Vai trò của THML đối với thực tiễn xã hội và sự phát triển KH 1,5 điểm - Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trong nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp vô sản là kim chỉ nam
Trang 1Đáp án Triết 2017
Câu 1 : Trình bày đặc điểm của triết học Mác-Lênin Vai trò của triết học Mác-Lênin đối với người cỏn bộ
khoa học kỹ thuật?
1 Đối tượng của triết học Mác- Lênin:
Các quan điểm trước Mác xác định đối tượng chưa đúng đắn, triết học Mác xác định: Đối tượng nghiên cứu
của triết học Mác-Lênin là Nghiên cứu những quy luật chung nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy Vai trò của
con người đối với thế giới trên cơ sở giải quyết KH vấn đề cơ bản của triết học.(1 điểm)
2 Đặc điểm của triết học Mác-Lênin:
Triết học Mác-Lênin là một học thuyết KH và tiến bộ, nó mang trong mình 3 đặc điểm chính sau:
* Thống nhất giữa tính Đảng và tính KH:
+ Tính đảng của triết học Mác-Lênin:
Lập trường CNDV biện chứng, đấu tranh kiên quyết chống CNDT, siêu hình, bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, bảo vệ và mang lại lợi ích cho giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động
+ Tính KH của triết học Mác-Lênin (THML): phản ánh đúng đắn hệ thống các quy luật vận động và phát triển của thế giới
+ Vì sao có sự thống nhất giữa tính đảng và tính KH trong THML: Do mục tiêu lý tưởng chiến đấu, lợi ích giai cấp vô sản phù hợp tiến trình khách quan của lịch sử
* Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
+ Gắn nhận thức thế giới với cải tạo thế giới là ng.tắc cơ bản của triết học Mác: triết học MLN ra đời từ nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động Nó trở thành vũ khí lý luận của giai cấp vô sản…
+ Thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà phát triển triết học Triết học lại trở lại chỉ đạo, hướng dẫn cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mà bổ sung và phát triển, mà làm tròn sứ mệnh của mình
+ Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn thì triết học MLN mới trở thành sức mạnh vật chất, mới phát triển và đổi mới không ngừng
* Tính sáng tạo của THML:
+ Sáng tạo là bản chất của triết học Mác: những nguyên lý, quy luật phổ biến khi vận dụng vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể phải đúng đắn, sáng tạo
+ Hiện thực khách quan không ngừng vận động và biến đổi, tư duy và ý thức phản ánh chúng cũng không ngừng bổ sung và phát triển Triết học với tư cách là một KH cũng không ngừng được bổ sung, phát triển và vận dụng một cách sáng tạo, sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh
+ Tính sáng tạo của THML đòi hỏi chúng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và KH của từng nguyên lý
và vận dụng nó trên quan điểm thực tiễn, lịch sử, cụ thể Nghĩa là phải xuất phát từ khách quan, đúng thực tiễn sinh động làm cơ sở cho nhận thức và vận dụng lý luận
3 Vai trò của THML đối với thực tiễn xã hội và sự phát triển KH (1,5 điểm)
- Là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận trong nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp vô sản là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn của các Đảng cộng sản:
+ Nó cung cấp hệ thống tri thức KH về thế giới
+ Trang bị phương pháp luận KH
+ Là cơ sở để hình thành niềm tin KH và những phẩm chất cao quý của người cách mạng
- Trang bị cho các nghành KH khác thế giới quan và phương pháp luận KH đi sâu khám phá bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng
+ Nó đóng vai trò dẫn đường cho nghiên cứu KH
+ Nó giải quyết những vấn đề triết học trong quá trtình nghiên cứu
+ Là cơ sở KH chống lại ảnh hưởng của CNDT, hệ tư tưởng TS xuyên tạc những phát minh KH
4 Vai trò của triết học Mác - Lênin trong giải quyết những nhiệm vụ của lý luận và thực tiễn quân sự
- Thực tiễn quân sự ở trong nước và trên thế giới đã có nhiều thay đổi phát triển Có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quân sự đặt ra cần giải quyết
Trang 2- Xuất phát từ mối quan hệ giữa phương pháp luận triết học với phương pháp luận của khoa học và thực tiễn quân sự
- Vai trò của phương pháp luận triết học trong giải quyết những nhiệm vụ lý luận trong thực tiễn quân sự
- Vai trò ngày càng tăng của triết học Mác - Lênin trong việc giải quyết những vấn đề cấp thiết đặt ra trong lý luận và thực tiễn quân sự
5 Một số yêu cầu đối với người cán bộ quân đội khi vận dụng triết học Mác - Lênin trong nhận thức và thực
tiễn quân sự
- Nắm vững các nguyên lý, quy luật và hiểu thực chất tính cách mạng khoa học của triết học Mác - Lênin, tránh tư tưởng giáo điều duy ý chí trong hoạt động quân sự
- Vận dụng sáng tạo phương pháp luận, nguyên lý lý luận của triết học Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của thực tiễn quân sự
- Thường xuyên học tập để nâng cao trình độ mọi mặt cả về lý luận chung và lý luận quân sự, biết vận dụng phương pháp luận chung và phương pháp luận riêng trong giải quyết những vấn đề thực tiễn quân sự đặt ra
- Thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, phát triển lý luận quân sự qua đó mà nâng cao hiệu quả của sự vận dụng triết học Mác - Lênin vào thực tiễn quân sự
Câu 2: Chủ nghĩa duy vật biện chứng - đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật.
I CHỦ NGHĨA DUY VẬT THỜI CỔ ĐẠI (CHỦ NGHĨA DUY VẬT THÔ SƠ, MỘC MẠC)
Chủ nghĩa duy vật cổ đại còn gọi là chủ nghĩa duy vật thô sơ mộc mạc, xuất hiện trong chế độ chiếm hữu nô lệ vào khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước công nguyên với những thành tựu rực rỡ như ở Ấn Độ, Trung Hoa, Hy lạp - La Mã Về thế giới quan là duy vật có ý nghĩa chống lại những tư tưởng sai lầm của triết học duy tâm và tôn giáo; nhưng về mặt phương pháp luận thì chưa có cơ sở khoa học, bởi nó mang tính trực quan, cảm tính chủ yếu dựa vào tri thức kinh nghiệm của chính bản thân các nhà triết học hơn là những khái quát khoa học của bản thân tri thức triết học
II CHỦ NGHĨA DUY VẬT THỜI KỲ PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI (CHỦ NGHĨA DUY VẬT SIÊU HÌNH)
Chủ nghĩa duy vật siêu hình xuất hiện từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đỉnh cao ở thế kỷ XVII -XVIII Trước đây, tri thức của các lĩnh vực khoa học còn là một bộ phận trực tiếp của triết học Đến thời kỳ này nảy sinh nhu cầu các ngành hoa học tách ra khỏi triết học trở thành các ngành khoa học cụ thể, độc lập; dùng phương pháp nghiên cứu thật chi tiết nhằm phát hiện các thuộc tính, những qui luật của vật chất như tính năng, tác dụng, độ bền vật liệu… Từ đó làm xuất hiện phương pháp mới trong khoa học tự nhiên -phương pháp thực nghiệm và cũng trên cơ sở đó xuất hiện sự thống trị của -phương pháp tư duy siêu hình trong triết học duy vật Phương pháp siêu hình xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tĩnh tại, không vận động, không biến đổi
Triết học duy vật thời kỳ này đại diện cho những tư tưởng của giai cấp tư sản tiến bộ, họ đã tiến hành đấu tranh chống chủ nghĩa kinh viện, nhà thờ trung cổ
III CHỦ NGHĨA DUY VẬT CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN (CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG)
Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác - Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và vận dụng triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được những hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác cổ đại, chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII, đồng thời phát triển chủ nghĩa duy vật lên một tầm cao mới, nó đã thể hiện được sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật khoa học và phương pháp nhận thức khoa học Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ phản ánh đúng đắn hiện thực mà còn là một công cụ hữu hiệu giúp các lực l¬ượng tiến bộ trong xã hội cải tạo hiện thực đó
1 Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng (CNDVBC)
a Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn
Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy tồn tại Ở đây, mối quan hệ này được hiểu là mối quan hệ giữa ý thức và vật chất Vấn đề này, trong khi chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, coi ý thức là nguồn gốc của vật chất, sản sinh ra vật chất thì việc khẳng định bản chất của thế giới là vật
Trang 3chất, chủ nghĩa duy vật trước Mác đã góp phần không nhỏ vào việc chống lại chủ nghĩa duy tâm, đặt nền móng cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật sau này Song, hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy vật trước Mác là duy vật không triệt để (duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội) và không thấy được sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trên, song nguyên nhân chủ yếu và cũng là "khiếm khuyết chủ yếu" là các nhà duy vật trước Mác thiếu quan điểm thực tiễn
Thực tiễn, với tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo hiện thực mà những dạng cơ bản của nó là hoạt động thực nghiệm khoa học, được các nhà duy vật biện chứng coi là hoạt động bản chất của con người Hoạt động này là mắt khâu trung gian trong mối quan hệ ý thức của con người với thế giới vật chất
Thông qua thực tiễn, ý thức con người được vật chất hoá, tư tưởng trở thành hiện thực Thông qua thực tiễn, ý thức con người đã không chỉ phản ánh thế giới mà còn "sáng tạo thế giới" C.Mác cho rằng thực tiễn là nơi con người chứng minh sức mạnh, chứng minh tính hiện thực và tính trần tục của tư duy
Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn vào hoạt động nhận thức, đặc biệt việc thấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước đó để giải quyết thoả đáng vấn đề cơ bản của triết học Ở đây, trong khi khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố vật chất, các nhà duy vật biện chứng đã "không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng, đến lượt chúng, lại có tác động trở lại, nhưng là tác động cấp hai lên những điều kiện vật chất ấy "; không loại trừ việc các lĩnh vực tư tưởng" cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng"
b Sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản bị tách rời nhau Chủ nghĩa duy vật tuy có chứa đựng một số tư tưởng biện chứng nhất định, nhưng nhìn chung phương pháp siêu hình giữ vai trò thống trị, đặc biệt trong chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII
Trong khi đó, phép biện chứng lại đạt đến trình độ đỉnh cao ở chủ nghĩa duy tâm với quan niệm về sự phát triển của "ý niệm tuyệt đối" trong triết học cổ điển Đức
Việc tách rời giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng đã không chỉ làm các nhà duy tâm mà ngay cả các nhà duy vật trước Mác không hiểu về mối quan hệ phổ biến, về sự thống nhất và nối tiếp nhau của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất
Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình
và cứu phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa duy vật biện chứng với
sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép biện chứng Sự thống nhất này đã đem lại cho con người một quan niệm hoàn toàn mới về thế giới - quan niệm thế giới là một quá trình với tính cách là vật chất không ngừng vận động, chuyển hoá và phát triển
c Quan niệm duy vật triệt để
Bất kỳ một học thuyết triết học nào cũng phải thể hiện quan niệm của mình về tự nhiên xã hội
Khi giải quyết những vấn đề tự nhiên, chủ nghĩa duy vật trước Mác đứng trên quan điểm duy vật vì các nhà duy vật đều khẳng định sự tồn tại của thế giới vật chất và thừa nhận tính thứ nhất của vật chất Song, vì không hiểu đúng về vật chất, không hiểu đúng về nguồn gốc, bản chất của ý thức, thiếu quan điểm thực tiễn, thiếu phương pháp tư duy biện chứng và một số hạn chế về xã hội, các nhà duy vật trước Mác đã lấy các yếu
tố tinh thần như tình cảm, ý chí, nguyện vọng, v.v làm nền tảng Vì vậy, chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để
Khẳng định nguồn gốc vật chất của xã hội; khẳng định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung; tồn tại xã hội quyết định
ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ V.I.Lênin nhận định rằng: "Trong khi nhận thức sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loại người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học"
Trang 4Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử là cuộc cách mạng đối với quan niệm về xã hội, nó đem lại cho con người một công cụ vĩ đại trong việc nhận thức và cải tạo thế giới
Câu 3: Vận dụng phương pháp luận được rút ra từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào trong (hoạt động quân sự, hoặc vào trong việc học tập của bản thân tại Học viện Kỹ thuật quân sự).
1 Vật chất và ý thức:
* Vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
* ý thức: ý thức là mặt tinh thần của đời sống xãhội, bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống,…nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xãhội trong những giai đoạn nhất định
2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Vật chất và ý thức có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau Trong mối quan hệ đó, vật chất là cái có trước, quyết định ý thức, ý thức là cái có sau, phụ thuộc vào vật chất, do vật chất quyết định Khi thừa nhận vật chất tồn tại bên ngoài và độc lập với ý thức, quyết định ý thức, thì sự nhận thức thế giới không thể xuất phát từ ý thức của con người, mà phải xuất phát từ thế giới khách quan Nhưng ý thức có tính độc lập tương đối, có vai trò tác động trở lại đối với sự vận động và phát triển của thế giới vật chất
* Vật chất quyết định ý thức trên 3 phương diện: nguồn gốc, nội dung và sự biển đổi
- Quyết định nội dung phản ánh của ý thức: bởi vì ý thức bao giờ cũng là sự phản ánh thế giới vật chất và sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo trong phản ánh và theo khuôn khổ của sự phản ánh Hơn nữa, tự thân ý thức không thể gây ra sự biến đổi nào trong đời sống hiện thực
- Quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức: nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xãhội ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ
óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xãhội ý thức là sản phẩm xãhội, là một hiện tượng xãhội
- Quyết định sự biến đổi của ý thức: ý thức phản ánh thế giới hiện thực khách quan, thế giới vật chất, bản thân nó không thể gây ra sự biến đôitrong đời sống hiện thực Nhưng thế giới vật chất thì luôn vận động và biến đổi không ngừng (vận động là phương thức tồn tại của vật chất), vì vậy khi nó thay đổi dẫn tới làm cho
ý thức cũng thay đổi theo
* ý thức cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất, bao gồm các vấn đề sau:
- Mối quan hệ giữa ý thức và vc vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối nghĩa là, vc luôn là cái có trước
và quyết định ý thức, nhưng ngược lại ý thức cũng có tác động trở lại đối với vc Mối quan hệ này xét về một mặt nào đó tương tự như mối quan hệ nhân quả
- ý thức có tính năng động to lớn, tác động trở lại thế giới vật chất theo hai chiều: ý thức tích cực, tiến bộ, phản ánh đúng quy luật khách quan sẽ thúc đẩy thế giới vật chất phát triển và chỉ đạo hoạt động thực tiễn thành công Ngược lại, ý thức tiêu cực, lạc hậu, không phản ánh đúng quy luật khách qua thì sẽ kìm h•m sự phát triển, tuy nhiên sự kìm hãm này chỉ là tạm thời, không phải bất biến
+ Phương thức phản ánh của ý thức là thông qua hạt động thực tiễn của con người, biến sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất, mà biểu hiện ở chỗ đề ra các đường lối Chủ trương chính sách đúng đắn, khoa học
và phù hợp với tình hình thực tiễn
+ Sự tác động của ý thức để thúc đẩy thế giới vật chất phát triển phải có điều kiện: ý thức phải phản ánh đúng hiện thực khách quan, con người vận dụng tri thức đó vào hoạt động thực tiễn, đề ra được những phương án tối ưu chỉ đạo hoạt động thực tiễn
3 ý nghĩa phương pháp luận để giải quyết mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, phê phán bệnh chủ quan duy ý chí.
* ý nghĩa phương pháp luận:
- Tôn trọng và xuất phát từ thực tế khách quan:
+ Trước hết là điều kiện khách quan:
+ Quy luật khách quan:
+ Khả năng khách quan:
- Phát huy tính năng động chủ quan của ý thức:
+ Năng động trong nhận thức: phải nhận thức đúng thực tiễn, từ đó đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp đúng và khoa học
+ Năng động trong tổ chức thực tiễn cách mạng…
Trang 5- Đấu tranh chống mọi biểu hiện bất chấp quy luật khách quan, thụ động, tiêu cực Đặc biệt là bệnh chủ quan, duy ý chí.(Phân tích nguyên nhân và biện pháp khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí)
Ng.nhân:
-Do sự yếu kém về tr độ nhận thức nói chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng l.luận vào thực tiễn nói riêng
-Sự yếu kém về trình độ văn hoá, KH se tất yếu dẫn đến tư duy k.nghiệm và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí Do ý thức sai lầm về vai trò của lluận mà dẫn đến lãng quên việc thg xuyên nâng cao năng lực tư duy ll LN đã gọi,căn bệnh này “là sự mù quáng chủ quan”, là sai lầm tự phát dẫn đến rơi vào chủ nghĩa Duy tâm một cách ko tự giác
-Do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách che dấu khuyết đ, sai lầm chủ quan,tìm cách thuyết minh cho “sự sáng tạo hợp quy luật” hoặc tìm cách đổ lỗi cho ng khác, hoặc cho ng nhân khách quan…
Như vậy, ng nhân lẫn trong hậu quả Bệnh chủ quan duy ý chí dẫn đến tệ mệnh lệnh hành chính, hình thức chủ nghĩa,bệnh gia trưởng độc đoán chuyên quyền,ban phát đặc ân,tệ sùng bái cá nhân, tham ô, lãng phí, coi thg người lđ
Biện pháp khắc phục:
Nâng cao trình độ nhận thức, trình độ ll trong đó bao hàm cả việc nắm vững PBC DV
Thực hiện quy chế DC, đấu tranh với tư tưởng TS chế độ cũ
Đẩy mạnh đổi mới và phát triển kinh tế
Liên hệ
Ở VN trong TK XD CNXH trc đây,chúng ta đã mắc phải căn bệnh này Biểu hiện:chúng ta đã chủ quan trong việc đánh giá những khả năng hiện có, vì thế mà sinh ra những ảo tưởng về tốc độ cải tạo, phát ntriển kinh tế và do đó, dẫn đến việc đề ra những chỉ tiêu quá cao trong XD cơ bản và PT SX Trong cải tạo
và XD CNXH trc đổi mới, chúng ta đã ko có đc một đg lối c.sách phát triển k.tế thận trọng và KH dẫn đường Sai lầm chủ quan duy ý chí đó là sự vi phạm ng tắc KQ của sự xem xét, trái với tunh thần của PBC DV
Câu 4:Trình bày nội dung quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến biến đổi về chất và ngược lại Rút ra ý nghĩa phương pháp luận?
Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại (còn gọi là quy luật lượng chất) là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động và phát triển, chỉ ra trạng thái của sự phát triển
1 Nội dung của quy luật lượng chất:
*Chất: Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và h.tượng, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính,
những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự vật và hiện tượng khác
Ví dụ: Đồng hoá và dị hoá là hai quá trình khác nhau về chất, đồng hoá là quá trình trao đổi chất làm cho các
tế bào sinh sôi, còn dị hoá thì ngược lại Hoặc cách mạng TS và cách mạng vô sản là hai cuộc cách mạng khác nhau về chất, cách mạng TS đem lại nền chuyên chính cho giai cấp TS, còn cách mạng vô sản lại phá bỏ nền chuyên chính ấy để thiết lập một nền chuyên chính vô sản,…
Nói tóm lại, khi nghiên cứu khái niệm chất trong quy luật lượng chất, cần phải hiểu nó theo nghĩa rộng nhất, bao quát nhất, với ý nghĩa là một phạm trù triết học
* Lượng: Lượng là tính quy định của sự vật và hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị
con số các thuộc tính, các yếu tố,… cấu thành nó
Lượng của sự vật nói lên kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, tổng số ít hay nhiều, trình độ cao hay thấp, tốc độ vận động nhanh hay chậm, màu sắc đậm hay nhạt,…Lượng được biểu hiện bằng con số và đại lượng Ví dụ: tốc độ của ánh sáng bằng 300.000 km/s, một phân tử ô-xy gồm hai nguyên tử ô-xy,…
*Độ: Là mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chất và lượng, nó là giới hạn mà trong đó sự vật hay hiện tượng
vẫn còn là nó, chưa biến thành cái khác Ví dụ của Ăng-ghen về độ: Trong điều kiện áp suất bình thường, sự tăng hoặc giảm nhiệt độ trong giới hạn giữa 00C và 1000C, thì nước vẫn ở trong trạng thái lỏng chứ chưa chuyển sang trạng thái rắn hoặc hơi, vậy khoảng nhiệt độ từ 0 đến 1000C gọi là độ của nước
*Nút: Là thời điểm mà ở đó xảy ra bước nhảy.
*Bước nhảy: là sự thay đổi về chất, đó là bước ngoặt căn bản trong sự biến đổi dần dần về lượng.
Trang 6Trong ví dụ về sự chuyển hoá trạng thái của nước phụ thuộc vào to thì: Từ 0 đến 1000C gọi là độ, 00C và
1000C là các điểm nút, còn quá trình chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái hơi(bắt đầu lớn hơn 1000C) và
từ trạng thái lỏng sang trạng thái rắn(bắt đầu nhỏ hơn 00C) gọi là bước nhảy(có sự thay đổi về chất)
2 Mối QH biện chứng giữa chắt và lượng:
Giữa chất và lượng có mối QH biện chứng thống nhất, không tách rời nhau, cụ thể:
+ Mỗi một sự vật có một thể thống nhất của 2 mặt chất và lượng Hai mặt đó không tách rời nhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Trong sự vật, tính quy định về chất không tồn tại, nếu không có tính quy định về lượng và ngược lại Khi sự vật đang tồn tại, chất và lượng thống nhất với nhau ở một độ nhất định Trong phạm vi một độ nhất định, hai mặt chất và lượng tác động lẫn nhau làm cho sự vật và hiện tượng vận động và biến đổi
+Sự vận động và biến đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng So với chất lượng thay đổi trước Quá trình này diễn ra một cách từ từ (tiệm tiến) theo cách thức tăng dần hoặc giảm dần Sự thay đổi về lượng không tức khắc dẫn đến sự thay đổi về chất của sự vật, mặc dù những sự thay đổi về lượng đều có ảnh hưởng đến trạng thái của sự vật Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định thì dẫn đến sự thay đổi về chất, giới hạn đó phụ thuộc vào các sự vật và hiện tượng cụ thể
+ Chất mới ra đời lại tạo điều kiện cho lượng biến đổi tiếp theo Sự thay đổi căn bản về chất gọi là bước nhảy, bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, nó là sự gián đoạn trong quá trình vận động liên tục của sự vật, nhưng nó không chấm dứt sự vận động nói chung, mà chỉ chấm dứt một dạng tồn tại của
sự vật Trong sự vật mới, lượng mới lại biến đổi, đến điểm nút mới, lại xảy ra bước nhảy mới Cứ như thế, sự vận động của các sự vật và hiện tượng trong thế giới diễn ra lúc thì biến đổi một cách tuần tự về lượng, lúc thì nhảy vọt về chất, tạo ra một đường nút vô tận, làm cho sự vật mới luôn luôn xuất hiện thay thế sự vật cũ + Cơ sở của sự thay đổi đó là do quá trình đấu tranh của các mặt đối lập giữa chất và lượng Cuộc đấu tranh
đó phải dẫn đến điểm nút, mặt đối lập này chiến thắng mặt đối lập kia, tạo ra sự thay đổi về chất (để chất mới thích ứng với lượng mới),…
Ví dụ:
* Nội dung quy luật lượng chất: từ sự phân tích trên đây, chúng ta có thể phát biểu quy luật lượng chất như sau: “Quy luật lượng chất là quy luật về sự tác động biện chứng giữa lượng và chất, những thay đổi về lượng
chuyển thành những thay đổi về chất và ngược lại”.
Chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt biến đổi hơn Lượng biến đổi, mâu thuẫn với chất cũ, phá vỡ chất cũ, chất mới hình thành với lượng mới, những lượng mới lại tiếp tục biến đổi, đến một mức độ nào đó lại phá vỡ chất cũ đang kìm hãm nó Quá trình tác động lẫn nhau giữa hai mặt lượng và chất tạo nên một con đường vận động liên tục, từ biến đổi dần dần về lượng dẫn tới sự nhảy vọt về chất, sự vận động này diễn ra liên tục làm cho sự vật không ngừng biến đổi
Quy luật lượng chất xảy ra một cách phổ biến trong tự nhiên, xã hội và trong lĩnh vực tư duy
3 ý nghĩa phương pháp luận và áp dụng trong hoạt động thực tiễn:
Qua việc nghiên cứu quy luật lượng chất, ta rút ra một số ý nghĩa là trong hoạt động thực tiễn phải:
+ Xây dựng tinh thần tiến công cách mạng (tại sao)
+ Tích cực tích luỹ về lượng để dẫn tới nhảy vọt về chất (liên hệ bản thân là học viên, trong các lĩnh vực: học tập, rèn luyện, phấn đấu vào đảng,…)
+ Kiên quyết tạo bước nhảy về chất khi điều kiện (chủ quan là tích luỹ đủ về lượng, kết hợp với các yếu tố khách quan-cơ hội)
+ Chống lại các quan điểm: bảo thủ trì trệ dẫn tới bỏ lỡ thời cơ, đồng thời chống nóng vội khi chưa tích luỹ
đủ về lượng…
Câu 5 : phân tích cơ sở lý luận và nội dung các nguyên tắc xem xét : khách quan – toàn diện – lịch sử
cụ thể và phát triển.
*Cơ sở lí luận và nội dung ng tắc:
- Ng tắc KQ:
+ CS LL: từ mqh VC-YT VC tồn tại KQ quýet định ý thức, từ ng líu quy luật, cặp phạm trù của PBC + Nội dung: đòi hỏi trong nhận thức và hành động luôn xuất phát từ KQ, lấy KQ làm tiền đề cơ sở xem xét sự vật đúng như nó có, XD đặc tính trung thực, thật thà, phát huy vai trò chủ quan, độc lập, suy nghĩ ng/cứu chống KQ chủ nghĩa, chống CQ duy ý chí, bất chấp quy luật, đk KQ là theo ý của chúng ta
Trang 7-Ng tắc toàn diện:
+CS LL:từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Bản thân sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan không tồn tại độc lập, tách rời, mà tồn tại trong mối liên hệ hữu cơ gắn bó với nhau
+ Nội dung: nghiên cứu sự vật phải ng/cứu toàn diện các mlh bên trong và bên ngoài, trực tiếp và gián tiếp Chú ý mlh bản chất, quyết định để nhận thức đúng đắn SV Chống lại bệnh cực đoan phiến diện và chủ nghĩa Chiết trung (PP ng cứu hoặc giải quyết v.đề dung hoà, thường là một cách khiên cưỡng, các ý kiến khác nhau cho goi là vừa phải)
- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể:Chân lí luôn là cụ thể nên klhi xem xét sv phải xuất phát từ đk KG và
TG, gắn với hoàn cảnh tồn tại lịch sử cụ thể của nó, phải biết phân tích tình hình cụ thể và do đó phải sáng tạo trong nhận thức và hành động Nguyên tắc này có ý nghĩa trong việc khắc phục bệnh giáo điều, bệnh chủ quan duy ý trí đồng thời góp phần xây dựng phương pháp khoa học trong đánh giá đối với lịch sử, với quá khứ, kiên quyết đấu tranh chống lại thái độ phủ định sạch trơn đối với lịch sử, bất chấp hoàn cảnh lịch sử - cụ thể
- Nguyên tắc phát triển: Nguyên tắc này đòi hỏi phải tìm ra được những mâu thuẩn của sự vật ,phải
thấy được xu hướng phát triển của sự vật, quá trình cái cũ mất đi và cái mới ra đời, phải ủng hộ cái mới cái tiến bộ
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta Chúng ta phải phát huy nổ lực của bản thân trong việc thực hiện hoá quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo thế giới nhằm phục vụ nhu cầu của con người
* ý nghĩa phương pháp luận và phê phán những quan điểm sai trái:
- Xây dựng phương pháp xem xét, giải quyết với quan điểm: khách quan - toàn diện - lịch sử cụ thể, trong đó phải nắm chắc các mối liên hệ bản chất, bên trong, chủ yếu quyết định sự tồn tại, phát triển của sự vật, hiện tượng
- Khi xem xét sự vật, hiện tượng phải xem xét trong quá khứ, hiện tại và dự báo trong tương lai phải tôn trọng lịch sử, khách quan với lịch sử
- Vận dụng các nguyên lý lý luận phải gắn liền với lịch sử cụ thể
+ Chống bảo thủ trì trệ, không chịu đổi mới - Chống quan điểm phi lịch sử - Chống xa rời thực tế, lý luận suông
Câu 6: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác – Lênin Vận dụng nguyên tắc này, người cán bộ khoa học kỹ thuật phải làm gì?
1 Vị trí của nguyên tắc
Đây là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng
- Nguyên tắc này bảo đảm sức sống cho lý luận, đưa lại cho nó khả năng định hướng đối với những mâu thuẫn cốt lõi của đời sống sinh động
- Vi phạm nguyên tắc này bản thân lý luận sẽ mất động lực phát triển, bị xơ cứng, giáo điều, và thực tiễn cũng mất phương hướng phát triển, rời vào chủ nghĩa thực dụng, chủ quan, duy ý chí
- Nó có ý nghĩa quan trọng đối với công việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội
2 Cơ sở của nguyên tắc
- Từ mục đích của triết học Mác - Lênin và chủ nghĩa Mác - Lênin
- Từ vai trò thực tiễn đối với lý luận
- Từ vai trò của lý luận khoa học
- Từ bản chất, con đường của quá trình nhận thức
3 Nội dung và yêu cầu thực hiện nguyên tắc
* Nội dung :
- Nói thực tiễn là thực tiễn được lý luận soi sáng, không phải thực tiễn mù quáng, tự phát Vai trò thực tiễn là
cơ sở, động lực, mục đích, tiêu chuẩn của nhận thức, của lý luận
- Nói lý luận là lý luận phát sinh, phát triển trên cơ sở thực tiễn không phải là lý luận suông, kinh viện Vai trò của lý luận là kim chỉ nam vạch ra phương hướng hành động cho hoạt động thực tiễn giúp con người nhận thức cả quá khứ, hiện tại và tương lai
- Vì vậy cần chống cả bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
* Yêu cầu :
- Nắm chắc lý luận khoa học, nắm chắc thực chất tính cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênin đường lối quan điểm của Đảng
Trang 8- Tích cực hoạt động thực tiễn có sự phát hiện những cái mới, những mâu thuẫn từ thực tiễn để đề xuất chủ trương, giải pháp cải tạo thực tiễn
- Vận dụng lý luận vào thực tiễn linh hoạt, sáng tạo
- Thường xuyên sơ, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, bổ sung điều chỉnh LL từ TT
4 Vận dụng nguyên tắc này vào lĩnh vực quân sự
* Thực tiễn quân sự là gì?
- Thực tiễn quân sự là những hoạt động vật chất cụ thể mang tính lịch sử- xã hội của con người nhằm thực hiện những mục tiêu quân sự để đạt đến mục tiêu chính trị nhất định
- Thực tiễn quân sự gồm:
+ Các hoạt động chiến đấu (hoạt động cơ bản đặc trưng nhất)
+ Các hoạt động xây dựng đơn vị, huấn luyện bộ đội
+ Các hoạt động thực nghiệm khoa học kỹ thuật quân sự
* Lý luận quân sự là gì?
Lý luận quân sự là sự khái quát những kinh nghiệm quân sự và tri thức về LVQS thông qua thực tiễn quân sự hình thành một hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý, các quy luật phản ánh thực tiễn quân sự và lĩnh vực quân sự
Câu 7: Trình bày nội dung quy luật QH sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất Đảng
ta đã vận dụng quy luật này trong việc đổi mới đất nước hiện nay như thế nào?
Quy luật QHSX phải phù hợp với trình độ cảu LLSX là một quy luật cơ bản của sự vận động, phát triển xã hội, quy luật này nói lên vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX và sự phụ thuộc của QHSX đối với LLSX Đồng thời nó cũng tác động trở lại đối với LLSX
1 Nội dung quy luật:
LLSX và QHSX là hai mặt của PTSX, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người-Quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất
và trình độ của LLSX
Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của QHSX vào sự phát triển của LLSX Đến lượt mình QHSX tác động trở lại đối với LLSX
+ Tính chất của LLSX là tính chất của TLSX và của lao động Khái quát có 2 hình thức cơ bản là: tính chất các nhân riêng lẻ, hoặc tính chất xã hội Còn trình độ của LLSX là trình độ phát triển của sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của KH công nghệ, công cụ lao động, kỹ thuật, kỹ năng, tri thức của người lao động, trình
độ phân công lao động
+ LLSX quyết định QHSX, vì:
- LLSX là yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất, là nội dung của quá trình sản xuất, còn QHSX là yếu tố phụ thuộc vào LLSX, nó là hình thức xã hội của sản xuất nên có tính chất tương đối ổn định, có xu hướng lạc hậu hơn so với sự phát triển của LLSX
- LLSX phát triển làm cho QHSX hình thành, biến đổi, phát triển cho phù hợp với nó Sự phù hợp của LLSX với QHSX là động lực làm cho LLSX phát triển
- Mâu thuẫn giữa LLSX mới với QHSX cũ được giải quyết bằng cách thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới phù hợp với LLSX Trong xã hội có đối kháng giai cấp, mâu thuẫn này được giải quyết thông qua đấu tranh giai cấp, mà đỉnh cao là cách mạng xã hội
+ QHSX tác động lại LLSX:
QHSX tác động lại LLSX ở chỗ, nó quy định mục đích của sản xuất, hệ thống tổ chức quản lý sản xuất, phương thức phân phối sản phẩm Do vậy, nó tác động đến thái độ người lao động QHSX phù hợp sẽ thúc đẩy LLSX phát triển và ngược lại sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX
Quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX tác động trong lịch qua sự thay thế kế tiếp nhau của các PTSX từ thấp đến cao Đó là cách nhìn thế giới trên phương diện tổng thể, quy luật chung, xu hướng chung của lịch sử thế giới Nhưng thực tế thì lịch sử đã chứng minh rằng, không phải bất cứ nước nào cũng nhất thiết phải tuần tự qua các PTSX
Trang 92 Vận dụng của Đảng ta trong tình hình đổi mới đất nước hiện nay:
Nghiên cứu nắm vững quy luật này Đảng ta đã vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cách mạng:
+ Việt Nam lựa chọn con đường đi lên XHCN không qua TBCN là một sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với sự phát triển của lịch sử (phân tích tại sao)
+ Xuất phát từ đặc điểm chủ yếu của Việt Nam là từ sản xuất nhỏ đi lên xây dựng PTSX XHCN, nên theo quy luật này Đảng ta cho rằng: phát triển LLSX, thực hiện CNH-HĐH đất nước là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, không ngừng nâng cao năng suất lao động
xã hội, cải thiện đời sống nhân dân
+ Phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, thiết lập từng bước QHSX XHCN từ thấp đến cao, đa dạng hoá hình thức sở hữu
+ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hưỡng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của nhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh
tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu
Câu 8: Trình bày nội dung quy luật cơ sơ hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Nhận thức và vận dụng quy luật của Đảng ta?
1 Khái niệm CSHT và KTTT:
* Cơ sở hạ tầng (CSHT): là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái kinh tế-xã hội
nhất định
Khái niệm CSHT phản ánh chức năng xã hội của các QHSX với tư cách là cơ sở kinh tế của các hiện tượng
xã hội CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm những QHSX thống trị, những QHSX là tàn dư của xã hội trước và những QHSX là mầm mống của xã hội sau Trong một CSHT có nhiều thành phần kinh tế, nhiều QHSX thì kiểu QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo, chi phối các thành phần kinh tế và các kiểu QHSX khác; nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng chugn của toàn bộ đời sống kinh tế xã hội Trong xã hội có đối kháng giai cấp, tính chất giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu QHSX thống trị quy định Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấp bắt nguồn từ ngay trong CSHT
* Kiến trúc thượng tầng (KTTT): là toàn bộ những quan điểm tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và
những QH nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định
KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của KTTT trong một hình thái xã hội nhất định Trong đó bộ phận mạnh nhất của KTTT là nhà nước-công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội
2 Mối QH biện chứng giữa CSHT và KTTT:
Giữa CSHT và KTTT có mối QH biện chứng, gắn bó hữu cơ không tách rời nhau:
* CSHT quyết định KTTT:
+ CSHT quyết định KTTT,vì: CSHT là những QH vật chất-kinh tế nên quyết định các QH xã hội về tư tưởng
Nó quyết định sự ra đời, cơ cấu, tính chất của KTTT, quyết định sự vận động biến đổi của KTTT Tức là, CSHT nào thì sinh ra KTTT đó Những biến đổi căn bản trong CSHT sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong KTTT Sự biến đổi đó diễn ra trong từng hình thái kinh tế-xã hội, cũng như khi chuyển từ một hình thái kinh tế-xã hội này sang hình thái kinh tế-xã hội khác
+ Khi CSHT cũ mất đi thì KTTT do nó sinh ra cũng mất theo, khi CSHT mới ra đời thì một KTTT mới phù hợp với nó cũng xuất hiện Song có những nhân tố riêng lẻ của KTTT cũ vẫn tồn tại dai dẳng sau khi cơ sở kinh tế sinh ra nó đã bị tiêu diệt (tàn dư) Cũng có những nhân tố nào đó của KTTT cũ được giai cấp cầm quyền mới duy trì để xây dựng KTTT mới
Kết luận: Như vậy, sự hình thành và phát triển của KTTT do CSHT quyết định Đồng thời nó còn có QH kế
thừa đối với các yếu tố của KTTT của xã hội cũ
* KTTT tác động trở lại CSHT:
Trang 10Suy cho cùng thì CSHT quyết định KTTT, nhưng KTTT luôn luôn la lực lượng tác động mạnh mẽ trên toàn
bộ các mặt của đời sống xã hội và tác động tích cực trở lại đối với CSHT sinh ra nó
Sự tác động tích cực của KTTT đối với CSHT thể hiện ở chỗ:
+ Chức năng xã hội của KTTT là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra nó, đấu tranh xoá bỏ CSHT và KTTT cũ
+ Trong các bộ phận của KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng,
có tác dụng to lớn đối với CSHT Nhà nước không chỉ dựa trên hệ tư tưởng, mà còn dựa trên những hình thức nhất định của việc kiểm soát xã hội, sử dụng bạo lực, bao gồm những yếu tố vật chất: quân đội, cảnh sát, toà
án, nhà tù,…để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị, củng cố vững chắc địa vị QH sản xuất thống trị
+ Trong bản thân KTTT cũng diễn ra quá trình biến đổi, phát triển có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với CSHT Nếu tác động đó cùng chiều (càng phù hợp) với CSHT thì thúc đẩy sự phát triển của CSHT và ngược lại thì có tác động cản trở sự phát triển của CSHT Đối với tác động của KTTT trở lại CSHT cũng vậy
Kết luận: Nhw vậy giữa CSHT và KTTT có QH biện chứng với nhau, trong đó CSHT giữ vai trò quyết định,
là nội dung; còn KTTT có tác động trở lại đối với CSHT, là hình thức biểu hiện của CSHT
2 ý nghĩa và vận dụng của Đảng ta:
Nghiên cứu quy luật này giúp ta nắm được quy luật vận động chung của xã hội và phương hướng để phân tích sự tác động của nó trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể
+ Giúp ta có cơ sở KH để nhận thức và chỉ đạo hoạt động trong việc giải quyết mối QH giữa xây dựng CSHT
và KTTT ở nước ta Mối QH giữa nhân tố kinh tế và chính trị trong công cuộc đổi mới đất nước
+ Quá trình đổi mới đất nước theo CNXH là đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: k.tế, c.trị, q.sự, văn hoá tư tưởng,…Trong khi lấy đổi mới kinh tế làm nhiệm vụ hàng đầu thì đồng thời phải từng bước đổi mới chính trị cho hù hợp, làm cho kinh tế, văn hoá xã hội phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện
+ CSHT trong thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức kinh tế,
có nhiều QHSX gắn với các hình thức sở hữu khác nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước Trong
đó phải làm cho kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể, tạo thành nền tảng của kinh tế quốc dân
+ Về KTTT ở nước ta phải xây dựng trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động Xây dựng hệ thống chính trị XHCN do Đảng cộng sản lãnh đạo, trong đó nhà nước
là nhà nước của dân, do dân và vì dân
Câu 9: Trình bày quan niệm của Đảng ta về con đường đi lên CNXH?
* Về việc lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta đã được đảng ta khẳng định ngay từ trong cương lĩnh chính trị năm 1930: “Tiến hành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân ”
- Sự lựa chọn con đường đi lên CNXH ở nước ta hoàn toàn phù hợp với nội dung lý luận hình thái kinh tế – xã hội: Sự phát triên đi lên của các quốc gia, dân tộc có thể bỏ qua một số hình thái kinh tế – xã hội nhất định vẫn phù hợp
- Sự lựa chon đi lên CNXH của cách mạng VN có thể nói là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc ta: Đầu thế kỷ 20 nước ta khủng hoảng về đường lối cách mạng, hàng loạt phong trào cách mạng nổ ra nhưng đều thất bại do chưa lựa chọn được con đường cách mạng đúng đắn Từ khi Đảng cộng sản ra đời với sự lựa chọn con đường đi lên CNXH cách mạng VN không ngừng lớn mạnh và giành thắng lợi to lớn
- Sự lựa chọn con đường đi lên CNXH của cách mạng VN hoàn toàn phù hợp với xu thế thời đại ngày nay, chúng ta có đầy đủ những điều kiện khách quan, chủ quan để thực hiện thắng lợi
- Thời đại ngày nay nhân loại đã và đang đấu tranh vì những mục tiêu lớn: hoà bình, độc lập dân tộc, phồn vinh và tiến bộ xã hội
(Việc lựa chọn con đường đi lên CNXH hoàn toàn phù hợp với mục tiêu của thời đại Chúng ta có đầy đủ những điều kiện khách quan và chủ quan, có thể tận dụng những thành tựu của khoa học công nghệp,
có những tiền đề vật chất kỹ thuật của hàng chục năm xây dựng CNXH, có sức mạnh khói đại đoàn kết toàn dân tộc, có đảng lãnh đạo với đường lối cách mạng đứng đắn, sáng tạo, cótinh thần cần cù sáng tạo, sức mạnh trí tuệ của con người VN => Lựa chọn và xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở VN).
* Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta