1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sổ tay nghiệp vụ 7

86 492 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sinh vật đơn bào 'bắt cóc' thực vật
Tác giả Noriko Okamoto, Isao Inouye
Trường học Đại học Tsukuba
Thể loại bài báo
Năm xuất bản 2005
Thành phố Tsukuba
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giờ đây, nhóm nghiên cứu sẽ tìm hiểu liệu hai loài này có trao đổi gene với nhau - bước được xem là quyết định trong sự tiến hoá của các loài tảo và thực vật bậc cao.. Phát hiện này đã đ

Trang 1

Sinh vật đơn bào 'bắt cóc' thực vật

- 16/10/2005 0h:9

Các nhà khoa học Nhật Bản đã quan sát thấy một sinh vật đơn bào (cơ thể chỉ có 1 tế bào duy nhất) đang nuốt chửng và hợp nhất với một thân thực vật còn nhỏ hơn nó để làm nguồn năng lượng dự trữ sống

Theo nhóm nghiên cứu, sinh vật này dường như đang trong quá trình

endosymbiosis - quá trình mà ở đó một sinh vật hợp nhất với sinh vật

khác, tạo ra dạng sống mới Họ tin rằng đây chính là con đường tiến hoá của nhiều loài động và thực vật hiện đại ngày nay

Phát hiện cũng củng cố thêm giả thuyết được nói tới lâu nay rằng lục lạp

- bộ phận nằm bên trong tế bào thực vật có vai trò sản xuất năng lượng từ ánh sáng mặt trời - thực tế cũng

là các sinh vật độc lập, nhưng bị đã "bắt cóc" theo cách tương tự

Cũng như vậy, nhóm nghiên cứu gồm Noriko Okamoto và Isao Inouye (Đại học Tsukuba) tin rằng các

hợp phần khác của tế bào - viên gạch tạo nên tất cả các động vật ngày nay - đều có nguồn gốc từ những

vi khuẩn bị "nhốt"

Sinh vật mới, được mệnh danh Hatena (hay Bí ẩn), là một con trùng roi, di chuyển cơ thể bằng cách đẩy

cái đuôi dài của mình Chúng có những điểm tương đồng cả với thực vật và động vật, nhưng trong một

pha phát triển của cơ thể, chúng lại tương tự như một kẻ ăn thịt Ở một giai đoạn khác, Hatena chứa một

thân tảo màu xanh, có khả năng quang hợp bên trong cơ thể Trong giai đoạn này, nó phân chia thành hai

tế bào con - một xanh lục và một không màu Tế bào con không màu phát triển một công cụ kiếm ăn, và cuối cùng sẽ nuốt chửng một tế bào tảo xanh khác

Tế bào tảo xanh, còn được gọi là vật cộng sinh, thuộc về nhóm tảo khá nổi tiếng Nephroselmis, rất phổ

biến trong tự nhiên Nó cũng có một cái roi, nhưng đánh mất roi đó khi bị tế bào không màu nuốt Đồng thời, vỏ ngoài của nó cũng bị tiêu biến, chỉ giữ nguyên phần nhân và các thành phần tế bào khác như lục lạp, ty thể

Phần màu xanh sau đó phình ra và cung cấp dưỡng chất cho kẻ ăn thịt, lúc này đã thoái hoá bộ máy kiếm

ăn phức tạp của nó

Các nhà nghiên cứu đã thu thập một vài tế bào con ăn thịt vẫn còn trong suốt, và nuôi chúng bằng một

giống tảo khác, họ hàng với tảo Nephroselmis "Mặc dù con mồi bị nuốt chửng và không bị tiêu hoá, nó cũng không trải qua sự biến đổi như đã nói ở trên, chứng tỏ sự tương tác chỉ được biệt hoá chỉ với một giống nào đó mà thôi"

Giờ đây, nhóm nghiên cứu sẽ tìm hiểu liệu hai loài này có trao đổi gene với nhau - bước được xem là quyết định trong sự tiến hoá của các loài tảo và thực vật bậc cao

http://www khoahoc\sinh vat hoc

Ở bên trái, sinh vật "Hatena" sở

hữu một thân tảo lục như một vật

cộng sinh, với một cái đuôi dính

ra ngoài màng tẼ/font>

Trang 2

Bộ gien của san hô lớn như gien người!

[02/08/2005 - Sinh học Việt Nam]

Mới đây, một nhóm chuyên gia nghiên cứu về gien thuộc trường Đại học Quốc gia Ôxtrâylia đã phát hiện ra rằng loài pôlíp, thường sống thành tập đoàn, tạo ra các dải san hô, có số lượng gien tương đương với số gien của con người

Cho đến nay các nhà khoa học Ôxtrâylia đã tìm được thêm 6000 gien ở loài san hô Acrôpôra, giúp ước đoán rằng

bộ gien của loài pôlíp tạo ra san hô có thể chứa tới khoảng 20.000 gien Các nhà khoa học cho biết mặc dù loài pôlíp có cấu trúc hết sức đơn giản, số gien của nó lại cho thấy sinh vật này hết sức phức tạp về cấu trúc sinh hóa Phát hiện này đã đảo lộn những giả định vẫn tồn tại từ lâu nay về việc các sinh vật đã tiến triển khác nhau như thế nào, đồng thời cho thấy cơ chế sinh hóa của san hô phức tạp hơn rất nhiều so với những gì mà mọi người từ trước nay vẫn nghĩ và quan điểm cho rằng hình dáng của sinh vật càng phức tạp, thì càng phải cần có thêm nhiều gien để mã hóa mức độ phức tạp của nó

http:// www.sinhhocvietnam\tin quoc teThứ bảy, 18/2/2006, 10:10 GMT+7

Phát hiện nhiều san hô và hải quì phát sáng

Đó là kết quả công trình đầu tiên ở VN nghiên cứu về sinh vật biển phát quang dưới sự kích hoạt của ánh sáng cực tím (UV) vừa được công bố Công trình do bốn nhà khoa học tại Viện Hải dương học (tại Nha Trang) cùng nghiên cứu

Theo đó, có 14 loài san hô cứng; một loài san hô mềm và hai hải quì trong số 89 mẫu sinh vật biển được thu thập trong vịnh Nha Trang

Theo các nhà nghiên cứu, việc phát hiện các loài sinh vật biển phát quang này có giá trị ứng dụng cho nhiều lĩnh vực đời sống như: với y học

sẽ giúp nghiên cứu, phát hiện các khối u, ung thư và các biến đổi bất thường trong cơ thể sống

http://www.vnexpress\khoa hoc

San hô ở vịnh Nha Trang (Tuổi Trẻ)

Trang 3

Photo © Aris Entertainment

Pineapple Coral

(Montastrea cavernosa) The Pineapple Coral is a species whose small polyps form flat, honeycomb patterns The colony as a whole forms a large dome- shaped structure The polyps are usually green or brown, but can also be found in red or orange They feed at night by extending their delicate, translucent tentacles.

Photo © IMSI

Staghorn Coral

(Oxycirrhites typus) The Staghorn Coral is a hard coral species that forms a branching structure that resembles the horns of stag deer The colonies are usually golden-brown with pale tips, but can also range from blue to pink, purple, orange, green, and yellow This coral is common throughout Caribbean region.

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page

4.htm

Trang 4

Photo © Aris Entertainment

Brain Coral

(Diploria strigosa) There are several varieties of Brain Corals found throughout the world The all get their name from the brain-like ridges that cross their surface The smooth brain coral grows in a large dome- shaped structure about 4 feet in diameter It is a common species in the Caribbean from Florida to the Bahamas.

Photo © IMSI

Torch Coral

(Caulastrea furcata) The Torch Coral is a beautifully colored species with a candy-like appearance In fact it is also known as the candycane coral The polyps are brown with yellow stripes, and their insides are neon green They are often found in small, tight clusters This coral is nocturnal It extends its delicate tentacles to feed at night.

Photo © Aris Entertainment

Star Coral

(Galaxea fascicularis) The Star Coral one of the hard coral species that contains a stone-like calcium skeleton Small, oval stubs rise from the yellowish-tan central core, each containing a delicate white star- shaped polyp The Star Coral is commonly found throughout the Caribbean and the West Indies, and usually grows to about 12 inches in height.

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page 4.htm

Trang 5

Photo © IMSI

Cup Coral

(Turbinaria reniformis) The Cup Coral is a hard coral species that grows in a variety of shapes The hard coral skeleton is covered with small bumpy growths Delicate flower-like polyps emerge when the coral is feeding This coral is usually found in colors ranging from yellow

to purple, gray, green, and brown It is found throughout the Pacific region.

Indo-Photo © Hammerhead Interactive

Sun Coral

(Tubastrea aurea) This beautiful orange and yellow hard coral prefers dark locations, and can be found lining the mouths of submarine caves and crevices They usually have a bright orange, stony base with colorful yellow polyps This coral is common throughout the reefs of the Indo-pacific region.

Photo © Aris Entertainment

Bubble Coral

(Plerogyra sinuosa) The Bubble Coral is a curious looking species It has rounded, bubble-like polyp vesicles that expand during the day These bubbles are used to collect light, which is essential for the coral's growth At night, the polyp tentacles expand for feeding The Bubble Coral is common throughout the Indo-Pacific region and Australia.

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page 4.htm

Trang 6

Photo © IMSI

Clubbed Finger Coral

(Porites porites) The Clubbed Finger Coral is a common species throughout the reefs of the Caribbean and the Gulf of Mexico The polyps have long flower-like tentacles that grow in thick clumps The colony forms long branches which are swollen on the ends These branches usually reach a length of about 12 inches.

Photo © IMSI

Flowerpot Coral

(Goniopora lobata) The Flowerpot Coral is one of the most beautiful coral species It has a hard dome-shaped base from which emerge hundreds of delicate flower-like tentacles The tentacles wave in the currents, and are green in color due to the presence zooxanthellae algae This coral is common throughout the Indo-Pacific region

Photo © Aris Entertainment

Sea Whip

(Muricea muricata) The Sea Whip is a coral species that grows in clusters of long finger or whip-like shapes They are usually pale tan or yellow in color, and are found throughout the tropical reefs of the

Caribbean and the West Indies The whips are covered with thousands of tiny anemone-like coral polyps which filter nutrients from the water.

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page 4.htm

Trang 7

Photo © Aris Entertainment

Sea Fan

(Goregonian flabellum) Sea Fans are very closely related to Sea Whips The main difference is that the sea fan takes on a more flat appearance where several offshoots intertwine to create a fan-like

appearance They are very common in the Caribbean region where they can be found in colors ranging from red to yellow and purple.

Photo © Aris Entertainment

Red Cauliflower Coral

(Dendronephthya rubeola) The soft Red Cauliflower Coral is perhaps the most beautiful of all the corals Common in the Indo-Pacific regions, this coral can

be found in large numbers all along the rocky reefs Its flowery translucent structure can range in color from bright red to deep orange This nocturnal species feeds at night and contracts into a tight ball by day.

Photo © Aris Entertainment

Sea Mat

(Zoanthus pulchellus) The Sea Mat is actually a small anemone-like soft coral polyp that grows in large colonies Each polyp is about 1/4 inch in diameter, but the colonies can reach an area of several square feet They can be found frequently covering rocks and dead coral skeletons on the reefs of the Bahamas and the West Indies

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page 4.htm

Trang 8

Photo © Aris Entertainment

Club-tipped Anemone

(Corynactis californica) The Club-tipped Anemone gets its name from the rounded growths on the end of its tentacles This small 1 inch anemone is translucent and ranges in color from red to pink, orange, purple, and brown It is commonly found near the rocky shores of the Pacific coast from Northern California to the Baja peninsula.

Photo © Aris Entertainment

Sea Whip

(Muricea muricata) The Sea Whip is a coral species that grows in clusters of long finger or whip-like shapes They are usually pale tan or yellow in color, and are found throughout the tropical reefs of the

Caribbean and the West Indies The whips are covered with thousands of tiny anemone-like coral polyps which filter nutrients from the water.

Photo © Aris Entertainment

Sea Fan

(Goregonian flabellum) Sea Fans are very closely related to Sea Whips The main difference is that the sea fan takes on a more flat appearance where several offshoots intertwine to create a fan-like

appearance They are very common in the Caribbean region where they can be found in colors ranging from red to yellow and purple.

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page 4.htm

Trang 9

Photo © Aris Entertainment

Red Cauliflower Coral

(Dendronephthya rubeola) The soft Red Cauliflower Coral is perhaps the most beautiful of all the corals Common in the Indo-Pacific regions, this coral can

be found in large numbers all along the rocky reefs Its flowery translucent structure can range in color from bright red to deep orange This nocturnal species feeds at night and contracts into a tight ball by day.

Photo © Aris Entertainment

Sea Mat

(Zoanthus pulchellus) The Sea Mat is actually a small anemone-like soft coral polyp that grows in large colonies Each polyp is about 1/4 inch in diameter, but the colonies can reach an area of several square feet They can be found frequently covering rocks and dead coral skeletons on the reefs of the Bahamas and the West Indies

Photo © Aris Entertainment

Club-tipped Anemone

(Corynactis californica) The Club-tipped Anemone gets its name from the rounded growths on the end of its tentacles This small 1 inch anemone is translucent and ranges in color from red to pink, orange, purple, and brown It is commonly found near the rocky shores of the Pacific coast from Northern California to the Baja peninsula.

http://www Sea and Sky Corals & Anemones Page 4.htm

Trang 10

http://www.Life cycle of Taenia spp

Trang 11

http://www.Life cycle of Dipylidium caninum (cucumber tapeworm)

Trang 12

http://www.Life Cycle of Toxocara Canis.htm

Trang 13

http://www.Tapeworms

Trang 14

http://www.Whipworms

Trang 15

Coi chừng mù vì sán - 26/4/2006 8h:22

Bệnh sán lá gan lớn gần đây mới thấy xuất hiện và lan rộng

ở người, thạc sĩ Đào Hạnh Nguyên, trưởng khoa khám bệnh

chuyên ngành Viện Sốt rét - ký sinh trùng - côn trùng trung

ương, nói

Từ năm 2002 trở về trước, viện chưa từng tiếp nhận điều trị

trường hợp mắc sán lá gan lớn nào Vậy mà ba tháng đầu năm

nay đã có 60 bệnh nhân nằm điều trị nội trú, 20 giường bệnh của

viện đã quá tải Tính riêng ngày 20-4 cũng có 12 bệnh nhân nằm

Phát hiện bệnh muộn, ấu trùng sán xuyên qua niêm mạc ruột đi vào máu, điều trị khó dứt điểm, dễ để lại các di chứng như động kinh, tổn thương dây thần kinh thị giác dẫn đến mù mắt vĩnh viễn

Thực tế, thói quen rửa rau sống qua nước muối không có nhiều ý nghĩa đối với các loại rau đã nhiễm ấu trùng sán Theo bác sĩ Nguyên, tốt nhất là rửa rau thật sạch dưới vòi nước chảy mạnh và ngâm qua nước muối

http://www.khoahoc\kham phaCần rửa thật sạch các loại rau để loại

trừ ấu trùng sán lá gan (Ảnh: terebess)

Trang 16

GIUN MÓC- ANCYLOSTOMA DUODENALE

Trang 17

GIUN TÓC - TRICOCEPHALUS

Trang 18

GIUN XOAÉN – TRICHINELLA SPIRALIS

Trang 19

GIUN KIM – ENTEROBIUS VERMICULARIS

Trang 20

GIUN ĐŨA NGƯỜI – ASCARIS LUMBRICOIDES

Trang 21

GIUN CHÆ – WUCHERERIA BANCROFTI

Trang 22

v02_id297_con_hiranat_jpg.htm

Trang 23

http://www.UCSC Biology 150 Annelida-Hirudinea.htm

Trang 24

http://www.Kết quả tìm kiếm Google cho

http darwin_baruch_cuny_edu-bio1003-images-nereis_cs_jpg.htm

Trang 25

Nereis virens

http://www.anatomi1.htm

Trang 26

Thứ ba, 24/1/2006, 08:17 GMT+7

Sò hến khổng lồ trong miệng núi lửa

Các nhà khoa học Mỹ mới đây tuyên bố họ đã chứng kiến một quang cảnh chưa từng thấy: những con hàu đá dài 30 cm, sò hến khổng lồ, miệng núi lửa, tháp khoáng vật và những bọt khí CO2 tuôn ra thành cột từ dưới những núi lửa đại dương như thể người ta khui rượu sâm banh vậy.

Giám đốc nghiên cứu Alex Malahoff thuộc Phòng thí nghiệm nghiên cứu dưới biển tại Hawaii (HURL) đã mô tả những phát hiện gây bất ngờ này của nhóm trong cuộc hành trình về cội nguồn của Darwin dài 5 tháng Chuyến du khảo ấy nằm trong đợt lặn sâu khảo sát 13 núi lửa ngầm còn hoạt động từ đảo Samoa thuộc Mỹ đến New Zealand

Đề cập đến việc phân tích khối lượng lớn những dữ liệu khoa học thu thập được từ những miệng núi lửa chưa từng biết đến trong “Chuyến khảo sát vành đai lửa dưới biển Mỹ, New Zealand" - nhà khoa học và cũng là chuyên gia lặn khảo sát cừ khôi ấy nói - “Giờ đây, đối với chúng tôi như bắt đầu một nguồn vui mới Tôi xem chuyến khảo sát này là quan trọng nhất trong cả cuộc đời mình Điều đáng nói nhất là chuyến đi đã thành công tốt đẹp”

Từ các mẫu vật thu thập được, chuyên gia vi sinh học Maqsudul Alam đã nhận diện được 27 loài vi khuẩn mới gọi là extremophile, tức họ vi khuẩn sống trong những điều kiện cực kỳ khắc nghiệt như các khu vực địa nhiệt và thủy nhiệt Các công ty và các ngành công nghiệp dược rất quan tâm đến những vi sinh vật này vì tiềm năng sử dụng cho phát triển dược phẩm, mỹ phẩm và các sản phẩm mới khác Các nhà khoa học từ 6 viện nghiên cứu ở Đức, New Zealand, Hawaii đã khảo sát các miệng núi lửa (dưới đại dương) trên một tuyến dài 1.600 km từ Samoa đến New Zealand

Terry Kerby, Giám đốc điều hành HURL kiêm Trưởng nhóm hoa tiêu, cho biết: “Trong 27 năm làm thợ lặn, tôi thấy đây thực sự là khoảnh khắc đem lại sự hào hứng nhất Mỗi chuyến lặn vào lòng đại dương thực sự là một chuyến khảo sát đúng nghĩa Mỗi miệng núi lửa đều như vỗ vào mắt chúng tôi một cảnh quan thực sự ngạc nhiên và đầy thú vị”

Con tàu mẹ Ka'imikai-O-Kanaloa rời Hawaii ngày 18/3/2005 với 2 tàu lặn Pisces 4 và Pisces 5, rồi quay

về hôm 5/8/2005 cùng với các nhà khoa học gọi chuyến du khảo 1.600 km này là tuyệt đỉnh thành công Nhóm khoa học gia quốc tế này đã thu thập rất nhiều mẫu vật để nghiên cứu về địa chất, hóa học, sự hình thành khoáng vật, các miệng thủy nhiệt (hydrothermal vents) và vi sinh vật extremophile trước khi

so sánh với các miệng núi lửa Nam Thái Bình Dương xưa nay chưa từng khảo sát

Alex Malahoff chọn năm nghỉ phép năm 2002 tại Đại học Hawaii để sang làm Giám đốc điều hành Viện Khoa học hạt nhân và Địa chất ở Wellington, New Zealand Ông thường xuyên tổ chức các cuộc lặn khảo sát phối hợp với các viện, cơ quan nghiên cứu và các nhà tài trợ, với tổng kinh phí hoạt động vào khoảng 3,5 triệu USD

Malahoff tin rằng chuyến khảo sát lần này là bằng chứng về một con tàu đã vượt ra khỏi khuôn khổ của

nó ở Hawaii, chứng tỏ rằng chúng ta có thể thực hiện khảo sát bằng cách "phóng ra khỏi giới hạn đại dương phía nam để sang thế giới bên kia" Do những nguy hiểm khôn lường của địa hình núi lửa mới khảo sát lần đầu, hai thợ lặn dẫn đường phải chia ra, mỗi người lặn khảo sát cùng một tổ chức khoa học quốc tế

Kerby cho biết 18 năm lặn ở Loihi - một miệng núi lửa ngoài khơi Đảo Lớn - là cuộc tập dượt quy mô hầu chuẩn bị cho chuyến lặn khảo sát mở rộng, lần đầu tiên có quy mô quốc tế và đa ngành, đến những miệng núi lửa xa ngàn dặm Ông cho biết cho đến nay họ hoàn tất 61 cuộc lặn khoa học ở độ sâu đến 1.524m dưới đại dương, kể cả 41 cuộc lặn đến những miệng núi lửa hầu như không thể thấy từ tàu lặn nhỏ

Vô số cua và hàu hến ở miệng

núi lửa Monowai (CAND)

Trang 27

Nhiệt độ miệng thủy nhiệt trên các núi lửa vành đai đảo Kermadec vào khoảng 400-600 độ F Các trầm

tích lưu huỳnh nhiều vô kể trên miệng núi lửa giúp tập hợp sự sống sinh động quanh chúng, chẳng hạn

họ thấy có hàng ngàn con tôm, hàu hến, trùng ống Ông cho rằng, các núi lửa dưới đại dương là một

trong nhiều nhân tố vĩ đại nhất đưa khí nóng nhà kính lên bầu khí quyển, thông qua khí CO2 (trước đó

bị tống vào nước biển) bốc hơi

http://www.vnexpress\khoa hocCác nhà nghiên cứu cho rằng các miệng núi lửa từ Samoa đến New Zealand tạo thành “một phòng thí

nghiệm dưới nước tự nhiên và lớn nhất thế giới”, có khả năng nhân rộng các mô hình tương tự trên các

hành tinh khác Tháng 10/2005, các nhà khoa học đã cùng nhau ngồi lại thảo luận về những phát hiện

mới và sẽ lập kế hoạch cho chuyến khảo sát tiếp theo Quyền Giám đốc HURL John Witshire cho biết:

“Chúng tôi đã nghĩ đến việc thăm lại các miệng núi lửa này trong vòng 3 năm nữa, bởi vì chúng quá hấp

dẫn”

"Hiểm họa lớn nhất mà các tàu lặn nhỏ có thể gặp phải là vướng hoặc mắc lưới cá hay các đường dây

cáp" John Witshire nói - ngầm nhắc lại thảm họa gần đây của một tàu ngầm Nga bị vướng dây cáp dưới

biển, may là tất cả thủy thủ được các đồng nghiệp Anh cứu thoát và bình an vô sự Ông nói, theo mong

đợi, chuyến xuất hành thứ hai HURL sẽ chuẩn bị cả lực lượng cứu hộ riêng

http://www.vnexpress\khoa hoc

Trang 28

Thứ năm, 23/3/2006, 10:13 GMT+7

Bí mật 'tay trái' của ốc biển

Những con ốc với vỏ sò cuộn về bên trái có lợi thế sinh tồn lớn, bởi kẻ thù phải bó tay trong việc ăn thịt chúng

Kết luận được các nhà khoa học Mỹ công bố trên tạp chí Biology Letterscủa Hiệp hội Hoàng gia Để phân biệt vỏ sò tay trái hay tay phải, bạn hãy cầm nó trong tay và hướng đầu nhọn về phía trước, phần miệng ốc hướng về phía bạn Nếu cái miệng mở ra ở bên phải, đó là vỏ sò tay phải

và ngược lại, nếu miệng mở về bên trái, đó là vỏ sò tay trái

Các nhà khoa học kiểm tra vỏ của những con ốc xoắn (loài ốc biển có vỏ

giống như ốc sên) và ốc nón vốn là con mồi của loài cua Calappa flammea Họ phát hiện thấy cua không thể mở được những vỏ ốc có

chiều xoắn sang bên trái vì nó chỉ có một công cụ để bật nắp nằm trên càng bên phải, nên cua bỏ qua những con ốc này

"Cua có một công cụ đặc biệt trên càng, thứ dụng cụ được sử dụng như cái mở nắp lon Vì thế, hãy hình dung việc dùng một cái mở nắp lon cho người thuận tay phải bằng tay trái - bạn sẽ thấy thật khó khăn để làm điều đó", Gregory Dietl từ Đại học Yale cho biết

Dietl và cộng sự đã nghiên cứu 11 cặp vỏ của loài ốc xoắn và ốc nón có niên đại từ 1,5 đến 2,5 triệu năm trước đây cùng với những loài tồn tại ngày nay, ở cả hai dạng tay trái và tay phải

10 trong số 11 cặp cho thấy có nhiều vết sẹo trên vỏ tay phải, chứng tỏ những con cua đã tấn công chúng nhiều hơn so với đồng loại tay trái

Thông thường, con cua sẽ ghì chặt lấy vỏ ốc sao cho đầu nhọn hướng ra xa cơ thể nó Với những chiếc vỏtay phải, điều đó có nghĩa là việc mở nắp ốc xảy ra ở bên phải, và công cụ đặc biệt trên càng cua có thể tấn công vào trong Nhưng với một con ốc tay trái, hoặc là cua sẽ phải mở nắp ở bên trái, hoặc nó phải ghì lấy con mồi ở tư thế đầu nhọn vỏ ốc hướng vào cơ thể Cả hai giải pháp này dường như quá rắc rối, vàchú cua sẽ hành động giống như người ăn chay đi vào quầy của anh hàng thịt, và bỏ đi

Nghi vấn tiến hoá ở đây là tại sao dạng ốc tay trái lại vẫn hiếm hoi đến thế - một số thậm chí đã tuyệt chủng - nếu như lợi thế đó giúp chúng thoát khỏi nanh vuốt cua dễ dàng hơn

Có lẽ nếu nhóm ốc biển tay trái trở nên phổ biến hơn, những con cua sẽ tiến hoá cấu tạo cơ thể hoặc kỹ thuật săn mồi, và lợi thế của ốc tay trái sẽ biến mất

http://www.vnexpress\khoa hoc

Ốc tay trái (bên trái) dường như có lợi

thế sinh tồn nhiều hơn so với ốc tay

phải, bởi cua không thể thò càng vào

bắt chúng (BBC)

Trang 29

Atlantic Squid

(Lolliguncula brevis)

The squid is another member of the mollusk family that has lost its hard shell Like the octopus, squid have suction cups on their arms that aid in

capturing their prey They feed on fish and

crustaceans This common squid species is found throughout the Atlantic U.S coast and grows to a length of 5 inches.

Cuttlefish

(Sepia officinalis)

Cuttlefish are very closely related to squid One noticeable difference is that the cuttlefish has noticeably shorter tentacles They also have specialized tentacles that can shoot out quickly to catch their prey Cuttlefish are masters of disguise They can change colors in an instant, and have actually been observed to use flashing colors as a means of communication.

Chambered Nautilus

(Nautilus macromphalus)

For many years the nautilus was thought to be a rare deep water species, but recently they have been discovered in large numbers on Indo-Pacific reefs They are nocturnal animals, swimming around the reef at night in search of small fish and shrimp Their unique shells are highly prized by shell collectors.

http://www.Sea and Sky Mollusks Page 3.htm

Trang 30

Giáp xác (Crustacea)

[13/09/2005 - Sinh học Việt Nam]

Giáp xác là các động vật chân khớp nguyên thủy thuộc lớp Giáp xác (Crustacea) Hầu hết trong số 44.000 loài giáp xác là sống ở biển, bên cạnh đó cũng có nhiều loài sống ở nước ngọt Một vài nhóm giáp xác sống ở trên cạn không phải là những bọn thực sự thành công về mặt tiến hóa vì hầu hết chúng vẫn đòi hỏi một môi trường ẩm ướt để tồn tại

Các nhóm giáp xác

Giáp xác có thể được chia thành hai nhóm chính dựa trên kích thước của chúng

Nhóm có kích thước lớn: Bao gồm các đại diện của các lớp :

Branchiopoda (chân mang)

Copepoda (chân chèo)

Cirripedia (Chân tơ ?)

Nhóm có kích thước nhỏ: Bao gồm các loài có kích thước hiển vi cho tới kích thước khoảng 5 cm Hầu hết bọn

này sống ở biển và là thành phần quan trọng của sinh vật phù du, đóng vai trò lớn trong chuỗi thức ăn

Nhiều lòai chân chèo là nguồn thức ăn cho cá nhỏ, thậm chí chúng là những con vật ký singh trên da hay mang cá.

Trong nhóm này, được biết rõ nhất là các thành viên trong giống Daphnia (rận nước) và Cyclops (thuộc bọn chân

chèo)

Bộ chân đều (Isopoda) là nhóm duy nhất có đại diện là thành viên trên cạn thực sự Trong nhóm này có thể kể

đến rận cây, mọt gỗ, hay rệp tròn Những sinh vật nhỏ này có thể được tìm thấy ở dưới các khúc cây đổ, dưới các

tảng đá và những nơi ẩm thấp khác Khi bị làm phiền chúng thường cuộn người lại vào bên trong bộ xương ngoài (lớp vỏ kitin)

Giải phẫu

Tất cả giáp xác có đối xứng hai bên, cơ thể được bao bọc với một bộ xương ngoài bằng kitin, lớp này có thể rất dày và bị canxi hóa (như ở crayfish (1)- một loại giáp xác có cơ thể giống như tôm hùm sống ở nước ngọt) hay rất mỏng manh và trong suốt (như ở riận nước) Vì lớp vỏ cố định nên nó phải được thay thế định kỳ khi con vật tiến hành quá trình biến thái (từ dạng ấu trùng bơi tự do cho đến khi trưởng thành) hay chỉ đơn giản là phát triển nhô ra

ngoài lơp vỏ Dạng ấu trùng bơi tự do đặc trưng cho giáp xác được gọi là ấu trùng Nauplius, là dạng có cơ thể

không phân đốt, một mắt và 3 cặp chân giả

Cũng như tất cả các thành viên khác trong ngành Chân khớp, giáp xác trưởng thành có cơ thể và chân phân đốt Các đốt thường liên kết lại tạo thành 3 phần phân biệt là đầu, ngực và bụng Phần lớn bọn giáp xác trong nhóm lớn có phần đầu và ngực hợp lại thành phần đầu ngực, phần này được bảo vệ bởi một phần của bộ xương ngoài khá lớn và được gọi là giáp đầu ngực Trên đầu có hai cặp râu, một mắt điểm (điểm mắt), hai mắt kép và 3 cặp phụ miệng Các phần phụ của giáp xác đã trải qua quá trình tiến hóa để thích nghi một cách đa dạng với các chức năng khác nhau như: bơi, bò, cơ quan cảm giác Nhiều loài có cặp chân ngực thứ nhất biến đổi thành vuốt hoặc càng Các mang thường được gắn ở phần gốc của các cặp chân ngực, vận động của chân ngực sẽ tạo dòng nước chảy qua mang, giúp cho quá trình hô hấp diễn ra

Trang 31

http:// www.sinhhocvietnam\cac bai viet khac

Lịch sử địa động học (Geological history)

Mặc dù các hóa thạch giáp xác hiếm hơn so với bọn trùng ba lá, tuy nhiên số lượng các dạng của chúng khá phổ biến trong các lớp địa chất thuộc thời kỳ Cretaceuous cũng như ở kỷ Caenozoic Hầu hết những giáp xác nhỏ như tôm có bộ xương ngoài khá mỏng manh, do vậy các hóa thạch của chúng thường không đầy đủ Tuy nhiên, các nhóm giáp xác như cua và tôm hùm có bộ xương ngoài dày hơn mà nó thường được làm cứng với CaCO3, do vậy các hóa thạch của chúng thường tốt hơn Các hóa thạch của bọn barnacles rất hiếm và người ta biết rất ít về lịch

sử của chúng từ kỷ Mesozoic trở về trước Các mẫu được bảo tồn tốt nhất được tìm thấy trong các hóa thạch thuộc thời kỳ Cretaceous và kỷ Caenozoic.

http:// www.sinhhocvietnam\cac bai viet khac

Trang 32

Tôm hùm không biết đau

[18/02/2005 - Sinh học Việt Nam]

Những con tôm hùm sẽ không thấy đau đớn gì khi bị bỏ vào nồi nước sôi, một nghiên cứu mới tại Nauy tuyên bố.

Các nhà hoạt động môi trường cho rằng tôm hùm sẽ phải chịu đau đớn thể xác khi ở trong nước sôi và việc luộc sống chúng là một kiểu tra tấn.

Nhưng nghiên cứu do một nhà khoa học tại Đại học Oslo thực hiện thì kết luận rằng tôm và những loài thân mềm khác như cua, ốc và giun không hề biết đau "Tôm và cua có một chút khả năng học hỏi, nhưng chúng không có khả năng đau".

Các nhà sinh vật học vẫn khẳng định rằng hệ thần kinh thô sơ của tôm hùm và bộ não chưa phát triển của chúng tương tự như của côn trùng "Đó là điều rõ ràng: không não thì không đau", nhà sinh vật học Mike Loughlin tuyên bố.

Tổ chức bảo vệ quyền động vật Peta đã thực hiện một chiến dịch mang tên Đồng cảm với Cá, với khẩu hiệu: "Bị luộc rất đau đớn Hãy để tôm hùm sống".

Karin Robertson của tổ chức Peta cho rằng nghiên cứu do Chính phủ Nauy tài trợ đã bị làm sai lệch nhằm bảo vệ ngành công nghiệp đánh cá "Nó cũng giống như ngành công nghiệp thuốc lá tuyên bố hút thuốc không gây ung thư", Robertson nói.

http://www.sinhhocvietnam\ sinh hoc ky thu

Phát hiện một loài giáp xác mới ở Thái Bình Dương

10:34:10, 22/05/2006

Viện nghiên cứu vì sự phát triển (IRD) của Pháp vừa cho biết đã phát hiện ở biển Corail thuộc Thái Bình Dương một loài giáp xác mới mang tên Neoglyphea neocaledonica, được xem như “hóa thạchsống” có từ khoảng 50 triệu năm

Loài giáp xác này trông giống một con tôm hùm Na Uy và thuốc nhóm giáp xác glypheid đã tuyệt chủng vào thời Eocen cuối kỷ Đại Trung Sinh Một loài giáp xác glypheid khác mang tên Neoglyphea inopinata đã được câu vào năm 1908 ngoài khơi Philippines và được nhận dạng vào năm 1975

Tàu Alis thuộc Viện IRD đã đánh bắt động vật này dưới đáy biển sâu 400m ngoài khơi quần đảo

Chesterfield Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng nó rất “nhanh nhẹn, hung hãn và dùng chiếc kẹp giả để tấn công” Loài giáp xác mới phát hiện này có màu hồng be với những đốm đỏ tươi, mắt to, thân hình béo và ngắn

http://www.sinhhocvietnam\ sinh hoc ky thu

Trang 33

Bí mật của tơ nhện - 2/4/2006 4h:28

Các nhà khoa học Pháp đã tìm hiểu về những đặc tính tự nhiên của sợi tơ nhện, đặc biệt là về độ bền và lực xoắn Họ nghiên cứu vì sao một con nhện bám vào sợi tơ có thể hoàn toàn bất động chứ không phải xoay tít như một người leo núi bám trên dây

Theo tạp chí Nature, các nhà nghiên cứu ở phòng thí nghiệm vật lý laser thuộc trường đại học Rennes đã diễn tả chi tiết những thử nghiệm khác nhau mà họ đã thực hiện nhằm tìm hiểu những đặc tính của sợi tơ nhện Nhờ một con lắc xoắn được cột một sợi chỉ nối với một quả cân bằng trọng lượng một con nhện, các nhà nghiên cứu đã so sánh phản ứng động lực học ở các loại sợi khác nhau (đồng, Kevlar, Nitinol) với một vòng quay 90 độ

Nếu sợi Kevlar (chất liệu tổng hợp) hoạt động đàn hồi với những dao động nhẹ, thì sợi đồng dao động yếu nhưng khó trở lại hình dạng ban đầu và dễ bị đứt Còn những chất hợp kim như Nitinol cũng có những đặc tính tương tự nhưng cần được đốt nóng 90 độ C mới trở lại hình dạng ban đầu

Chỉ có sợi tơ nhện có hệ số dao động cao nhất, không phụ thuộc vào sức cản của không khí, vẫn giữ các đặc tính xoắn và hoàn toàn trở lại vị trí ban đầu Đây là một chất liệu gọi là “tự nhớ hình dạng” không cần sự trợ giúp từ bên ngoài như sức nóng, áp suất để trở lại hình dạng ban đầu

Theo Olivier Emile, một trong các nhà nghiên cứu, mặc dù rất mỏng, sợi tơ nhện là một chất liệu rất bền, được cấu tạo từ protein và acid amin Sợi tơ với độ dày 2 micron này chịu một khối lượng trung bình nặng 1g, tương đương với 1 sợi chỉ dày 1 đến 2mm chịu một trong lượng nặng 65kg.

http://www khoahoc\sinh vat hocThứ tư, 4/1/2006, 07:00 GMT+7

Những con nhện có bộ mặt vui vẻ

Tại Hawaii, phần đất xa xôi của nước Mỹ, có một giống nhện - với biệt danh không gợi nên những con vật 8 chân lông lá đen đúa, khủng khiếp - mà là "nhện vui vẻ", với những bộ mặt cười thoải mái trên lưng.

"Nhện vui vẻ", hay còn gọi là "nhện có bộ mặt vui vẻ", gồm các sắc màu đen, đỏ và vàng tươi sáng Chúng thú vị hơn các anh em họ hàng của mình nhiều, bởi những đặc điểm cơ bản về gene tạo ra những ấn tượng về cấu trúc cơ thể Mỗi con nhện là một họa sĩ hài riêng cho mình, không có con nào giống con nào cả Nhện cái là hình tượng mẫu mực cho phụ nữ, vì chúng ấp trứng và canh gác cẩn mật cho đến khi nào con nở, xong rồi chúng vẫn tiếp tục đi tìm mồi về nuôi con

Nếu không bận lướt sóng trên biển, bạn có thể thám hiểm những khu rừng rậm của đảo Lớn và đảo O'ahu

- nơi mà bạn có dịp may chiêm ngưỡng những con nhện có bộ mặt vui vẻ, mà không ở đâu trên thế giới

có được

http://www.vnexpress\khoa hoc

Nhện vui vẻ Ảnh ANTG

Trang 34

Bọ cạp có hai loại nọc độc? - 11/6/2006

15h:11

Một nhóm các nhà khoa học thuộc Trường đại học

California (Mỹ), do giáo sư Bruce Hammock đứng

đầu, đã tiến

hành nghiên cứu đối với một loài bọ cạp châu Phi có

tên khoa học là Parabuthus transvaalicus, thường

được xem là độc nhất hiện nay, và họ phát hiện thấy

loài sinh vật này luôn có hai loại độc tố riêng biệt khác

nhau

Khi đối mặt với nguy hiểm, trước hết, con vật sẽ tiết ra

một chất lỏng trong suốt Tiếp theo là một chất đậm đặc hơn giống như sữa trứng nhằm dứt điểm cuộc chiến

Các chuyên gia cho rằng đó cũng là một sách lược khá thông minh của loài bọ cạp này bởi để tiết ra được nọc độc chết người đó, bọ cạp phải tốn rất nhiều năng lượng Vì vậy chúng tìm cách chống đỡ trước mắt bằng một loại độc có tác dụng nhanh, cũng gây đau đớn nhưng chưa đủ gây tử vong mà chỉ nhằm mục

đích xua đuổi đối phương ra xa Thêm nữa, việc sản xuất thứ chất “tiền đe dọa” này xem ra không tốn

nhiều công sức cho lắm

Bọ cạp châu Phi - Parabuthus transvaalicus (Ảnh: bugsincyberspace)

http://www khoahoc\sinh vat hoc

Bọ cạp châu Phi - Parabuthus transvaalicus

(Ảnh: museums)

Trang 35

Loài nhện khát máu ở châu Phi

[31/10/2005 - Sinh học Việt Nam]

Giống như nhân vật tưởng tượng Dracula và loài dơi hút máu có thật, những con nhện nhảy ở miền đông châu Phi này cũng thèm khát máu người.

Loài nhện, Evarcha culicivora, không có khả năng chọc thủng da và hút máu, vì vậy chúng hấp thụ gián tiếp máu

người bằng cách chọn những con muỗi cái đã xơi no máu của nạn nhân.

Loài nhện khát máu này là loài ăn thịt đầu tiên được biết tới chọn mồi dựa trên những gì con mồi ăn Máu là một loại đồ uống giàu chất dinh dưỡng có thể hấp thụ một cách dễ dàng "Có lẽ máu là một bữa ăn chất lỏng có sẵn, giàu chất dinh dưỡng, mà tốn ít năng lượng xử lý nhất", Ximena Nelson, tác giả nghiên cứu, nói.

Nelson, nhà khoa học tại Đại học Macquarie ở Australia, và nhóm của mình đã thực hiện cuộc thử nghiệm trên loài

Evarcha culicivora Đầu tiên họ đặt con nhện trong một lọ thuỷ tinh nhỏ để con vật không thể phân biệt được mùi

của các con mồi - bao gồm muỗi đực không hút máu, muỗi cái uống nước đường và muỗi cái hút máu

Chỉ nhìn bằng mắt, con nhện luôn chọn những con cái căng mình vì máu - trông căng mọng và có màu đỏ.

Tiếp đến, các nhà nghiên cứu bơm mùi của muỗi vào chỗ ở của nhện Con nhện chỉ sử dụng khứu giác yếu ớt của mình để chọn ra đúng con muỗi cái đã hút máu.

Nelson cho biết việc hút máu là một hoạt động nguy hiểm, vì vậy con nhện này đã biết cách giảm thiểu mối nguy.

"Những đối tượng bị cắn sẽ có phản xạ đập lại, như người thì dùng tay, còn con vật thì dùng đuôi - nên thường là con côn trùng sẽ chết", Nelson giải thích "Có thể nhện Evarcha sẽ an toàn hơn khi có được máu bằng cách tiêu diệt muỗi, cho dù có bị phản ứng lại thì cũng không nguy hiểm bằng"

Con nhện cũng sử dụng một phương pháp thông minh để bắt những con muỗi cái to béo Nó rình muỗi giống như mèo vờn chuột, và nhảy vồ lên trên hoặc xồ ra ở dưới con muỗi, trước khi cắn phập lấy

http:// www.sinhhocvietnam\sinhhoc kythu

Nhện Evarcha culicivora.

Trang 36

Giống như hầu hết các loài nhện khác, nhện lưng đỏ đực nhỏ hơn rất nhiều so với con cái, nhưng bản thân các con đực cũng có kích cỡ khác nhau Các nhà nghiên cứu tìm thấy sự phát triển của mỗi con nhện được xác định bằng sự đánh đổi giữa những đặc tính giúp chúng thành công về tình dục với khả năng sống sót lâu dài.

"Một đặc tính có lợi cho sex lại sẽ không có lợi cho việc sống còn và một đặc tính có lợi cho sự sống còn lại không tốt cho sex", chuyên gia về nhện Australia Marie Herberstein, tại Đại học Macquaire ở Sydney, nói

Ví dụ cổ điển chính là cái đuôi của con công đực Nếu cái đuôi rộng lớn để quyến rũ con cái thì lại quá nặng với anh chàng và khiến nó khó khăn hơn trong việc chạy trốn kẻ thù

Các nhà nghiên cứu tìm thấy trong trường hợp của nhện lưng đỏ thì trưởng thành sớm giúp chúng có lợi thế trong việc tìm kiếm bạn tình nhưng trưởng thành muộn lại tốt hơn cho cuộc sống sau này

Nhóm đã tìm hiểu những con nhện lưng đỏ đực trưởng thành như thế nào khi có và không có con cái Họ tìm thấy khi không có các cô nàng ở quanh, những con đực trưởng thành từ từ, biến đổi thành những anh chàng to lớn với rất nhiều nguồn năng lượng Điều này giúp chúng có khả năng sống sót cao khi ra ngoài tìm kiếm bạn tình

Nhưng khi chúng bị các nàng nhện bủa vây, chúng lại dồn năng lượng vào để trưởng thành nhanh chóng, kết cục là lại trở thành những con nhỏ và gầy hơn, bởi dành ít thời gian đi kiếm ăn

Kasumovic cho biết trưởng thành nhanh giúp chúng trở thành những con đầu tiên được gần gũi các nàng Nhện đực thường chỉ có 1-2 cơ hội được nhện cái "ân sủng" trước khi bị các nàng xơi tái, và việc hoan lạc

sẽ thành công nhất khi các nàng vẫn còn là "trinh nữ"

"Mọi người vẫn thường cho rằng những con nhện đực nhỏ bé là sản phẩm của việc không kiếm đủ nguồn

ăn, nhưng nay chúng tôi tìm thấy chúng đã cố tình phát triển như vậy", Kasumovic nói

Các nhà nghiên cứu tìm thấy khi cả đực và cái cùng có mặt, nhện đực sẽ lớn nhanh và nhỏ đi Nhưng chúng lại tích trữ nhiều mỡ hơn trong cơ thể khi các con đực khác không có ở xung quanh Nhóm cho rằng lượng mỡ bổ sung này giúp con đực có sức bền bỉ để cạnh tranh với các con khác trong giai đoạn tántỉnh kéo dài Nhện đực thường phải kéo giật và rung lắc tơ nhện của các nàng trong vòng 8 tiếng để mongđược nàng để ý

Trong thí nghiệm, các con đực không được nhìn hay sờ thấy các con đực hay cái khác ở xung quanh Điều này chứng tỏ chúng phản ứng với pheromone toả ra từ bạn tình

(ABC Online)

Trang 37

http://www.vnexpress\khoa hoc

Ong bay như thế nào? - 12/1/2006 5h:30

Những người theo trường phái trí tuệ tự phát - quan niệm

Thượng đế chứ không phải tiến hoá đã tạo nên những

dạng sống phức tạp - từ lâu chỉ trích giới khoa học về việc

không thể lý giải nổi ngay cả một số hiện tượng tự nhiên,

như chuyện ong bay Giờ đây, khoa học đã giải mã được

bí ẩn đó.

Sử dụng một tổ hợp các máy ảnh số tốc độ cao và một mô

hình robot về cánh ong, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra

cơ chế bay của loài ong mật

Trong nhiều năm, con người đã cố gắng tìm hiểu hành vi bay của động vật dựa trên cơ chế khí động học của máy bay và trực thăng, Douglas Altshuler, một nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ California, Mỹ

cho biết "10 năm trở lại đây, các nhà sinh học đã thu được khối lượng kiến thức đáng kể bằng cách thực hiện những thí nghiệm với robot có khả năng vỗ cánh tự do như động vật"

Các nhà khoa học đã phân tích hình ảnh thu được từ những đoạn phim quay hàng giờ về ong và dùng robot bắt chước những cử động của chúng, với các sensor để đo lực

Phân tích cho thấy cơ chế bay của ong kỳ lạ hơn ta tưởng

"Ong mật vỗ cánh rất nhanh", Altshuler nói "Ruồi giấm nhỏ xíu và đập cánh 200 lần mỗi giây Con ong mật có kích cỡ cơ thể lớn hơn đến 80 lần lại vỗ cánh đến 230 lần trong cùng khoảng thời gian đó"

Đây quả là điều ngạc nhiên vì khi côn trùng càng nhỏ, khả năng khí động học của chúng càng giảm và để bù lại, chúng có xu hướng vỗ cánh nhanh hơn

"Điều này chỉ là để giữ những con ong lơ lửng được trên không mà không rơi xuống đất, bởi chúng phải chuyển mật và phấn hoa với khối lượng lớn, đôi khi bằng cả trọng lượng cơ thể, về cho đàn", Altshuler nói

Để hiểu xem ong mật mang vật nặng như thế nào, các nhà nghiên cứu ép chúng bay trong một phòng nhỏ chứa đầy hỗn hợp khí ôxy và heli có độ đậm đặc nhỏ hơn không khí thường Tình trạng này khiến con ong phải vất vả hơn để giữ được mình trên không và tạo điều kiện cho các nhà khoa học cơ hội quan sát cơ chế bù trừ của chúng vào phần việc bổ sung này

Kết quả là, ong đã thực hiện phần việc phụ trội bằng cách duỗi căng thêm sải cánh nhưng không điều chỉnh tần số đập

Các nhà khoa học cho biết phát hiện này có thể dẫn tới việc thiết kế mô hình cho loại máy bay có thể lơ lửng trên không và chở nặng, phục vụ nhiều mục đích như giám sát thảm họa sau động đất và sóng thần

http://www khoahoc\sinh vat hoc

Ong mật vỗ cánh nhanh đến nỗi, để nghiêncứu cử động của chúng là một việc khó

khăn

Douglas Altshuler

Trang 38

Chuồn chuồn di cư như chim - 16/5/2006 11h:14

Những sinh vật bé nhỏ này đã di cư từ thời cổ đại, nhưng các nhà khoa học vẫn không biết nhiều lắm về địa điểm xuất phát của hầu hết trong số chúng và đích mà chúng nhắm tới

"Chúng ta cũng mù mờ như Aristotle 2000 năm trước đây", nhà sinh vật học Martin Wikelski nhận xét,

khi đề cập tới lời khẳng định sai lầm của nhà triết học Hy Lạp cổ lừng danh rằng chim trú đông trong những đầm lầy vào mùa đông

Giờ đây, Wikelski đã hiểu rõ hơn Aristotle, ít nhất ở một

điểm

Trong một nghiên cứu gần đây, với tư cách trưởng nhóm

khoa học tại Princeton, ông và cộng sự đã tìm thấy

chuồn chuồn và những loài chim biết hót có cùng thói

quen bay xa Điều đó chứng tỏ hành vi di cư không đến

nỗi quá phức tạp và có thể đã bắt đầu sớm hơn 100 triệu

năm so với các phỏng đoán trước kia

Nhóm nghiên cứu đã gắn các thiết bị truyền radio vào

cánh của 14 con chuồn chuồn kim xanh, đồng thời theo

dõi tín hiệu radio trên một máy bay và từ các thiết bị cầm tay trên mặt đất

"Chúng di cư giống hệt như chim - hay nói cách khác chim thực sự di cư theo cách của côn trùng",

"Chúng tôi còn thấy những điểm tương đồng khác nữa, cho phép ta tự hỏi rằng những quy luật di cư này

đã hình thành như thế nào trên động vật trong lịch sử trái đất", Wikelski nói

http://www.khoahoc\the gioi dong vat

Ảnh: LiveScience

Trang 39

Kiến 'ác quỷ' kiểm soát rừng Amazon

[27/09/2005 - Sinh học Việt Nam]

Các nhà nghiên cứu đã tìm ra lời giải cho hiện tượng những "khu vườn ác quỷ" ở rừng rậm Amazon quanh năm chỉ có một loài cây duy nhất Chính những con kiến sống ký sinh trên đó đã giết chết tất cả các loài thực vật khác trừ cây chủ.

Người dân địa phương Peru gọi đó là những "khu vườn của ác quỷ" bởi nó chỉ tồn tại duy nhất một loài cây Duroia hirsuta Đó là một hiện tượng đặc biệt trong khu rừng Amazon vốn rất đa dạng, khiến người dân địa phương nghĩ đến một thế lực siêu nhiên nào đó Nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm thấy chính là kiến, chứ không phải ác quỷ, gây ra tình trạng này.

Loài kiến Myrmelachista schumanni sống trong các hốc cây để tránh kẻ thù và sự biến đổi thời tiết Chúng giết tất

cả các loài thực vật, trừ cây chủ của mình, bằng cách tiêm axit fomic vào lá cây Bằng cách đó, chúng giúp cây chủ của mình phát tán Những khu vườn như vậy có hơn 300 cây thọ hàng trăm tuổi và hàng triệu con kiến.

"Thật ngạc nhiên là kiến có thể kiểm soát cả môi trường sống của chúng Chúng tạo ra một lãnh thổ gồm một loài cây duy nhất tại một nơi được cho là đa dạng phong phú nhất toàn cầu", Deborah Gordon tại Đại học Stanford,

Mỹ, nói.

Một số nghiên cứu trước đã cho rằng kiến hoặc bản thân những cây này đã tàn sát các loài thực vật xung quanh, nhưng không ai lý giải được vì sao Nay Megan Frederickson và cộng sự tại Đại học Stanford đã tìm ra rằng kiến làm điều đó bằng cách tiêm vào một liều thuốc độc tự nhiên.

Các nhà nghiên cứu đã trồng những cây tuyết tùng phổ biến ở Amazon vào khu rừng của loài kiến Khi họ đuổi hết các con kiến đi, loài cây này phát triển Nhưng khi đàn kiến tới gần, các cây tuyết tùng rụng lá sau khoảng 5 ngày.

Có thể các con kiến đã cắn một lỗ trên lá và để lại giọt axit fomic từ trong bụng mình Hệ thống mạch trong cây đưa axit đi khắp nơi Và chỉ sau vài giờ tấn công, những vùng loang sẫm xuất hiện trên gân lá.

Axit fomic rất phổ biến ở các loài kiến: Khoảng 1/4 trong số 15.000 con sản xuất ra chất này Rất nhiều kiến sử dụng axit fomic để tự vệ Nhưng đây là lần đầu tiên kiến sử dụng nó như một loại thuốc diệt cỏ.

http:// www.sinhhocvietnam\sinhhoc kythu

Trang 40

Tổng quan về phân loại côn trùng

[30/03/2005 - Sinh học Việt Nam]

Danh từ côn trùng học - Entomologie xuất phát tử hai chữ Hy Lạp là Entomos và Logos có nghĩa là côn trùng và khoa học Côn trùng học là một môn khoa học nghiên cứu về côn trùng Lúc đầu khi nghiên cứu về côn trùng, người ta nghiên cứu tất cả các loài động vật thuộc ngành chân đốt (Arthropoda), nhưng đến giữa thế kỷ 19 côn trùng học chỉ còn nghiên cứu một lớp trong 9 lớp của ngành chân đốt đó là lớp côn trùng (Insecta).

I Khái niệm về côn trùng.

Kết quả nghiên cứu về côn trùng cho thấy: Côn trùng là lớp phong phú nhất trong giới động vật, có một cuộc sống khá phức tạp, Da số côn trùng có khả năng bay Cơ thể phân chia một cách đặc trưng thành ba phần: đầu, ngực

và bụng Đầu mang một đôi râu, mắt kép và mắt đơn Phần phụ miệng phân hóa theo chế độ ăn uống Ngực mang

ba đôi chân có năm phần và điển hình là hai đôi cánh Bụng thường không có chân Đa số côn trùng sống ở cạn,

hô hấp bằng hệ khí quản với các lỗ thở phân bố trên các đốt cơ thể Cơ quan bài tiết là ống Malpighi Thường

trong chu trình sống có biến thái và ở những côn trùng biến thái thiếu, không có pha nhộng, thiếu trùng gần giống con trưởng thành.

Nhiều côn trùng là có lợi như thụ phấn cho hoa, ăn thịt hoặc ký sinh trên các loài sâu hại nhưng cũng có một số đáng kể thường xuyên gây ra những tác hại to lớn cho nông, lâm nghiệp và sức khoẻ con người Con người đã phải khá vất vả nghiên cứu tìm ra những biện pháp đấu tranh với chúng để giành giật lại những phần bị mất mát

II Những đặc điểm chủ yếu của côn trùng Côn trùng là lớp động vật phong phú về nhiều mặt.

Về số lượng:

Hiện nay các nhà sinh học đã biết được hơn 1 triệu 200 nghìn loài động vật, trong số đó côn trùng đã chiếm hơn 1 triệu loài và các loài côn trùng đã chiếm hơn 1/2 tổng số các loài sinh vật cư trú trên hành tinh chúng ta Tuy vậy các loài côn trùng mà chúng ta chưa biết cũng còn rất nhiều

Về phân bố:

Côn trùng phân bố rất rộng rãi Trên trái đất từ xích đạo đến Nam cực, Bắc cực hay trên những hòn đảo xa xôi hẻo lánh đều thấy có côn trùng Côn trùng phần lớn sống ở trên cạn song số loài sống ở dưới nước cũng không phải là ít Trên đỉnh núi cao cách mặt đất 5.000, mét cũng thu thập được các loài bọ xít; máy bay bay cao 4.600 mét vẫn thấy có - nhiều loài côn trùng Sâu non ve sầu có thể sống ở dưới đất sâu đến 2 mét, mối đào tổ sâu đến 36m Trong mạch nước nóng 70 - 80 oC vắn thấy có côn trùng Thậm chí trong chai nước mắm mặn như vậy vẫn

có Dòi

Về mật độ:

Có tài liệu cho biết bình quân 250 triệu cá thể côn trùng cho một đầu người và 12 triệu cá thể cho một Km 2 đất

Về kích thước:

Kích thước côn trùng cũng biến đổi nhiều, Người ta đã tìm thấy một loài ong ký sinh thuộc họ Mymaridae thân dài

0,21mm, có thể coi là loài côn trùng nhỏnhất Trong khi đó người ta đã tìm thấy một loài bướm (Thysania

agrippina) ở Nam Mỹ dài xấp xỉ 0,3 mét hay một loài chuồn chuồn thấy trong hoá thạch chiều dài sải cánh khoảng

0,5 - 0,7 mét Nếu so sánh loài có kích thước lớn nhất với loài có kích thước nhỏ nhất nó gấp từ 1.500 - 2.500 lần;

Trong khi đó ở lớp Thú - Mammalia loài Cá voi (Balaenoptera musculus) dài 30m có thể coi là loài lớn nhất và

loài có vú nhỏ nhất tìm thấy ở Italia là loài chuột chỉ dài có 3,6cm, như vậy chỉ gấp 836 lần mà thôi

http:// www.sinhhocvietnam\bai suu tam tong hop

Ngày đăng: 16/07/2013, 01:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

"Cua cĩ một cơng cụ đặc biệt trên càng, thứ dụng cụ được sử dụng như cái mở nắp lon - Sổ tay nghiệp vụ 7
34 ;Cua cĩ một cơng cụ đặc biệt trên càng, thứ dụng cụ được sử dụng như cái mở nắp lon (Trang 29)
Sử dụng một tổ hợp các máy ảnh số tốc độ cao và một mơ hình robot về cánh ong, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra cơ chế bay của lồi ong mật. - Sổ tay nghiệp vụ 7
d ụng một tổ hợp các máy ảnh số tốc độ cao và một mơ hình robot về cánh ong, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra cơ chế bay của lồi ong mật (Trang 40)
Con người từ lúc được hình thành hồn tồn phụ thuộc vào thiên nhiên. Lồi vượn người, do sử dụng thịt thú rừng chín mà bộ não ngày càng phát  triển, dần dần tách khỏi thú hoang dại mà trở thành con người - Sổ tay nghiệp vụ 7
on người từ lúc được hình thành hồn tồn phụ thuộc vào thiên nhiên. Lồi vượn người, do sử dụng thịt thú rừng chín mà bộ não ngày càng phát triển, dần dần tách khỏi thú hoang dại mà trở thành con người (Trang 47)
Các nhà khoa học Mỹ, trong khi quan sát núi lửa Naphanua mới được hình thành ở Nam Thái Bình Dương, đã bất ngờ phát hiện hàng vạn con lươn  sống tập đồn như những cư dân của một thành phố trên miệng núi lửa  này. - Sổ tay nghiệp vụ 7
c nhà khoa học Mỹ, trong khi quan sát núi lửa Naphanua mới được hình thành ở Nam Thái Bình Dương, đã bất ngờ phát hiện hàng vạn con lươn sống tập đồn như những cư dân của một thành phố trên miệng núi lửa này (Trang 55)
Lươn sống tập đồn trên miệng núi lửa - Sổ tay nghiệp vụ 7
n sống tập đồn trên miệng núi lửa (Trang 55)
Cá mập salmon cĩ thể nặng tới 160 kg. Là một kẻ ăn thịt nhanh nhẹn, chúng đã tiến hĩa hình dáng cơ thể và thậm chí cả một cái vây cĩ hình rất giống với cá ngừ vây xanh - một lồi ăn thịt lớn sống trong nước lạnh, hung hăng và  màu nĩng - Sổ tay nghiệp vụ 7
m ập salmon cĩ thể nặng tới 160 kg. Là một kẻ ăn thịt nhanh nhẹn, chúng đã tiến hĩa hình dáng cơ thể và thậm chí cả một cái vây cĩ hình rất giống với cá ngừ vây xanh - một lồi ăn thịt lớn sống trong nước lạnh, hung hăng và màu nĩng (Trang 59)
Mosasaurs là một loại bị sát hình rắn, sống dưới nước, với những cái chân giống như mái chèo giúp nĩ bơi lội - Sổ tay nghiệp vụ 7
osasaurs là một loại bị sát hình rắn, sống dưới nước, với những cái chân giống như mái chèo giúp nĩ bơi lội (Trang 65)
Vì sọ, răng, xương hàm dưới và các đặc điểm hình thái khác của kha-nyou phù hợp kỳ lạ với hố thạch của một lồi gặm nhấm đã tuyệt chủng từ lâu (tìm thấy ở Trung Quốc mùa hè năm ngối), các nhà khoa học tin  rằng chúng thuộc cùng một nhĩm - họ gặm nhấm đã tu - Sổ tay nghiệp vụ 7
s ọ, răng, xương hàm dưới và các đặc điểm hình thái khác của kha-nyou phù hợp kỳ lạ với hố thạch của một lồi gặm nhấm đã tuyệt chủng từ lâu (tìm thấy ở Trung Quốc mùa hè năm ngối), các nhà khoa học tin rằng chúng thuộc cùng một nhĩm - họ gặm nhấm đã tu (Trang 72)
• Ba hình thức kiểm sốt sinh học - Sổ tay nghiệp vụ 7
a hình thức kiểm sốt sinh học (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w