaythế cho Nghị định 44/CP

Sự ra đời của hệ thống văn bản này đã đánh dấu một giai đoạn mới trongtiến trình CPH DNNN ở Việt Nam Thông qua nó, Chính phủ đã thiêt lập một cơchế mới mạnh hơn, thông thoáng hơn trên cơ sở phân cấp triệt để giữa các cấptrong hệ thống hành chính Nhà nước, cùng một cơ chế kiểm tra, giám sát hợp lý,gắn trách nhiệm với quyền hạn, nghĩa vụ với quyền lợi, và với một hệ thống cácgiải pháp mang tính chất đồng bộ:

Trang 38

Về hình thức CPH: Quá trình thực hiện CPH DNNN trong những giai

đoạn trước cho thấy, về thực chất chỉ có hai hình thức là CPH toàn bộ DNNN vàCPH đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp Còn các hình thức như giữ nguyên giátrị phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu và bán

một phần hoặc toàn bộ vốn Nhà nước tại doanh nghiệp chỉ là phương thức CPH

có thể được áp dụng trong cả hai hình thức nêu trên Vì vậy, Nghị định 64/CP đã

quy rõ 4 hình thức CPH DNNN, bao gồm:

- Giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại DN, phát hành thêm cổ phiếu

- Bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại DN

- Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại DN

- Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thu hútthêm vốn

Về đối tượng mua cổ phần: Chính thức bổ sung thêm đối tượng được

quyền tham gia mua cổ phần lần đầu là các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với việc

mở rộng phạm vi ngành nghề kinh doanh mà các nhà đầu tư nước ngoài đượcquyền tham gia góp vốn

Về quyền được mua cổ phần lần đầu tại các doanh nghiệp CPH: Trong khi

Nghị định 44 vẫn còn không chế mức mua cổ phần (từ 10- 20% tổng số cổ phầntại doanh nghiệp đối với các pháp nhân, từ 5-10% đối với các thể nhân), Nghịđịnh mới đã xoá bỏ mức khống chế về quyền được mua cổ phần lần đầu đối vớicác pháp nhân và thể nhân trên cơ sở đảm bảo số cổ đông tối thiểu theo đúngquy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định về cố phần chi phối, cổ phầnđặc biệt của Nhà nước được quy định trong Luật Doanh nghiệp Nhà nước

Về chính sách ưu đãi đối với người lao động: Theo quy định cũ, tổng giá

trị cổ phần bán ưu đãi cho người lao động không vượt quá 20% giá trị vốn Nhànước tại DNNN Thực tế cho thấy quy định như vậy là không công bằng vàkhông khuyến khích đối với người lao động ở những doanh nghiệp có vốn Nhànước ít, lao động nhiều vì với sự khống chế này, người lao động ở các doanhnghiệp trên chỉ có thể mua được 1- 2 cổ phần ưu đãi cho 1 năm công tác Nghị

Trang 39

định mới đã xoá bỏ mức khống chế về tổng giá trị ưu đãi theo % trên giá trị vốnNhà nước tại doanh nghiệp, tạo điều kiện để người lao động tham gia góp vốn,mua cổ phần.

Về xử lý tài chính và giải quyết lao động dôi dư: Nghị định 64/CP cho

phép các doanh nghiêp được thực hiện bán nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp cổphần; sử dụng thu nhập trước thuế để bù đắp lỗ luỹ kế; hỗ trợ tài chính để giúpdoanh nghiệp cơ cấu lại nợ và thanh tán trợ cấp cho người lao động bị mất việc,thôi việc với mức thoả đáng hơn

Đối với việc xác định giá trị doanh nghiệp: Cho phép áp dụng nhiều

phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp (bao gồm phương pháp tài sản ròng

và phương pháp dòng tiền triết khấu) và từng bước chuyển giao các hoạt độngđịnh giá, bán cổ phần cho các chế định trung gian

Ngoài ra, trong Nghị định mới còn có những điều chỉnh bổ sung các chínhsách ưu đãi để giúp các doanh nghiệp ổn định và phát triển sau khi CPH nhưchính sách ưu đãi về thuế, chính sách ưu tiên tiếp tục cho thuê hoặc cho muanhững tài sản đang sử dụng, chính sách tạo sự gắn kết giữa người sản xuất vàcung cấp nguyên liệu với các doanh nghiệp chế biến trong các ngành nông, lâm,thuỷ sản

Nhìn chung, bước đầu những chính sách đổi mới nói trên đã thu hút được

sự quan tâm của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp đối với chương trình sắpxếp, CPH và đa dạng hoá DNNN Tiến trình CPH ngay sau khi Chính phủ banhành cơ chế mới cũng đã có những chuyển biến tích cực Nếu như trong 8 thángđầu năm 2002 mới có 82 doanh nghiệp được CPH thì trong 4 tháng cuối năm đã

có thêm 107 doanh nghiệp hoàn thành chuyển đối, ngoài ra còn có trên 60 doanhnghiệp đã và đang thực hiện các bước trong quá trình CPH Năm 2003, hoànthành CPH 450 doang nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, trên 150 doanh nghiệp

đã xác định giá trị doanh nghiệp, đạt 60,8% kế hoạch CPH đặt ra và là năm đạt

kế hoạch cao nhất từ trước tính đến thời điểm này Hết quý I năm 2004, có thêm

62 doanh nghiệp thực hiện xong quá trình chuyển đổi.(34)

Ngày đăng: 17/07/2013, 07:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu đồ 2: Tình hình lợi nhuận của DNNN qua các năm - HOÀN THIỆN QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN Ở NƯỚC TA
i ểu đồ 2: Tình hình lợi nhuận của DNNN qua các năm (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w