Có người lạc quan đến mức rằng: Trong tương lai, người ta có thể ung dung mà chặt phá rừng, tàn sát cây cối mà không hề lo lắng và bị chỉ trích, bởi vì lúc ấy vai trò của cây xanh đã đượ
Trang 1Kính hiển vi nhìn thấy chiều thứ 3
[25/04/2005 - Sinh học Việt Nam]
Không lâu nữa, một phát minh cải tiến về loại kính hiển vi 3 chiều sẽ đi vào thị trường thông qua sự hợp tác giữa Phòng thí nghiệm sinh học phân tử châu Âu và Carl Zeiss, cả hai đều có trụ sở tại Đức
Dựa trên công nghệ mới có tên gọi kính hiển vi soi sáng mặt phẳng lựa chọn (SPIM), thiết bị sẽ cho phép các nhà nghiên cứu quan sát sâu vào mô của sinh vật đang phát triển trong một thời gian dài, với độ chi tiết cao hơn các phương pháp truyền thống
"SPIM tốt hơn tất cả các kỹ thuật chụp ảnh tế bào sống hiện nay", Roland Nitschke, giám đốc Trung tâm chụp ảnh sống của Đại học Freiburg, Đức, nhận định
Chiếc kính mới này không phải là loại kính đầu tiên cho phép nhìn thấy 3 chiều Tuy nhiên, nó có một vài lợi thế độc nhất vô nhị so với các dạng kính phổ biến hơn, chẳng hạn kính hiển vi cùng tiêu điểu, trưởng nhóm nghiên cứu Ernst Stelzer, cho biết
Trước hết, nó tận dụng tốt hơn chất nhuộm màu huỳnh quang - chất được dùng để xử lý tất cả sinh vật sống trước khi đặt dưới kính kiểm tra Trong các loại kính truyền thống, người ta sử dụng một chùm laser năng lượng cao để thích thích phân tử trong chất nhuộm, khiến cho chúng sáng lên và dễ dàng được nhìn thấy
Các loại kính này (chiếu sáng cùng phương với phương nhìn) chỉ có thể phát hiện ánh sáng huỳnh quang trong mặt phẳng mỏng của khe kính Kết quả là, hầu hết chất nhuộm bị lãng phí và nhạt đi dưới ánh sáng mạnh, cho ra bức ảnh chất lượng thấp
Thêm vào đó, mẫu vật bị gò bó theo những cách bất thường dưới nhiệt độ của chùm sáng laser, làm bẻ gẫy các phân tử của cơ thể, do đó con vật thường bị chết
Tuy nhiên, kính SPIM chỉ chiếu sáng mẫu vật từ một bên, vuông góc với tầm nhìn của người quan sát Kỹ thuật này cho phép các nhà nghiên cứu soi rọi bằng chùm tia laser năng lượng yếu hơn nhiều, và chỉ lên vùng mà họ muốn chụp ảnh Chất nhuộm không bị phân huỷ nhanh và mẫu vật sống lâu hơn, thường là hơn 4 ngày Nhờ đó, các nhà nghiên cứu có đủ thời gian để theo dõi sự phát triển của những cơ quan như mắt, não và trái tim của phôi đang lớn
http://www.sinhhocvietnam[tinquocteCác bức ảnh 3 chiều về phôi cá đang phát
triển.
Trang 2http://www.micro.magnet.fsu.edu[cells[plantcell.html
Trang 3http://www.micro.magnet.fsu.edu[cells[plantcell.html
Trang 4http://www.micro.magnet.fsu.edu[cells[plantcell.html
Trang 5http://www.micro.magnet.fsu.edu[cells[plantcell.html
Trang 6Root apical_meristem http:// www.ualr.edu[botany[rootanatomy.html
Trang 7http:// www.ualr.edu[botany[rootanatomy.html
Trang 8http:// www.ualr.edu[botany[rootanatomy.html
Trang 9Stem Anatomy
http://www.ualr.edu[botany[stemanatomy.html
Trang 10http://www.ualr.edu[botany[stemanatomy.html
Trang 11http://www.ualr.edu[botany[stemanatomy.html
Trang 14http://www.ualr.edu[botany[stemanatomy.html
Trang 16http://www.micro.magnet fsu .edu[cells[plantcell.html
http://www.ualr.edu[botany[stemanatomy.html
Trang 17http://www.ualr.edu[botany[stemanatomy.html
Trang 18Quang hợp - Những ước mơ ấp ủ
[04/12/2005 - Sinh học Việt Nam]
Quang hợp được xem là một trong những bí mật lớn nhất của thế giới sống Cho đến hiện nay khi mà khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc, con người đã thay thế thiên nhiên làm được nhiều thứ song người ta vẫn khẳng định “Quang hợp là phản ứng hoá học quan trọng bậc nhất trên trái đất, nghiên cứu về quang hợp hứa hẹn cho loài người một cuộc cách mạng sâu sắc về năng lượng và kinh tế”
Con người đã có quá nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu về quang hợp Chiết suất diệp lục tố và cácsắc tố khác là chuyện giản đơn có thể thực hiện đựơc trong bất kì phòng thí nghiệm nào Người ta cũngquá rõ về thylakoid, về stroma, các hệ thống ánh sáng…và vừa qua nhóm nghiên cứu của ĐH Purdue (Mỹ) cũng đã xác định được cấu trúc của cytochrome (tổ hợp protein chi phối quá trình quang hợp) Nhóm nghiên cứu về vấn đề này đã ví rằng “Trước kia, chúng ta chỉ thấy được phần nổi của tảng băng trôi, còn bây giờ chúng ta có thể nắm được toàn bộ hình phóng và tính chất của tảng băng đó” (GS Wiliiam Cramer- 2003)
Cấu trúc siêu hiển vi của cytochrome và cytochrome peroxidase
Trang 19Bí mật lớn nhất của sự sống sắp được vén lên, một khi cơ chế quang hợp được làm rõ Chỉ cần sục
CO2, H2O vào hỗn hợp dung dịch diệp lục nhân tạo, chiếu ánh sáng vào, thế là có tinh bột và khí O2 bay
ra đủ để con người có thể ăn và hít thở CO2, H2O và ánh sáng mặt trời là những nguồn nguyên liệu rẽ tiền và không bao giờ cạn kiệt Có người lạc quan đến mức rằng: Trong tương lai, người ta có thể ung dung mà chặt phá rừng, tàn sát cây cối mà không hề lo lắng và bị chỉ trích, bởi vì lúc ấy vai trò của cây xanh đã được nhân tạo, việc trồng cây chỉ còn là một thứ “chơi trội” xa xỉ của những người rủng rỉnh tiềnbạc hoặc của những người có tuổi !?
Nhưng, dù thế nào đi chăng nữa cũng phải khẳng định rằng “Quang hợp của cây xanh đã giữ đang giữ
và sẽ mãi giữ vai trò độc tôn tuyệt đối để thoả mãn nhu cầu về lương thực thực phẩm của con người” bởi trên thực tế, không thể tính đến việc sản xuất toàn bộ lương thực thực phẩm bằng quang hợp nhân tạo Để thực hiện được điều này phải xây dựng những công trình có kiến trúc và cơ cấu rất phức tạp để hút và biến đổi năng lượng ánh sáng, trong khi đó với những “nhà máy sống” cây xanh có thể thực hiện một cách vô cùng giản đơn Con người chắc sẽ có thừa thông minh và không quá sỹ diện để biết nên làm gì có lợi cho mình Có điều tưởng chừng như vô lí mà lại rất hợp lí, khi càng hiểu rõ về quang hợp người ta lại càng thấy rõ vai trò của cây xanh Nhóm nghiên cứu về cơ chế quang hợp sau khi đã hoàn tất bức tranh chi tiết về quang hợp đã cho biết, trong thời gian trước mắt, phát hiện của họ chưa mang lại bất kì ứng dụng nào Họ chỉ hy vọng rằng nó có thể giúp cho giới khoa học hình dung về một quá trình hoá học quan trọng nhất của sự sống mà thôi ?!
Trong tương lai, người ta vẫn sẽ không ngần ngại bỏ ra nhiều tiền của để tiếp tục nghiên cứu về quang hợp Không chỉ đơn thuần nhằm tăng năng suất của cây trồng mà thực sự còn có tham vọng sử dụng các nguyên tắc và phản ứng của quang hợp trong các hệ thống công nghiệp nhân tạo Dĩ nhiên quang hợp nhân tạo không thể đảm bảo cho con người những thức ăn hoàn hảo và nhiều loại mà thế giới thựcvật đã ban tặng cho con người Nhưng hoàn toàn hy vọng quang hợp nhân tạo có thể tạo ra các chất đơn loại về thực phẩm cũng như các loại nguyên liệu khác Hơn thế nữa, nếu tìm ra cơ chế của hệ thống quang hợp, con ngừơi có thể mơ ước đến việc tiến hành bất cứ phản ứng hoá học nào để tổng hợp nên bất kì chất nào từ năng lượng bức xạ mặt trời Điều này thật ý nghĩa cho cuộc sống nhân loại trong tương lai, đặc biệt là đối với các tổ chức nghiên cứu chinh phục không gian, cấu trúc của bộ máy quang hợp có thể giúp lập ra các hệ nhân tạo có khả năng hình thành các phản ứng dẫn tới việc dự trữ năng lượng cho các chuyến du hành vũ trụ trong tương lai Quả thật quang hợp bắt người ta phải suy nghĩ, tìm tòi và giúp người ta ấp ủ những ước mơ
Những vấn đề nêu trên có lẽ không quá viễn vông và sẽ nằm trong tầm tay con người Nhưng đôi khi, do quá trí thông minh mà chúng ta quên rằng tạo hoá đã tạo ra mọi thứ và ban phát vào nó những tiềm năng riêng Từ xưa cho đến tận bây giờ “cây vẫn là môi giới giữa trời và đất” Điều cần thiết phải làm ngay lúcnày là hãy cải tạo đúng mực, bảo vệ và sử dụng hợp lí cây xanh Đó cũng là sử dụng hợp lí chức năng quang hợp, cái mà con người đã được trời đất ban phát
http://www.sinhhocvietnam.com.vn\tin quoc te
Trang 20Cây ăn thịt hoạt động ra sao? - 30/3/2006 3h:48
Thông thường cây cối có thể tự tạo ra nguồn thức ăn cho mình Chúng lấy carbon dioxide từ không khí, nước ngầm, khoáng chất dưới đất và quang hợp từ ánh sáng mặt trời.
Tuy nhiên, có vài loại cây chuyên lấy khoáng chất không phải từ đất mà bằng cách bẫy và ăn thịt động vật
Các loài cây ăn thịt có nhiều phương cách để bẫy động vật Cây nắp ấm (pitcher plant), cây loa kèn vàng (yellow trumpet) hay cây gọng vó (sundew) có chung cách thức bẫy côn trùng là dùng những chất có mùi
ngọt, thơm của chúng để hấp dẫn côn trùng
Những chất nhầy nằm ở cuối thân hoa sẽ phân hủy xác côn trùng vô ý rơi vào bẫy thành thức ăn giúp chúng
có thêm chất dinh dưỡng Ngoài ra còn có cây venus flytrap (tên khoa học Dionaea muscipula) sinh sống
nhiều ở vùng Carolina (Mỹ)
Lá cây có hình hai nắp chai úp vào nhau với hàm răng tua tủa, bên trong lá cây là hai sợi tóc rất nhạy cảm Chỉ cần côn trùng đậu và chạm vào hai sợi tóc này, lá cây lập tức úp lại khiến côn trùng không thể thoát ra Bên trong, chất phân hủy sẽ trào ra giết chết nạn nhân và biến chúng thành chất dinh dưỡng cho cây
Người ta cũng biết tới vài loài cây ăn thịt lớn khác nữa như cây Nepenthes và cây Amorphophallus titanum
(đều có nguồn gốc từ Indonesia) Chúng có khả năng bẫy những loại côn trùng lớn, thậm chí cả những động vật nhỏ như chuột, thằn lằn và ếch nhái
http:// www khoahoc.com.vn\sinh vat hoc\KhoaHoc_com_vn Cây ăn thịt hoạt động ra sao - Khoa học và
Tri thức.html
Trang 21http:// www khoahoc.com.vn\sinh vat hoc\KhoaHoc_com_vn Cây ăn thịt hoạt động ra sao - Khoa học và
Tri thức.html
Cây gọng vó (sundew) Cây venus flytrap (tên khoa học Dionaea muscipula)
Cây loa kèn vàng (yellow trumpet) Cây Amorphophallus titanum
Cây Nepenthes Cây nắp ấm (pitcher plant)
Trang 23http://wwwpharyngula.org[images[flower_anatomy.gif
Trang 24http://www.plb.ucdavis.edu[labs[rost[Rice[reproduction[flower[flower.html
Trang 25Stamen
http://www.plb.ucdavis.edu[labs[rost[Rice[reproduction[flower[flower.html
This is an anther after the pollen grains inside are released.
Carpel
Trang 26Loài hoa nhanh nhất trong tự nhiên
[12/05/2005 - Sinh học Việt Nam]
Danh hiệu loài thực vật nhanh nhất trái đất giờ thuộc về cây sơn thù du ở
Canada(Bunchberry Dogwood), các nhà thực vật học tuyên bố.
Những bông hoa sơn thù du nhỏ xíu có thời gian mở ra chưa tới 0,5 phần nghìn giây, phóng đi cơ quan sinh sản đực (phấn hoa) dưới một áp lực gấp 800 lần lực mà các nhà du hành phải chịu khi tên lửa được phóng
"Video tốc độ cao đã cho thấy bông hoa nở ra trong vòng chưa tới 0,5 phần nghìn giây, nhanh nhất từngđược ghi nhận ở một loài thực vật", Joan Edwards tại Đại học Williams ở Williamstown, Mỹ, cho biết
Cây sơn thù du (Cornus canadensis) đã vượt qua các loài thực vật nổi tiếng nhanh như chớp khác, như quả Impatiens pallida nổ tung trong 2,8-5,8 phần nghìn giây, và cú khép chặt của hoa bẫy ruồi Venus
trong 100 phần nghìn giây
Loài cây này thậm chí còn nhanh hơn cả bọ chét có cú nhảy với tốc độ 0,5-1,0 phần nghìn giây và tôm
bọ ngựa với pha tấn công chớp nhoáng trong 2,7 phần nghìn giây
"Nhị hoa sơn thù du được cấu tạo giống như máy bắn đá thời trung cổ thu nhỏ", Edwards cho biết Cỗ máy này cho phép bông hoa bắn phấn hoa đi xa hơn cả một chiếc máy lăng đá đơn giản
Thông thường, kẻ khởi động cho chiếc máy bắn đá này thường là những con côn trùng lớn như ong bắp cày, hoặc đôi khi chẳng có gì cả Khi một con côn trùng đậu vào bông hoa, phấn hoa dính lên thân thể chúng và được truyền sang những bông khác Cũng có khi bông hoa tự nở ra, phấn hoa được mang
đi trong gió và hội ngộ với cơ quan sinh sản cái của những bông hoa khác
Tuy vậy, những phấn hoa đủ dính để bám lại trên thân thể côn trùng thường không có đủ bột để được mang đi trong gió Vì vậy, có thể cây sơn thù du đã phát triển máy bắn đạn nhỏ xíu làm phương án dự phòng, khi mà những kẻ thụ phấn không xuất hiện, các nhà khoa học phỏng đoán
Cây sơn thù du là loài thực vật phổ biến tạo nên những thảm cỏ dưới rừng taiga và vân sam ở Canada
http://www.sinhhocvietnam\sinh hoc ky thu
Trang 27Hoa vua - Rafflesia arnoldii - 24/4/2006 7h:27
Hoa vua là loài hoa lớn nhất thế giới, mọc trong rừng nhiệt đới trên các đảo Java và Sumaitra của Indonesia; Malaysia
Hình dạng của cây hoa này rất kỳ quái, vừa không có rễ lại không có thân và cũng không có lá, rõ ràng không có gì đáng gọi là cây Vì nó chỉ là hoa, một loại hoa khổng lồ nên được tôn vinh là hoa vua
Đã là vua, tất nhiên phải có người hầu hạ, cơm nước Hoa vua sống ký sinh với chiếc cuống hoa duy nhất
của mình cắm vào rễ ngầm của cây song phấn trắng (cissus) hút dinh dưỡng.
Đường kính lớn nhất của hoa vua tới 1,4m; thường nặng từ 4-5kg, có bông nặng tới 50kg Năm cánh hoa màu đỏ, mọng nước, mỗi cánh hoa dài 30-40cm, dày 20cm, ở giữa là nhị hoa và đĩa mật Đĩa mật có đường kính khoảng 33cm, cao 30cm nếu đem đựng nước, có thể chứa được 5-6kg.
Màu hoa rất đẹp, khi mới nở có mùi thơm, nhưng một vài ngày sau thối như mùi chuột chết, không thể gửi
được Nhờ mùi thối này, ruồi nhặng và côn trùng đã xúm lại giúp hoa vua "truyền đời" cho con cháu Hoa
thì to, nhưng quả lại cực nhỏ Quả thường dính vào chân voi để tìm đất mới
http://www.KhoaHoc_com_vn Hoa vua - Rafflesia arnoldii - Khoa học và Tri thức.html
Lúc hoa mới nở
(Ảnh: conservation)
Trang 29http://www.mansfield.ohio-state.edu[~sabedon[campbl30_files[image018.gif
Trang 30http://www.ejournal.sinica.edu.tw[bbas[content[2002[1[310501.JPG
Trang 31Tảo và sự không đồng đều về nhu cầu vitamin
[10/11/2005 - Sinh học Việt Nam]
Nhu cầu về vitamin B12 thay đổi giữa các loài tảo theo một cách thức có
vẻ như không thể giải thích được Một nghiên cứu khai thác dữ liệu gen
đã cung cấp thông tin và bằng chứng về sự cộng sinh của tảo với vi khuẩn Động vật đòi hỏi vitamin B12 trong khẩu phần ăn hằng ngày của chúng nhưng thực vật thì không Trong khi đó, nhu cầu của tảo về vitamin B12 thể hiện một bức tranh phức tạp Nhiều loài tảo cần nguồn cung cấp vitamin B12 (như động vật), nhưng một vài loài thì không (như thực vật), và không có một phương thức tiến hoá chung nào cho những nhu cầu này Thậm chí phương pháp phân lập khác nhau cũng có thể dẫn đến nhu cầu khác nhau của cùng một loài.
Ở trang 90 của tờ Nature số 438 (3 November 2005), Croft và cộng sự cung cấp một sự giải thích cho các mảnh ghép rối rắm về nhu cầu vitamin B12 của tảo Và họ đã đi đến một bước xa hơn Đối với các loài tảo cần nguồn vitamin B12 ở bên ngoài, họ cung cấp những bằng chứng thuyết phục về sự cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn, mà trong đó các dịch rỉ (dịch tiết) giàu cacbon của tảo được trao đổi với vitamin được tổng hợp từ vi khuẩn Đối với các loài tảo không cần nguồn cung cấp vitamin B12, họ tìm thấy một co-factor hiệu quả cho một enzyme trong con đường tổng hợp amino acid methionie
Khoảng hơn 100 năm trước đây, khi các loài tảo lần đầu tiên được nuôi cấy thành công, chúng thường được nuôi cấy trên môi trường vốn dành cho thực vật tức là thiếu các loại vitamin Nhưng một vài loài tảo không thể phát triển theo cách này, và nước chiết đất (dịch đất) đã được thêm vào môi trường đối với những sinh vật không thể mọc trong môi trường nói trên Ngoài các chất dinh dưỡng khác, đất còn cung cấp các nguồn vitamin không nhận thấy được, từ đó người ta có thể nuôi cấy được hầu hết các
loài tảo Vào năm 1948, dịch chiết gan đã cải thiện sự phát triển của Euglena và chứng minh sự cần thiết của vitamin B12 đối với tảo một năm sau đó Một thời gian ngắn sau, Euglena và
Poterioochromonas trở thành sinh vật chỉ thị sinh học quan trọng để phát hiện sự thiếu vitamin B12 ở
máu và nước tiểu của người Khoảng năm 1980, nhu cầu vitamin B12 được nhận thấy ở khoảng 400 dòng tảo, nhưng sau đó những nghiên cứu về chủ đề này cũng dừng lại
Croft và đồng sự đã nối tiếp việc nghiên cứu đề tài này, họ bắt đầu khảo sát lại nhu cầu vitamin B12 củamột vài dòng tảo Kết quả của họ đã được thể hiện ở các báo cáo trước Bối rối bởi sự thiếu một
phương cách tiến hoá chung về nhu cầu vitamin B12 giữa các loài tảo, họ tìm kiếm các gen mã hoá cho
các enzyme phụ thuộc vitamin B12 trong bộ gen của lục tảo Chlamydomonas, hồng tảo
Cyanidioschizon và khuê tảo Thalassiosira
Họ phát hiện rằng Chlamydomonas và Cyanidioschizon đều có một gene mã hoá cho enzym tổng hợp methionine phụ thuộc vitamin B12 (vitamin-B12-dependent methionine synthase gene - metH) và một
gen mã hoá cho enzym tổng hợp methionine không phụ thuộc vitamin B12 (vitamin-B12-independent
methionine synthase gene - metE) Cả hai sinh vật này có thể phát triển mà không cần nguồn vitamin bên ngoài Xa hơn, Croft và cộng sự trình bày rằng Chlamydomonas ưu tiên sử dụng gene metH khi nguồn vitamin B12 sẵn có, nhưng sẽ sử sụng gen metE khi vắng mặt vitamin B12 Trái lại họ chỉ tìm thấy gen metH ở bộ gene Thalassiosira, một loại tảo có nhu cầu hoàn toàn với vitamin này
Có thể đoán rằng các tổ tiên của loài tảo có cả hai gene này và sau đó nhưng sau đó theo tiến trình tiến
hóa, các gene metE và metH có thể bị mất đi theo các cách thức không phụ thuộc lẫn nhau Đáng chú ý
là ở thế hệ con cháu, hai gene này vẫn tiếp tục có những “mọc" ra từ tổ tiên và cũng hòan tòan không liên hệ với nhau, điều này giải thích tại sao chúng ta không tìm thấy những dòng giống một loại gene này hay gene khác (như chúng ta thấy ở thực vật và động vật) Sự mất mát gene rải rác tạo nên trạng thái lộn xộn về mặt tiến hóa ở mức độ loài hay thậm chí là mức độ dòng
Trang 32Croft và cộng sự cũng cung cấp bằng chứng về sự điều hòa tăng quá trình tổng hợp vitamin B12 của vi
khuẩn Halomonas khi có mặt dịch rỉ của tảo Nhiều loại tảo là thành viên của một nhóm phân loại lỏng
lẻo là sinh vật nguyên sinh (protists) Chúng thường có dạng đơn bào và bao gồm các sinh vật như
Amoeba (Amip) và Paramaecium (trùng đế giày) Hiện tượng nội cộng sinh, trong đó một sinh vật (như
vi khuẩn) trú ngụ bên trong một sinh vật khác, làm lợi cho nhau, đã được nghiên cứu kỹ lưỡng ở sinh vật nguyên sinh (protists), đặc biệt là để xem xét nguồn gốc của lục lạp và ty thể Nhưng sự ngoại cộng sinh - theo nghĩa đen là có nhiều mối quan hệ bề mặt hơn - liên quan đến vi khuẩn và tảo thì nhận đượcrất ít sự chú ý
Các nghiên cứu trước đây quả thực thể hiện rằng Thalassiosira và một số khuê tảo (tất cả đều cần
vitamin B12) có thể phát triển không cần bổ sung vitamin khi dịch vi khuẩn được thêm vào môi trường nuôi cấy khuê tảo Các nghiên cứu này cũng đã gợi ý về sự tồn tại mối quan hệ cộng sinh Nhưng không giống Croft và cộng sự, các tác giả của nghiên cứu này không nhận thấy sự liên quan của vi khuẩn hay những gene (hay enzyme) đặc biệt, và họ cũng không giải thích được sự điều hòa tăng lên một gene của vi khuẩn trong sự đáp ứng một tín hiệu hoá học từ tảo
Phương pháp của Croft và cộng sự có thể được chấp thuận rộng rãi hơn, bởi vì sinh vật nguyên sinh (protists) có các chu trình sinh hoá cơ bản đa dạng và trãi rộng hơn nhiều so với động vật và thực vật Chúng ta có thể hy vọng rằng các chu trình enzyme mà nó tạo ra các amino acid khác, đường, lipid v.v - các chất từ lâu đã được biết là rất đa dạng ở sinh vật nguyên sinh, và thể hiện mô hình tiến hoá khảm tương tự - sẽ được khảo sát tương tự bằng cách dùng các dữ liệu gene sẵn có hiện nay Có lẽ nhóm vi khuẩn cộng sinh tạo ra vitamin B12 phụ trội sẽ được xác định cũng như người ta sẽ tìm cách xác định thêm một số vitamin khác cũng được tạo ra bởi vi khuẩn cộng sinh
Nhưng nguồn vitamin không bắt nguồn từ vi khuẩn cộng sinh có thể có vai trò tương đượng, thậm chí làquan trọng hơn Ví dụ, nồng độ vitamin B12 ở biển thay đổi theo mùa, và có một bằng chứng gián tiếp mạnh mẽ là vitamin này được tạo ra ở các tầng nước sâu nơi mà bóng tối khiến cho mối quan hệ cộng sinh giữa tảo và vi khuẩn không thể tồn tại
Rõ ràng, công trình của Croft và cộng sự chưa trả lời được tất cả các câu hỏi Nhưng đó là một tiến bộ lớn trong sự hiểu biết của chúng ta về lý do tại sao nhu cầu của vitamin B12 không đồng đều giữa các loài tảo, và nó cũng gợi ý nhiều cơ hội nghiên cứu hấp dẫn
http://www.sinhhocvietnam\rasearch highlights
Trang 33Dendroalsia (Balsam-tree Moss)
Phylum: Bryophyta (mosses) Class: Bryopsida =Musci (True Mosses)
Order: Hypnales Family: Leucodontaceae =Cryphaeaceae
http://www.perspective.com[nature\plante\mosses and allies
Mosses (Phylum: Bryophyta ) Leafy Liverworts (Phylum: Hepatophyta ,
Trang 34Polytrichum (Haircaps moss)
Phylum: Bryophyta (mosses)
Class: Bryopsida =Musci (True Mosses)
Order: Polytrichales
Family: Polytrichaceae
http://www.perspective.com[nature\plante\mosses and allies
Trang 35http://www.hypnea.botany.uwc.ac.za[phylogeny[bioCycles[sporic6.htm
Trang 37Family: Pteridaceae (Brake family)
http://www.perspective.com[nature\plante[ferns and allies
Trang 38http://www.anbg.gov.au[ferns[fern.cycle.gif
Trang 39Phylum: Ginkgophyta (Ginko)
Phylum: Gnetophyta(Ephedra)
Phylum: Cycadophyta (Cycads)
Phylum: Coniferophyta (Conifers)
Single Class?: Pinate
Family Cupressaceae (Cypress)
Calocedrus (Incense Cedar)
Cupressus (Cypress)
Juniperus (Juniper)
Thuja (Arborvitae)
Western Red Cedar
Family Araucariaceae (strange Australian)