1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

tổng hợp câu hỏi đáp án triết học duy vật lịch sử

36 724 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 225,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong phương hướng đổi mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định “Tăng trưởng kinh tế đi lên gắn li

Trang 1

Tổng hợp câu hỏi đáp án triết học duy vật lịch sử

(Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới Nxb.

để hiểu lịch sử xã hội lồi người Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng mối quan

hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong phương hướng đổi

mới đất nước, Đảng ta đã khẳng định “Tăng trưởng kinh tế đi lên gắn liền với phát triển văn hĩa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện mơi trường xã hội”.

Trong Văn kiện Đảng thời kỳ đổ mới Đảng ta lại khảng định :“Kết hợp hàihoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tếvới tiến bộ xã hội, giữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”

Tồn tại xã hội là đời sống (sinh hoạt) vật chất của xã hội cùng tồn bộ

những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Trước hết sinh hoạt vật chất của

xã hội phương thức sản xuất (bao gồm lực lượng sản xuất và quan hệ sảnxuất) Sinh hoạt vật chất của xã hội cịn bao gồm những sinh hoạt vật chất khácnhư : trao đổi, tiêu dùng hàng ngày, kế thừa tài sản Điều kiện sinh hoạt vậtchất của xã hội bao gồm : điều kiện tự nhiên xung quanh, hồn cảnh địa lý, dân

số và mật độ dân số … Trong các yếu tố cấu thành nên tồn tại xã hội, phươngthức SX là nhân tố cơ bản vì nĩ cĩ ảnh hưởng quyết định đến sự biến đổi của

ý thức xã hội và nĩ làm thay đổi ý nghĩa của hồn cảnh địa lý và điều kiện dân

số trong sự phát triển của xã hội

Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội bao gồm tồn bộ

những quan điểm tư tưởng lý luận cùng những tình cảm, tâm trạng, mongmuốn, truyền thống … phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triểnlịch sử xã hội nhất định

Trang 2

Căn cứ vào trình độ nhận thức, có thể phân ý thức xã hội thành ý thức xãhội thông thường và ý thức lý luận (ý thức lý luận làm gia tăng yếu tố khoa học,trí tuệ của ý thức thông thường) Nói cách khác, ý thức xã hội biểu hiện quatâm lý xã hội và hệ tư tưởng.

Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vậtchất khác nhau, những lợi ích khác nhau do địa vị xã hội của mỗi giai cấp quyđịnh nên ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, nghĩa là mỗi giai cấp đều cónhững quan điểm, tư tưởng và tâm lý riêng, không có ý thức chung cho mọi giaicấp mà chỉ có ý thức chung cho một giai cấp nhất định Hệ tư tưởng thống trịtrong mỗi thời đại là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị về kinh tế Giai cấpthống trị luôn tìm cách hạn chế ý thức của giai cấp bị trị và truyền bá ý thức củagiai cấp hình thành của xã hội

Khi nghiên cứu về ý thức xã hội, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã đặt ý thức

xã hội trong quan hệ với cơ sở vật chất, với cơ sở kinh tế để nghiên cứu và từ

đó khẳng định ý thức xã hội và tồn tại xã hội có quan hệ biện chứng với nhau Trong mối quan hệ đó tồn tại xã hội giữ vai trò quyết định đến nội dung,khuynh hướng phát triển của ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh củatồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội Ý thức xã hội do tồn tại xã hội sinh

ra, nội dung của nó là kết quả của sự phản ánh tồn tại xã hội Khi tồn tại xã hộitác động đến nhận thức của chủ thể thì hình thành những quan điểm, tư tưởng,nhận định và thái độ của chủ thể Sự phản ánh của ý thức xã hội bao giờ cũngxuyên qua một mắt khâu là lợi ích, trong xã hội có giai cấp đó là lợi ích của giaicấp Do đó xem xét nội dung của ý thức xã hội phải gắn chặt chẽ với quan hệlợi ích Mặt khác, ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nhưng không phảibất cứ tư tưởng nào, một hình thức ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng vàtrực tiếp các quan hệ kinh tế của thời đại mà nó có thể là phản ánh trực tiếphoặc gián tiếp qua khâu trung gian, nhưng xét đến cùng bằng cách này haycách khác nó vẫn phản ánh các quan hệ kinh tế của thời đại Tính quyết địnhcủa tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội còn thể hiện khi tồn tại xã hội - nhất làphương thức sản xuất - biến đổi thì ý thức xã hội (những tư tưởng và lý luận xãhội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa,nghệ thuật …) sớm muộn sẽ biến đổi theo Thực tiễn lịch sử đã chứng minhcác thời đại khác nhau có những tư tưởng khác nhau đều bắt nguồn từ sự khácnhau của cơ sở kinh tế và sự thay đổi, phát triển của ý thức xã hội trước hết làxuất phát từ sự thay đổi và phát triển của phương thức sản xuất

Khi khẳng định vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội,chủ nghĩa duy vật lịch sử không xem ý thức xã hội như là một yếu tố thụ độngtrái lại còn nhấn mạnh tác động tích cực, sáng tạo của ý thức xã hội đối với đờisống kinh tế xã hội, nhấn mạnh tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, nghĩa

là tuy bị tồn tại xã hội quy định nhưng ý thức xã hội lại vừa có tính quy luật,lôgíc phát triển riêng Sự thống nhất giữa chức năng phản ánh và chức năngsáng tạo tích cực của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội biểu hiện ở chổ ý thức

xã hội vừa vượt trước vừa lạc hậu so với sự phát triển của tồn tại xã hội

Sự lạc hậu của ý thức xã hội thường xảy ra khi ý thức xã hội không

phản ánh kịp thời sự vận động, phát triển của đời sống xã hội bởi vì ý thức xãhội chí là cái phản ánh được sinh ra từ tồn tại xã hội, còn tồn tại xã hội thì gắn

Trang 3

trực tiếp với hoạt động thực tiễn nên thường biến đổi nhanh hơn Sự lạc hậucủa ý thức xã hội còn thể hiện ở những tư tưởng và đặc biệt là tâm lý của xãhội của xã hội cũ còn rơi rớt lại vẫn tồn tại dai dẳng sau khi tồn tại xã hội đãthay đổi, bởi vì những tư tưởng, tâm lý một khi đã ăn sâu vào đời sống xã hội

và trở thành lối sống, nếp nghĩ phong tục, tập quán, thói quen thì nó có tính ổnđịnh tương đối và tồn tại lâu hơn, không dễ mất đi ngay Mặt khác, các giai cấplỗi thời, phản động cũng tìm cách duy trì những tư tưởng cũa nhằm phục vụ lợiích của chúng, như lối sống ăn bám, chây lười lao động, tệ nạn tham nhũng …

Lê nin nói rằng: “Một người bệnh chết đi ta có thể đem chôn cùng với căn bệnhnhưng một xã hội mất đi ta không thể đem chôn cùng những căn bệnh của nóđược mà những căn bệnh này rữa ra xâm nhập vào những con người đangsống”

Những hiện tượng ý thức lạc hậu tiêu cực không mất đi dễ dàng cho nên

sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tưtưởng xây dựng ý thức xã hội mới (cách mạng tư tưởng) đấu tranh chống lạinhững âm mưu và hành động phá hoại của những lực lượng thù địch về mặt tưtưởng, kiên trì xóa bỏ những tàn dư ý thức cũ đồng thời ra sức phát huy nhữngtruyền thống tư tưởng tốt đẹp

Khi khẳng định tính lạc hậu hơn của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội,

triết học Mác đồng thời cũng thừa nhận rằng trong những điều kiện vật chấtnhất định, tư tưởng của con người đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến

có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, phản ánh đúng quy luật vận

động và phát triển của tồn tại xã hội Từ đó nó đưa ra các dự báo tương lai mộtcách khoa học, giúp con người xác định được mục tiêu và lựa chọn những giảipháp, định hướng cho việc tổ chức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người

để đạt được mục tiêu đó Tuy nhiên khi nói tư tưởng tiên tiến có thể vượt trướctồn tại xã hội, dự kiến được quá trình khách quan của sự phát triển xã hội thìkhông có nghĩa là trong trường hợp này ý thức xã hội không còn bị tồn tại xãhội quyết định nữa Tư tưởng khoa học tiên tiến không thoát ly tồn tại xã hội màphản ánh chính xác, sâu sắc mối quan hệ tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội

Ý thức xã hội của một thời đại bao giờ cũng phản ánh đời sống vật chất

của thời đại đó, đồng thời là sự kế thừa của những giá trị tinh thần mà các thế

hệ trước đó tích lũy được Quan hệ kế thừa nói lên sự phát triển liên tục về tưduy giữa các thế hệ, tuy nhiên nó không phải là việc sử dụng kế thừa máy móc

mà trên cơ sở “lọc bỏ” Kế thừa và lọc bỏ là biện chứng của sự phát triển của ýthức xã hội, nội dung kế thừa hoặc lọc bỏ xuất phát từ quan hệ về lợi ích vànhu cầu của giai cấp chi phối Những giai cấp khác nhau kế thừa những nộidung ý thức khác nhau của các thời đại trước Vì vậy, khi tiến hành cuộc đấutranh giai cấp trên lĩnh vực ý thức thì không những phải vạch ra tính chất phảnkhoa học, phản tiến bộ của những trào lưu tư tưởng phản động trong điều kiệnhiện tại mà còn phải chỉ ra những nguồn gốc lý luận của chúng trong lịch sử vàphải kế thừa, phát huy những giá trị tinh thần tiến bộ của dân tộc và nhân loại.Tuy nhiên, xét đến cùng thì tồn tại xã hội vẫn quyết định nội dung và khuynhhướng của sự kế thừa

Trong quá trình phản ánh hiện thực, mỗi hình thái ý thức xã hội đều phảnánh tồn tại xã hội với những đặc trưng riêng và giữ chức năng xã hội khác

Trang 4

nhau, không thể thay thế cho nhau nhưng lại tồn tại trong sự liên hệ tác độngxâm nhập vào nhau, làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những mặt, nhữngtính chất bị ảnh hưởng bởi hình thái khác Trong sự ảnh hưởng, tác động lẫnnhau đó thì tuỳ điều kiện cụ thể mà một hình thái nào đó có ảnh hưởng lớn hơnnhưng ở xã hội hiện đại thì ý thức chính trị có ảnh hưởng to lớn nhất Do đótrong quá trình xây dựng ý thức xã hội mới phải phát triển hài hòa và đồng bộtất cả các hình thái ý thức xã hội tránh mâu thuẩn đối lập nhau

Ý thức xã hội là do tồn tại xã hội quyết định nhưng lại tác động trở lại tồntại xã hội Sự tác động này vừa thể hiện tính độc lập tương đối của ý thức xãhội vừa nói lên vai trò của ý thức xã hội Sự tác động ý thức xã hội đối với tồntại xã hội diễn ra hai khuynh hướng khác nhau Những tư tưởng khoa học vàtiến bộ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển; ngược lại những tư tưởng lạc hậu,phản động thì cản trở sự phát triển của xã hội Tính chất và hiệu quả tác độngtrở lại của ý thức xã hội phụ thuộc vào các yếu tố : vai trò lịch sử của giai cấpchủ thể của tư tưởng, trình độ phù hợp của ý thức đối với hiện thực và mức độtruyền bá và xâm nhập của tư tưởng cả bề rộng lẫn bề sâu trong quần chúngnhân dân Sự tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội không phải làtrực tiếp biến đổi tồn tại xã hội mà nó tác động thông qua hoạt động của conngười ở chỗ ý thức xã hội vạch ra nội dung vận động và phát triển của tồn tại

xã hội, từ đó xác định đúng đắn các mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tối ưuđồng thời hướng dẫn hoạt động cải tạo

Tóm lại, trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xãhội và Ý thức xã hội, ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận là khi xem xét, giảiquyết các hiện tượng thuộc ý thức xã hội trước hết phải xuất phát từ cơ sở vậtchất, cơ sở kinh tế đã sinh ra nó, đồng thời phải xem xét tính độc lập tương đối

Từ đó khẳng định được vai trò động lực của những tư tưởng khoa học, tiến bộ

Từ cơ sở lý luận trên, trong công cuộc cải cách đổi mới và xây dựng chủ

nghĩa xã hội ở nước ta, Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “Tăng trưởng kinh tế đi lên gắn liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường xã hội”

Đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội này của Đảng xuất phát từnhận thức rõ vai trò quyết định của kinh tế đối với ý thức xã hội Trên conđường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định phát triển kinh tếbằng con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm Để thựchiện được nhiệm vụ này và bảo đảm sự phát triển toàn diện của xã hội thì điđôi với tăng trưởng kinh tế phải phát triển văn hóa và giáo dục nhằm phát huymọi nguồn lực tinh thần của người Việt Nam

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW tại Đại hội VII chỉ rõ : phải kếthợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, giữa đờisống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân, coi phát triển kinh tế là cơ sở

và tiền đề để thực hiện tốt chính sách xã hội, là động lực thúc đẩy phát triểnkinh tế Như vậy, với vai trò là nguồn gốc sản sinh ra ý thức xã hội, nền kinh tếphát triển mạnh tạo điều kiện và là tiền đề cho việc lành mạnh hóa các QHSX,bảo vệ truyền thống tốt đẹp của từng gia đình và của cả dân tộc

Trang 5

Đại hội IX của Đảng cũng đã khẳng định con đường đi lên CNXH ở nước

ta là “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựngnền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩaMác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thầncủa nhân dân” Nó vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội.Trong giai đoạn quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, những tàn dưcủa tư tưởng cũ vẫn còn, mặt tích cực và tiêu cực trong tình hình tư tưởngtrong Đảng và trong nhân dân hiện nay vẫn còn đan xen nhau, trong đó mặttích cực là cơ bản, đã và đang quyết định chiều hướng phát triển của xã hội, lànguyên tố quan trọng tạo nên thắng lợi của cuộc đổi mới đất nước Tính tíchcực năng động sáng tạo của các tầng lớp nhân dân ngày càng rõ trên các lĩnhvực xã hội, được phát huy tinh thần đoàn kết tương thân tương ái lòng yêunước ý thức tự hào tự tôn dân tộc truyền thống cách mạng và lịch sử bản sắcdân tộc được tiếp tục giữ gìn và phát huy Tuy nhiên, Hiện nay nhiều vấn đề xãhội còn phức tạp, một mặt nền kinh tế thị trường vừa tạo ra những yếu tố tíchcực để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhưng mặt khác nó lại vừa tạo ranhững yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội đặc biệt là

về tư tưởng đạo đức và lối sống Trong đó những hạn chế mơ hồ về tư tưởng,nhận thức và tình trạng suy thoái về đạo đức lối sống cũng khá phổ biến Sựsuy thoái về nhận thức, tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong một bộphận không nhỏ cán bộ - Đảng viên chưa được ngăn chặn hình thức phai nhạt

lý tưởng cách mạng sa sút phẩm chất đạo đức tệ quan liêu tham nhũng lãngphí chủ nghĩa cá nhân tư tưởng cơ hội thực dụng có chiều hướng phát triển.Những mặt tiêu cực là nguy cơ tiềm ẩn liên quan sự mất còn của Đảng, củachế độ

Từ tình hình đó, Đảng ta chủ trương toàn Đảng phải nghiêm túc học tậpchủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng bồi dưỡng nâng caotính chất đạo đức cách mạng và mục tiêu của cuộc cách mạng trên lĩnh vực tưtưởng cần đạt được là xây dựng nền văn hóa mới và con người mới XHCN Đểthực hiện hai nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay là : nhiệm vụ trọng tâm về tưtưởng là làm cho chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng HCM giữ vai trò chủ đạotrong đời sống tinh thần của xã hội Còn nhiệm vụ cấp bách về văn hóa là xây

dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc : “Hướng mọi hoạt động văn hóa vào việc xây dựng con người VN phát triển toàn diện về chính trị,

tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, trọng tình nghĩa, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong giáo dục, cộng đồng và xã hội” và nêu cao tinh thần

trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên cólối sống văn hóa làm cho gia đình thật sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào

lành mạnh của xã hội Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; ngăn chặn việc phục hồi các thủ tục, khắc phục tình trạng mê tín đang có xu hướng lan rộng trong xã hội “(VK 9 trang 114-116).

Mặt khác, trong công cuộc tiến hành cách mạng tư tưởng văn hóa, xây dựngcon người mới và nền văn hóa mới, ta phải biết chọn lọc, tiếp thu, kế thừanhững thành quả văn minh, những di sản quý giá do loài người tạo ra bao thế

hệ những thành tựu văn hóa, khoa học hiện đại đồng thời cũng kiên quyết

Trang 6

chống chủ nghĩa hư vơ và khuynh hướng siêu giai cấp trong việc kế thừa disản để lại

Việc tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến việc gia tăng hiệu quả kinh tế Hiệuquả kinh tế gắn liền với hiệu quả xã hội Việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế tạo

cơ hội cho mọi tầng lớp nhân dân tự do làm ăn theo pháp luật sẽ là một tiến bộ

về mặt xã hội, là thực hiện dân chủ hĩa trong lĩnh vực kinh tế, từ đĩ giải quyếttốt hơn việc làm thu nhập và đời sống tạo tiền đề vật chất cho việc xử lý cácvấn đề xã hội Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế tự nĩ khơng thể giải quyết đượctất cả các vấn đề xã hội trong đĩ cĩ sự phân hĩa giàu nghèo là khơng tránhkhỏi Do đĩ, trong đường lối phát triển kinh tế xã hội, một mặt Đảng và Nhànước ta chủ trương bảo vệ và khuyến khích cơng dân làm giàu hợp pháp, đượchưởng thụ văn hĩa, giáo dục đào tạo, chăm lo y tế, được hưởng thụ xứng đángvới cơng sức, tiền của bỏ vào sản xuất, chống tư tưởng bình quân, ỷ lại, đãingộ xứng đáng tài năng; một mặt Đảng và Nhà nước phải chăm lo việc thựchiện phân phối cơng bằng theo lao động, mở rộng phúc lợi xã hội, đổi mới tốtchính sách bảo hiểm xã hội, bảo vệ sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân,bảo đảm nhu cầu thuốc chữa bệnh Thực hiện tốt chính sách đền ơn đápnghĩa, xĩa đĩi giảm nghèo, tạo phong trào đồn kết giúp đỡ trong nhân dântheo truyền thống “lá lành đùm lá rách” tương thân tương ái đùm bọc lẫn nhau.Đẩy mạnh hơn nữa chống tham nhũng, bất cơng xã hội nghiêm trọng hiện nay.Cải cách chế độ tiền lương để người lao động hăng hái làm việc đủ sống vànâng cao mức sống, mức đĩng gĩp cho xã hội

Ngược lại chính việc giải quyết tốt những vấn đề xã hội là điều kiện quyếtđịnh để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chúng ta khơng thể sớm cĩ ngay một xãhội tốt đẹp trong khi kinh tế nước ta cịn kém phát triển, năng suất lao độngthấp, kinh tế kỹ thuật cịn lạc hậu nhưng ta phải kết hợp ngay từ đầu tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ xã hội

Tĩm lại, vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xãhội, Đảng đã xác định đúng đắn đường lối phát triển kinh tế gắn chặt với cơngbằng xã hội và phát triển mạnh mẽ văn hĩa giàu bản sắc dân tộc ở nước ta, đĩ

là điều kiện đảm bảo sự thành cơng và bền vững cho tiến trình đi lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta

Câu 2:

Đồng chí hãy vận dụng lý luận triết học mác xít và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta để phân tích luận điểm sau:

“Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ làxây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xãhội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóaphù hợp…”

(Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005, tr 318)

(Học viên được sử dụng tài liệu của các Nhà xuất bản trong phòng thi)

Trang 7

Bài làm:

Học thuyết Mác xít về hình thái kinh tế xã hội là nội dung cơbản của CNDVLS của triết học Mác – Lênin; nó chẳng những chỉrõ kết cấu của các xã hội cụ thể, mà còn vạch rõ những quyluật nội tại, cơ bản chi phối sự vận động phát triển của đời sốngxã hội nói chung, cũng như xã hội trong những giai đoạn lịch sử cụthể Như vậy học thuyết Mác xít về HTKT-XH là cơ sơ ûlý luận vàphương pháp luận của các khoa học xã hội, là hòn đá tảng chomọi nghiên cứu về xã hội, và do đó là 1 trong những nền tảng lýluận của CNXH khoa học Vậy, hình thái kinh tế xã hội là gì ?

Hình thái kinh tế –xã hội là một phạm trù của Chủ nghiã duyvật lịch sử , dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhấtđịnh với một kiểu Quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phùhợp với trình độ nhất định của lực lượng sản xuất (LLSX) và vớimột kiến trúc thượng tầng (KTTT) tương ứng được xây dựng trênnhững quan hệ sản xuất (QHSX) ấy

Cấu trúc của Hình thái kinh tế – Xã hội bao gồm ba yếu tố cơbản là: lực lượng sản xuất, QHSX và KTTT Ba yếu tố cơ bản nàycó quan hệ biện chứng với nhau và trở thành tiêu chuẩn kháchquan để phân biệt các xã hội cụ thể Đây là căn cứ khoa học đểxem xét bản chất cuả một chế độ xã hội và phân biệt nó vớimột chế độ xã hội khác

Sự vận động, phát triển và thay thế nhau của các Hình thái kinhtế- xã hội trong lịch sử được qui định bởi mối quan hệ biện chứnggiữa chính các yếu tố cấu thành Hình thái kinh tế –xã hội, hìnhthành nên những quy luật phổ biến của xã hội đó la:ø quy luật vềsự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX; quy luật vềmối quan hệ biện chứng giữa Cơ sở hạ tầng và KTTT; những quyluật tác động trong xã hội có đối kháng giai cấp, đặc biệt là quyluật đấu tranh giai cấp

Trước hết học thuyết hình thái kinh tế xã hội, chỉ rõ rằng :sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát phát triểncủa xã hội ;xã hội muốn tồn tại và phát triển thì phải có quátrình sản xuất và tái sản xuất, cũng như vai trò của sản xuất vậtchất trong đời sống xã hội

Để hiểu rõ hơn sự vận động và phát triển cuả hình thái kinhtế – xã hội ta xem xét mối quan hệ biện chứng giữa các quy luậttrên

Trước hết là Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độphát triển của LLSX Đây là một trong những quy luật phổ biếntrong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại LLSX và QHSX là hai mặtcủa phương thức SX Chúng có mối quan hệ biện chứng và luôntác động qua lại lẫn nhau

Mối quan hệ biệnchứng giữa lực lượng sản xuất và quanhệsản xuất chính là việc tạo nên phương thức sản xuất

Trang 8

(Trình bày các khái niệm: phương thức sản xuất; lực lượngsản xuất; quan hệ sản xuất.)

Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triểncủa LLSX thể hiện trước hết ở vai trò quyết định của LLSX đối vớiQHSX Trong một PTSX, LLSX là nội dung, QHSX là hình thức Nộidung quyết định hình thức LLSX ở trình độ nào, tính chất nào thì nóđòi hỏi tất yếu một kiểu QHSX phù hợp với nó ở trình độ đó.Sản xuất vật chất là quá trình vận động không ngừng và bao giờcũng bắt đầu từ sự thay đổi của LLSX, trước hết là công cụ laođộng Như vậy LLSX là yếu tố biến đổi trước năng động hơn, nhanhhơn, liên tục QHSX cũng biến đổi sau, có tính ổn định tương đối hơnvà do sự biến đổi của LLSX qui định Anghen khẳng định rằng : “Xétđến cùng thì mọi sự thay đổi từ chế độ chiếm hữu này sang chếđộ chiếm hữu khác, từ chế độ XH này sang chế độ XH khác đềulà kết quả tất yếu của việc tạo nên những LLSX mới.”

Mặt khác QHSX bao giờ cũng thể hiện tính độc lập tuơng đốivới LLSX, quy định mục đích của sx, tác động đến khuynh hướngphát triển của công nghệ, từ đó hình thành một hệ thống nhữngyếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của LLSX Sựtác động ấy diễn ra theo hai khả năng Trường hợp phù hợp là khiQHSX hình thành và tồn tại góp phần làm cho các yếu tố củabản thân LLSX kết hợp được với nhau một cách tốt hơn dẫn tớigiải phóng được sức sản xuất XH, những tiềm năng sức mạnh của

tư liệu sản xuất, lòng nhiệt tình hăng say sáng tạo của người laođộng kích thích, tăng trưởng KT, đời sống người lao động được cảithiện, nảy sinh nhiều nhu cầu mới phong phú đa dạng hơn Trườnghợp không phù hợp: biểu hiện ở hai khía cạnh Thứ nhất là khiQHSX đã lạc hậu rồi so với trình độ mới của LLSX lúc đó nó trởthành xiềng xích của LLSX kìm hãm sự phát triển của LLSX trên tấtcả các mặt của nó , nhưng không có nghĩa là làm cho LLSX đứngyến tại chỗ mà chỉ làm giảm khả năng phát triển của LLSX màthôi Thứ hai, khi QHSX vừa thiếu đồng bộ vừa có yếu tố “vượttrước” so với thực trạng của LLSX do chủ thể áp đặt một cách chủquan

Như vậy, trong quá trình vận động phát triển của sản xuấtvật chất của xã hội LLSX luôn luôn đòi hỏi tất yếu QHSX phảiphù hợp với nó, khi QHSX không phù hợp, mâu thuẫn ngày cànggay gắt thì, tính tất yếu kinh tế đòi hỏi phải đổi mới hoặc hoặcxoá bỏ quan hệ sản xuất cũû thay thế bằng một quan hệ sảnxuất mới phù hợp với trình độ phát triển của LLSX đảm bảo choLLSX phát triển không ngừng

CSHT là tổng hợp những QHSX tạo thành cơ cấu kinh tế củamột xã hội nhất định KTTT là khái niệm dùng để chỉ toàn bộnhững tư tưởng xã hội : Chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức,tôn giáo cùng với những thiết chế xã hội tương ứng với chúngnhư nhà nước, các đảng phái, các đoàn thể xã hội được hìnhthành, được xây dựng trên nền tảng của một CSHT nhất định

Trang 9

Trong mối quan hệ biện chứng giữa CSHT&KTTT thì CSHT với tưcách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội sản sinh KTTT tươngứng, quy định tính chất của KTTT Tính chất của CSHT như thế nàothì tính chất của KTTT như thế ấy QHSX nào giữ vị trí thống trị sẽtạo ra KTTT tương ứng Giai cấp nào thống trị xã hội về kinh tếcũng chiếm địa vị thống trị xã hội về chính trị Tất cả những yếutố của KTTT đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào CSHT, doCSHT quyết định Nếu CSHT thay đổi thì KTTT sớm hay muộn cũngsẽ diễn ra Sự thay đổi đó không chỉ diễn ra từ xã hội này sangxã hội khác mang tính cách mạng, mà còn diễn ra ngay trong mộtxã hội Sự thay đổi của CSHT dẫn đến sự thay đổi của KTTT làquá trình diễn ra hết sức phức tạp Có những yếu tố của KTTT cũcòn tồn tại day dẵng sau khi CSHT sinh ra nó đã bị diệt vong; cónhững yếu tố của KTTT cũ được giai cấp thống trị mới duy trì, kếthừa,bổ sung để xây dựng KTTT mới Sự biến đổi đó xét đếncùng là do sự phát triển của LLSX quy định Song sự phát triển củaLLSX chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của CSHT và tác động đếnsự biến đổi của KTTT thông qua CSHT sinh ra nó.

Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định củaCSHT đối với KTTT, song cũng chỉ rõ KTTT cũng có tính độc lậptương đối Sự phụ thuộc của chúng vào CSHT thường không trựctiếp và không giản đơn KTTT không phải là sản phẩm thụ độngcủa CSHT mà chúng có khả năng tác động trở lại rất mạnh mẽđối với cơ cấu kinh tế của xã hội thông qua nhà nước, là thiếtchế quan trọng nhất của KTTT Thể hiện ở chức năng cơ bản làxây dựng, bảo vệ và phát triển CSHT hiện tồn tại, chống lạinhững nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại Sự tác động trở lại củaKTTT đến CSHT có thể diễn ra theo hai khuynh hướng, một là phùhợp với yêu cầu của LLSX, thúc đẩy KTế phát triển ngược lại nósẽ kìm hảm sự phát triển của đời sống KT Do đó trong xây dựngchủ nghĩa xã hội chúng ta tránh hai khuynh hướng sai lầm: Một làtuyệt đối hoá vai trò cuả yếu tố kinh tế, coi nhẹ vai trò cuả yếutố chính trị, tư tưởng, pháp lý sai lầm này sẽ dễ dẫn đến lậptrường tư tưởng không vững vàng, và nguy cơ chệch hướng XHCN…;hai là tuyrệt đối hoá vai trò cuả yếu tố chính trị, tư tưởng, pháp lý,xem trường vai trò phát triển kinh tế, sai lầm này dẫn đến kìm hãmsự phát triển cuả LLSX

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cả cơ sở hạ tầng và KTTT đềuchưa thể có đầy đủ những đặc trưng cuả CNXH Vì vậy cuộc đấu tranh giữa cái mớivà cái cũ diễn ra hết sức gay go và quyết liệt Nhưng CNXH nhất định phải chiếnthắng, vì theo quy luật khách quan hình thái kinh tế – xã hội sau bao giờ cũng tiếnbộ hơn và sẽ thay thế hình thái kinh tế – xã hội trước đó

Ngoài ra chúng ta thấy đấu tranh giai cấp được xem như là một động lực pháttriển cuả xã hội có giai cấp Theo Lênin : “Đấu tranh GC là đấu tranh của một bộphận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu trang của quần chúng bị tướchết quyền, bị áp bức và lao động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và

Trang 10

bọn ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay người vô sảnchống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”.

Như vậy, đấu tranh giai cấp có vai trò rất quan trọng trong tiếntrình phát triển lịch sử nhân loại Triết học macxít chỉ rõ đấu tranh

GC là một trong những động lực phát triển quan trọng của XH có

GC Khi nghiên cứu phép biện chứng duy vật, nghiên cứu quy luậtđấu tranh của các mặt đối lập ta thấy rằng mâu thuẫn nói chungchính là nguồn gốc của sự phát triển Nói như vậy có nghĩa là sựphát triển đó nằm ngay trong Phương thức sản xuất Với việc giảiquyết mâu thuẩn giữa LLSX & quan hệ sản xuất, mâu thuẩn nàyvề mặt xã hội chính là mâu thuẩn giai cấp Đó là, giữa một bênlà giai cấp cách mạng tiến bộ, đại diện cho LLSX đang phát triểnvới một bên là giai cấp thống trị phản động lạc hậu, đại diện choQHSX đang kìm hảm sự phát triển của LLSX đấu tranh với nhau Với

ý nghĩa đó thì đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy XH pháttriển – là phương thức giải quyết mâu thuẩn giữa LLSX và QHSX.Tuy nhiên động lực đấu tranh giai cấp được phát huy như thế nào ởmổi giai đoạn lịch sử phụ thuộc vào tính chất tiến bộ, tính chấtrộng rãi cuả mổi cuộc đấu tranh giai cấp Ngày nay cuộc đấu tranhgiai cấp công nhân chống gia cấp tư sản là cuộc đấu tranh giai cấpcuối cùng trong lịch sử nhằm giải phóng toàn bộ xã hội khỏi ápbức bốc lột, khỏi sự phấn chia giai cấp và đấu tranh giai cấp Tínhchất cách mạng triệt để ấy cũng nói lên đó là quá trình đấutranh lâu dài, phức tạp…nhưng là quy luật tất yếu cuả lịch sử vàMác cho rằng cuộc đấu tranh này có ý nghĩa là “ đòn bẩy vĩ đạicuả lịch sử”

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, đấu tranh giai cấp ngàycàng phức tạp phong phú diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị,kinh tế, xã hội, văn hó tư tưởng Do đó đấu tranh để xác lập trậttự xã hội mới – XHCN là rất phức tạp Kinh nghiệm cuả Liên xôcũ và các nước XHCN ở đông âu trước đây và nhất là trongđiều kiện khủng hoảng cho thấy, giai cấp vô sản các nước cầnđề phòng sai sai lầm: một là chủ quan duy ý trí, coi nhẹ quy luật kinhtế khách quan, tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp trên cơ sở nhấnmạnh một hình thức nào đó; hai cơ hội hữu khuynh, mơ hồ về đấutranh giai cấp, mất cảnh giác trước âm mưu diễn biến hoà bình cuảcác thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội

Qua phân tích các quy luật trên ta thấy, khi LLSX phát triểnđòi hỏi QHSX phải thay đổi để phù hợp với trình độ mới cuả LLSX,tức là mâu thuẩn giữa QHSX và LLSX được giải quyết đồng thờicùng với sự thay đổi cuả QHSX thì kiến trúc thượng tầng mới đượchình thành phù hợp với QHSX hiện có Quá trình phát triển và thayđổi liên tục cuả các yếu tố` sẽ hình thành những hình thái kinh tế– xã hội khác nhau, hình thái sau có trình độ tiến bộ, cao hơn hìnhthái kinh tế – xã hội trước

Như vậy, sự vận động và phat triển của xã hội là do nhữngquy luật khách quan qui định, hay “sự phát triển của các hình thái

Trang 11

kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử-tự nhiên” Nghĩa là cáchình thái kinh tế - xã hội phát triển từ thấp đến cao theo một quátrình lịch sữ – tự nhiên, mà suy cho cùng nguồn gốc cuả nó là dosự phát triển cuả LLSX.

Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịchsử tự nhiên

Thực tế cho chúng ta thấy, lịch sử xã hội loài người vận độngphát triển liên tục không ngừng từ thấp đến cao và sẽ trải qua 5hình thái kinh tế – xã hội kế tiếp nhau Đó là các hình thái kinh tế– xã hội: Công sản nguyên thuỷ; Chiếm hữu nô lệ; Phong kiến;

Tư bản chủ nghĩa; cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNXH.Qúa trình này không phụ thuộc vào ý thức yếu tố chủ quan cuảbất cứ cá nhân hay lực lượng sản xuất nào, mà nó tuân theo cácquy luật kinh tế khách quan vốn có cuả đời sống xã hội, màtrước hết và cơ bản là quy luật QHSX phù hợp với trình độ pháttriển cuả LLSX Tuy nhiên, trong những điều kiện đặc biệt khi cóđiều kiện khách quan, chủ quan ở thời đại cho phép, thì một quốcgia nào đó có thể diễn ra sự phát triển đặc thù Tức là bỏ quamột giai đoạn nào đó trong tiến trình lịch sử để bước vào một giaiđoạn cao hơn mà không nhất thiết phải từng tự qua năm hình tháikinh tế – xã hội, nhưng vẫn đãm bảo từ thấp đến cao tuân theocác quy luật đặc thù cuả xã hội

Lịch sử nhân loại đã chứng minh, hàng loạt quốc gia trên thế donhững điều kiện thuận lợi nhất định, đã bỏ qua một vài hình tháikinh tế – xã hội nào đó để vượt lên một hình thái kinh tế – xã hộicao hơn Mác gọi đây là khả năng ‘rút ngắn”, là quá trình lịch sửđặc thù Quy luật kế thừa của lịch sử loài người luôn cho phépcộng đồng nào đó, trong những điều kiện nhất định, do tác độngcủa nhân tố bên trong và bên ngoài có thể bỏ qua giai đoạn pháttriển nhất định để vươn tới trình độ tiên tiến của nhân loại Lịch sửđã chứng minh , sự giao lưu, hợp tác với các trung tâm phát triển caovề sản xuất vật chất kỹ thuật, văn hoá, chính trị cho phép mộtsố nước kém phát triển hơn ‘đi tắt” Tuy nhiên, nếu “rút ngắn” mộtcách nóng vội, bất chấp quy luật khách quan sẽ rơi vào “bệnh”chủ quan , duy ý chí

Học thuyết hình thái kinh tế – xã hôị là cơ sở lý luận đểchúng ta nghiên cứu mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam Nhậnthức và vận dụng đúng nguyên tắc này giúp ta tăng cường hệthống chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ của nhândân, củng cố và hoàn thiện Nhà nước kiểu mới thích ứng vớisự ptriển đa dạng các thành phần kinh tế định hướng đi lên XHCN,tạo điều kiện giải phóng sức lao động, đẩy nhanh sự phát triểncủa LLSX, sản xuất kết hợp với tăng cường dân chủ nhân dândưới sự lãnh đạo của Đảng Mô hình mà chúng ta xây dựng kếthợp đồng thời kiến trúc thượng tầng lẫn cơ sở hạ tầng mới, phùhợp với đặc điểm riêng có và những điều kiện đặc thù của ViệtNam Hiện nay, nước ta đang quá độ lên CNXH trong hoàn cảnhquốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, cuộc cách mạng khoa học

Trang 12

công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ, vấn đề quốc tế hóa, toàn cầuhóa có ảnh hưởng không nhỏ đến công cuộc xây dựng, pháttriển kinh tế và hội nhập quốc tế của nước ta Tuy là một quốcgia chưa qua giai đoạn phát triển TBCN, song với những điều kiện lịchsử trong nước và quốc tế hiện tại việc qúa độ lên CNXH bỏ quagiai đoạn phát triển TBCN hoàn toàn có thế thực hiện được Điềuđó, hoàn toàn phù hợp với quy luật lịch sử - tự nhiên của họcthuyết Mác về sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế –xã hội.

Nếu quay ngược lại dòng thời gian chúng ta sẽ nhìn thấy sự sụpđổ của hệ thống các nước XHCN ở Đông Aâu và Liên Xô trướcđây, chủ yếu là do trong công cuộc cải tạo và xây dựng đất nướcđã mắc phải một số sai lầm về chủ quan, không vận dụng đúngcác quy luật khách quan về hình thái kinh tế – xã hội cụ thể là :tuyệt đối hoá trong nhận thức, vận dụng và điều chỉnh cơ chếkhông phù hợp với sự vận động và biến đổi của thế giới Tronglĩnh vực kinh tế, duy trì quá lâu tình trạng sản xuất nhỏ, xây dựngQHSX mới không phù hợp với trình độ của LLSX dẫn đến kìm hảmsự phát triển kinh tế, gây khủng hoảng kinh tế dẫn đến hệ thốngXHCN trên thế giới phải lâm vào tình trạng thoái trào Đó là cáigiá đắt mà những người cộng sản đã phải trả, và cũng là bàihọc xương máu mà Đảng cộng sản Việt Nam đã rút ra để tiếnhành hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới từ đại hội lầnĐảng thứ VI đến nay

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cuả nước ta đã trải quanhiều giai đoạn thăng trầm, đầy khó khăn thậm chí đã rơi vào giaiđoạn khủng hoảng trầm trọng về kinh tế do việc vận dụng chưađúng các quy luật khách quan, nhất là về phạm trù hình thái kinhtế – xã hội

Thật vậy, trước thời kỳ đổi mới quan điểm con đường đi lênCNXH cuả nước ta là quá độ thẳng trực tiếp từ sản xuất nhỏ lênCNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN Tức là không có trung gian,không chấp nhận kinh tế hàng hoá, phủ nhận kinh tế thị trường,bỏ qua kinh tế nhiều thành phần, phủ nhận những bước đi màCNTB khi chiến thắng chế độ phong kiến đã từng thực hiện, trong khiđó LLSX chúng ta còn yếu kém, lạc hậu… Kết quả trong thời giandài đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế, xã hội trầmtrọng Bài học kinh nghiệm xương máu ấy đã được Đảng ta đánhgiá trong đại hội VII một trong những sai lầm là bệnh chủ quan duy

ý chí, vi phạm quy luật khách quan và đã phân tích những biểu hiệncụ thể cuả căn bệnh trong một số lĩnh vực : Nóng vội trong cải tạoXHCN, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần ; có lúc đẩymạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp năng; duy trì quá lâu cơchế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp; có nhiều chủ trương saitrong việc cải cách giá cả tiền lương; công tác tư tưởng và tổchức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng

Nguyên nhân cơ bản mà Đảng ta đã chỉ ra đó là về mặtnhận thức, sự yếu kém lạc hậu về tư duy lý luận dẫn đến việc

Trang 13

nhận thức và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳquá độ, từ đó cho ra đời những chủ trương chính sách thiếu căncứ khoa học, xa rời với thực tế Sai lầm về chủ quan duy ý chí.

Những sai phạm nêu trên đã đưa XH Việt Nam rơi vào khủnghoảng Thực tế, người lao động không còn động lực trực tiếp về lợiích để phấn đấu, không phát huy, tạo môi trường thuận lợi để khaithác hết tiềm năng, thế mạnh của các thành phần kinh tế nênsức sản xuất vật chất bị đình trệ, kìm hảm làm cho đời sống nhândân cực kỳ khó khăn, xã hội rối ren, phức tạp, người dân mấtniềm tin nơi nhà nước Nhìn nhận vấn đề trên, có thể kết luậnchủ yếu do khả năng yếu kém trong nhận thức thực tiển, yếu kémtrong nghiên cứu CN Mác – Lênin nên mô hình XD CNXH đã bịchệch hướng so với mô hình được Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minhxây dựng

Từ đại hội Đảng lần thứ VI đến nay đảng ta thực hiện đườnglới đổi mới đất nước, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội cũngđược đổi mới và xác định ngày càng rõ nét và đúng đắn phùvới quá trình lịch sử-tự nhiên đặc thù cuả nước ta Đại hội VIII cuảĐảng ta chỉ ra rằng “ Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càngxác định rõ hơn” đến đại hội đảng lần thứ IX cuả Đảng thì chorằng “ Chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lên

CNXH ở nước ta”, và khẳng định “ con đường đi lên cuả nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị cuả quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghiã…” Như vậy, chúng ta

không bỏ qua những thành tựu về khoa học công nghệ và cơ sởvật chất, tiếp tục chọn lọc kế thừa và điều chỉnh để phát triểnthành quả đó ngày càng tốt hơn; không được bỏ qua kinh tế hànghoá thị trường, không được bỏ qua những thành tựu kinh nghiệmmà chủ nghĩa tư bản đạt được; đặc biệt không để mất vai trò lãnhđạo cuả đảng cộng sản và vai trò quản lý điều hành cuả nhànước vô sản đại hội IX cuả Đảng còn nêu rõ những nội dung,nhiệm vụ cụ thể mà con đường đi lên CNXH ở nước ta phải thựchiện đó là :Phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiềuchặn đường, tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH; Phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN; Tiếp tục thực hiện đường lối kinh tế đốingoại mở cửa Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tựchủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện thắng lợinội dung, nhiệm vụ đấu tranh giai cấp trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng XHCN; đảm bảo tuyệt đối sự lãnh đạo cuảđảng cộng sản, xem đó là nhân tố quyết định giữ vững địnhhướng XHCN; phát triển lực lượng sản xuất, phải gắn với việcđồng thời xây dựng và hoàn thiện cả quan hệ sản xuất và kiếntrúc thượng tầng theo định hướng XHCN; Tăng trưởng kinh tế phảigắn kiền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, phát triểnvăn hoá giáo dục, đào tạo con người, xây dựng và phát triểnnguồn nhân lực, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậmđà bản sắc dân tộc; Kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với

Trang 14

quốc phòng an ninh và phải đảm bảo cho được kinh tế nhà nướcgiữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể trở thành nền tảngkinh tế quốc dân…

Có như vậy chúng ta mới có thể tạo ra sự biến đổi về chấtcủa XH, trên tất cả các lĩnh vực dù biết rằng đó là một sựnghiệp rất khó khăn phức tạp trải qua một thời kỳ quá độ lâudài với nhiều chặn đường để thực hiện bằng được mục tiêu cuốicùng là ước nguyện của cả dân tộc : xây dựng thành công CNXHtheo mô hình đã được xác định trong Cương lĩnh Đảng lần thứ VII Đólà một xã hội “Do nhân dân dân lao động làm chủ; Có một nềnkinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chếđộ công hữu về các TLSX chủ yếu; Có nền văn hoá tiên tiến,đậm đà bản sắc dân tộc; Con người được giải phóng khỏi ápbức bốc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động Cócuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; có điều kiện phát triển toàndiện cá nhân Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết vàgiúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác vớinhân dân tất cả các nước trên thế giới” Cương lĩnh ấy đại hội IXĐảng xác định mục tiêu chung cụ thể trước mắt cần đạt tới cuảthời kỳ quá độ là “ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh…mộtnước XHCN phồn vinh, nhân dân hạnh phúc” và chỉ rõ “ Đến năm

2020 cơ bản đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theohướng hiện đại”

Qua tổng kết thực tiển phong phú với không ít những thànhcông rực rỡ và những mặt còn hạn chế trong những năm qua Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã đề ra chủ trương:”XD CNXH bỏ qua chế độ TBN tạo ra sự biến đổi về chất của XH,trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp, chonên phải trãi qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặngđường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế XH có tính chất quáđộ”(VKIX-T85) là hoàn toàn đúng với quy luật khách quan và theođường lối đó chúng ta hoàn toàn có khả năng để thực hiệnthành công CNXH bơỉ vì:

Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xãhội trên phạm vi toàn thế giới và theo quy luật tiến hoá cuả lịchsử : loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội

Thế kỷ 21 là thế kỷ khoa học và công nghệ có bước pháttriển nhảy vọt, kinh tế trí thức ngày càng có vai trò nổi bật trongsự ảnh hưởng đến quá trình phát triển cuả lực lượng sản xuất cuảcác quốc gia; toàn cầu hoá kinh tế đang là một xu thế khách quanlôi cuốn ngày càng nhiều các nước tham gia, trong đó có nước ta;

cơ sở vật chất kỹ thuật nước ta ngày càng được tăng cường, kếtcấu hạ tầng kinh tế, xã hội phát triển nhanh, tích luỹ nội bộ kinhtế tăng trưởng qua từng năm và cơ cấu kinh tế nước ta có bướcchuyển biến tích cực theo hướng hiện đại, vấn đề lương thực cơ bảnđã được giải quyết và đã có xuất khẩu cao, nhiều năm liền

Trang 15

chúng ta là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới; đất nước cònnhiều tiềm năng to lớn về tài nguyên và lao động.

Tình hình chính trị- xã hội ổn định, quốc phòng an ninh đượctăng cường; đặc biệt giữ vững được sự lãnh đạo cuả Đảng, đảngluôn thể hiện chính trị vững vàng và có đường lối lãnh đạo đúngđắn; Nhà nước đã có nhiều cố gắng lớn trong việc điều hànhquản lý; quan hệ đối ngoại luôn được mỡ rộng hội nhập kinh tếquốc tế được chủ động và đạt hiệu quả tốt Nhờ vậy chúng tatranh thủ được ngoại lực, nguồn vốn công nghệ, kinh nghiệm quảnlý , mỡ rộng thị trường để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoáhiện đại hoá

Mặt khác nhân dân ta có phẩm chất tốt Toàn dân, toànquân ta tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo cuả Đảng; phát huyđược lòng yêu nước và tinh thần dũng cãm, đoàn kết nhất trí, cầncù năng động sáng tạo, tiếp tục thực hiện đổi mới, ra sức xâydựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xa õhội chủ nghiã

Với kết quả đạt được qua gần 20 năm đổi mới và nhữngtiền đề khách quan chủ quan như trên, dưới sự lãnh đạo tài tìnhcuả Đảng cộng sản Việt Nam, con đường đi lên chủ nghiã xã hội

ở nước ta nhất định sẽ thành công như mong đợi./

Trang 16

DÀN BÀI (Nội dung cần trình bày)

III – Trình bày biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất

1- Khái niệm: -Phương thức sản xuất

- Lực lượng sản xuất:

+ Con người

+ Tư liệu sản xuất

_Quan hệ sản xuất

2- Nội dung quy luật:Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triền của lực lượng sản xuất

A –Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối vớiquan hệ sản xuất

B -Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lựclượng sản xuất

-Lưu ý: Trình bày tóm tắt nội dung quy luật, không cầntrình bày chi tiết

3 –Sự vận dụng của Đảng ta về quy luật: QHSX phù hợp vớitrình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

A -Giai đoạn trước Đại hội VI

- Về LLSX

- Về QHSX

B –Giai đoạn từ Đại hội VI đến nay

C – Phân tích đoạn trích trong Văn kiện :” Xây dựng CNXH bỏ qua chếđộ ……xã hội có tính chất quá độ”

IV - Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

1 – Khái niệm:

2- Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiếntrúc hạ tầng

Trang 17

- Lưu ý: Trình bày tóm tắt mối quan hệ biện chứng giữa cơsở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Nếu có thể đưathêm nội dung đấu tranh giai cấp vào.

V- Sự phát triển cũa các hình thái kinh – xã hội là quá trìnhlịch sử tự nhiên

VI – Vấn đề bỏ qua chế độTBCN lên CNXH ở nước ta hiệnnay

-Điều kiện khách quan

- Điều kiện chủ quan

- Kết luận:

Câu 5:

Đồng chí hãy vận dụng lý luận triết học mácxít về con người để phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của nhân tố con người và phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Bài làm

Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển KT của đất nuớc tahiện nay, con người đóng một vai trò quan trọng đó là cơ sở quyếtđịnh sự thành bại của công cuộc XD CNXH trên đất nuớc ta Đểkhẳng định tầm quan trọng đó trong văn kiện đại hội Đảng lần thứVII ghi rõ: “Sự nghiệp phát triển KT đặt con người vào vị trí trungtâm thống nhất giữa tăng trưởng KT với công bằng và tiến bộXH”

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã tồn tại rất nhiều quanđiểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất củacon người Trước Mác vấn đề bản chất con người vẫn chưa đượcgiải đáp vấn đề một cách khoa học Không những chủ nghĩa duytâm mà cả chủ nghĩa duy vật trực quan, siêu hình cũng khôngnhận thức đúng bản chất con người Đã từng có những ý kiếncho rằng triết học Mác-Lênin nói riêng xem vấn đề con người làtrung tâm của mọi KHXH và nhân văn CN Mác_Lênin ra đời xuấtphát từ con người và mục đích cuối cùng của nó là soi sáng chosự nghiệp giải phóng chomỗi con người và cho cả loài người

Các nhà triết học trước Mác coi bản chất con người từ sựsáng tạo và chi phối của thần thánh hoặc từ ý thức trừu tượng(chủ nghĩa duy tâm tôn giáo) hoặc từ giác ngộ sinh vật thuần tuýtự nhiên không phân biệt được con người với tính tầm thường củađộng vật (chủ nghĩa duy tâm siêu hình) Ngược lại, triết học Mác coi

“trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoá cácQHSX” và bản chất đó cũng biến đổi cùng với sự phát triển của

XH Triết học Mác xem bản chất con người xuất phát từ hoạt độngcủa con người thực tiễn Vì vậy con người là một động vật có tính

XH với tất cả nội dung VH-LS của nó Vạch ra bản chất con người

Trang 18

từ QHSX nhưng triết học Mác không tuyệt đối hoá mặt XH trong conngười mà cho rằng con người là thực thể thống nhất của mặt sinhvật và mặt XH.

Mặt sinh vật là toàn bộ các quá trình sinh vật diễn ra trong

con người và cấu tạo chung của cơ thể con người Còn mặt XH làcác phẩm chất XH trong hoạt động lao động, ngôn ngữ, giao tiếp, tưduy… Mặt sinh vật và mặt XH của con người thống nhất biệnchứng với nhau trong sự vận động của bản chất con người Mặt sinhvật là tiền đề, điều kiện của mặt XH Thiếu mặt tự nhiên (sinhvật) thì mặt XH không thể tồn tại và biểu hiện ra được Song mặttự nhiên trong con người bị biến đổi, chi phối bởi mặt XH nên mangtính XH

Với quan điểm KH coi con người là một thực thể sinh vật – xãhội, triết học mác đã khắc phục được cả hai khuynh hướng sai lầmtrong vấn đề con người : hoặc là đề cao mặt tự nhiên không thấyvai trò quyết định của mặt XH hoặc là giản đơn con người , tuyệtđối hoá nguồn gốc duy tâm XH, không thấy được tiền đề tự nhiên– mặt sinh vật của con người

Quan hệ giữa cá nhân (một con người cụ thể) và XH là vấnđề có vị trí quan trọng đặc biệt trong học thuyết Mác Các tácphẩm của các nhà kinh điển Mác-Lênin đã đề cập đến vấn đềnày một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống trên cơ sở chủnghĩa duy vật lịch sử Mối quan hệ giữa cá nhân và XH là mốiquan hệ biện chứng, mang tính tất yếu khách quan, vừa là tiền đềvừa là điều kiện cho sự tồn tại và pt1 của XH và cá nhân cơ sởcủa mối quan hệ ấy là quan hệ lợi ích Cá nhân chỉ có thể tồntại trong ccác mối quan hệ XH ngược lại sự phát triển của XH đượcđánh dấu bằng sự trưởng thành của mỗi cá nhân đó thực hiện

Môi trường XH có thể tạo điều kiện cho cá nhân phát triểnhoặc có thể làm thui chột sự phát triển của con người Hoàn cảnh

XH, quan hệ XH tạo nên bản chất con người Tuy nhiên điều đókhông phải là con người thụ động trước sự tác độngcủa hoàncảnh và tiếp nhận nó một cách có ý thức Do đó con người cóthể làm chủ trước hoàn cảnh và có khả năng tác động lại hoàncảnh, cải tiến nó phù hợp hơn với nhu cầu của con người Vì thếcá nhân có vai trò thúc đẩy XH phát triển Vai trò của cá nhânảnh hưởng tới XH tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nhâncách Những cá nhân có nhân cách lớn, phẩm chất tốt, tài năngcao và con người trách nhiệm cao với XH thì có tác dụng tích cựcđến XH Ngược lại, những cá nhân bị suy thoái về nhân cách thìgây hậu quả xấu đến XH, trở thành gánh nặng cho XH

Như vậy, cá nhân vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của XH.Sự phát triển của cá nhân góp phần thúc đẩy tiến độ XH pháttriển Xã hội càng ptriển thì mỗi cá nhân lại tiếp nhận được ngàycàng nhiều những giá trị vật chất, tinh thần do XH ấy đáp ứng.Thoả mãn nhu cầu chính đáng của cá nhân là động lực liên kết

Ngày đăng: 12/02/2015, 00:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w