1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sổ tay nghiệp vụ 8

56 398 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ thể người - một nhà máy thủy lực
Trường học Trường Đại Học Khoa Học
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại bài viết
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 914,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh các dấu hiệu điển hình trên, sai khớp còn có những dấu hiệu biến dạng đặc biệt sau: Dấu hiệu gù vai vai vuông góc thường thấy ở sai khớp vai; dấu hiệu nhát rìu thấy ở trường hợp

Trang 1

Cơ thể người - một nhà máy thủy lực - 3/6/2006 14h:19

Để biết chắc một người đã chết hay chưa, người xưa đặt một tấm gương trước mũi họ Nếu thấy hơi nước không đọng lại trên gương thì biết người

ấy đã qua đời Hơi nước thoát ra từ phổi, là chứng nhân cuối cùng của hoạt

động sống

Cơ thể con người giống như một khối bọt biển, ở đàn ông, nước chiếm 64% khối lượng cơ thể, còn ở phụ

nữ là 70% Nước nuôi dưỡng và làm sạch cơ thể con người Ngay cả tư duy của chúng ta cũng phụ thuộc vào nước: không có nước thì không có năng lượng nên không tạo ra sự hoạt động của hệ thần kinh

Phương pháp dùng gương xác định cái chết kể trên rất khớp với sự thật: Trong tất cả những yếu tố cấu tạo nên con người chúng ta, nước giữ vai trò quan trọng nhất Nó quan trọng trước hết do khối lượng Bình quân ở một người cân nặng 70 kg, cơ thể chứa khoảng 45 kg nước (gần bằng 2/3 thể trọng) Ở não, nước chiếm tỷ lệ 85%, ở da 70%; tim: gần 80% Ngay cả ở xương - biểu tượng của sự rắn chắc trong cơ thể cũng

có tỷ lệ nước lên tới 20% Ở nơi rắn nhất là răng cũng có nước, chiếm 0,2% Nước len lỏi qua những “đường ống” khác nhau, hiện diện trong hệ thống mạch máu, lan tỏa khắp cơ thể

Hệ thống này gồm 160 triệu động mạch nhỏ, 500 triệu tiểu tĩnh mạch và 5 tỷ mao mạch, tổng cộng 940 km

ống dẫn đã đưa máu đến khắp cơ thể

Nhưng nước không chỉ hiện diện trong quá trình ấy, chúng băng qua các mạch máu, đặc biệt là các mao mạch xốp (chiếm diện tích khoảng 300 m2 trên toàn cơ thể) và du hành trong những lối quanh co li ti giữa

các tế bào Sau cùng, chúng thẩm thấu qua màng tế bào để vào bên trong tế bào

Những dòng nước ấy giữ chức năng trọng yếu trong cơ thể con người Trước hết, qua mạng mạch máu hay bạch huyết, nước đưa năng lượng đến các cơ quan nội tạng để chúng có thể hoạt động Nói cách khác, nước chuyên chở thức ăn (mỡ, đường) đến các bắp thịt Như thế, nước giống “kẻ chở thuê” và là kẻ chở thuê tài

ba Bởi trong khi vận chuyển, nước đồng thời chế biến những nguyên liệu chúng đem đi Nước tham gia chuyển hóa thức ăn, biến chúng thành năng lượng sẵn sàng để cơ thể con người sử dụng Kế đó, nước loại các chất thải qua nước tiểu, mồ hôi và cả hơi thở Sau cùng, nước cũng giữ nhiệm vụ vận hành những yếu

tố bảo vệ cơ thể con người: các bạch huyết bào (bạch cầu) Ngoài ra, nước có tiềm năng lớn về nhiệt Phải cần rất nhiều năng lượng mới có thể làm cho nước thay đổi nhiệt độ Tuy nhiên, nước trong cơ thể con người luôn giữ được nhiệt độ ổn định Tính chất kép này giúp ta tránh được những thay đổi quá lớn về thân nhiệt Trong toàn cơ thể, nước ngăn những phản ứng hóa học

quá mạnh và đột ngột gây nên sự hủy hoại tế bào

Một yếu tố phụ trợ cho hệ thống điều hòa nhiệt độ này là sự bài tiết mồ hôi Khi con người đổ mồ hôi, nước

sẽ bay hơi, hấp thụ năng lượng trên bề mặt da Nếu không có hiện tượng này, cơ thể sẽ chịu tác động của

một sức nóng quá độ, rất có hại Nước có một chức năng vô cùng quan trọng khác, ít người nhớ đến, đó là tạo nên cấu trúc cho cơ thể Cơ thể được hợp thành bởi một lượng vô cùng lớn các tế bào, mỗi tế bào có một màng bao bọc Nước tác động lên hình dạng của tất cả những bộ phận này Không có nước, các tế bào sẽ biến dạng, vẹo vọ đi, cấu trúc bị

lung lay Nước cũng rất cần thiết cho hoạt động của các enzym Không có nước, enzym sẽ mất hình dạng và do đó

không thể hoàn thành chức năng của chúng Hậu quả là tế bào sẽ chết Nhưng khả năng tuyệt vời nhất của nước là mang lại sự sống cho trí suy tưởng của con người; nó là nguồn gốc của tư tưởng Nước giúp hệ thần kinh, nhất là não, hoạt động Nhờ sự hiện diện của nước, nhiều

nguyên tử phân thành ion mang điện, giúp dẫn truyền các luồng xung động thần kinh

http://www.khoahoc\kham pha

Trang 2

Nước là yếu tố sống còn của cơ thể con người nên nó cần được gìn giữ với số lượng hầu như không đổi Điều này được bảo đảm trước tiên ở thận, nó thải nhiều hay ít chất lỏng tùy thuộc vào nhu cầu cơ thể Nếu

cơ thể thiếu nước, máu trở nên đặc hơn, thận được báo động nên lượng nước tiểu sẽ giảm đi Nếu sự thiếu nước trở nên trầm trọng hơn, sự hợp tác tại chỗ sẽ khởi phát: thận gửi đến gan tín hiệu cấp cứu Qua trung gian với một thông điệp khác, tín hiệu cấp cứu sẽ đến tuyến thượng thận, cơ quan này ra lệnh cho thận thu

hồi muối và do đó thu cả nước

Còn nếu sau khi mồ hôi đổ nhiều, mức độ nước thiếu hụt nặng hơn thì lần này, não sẽ can thiệp Được báo động, tuyến yên sẽ tiết ra hoóc môn gây co mạch Chất này kích thích thận phải hạn chế hơn nữa sự thải nước tiểu Ruột, nhất là ruột già, sẽ hợp tác trong quá trình “chống hạn” nói trên Cơ quan này rút nước trong phân, ít hay nhiều tùy lệnh của tuyến yên Để bổ sung, cơ thể đốt cháy một số đường để giải phóng

nước

Thường khi không được thiếu nước quá 3 hay 4 ngày, cơ thể sẽ gặp những rối loạn trầm trọng Sau 15 ngày

không có nước, tế bào sẽ không thể hoạt động được nữa và hiểm họa sẽ ập đến

http://www.khoahoc\kham pha

Trang 3

Đau do tổn thương rách bao khớp.

- Giảm hoặc mất hoàn toàn cơ năng vận động khớp

- Hõm khớp bị rỗng, đây là dấu hiệu đặc biệt của sai khớp Nhưng không phải khớp nào cũng có triệu chứng này mà chỉ gặp ở khớp vai, khớp hàm và một phần khớp khuỷu Nếu bệnh nhân đến điều trị muộn thì khó có thể nhận thấy do chỗ đau bị sưng phù nhiều

- Biến dạng toàn chi: Nếu sai khớp vai thì tư thế cánh tay luôn biến dạng và không thể khép sát vào thân được Nếu sai khớp háng, tư thế chi trở nên ngắn, gối xoay vào trong, bàn chân bên có khớp sai gác sang cổ chân bên lành

- Dấu hiệu gồ bất thường do chỏm xương trật ra khỏi hõm khớp

- Cử động đàn hồi, còn gọi là Dấu hiệu lò xo, chỉ có trong sai khớp do đầu xương trật ra chỗ khác và bị bó chặt trong khối cơ gân và dây chằng Dù cố ý kéo hay đẩy để đưa khớp về vị trí bình thường nhưng khớp vẫn bật trở lại tư thế sai

Bên cạnh các dấu hiệu điển hình trên, sai khớp còn có những dấu hiệu biến dạng đặc biệt sau: Dấu hiệu gù vai (vai vuông góc) thường thấy ở sai khớp vai; dấu hiệu nhát rìu thấy ở trường hợp sai khớp khuỷu ra sau (do mỏm khuỷu trồi ra sau cùng với tư thế của cánh tay tạo ra một chỗ hõm vào trong như gốc cây bị rìu chặt dở dang); dấu hiệu phím đàn dương cầm thấy trong sai khớp cùng vai - đòn

Xử trí

Trong nhiều trường hợp bị sai khớp, người bệnh thường tự nhờ người khác cố kéo lại như cũ, mà phần lớn những người này không có chuyên môn Do vậy đã đau lại càng thêm đau và sẽ khó khăn thêm trong quá trình điều trị

Nếu trong quá trình lao động, hay trong sinh hoạt hằng ngày chẳng may bạn bị sai khớp, để chẩn đoán đúng thương tổn, cần phải đi khám và chiếu chụp ở các chuyên khoa khớp Vì trong rất nhiều trường hợp chấn thương không chỉ dẫn đến sai khớp mà còn có thể bị giãn dây chằng, bong gân, rạn xương hoặc gãy xương Đối với người cao tuổi, điều này càng phải thận trọng Nếu không được điều trị kịp thời, rất có thể các trường hợp sai khớp sẽ dẫn đến các biến chứng như: chèn ép mạch máu, thần kinh, sai khớp hở kèm mẻ xương

Hình ảnh giải phẫu khớp gối (Ảnh: TTO)

Trang 4

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Trang 5

Phát hiện bệnh viêm khớp bằng cách nghe đầu gối - 18/5/2006 7h:55

Các nhà khoa học thuộc trường Đại Học Trung Tâm Lancashire, Anh quốc vừa sáng chế một cách thức lắng nghe đầu gối của bệnh nhân để theo dõi sự phát triển của bệnh viêm khớp.

Kỹ thuật 'lắng nghe" này được các kỹ sư sử dụng để phát hiện những khiếm khuyết dẫn đến không an toàn

ở các tòa nhà cao tầng và các cầu cống

Mục đích của những nhà nghiên cứu là có thể sáng chế một dụng cụ cầm tay giúp phân tích những tần số

âm thanh cao do đầu gối phát ra Dụng cụ này sẽ giúp xác định bệnh viêm khớp được điều trị tốt hay là trở nên tồi tệ hơn

Thông thường, trong khi di chuyển, đầu gối của chúng ta phát ra những tần số âm thanh cao mà tai không thể nhận biết được

Các nhà khoa học nghĩ rằng tần số âm thanh phát ra từ đầu gối của một người khỏe mạnh khác biệt với tần

số âm thanh phát ra từ đầu gối một người bị viêm khớp

Sử dụng một thiết bị gồm một bộ phận cảm nhận âm thanh và một micro gắn vào đầu gối người bệnh viêm khớp, các nhà nghiên cứu phân tích âm thanh tần số cao do khớp xương ở đầu gối phát ra

Ở những người khỏe mạnh, khớp xương được bôi trơn hơn, vì thế âm thanh phát ra nhẹ nhàng, êm dịu Ngược lại, ở những người bệnh viêm khớp, khi di chuyển khớp xương đầu gối tạo ra âm thanh sột soạt

Kỹ thuật mới để phát hiện và theo dõi bệnh viêm khớp tỏ ra rất an toàn và tiện lợi

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Đầu gối của chúng ta phát ra những tần số âm thanh cao mà tai không thể nhận biết được

(Ảnh: e-radiography)

Trang 6

Tiêm thuốc vào khớp - lợi ích và nguy cơ - 24/5/2006 8h:50

Tiêm vào khớp là thủ thuật mang lại nhiều hiệu quả nhưng việc lạm dụng sẽ gây ra nhiều tai biến đáng tiếc.

Dùng kim nhỏ tiêm vào khớp và một số phần mềm quanh khớp là một thủ thuật thường dùng tại các bệnh viện để điều trị một số bệnh nhất định như: Thoái hóa khớp, viêm các điểm bám gân, viêm bao khớp, viêm khớp không nhiễm khuẩn trong một số bệnh khớp mạn (như viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp…)

Thuốc tiêm vào khớp

Thuốc thường dùng tiêm vào khớp là corticoid, hyaluronate sodium (hyasyn)

Corticoid: Thường dùng là loại dịch treo, với các biệt dược như prednisolone, methylprednisolone,

triamcinolone

Những nghiên cứu lâm sàng về tiêm corticoid vào khớp gối cho thấy: Nếu dùng liều duy nhất 20mg

triamcinolone (tương đương với 25mg prednisolone) thì hiệu quả giảm đau kéo dài được từ 1-4 tuần Nếu dùng liều 40mg triamcinolone thì hiệu quả giảm đau kéo dài được 16-24 tuần (Raynauld J, 2003) Liều 40mg triamcinolone cũng là liều khuyến cáo của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ Thường tiêm lập lại liều này

3 tháng 1 lần, kéo dài trong 2 năm Trong trường hợp có tràn dịch khớp gây viêm bao hoạt dịch, lúc này corticoid đóng vai trò như một chất làm giảm viêm nên việc chọn lọc hút dịch song song với việc tiêm corticoid vào khớp làm cho việc đáp ứng thuốc tốt hơn

Riêng việc tiêm corticoid vào gân để chữa các tổn thương màng hoạt dịch gân, mô quanh gân, nơi bám tận gân và chính tại gân tuy được áp dụng nhưng đến nay chưa có cơ sở lý luận vững chắc cũng như chưa có chứng cứ lâm sàng thuyết phục chứng minh hiệu quả nhưng lại gặp nhiều tai biến Trừ việc tiêm vào ngón trỏ biểu hiện thoái hóa gân và viêm có một số cải thiện (Lambert, 1992) còn hầu hết các thực nghiệm tiêm vào gân trong trường hợp viêm chu vai (rotator cuff tendinopathy) viêm lồi cầu ngoài (khuỷu tennis) và

viêm gân gót (achiles) đều không đem lại hiệu quả tốt hơn so với nhóm chứng

Hyaluronate sodium (hyasyn)

Hyaluronate là chất tự nhiên trong cơ thể người, có nồng độ cao trong mô khớp và dịch khớp với vai trò bôi trơn, giảm xóc, bảo

vệ khớp Sự giảm hyaluronate trong dịch khớp, sự mất sụn khớp

là điểm chủ yếu trong thoái hóa khớp Thuốc có tác dụng:

Tiêm vào khớp

(Ảnh: medicalmultimediagroup)

Trang 7

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Làm giảm đau (do làm giảm sinh PEG, giảm sinh bradykinin, ức chế cảm thụ đau) kháng viêm (do ngăn cản sinh PGE, ngăn tác dụng của cytokin) Ức chế thoái hóa sụn khớp, thúc đẩy tổng hợp tế bào sụn khớp.Nghiên cứu lâm sàng cho thấy: Với người bệnh trên 40 tuổi, đau khớp gối có gai xương, giảm dịch khớp cơ năng hoặc cứng khớp sau 5 tuần điều trị dùng thuốc kháng viêm không steroid và paracetamol kết hợp với hyaluronate sodium (với liều mỗi tuần 25mg x 5 tuần) có tới 93% người bệnh hết đau, nếu dùng thuốc kháng viêm không steroid và paracetamol mà không kết hợp với hyaluronate sodium thì chỉ có 10% người bệnh có tác dụng hiệu quả tương tự (Thái Thị Hồng Anh, 2005)

Ngoài việc có thể gây sưng đỏ tại chỗ, việc tiêm corticoid, hyaluronate sodium vào khớp không có tác dụng phụ nào đáng kể Trước đây có lo ngại việc tiêm corticoid vào khớp có thể thúc đẩy quá trình phá hủy khớp

và teo cơ, nay nhiều nghiên cứu cho rằng quá trình tiến triển này không phải do sự thúc đẩy của corticoid tiêm vào khớp mà do bản chất vốn có của bệnh

Trong khi chưa có một thuốc nào chữa khỏi (ngoại trừ việc thay khớp tốn kém) thì việc tiêm corticoid, hyaluronate sodium vào khớp đáp ứng mong mỏi của người bệnh: Cải thiện được các triệu chứng và an toàn có chi phí thấp

Những tai biến do lạm dụng thủ thuật tiêm vào khớp

Thực hiện thủ thuật tiêm vào khớp tại nhà hay tại tuyến y tế cơ sở chưa có đủ điều kiện thường có các sai sót

Về chỉ định: Thầy thuốc chuyên khoa xương khớp chỉ cho dùng thủ thuật tiêm vào khớp khi dùng thuốc

kháng viêm không steroid không có hiệu quả (bệnh ở mức nặng) và không cho dùng trong trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn hoặc nhiễm khuẩn tại vùng da tiêm khớp Do người bệnh thích dùng thủ thuật tiêm vào khớp (vì thấy người khác dùng có kết quả nhanh) và do người làm dịch vụ y tế tại nhà hoặc tại tuyến y tế cơ

sở chưa đủ trình độ nên đã chỉ định cho mọi trường hợp viêm khớp kể cả trường hợp nhẹ là không cần thiết

và chỉ định cho cả trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn

Một số người còn dùng một hoặc nhiều thứ thuốc khác như vitamin B12, kháng sinh, các kháng viêm không steroid hoặc trộn lẫn chúng với dịch treo corticoid tiêm vào khớp Việc dùng các thuốc trên là không đúng chỉ định, việc trộn lẫn thuốc với nhau hoặc trộn với dịch treo corticoid làm phá hỏng dạng bào chế Điều này sẽ gây ra hậu quả xấu: gây phản ứng viêm mạnh ở màng hoạt dịch, làm tổn hại đến các tổ chức hoạt dịch, sụn khớp, làm khớp bị sưng to đau, dẫn đến dính khớp, mất chức năng hoạt động khớp

Về cách tiêm: Do không nắm được vị trí giải phẫu, thiếu thành thạo khi thao tác nên không tiêm đúng vào

vị trí, thuốc không đi tới nơi cần, hiệu quả sẽ kém Nguy hiểm hơn, nếu tiêm chệch vào cơ, xương, mạch

Thuốc tiêm Legend

(hyaluronate sodium) - Ảnh:

bullwrinklerx

Trang 8

máu, dây thần kinh quanh khớp sẽ gây ra hậu quả rất xấu như teo cơ, xốp xương, làm mất chức năng vận động khớp Ngoài ra, do tiêm nhiều lần vào một vị trí và tiêm quá nông sẽ làm teo da, mất sắc tố da tại chỗ Hiếm gặp hơn, có khi người bệnh quá sợ hãi, do tiêm quá nhanh hay tiêm chệch vào mạch máu người bệnh

có thể bị choáng váng, vã mồ hôi, tức ngực, khó thở

Về cơ sở trang bị: Tại nhà hoặc tại một số tuyến y tế cơ sở thường chưa có phòng tiêm và trang bị đảm bảo

vô khuẩn toàn thân, dẫn đến hủy hoại xương khớp, dính khớp, nhiễm trùng huyết rất nghiêm trọng có thể làm tàn phế hay tử vong nếu không phát hiện sớm và xử lý bằng kháng sinh đặc hiệu, liều cao

Muốn thực hiện thủ thuật tiêm vào khớp phải có thầy thuốc chuyên khoa khớp chỉ định, có kiến thức giải phẫu, tay nghề khá để tiêm đúng vào vị trí cần; phải có nơi, trang bị đảm bảo vô khuẩn Người bệnh không nên dễ dãi chấp nhận thủ thuật này tại nhà, tại các tuyến y tế cơ sở không có đủ các điều kiện trên vì rất dễ dẫn đến tai biến nguy hiểm

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Trang 9

Nhật Bản tạo tế bào xương từ màng nhau thai

11:41' 03/04/2006 (GMT+7)

Các nhà khoa học Nhật Bản đã lấy được tế bào từ nhau thai và thành công trong việc tạo được những tế bào

có thể phát triển thành xương thực nghiệm đã chứng minh những tế bào này có khả năng giúp người bị gãy xương mau lành bệnh

Các nghiên cứu viên của Viện nghiên cứu lý hoá Nhật Bản đã dùng phương pháp vô trùng để lấy 10 miếng màng mỏng ở lớp trong cùng của nhau thai từ 10 sản phụ phải sinh nở bằng phẫu thuật.

Họ đã dùng các chất xúc tác để phân hoá tế bào từ màng nhau thai thành loại vật chất của tế bào xương Qua quá trình nuôi dưỡng, các tế bào từ 8 miếng màng nhau thai đều phân hoá thành tế bào có thể hình thành xương

Đối với các bệnh nhân bị tổn thương xương do bị gãy xương đều cần phải ghép nối bằng xương nhân tạo, nghiên cứu đã chứng thực rằng, nếu đưa những tế bào xương đã nuôi dưỡng được cấy vào khe của các tổ chức xương nhân tạo thì sẽ có thể giúp người bệnh nhanh chóng phục hồi Hiện nay, các nghiên cứu viên đang chuẩn bị nghiên cứu lâm sàng ở Đại học Osaka

Hiện nay, việc dùng tế bào để tái sinh xương thông thường là sử dụng tế bào gốc trong tuỷ sống của chính bệnh nhân đó, nhưng quá trình này sẽ có ảnh hưởng lớn về sinh lý đối với người bệnh Nếu có thể dùng màng nhau thai để giải quyết vấn đề này thì sẽ không bị phản ứng thải ghép

Các nghiên cứu viên dự định sẽ nghiên cứu sâu hơn để làm rõ thêm xem tế bào nhau thai có thể phân hoá thành tế bào của các

tổ chức khác trong cơ thể hay không?

http://www.vietnamnet\khoa hoc

Trang 10

Vài nét về sự đa nhân hóa ở cơ vân

[27/11/2005 - Sinh học Việt Nam]

Tế bào cơ xương là một tế bào cực lớn, dài, gồm nhiều nhân Phương thức hình thành sự đa nhân hóa đã thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu hình thái tế bào học từ đầu thế kỷ 20

1 Lý thuyết và bằng chứng sự đa nhân hóa nhân cơ vân.

Quan sát sự phát triển cơ xương ở phôi gà giai đọan sớm thông qua các kỹ thuật nuôi cấy mô được cho là hiện đại vào thời điểm đó (Lewis 1915, 1917 và 1920; xem Capers, 1960), vài nhà khoa học (Levi 1934 và Chèvremont 1940; xem Capers, 1960) cho rằng sự đa nhân hóa ở cơ xương là kết quả của sự trực phân (amitosis), tức là nhân tế bào phân chia liên tục nhưng quá trình phân chia tế bào chất lại không diễn ra Nhiều quan sát sự hình thành tế bào cơ vân trên chuột và người của Pogogeff và Murray (1946; xem Capers, 1960) cũng đồng ý với giả thuyết nói trên Hai tác giả này còn cho rằng các bó sợ cơ vân đa nhân có thể phân thành những nhỏ và mỗi mảnh nhỏ là đơn nhân để rồi các tế bào đơn nhân này sẽ tái lập các mảnh cơ đa nhân thông qua tiến trình trực phân

Từ đây thúc đẩy hàng lọat các nhà khoa học dò tìm thêm bằng chứng để ủng hộ hay phản bác lại quá trình amitosis diễn ra trong quá trình hình thành cơ vân.

Mãi đến năm 1957, Avery, Chow and Holtzer (xem Capers, 1960) trong một bài báo nghiên cứu về sự ảnh hưởng của dây sống lên các trạng thái biệt hóa cơ ở gà đã cho thấy có sự dung hợp tế bào cơ để cho ra tình trạng đa nhân Tuy thế, Holtzer, Marshall và Finck (1957; xem Capers, 1960) khi sử dụng kỹ thuật kháng myosin bằng chất đánh dấu hùynh quang đã không thể chứng minh được mô hình phát triển sự đa nhân qua sự dung hợp tế bào Thế nhưng nhiều nhà khoa học vẫn vững tin rằng lý thuyết dung hợp tế bào là đúng để từ đó họ dò tìm thêm bằng chứng mới sẽ xuất bản trong tương lai

Đến tháng 4 năm 1959, Murray (xem Capers, 1960) dung hòa hai lý thuyết nói trên và cho rằng cả hai quá trình phân chia nhân trực tiếp và dung hợp tế bào đều rất có khả năng diễn ra để hình thành sự đa nhân hóa cơ vân.

Thế nhưng chỉ một năm sau, 1960, Capers đã công bố bằng chứng tế bào học gần như là rõ ràng nhất chứng minh cho lý thuyết dung hợp tế bào trong sự đa nhân hóa là đúng đắn Tác giả sử dụng kỹ thuật nuôi cấy phôi gà 13 ngày tuổi đến 4 tháng tuổi cùng với kỹ thuật quay phim gián đọan thời gian đối pha cho thấy rằng không có sự nguyên phân, trực phân hay nảy chồi nhân diễn ra trong suốt quá trình phát triển cơ vân Ngược lại tác giả thông qua kỹ thuật quay phim đã thấy rõ ràng là sự dung hợp màng nguyên bào cơ chính là cách thức tạo nên các mô cơ, đồng thời các giả còn nhận thấy các tế bào cơ sau khi được hình thành đã duỗi thẳng hai cực Quan trọng hơn, Capers còn cho thấy khi quá trình dung hợp xảy ra, nhân có sự di chuyển và tái định hướng và quá trình này đòi hỏi màng nhân phải “vặn vẹo” trong một thời gian tạm thời; theo Caspers đó có thể là nguyên nhân khiến cho các nghiên cứu trước đây khi quan sát thấy tình trạng này đã cho rằng quá trình trực phân đã xảy ra.

Casper đã đúc kết trật tự phát triển về mặt tế bào học quá của một bó cơ mới bao gồm: cực tế bào trãi rộng, nhân di chuyển, định hướng và cố định Theo sau trật tự này là ty thể gia tăng cường độ họat động, tăng sợi myofibril và các băng chéo

Có tác giả đã phát hiện những nguyên bào cơ phân lập từ phôi gà tăng sinh nhanh trong môi trường phủ collagen trong đĩa Petri Tuy nhiên khoảng hai ngày sau những nguyên bào cơ này dừng việc phân chia và bắt đầu dung hợp với tế bào kế cận cho ra những ống cơ có khả năng tổng hợp những protein đặc hiệu.

Và đến 1967 bằng chứng thuyết phục nhật cho sự dung hợp nguyên bào cơ xuất phát từ con chuột khảm Những con chuột này có thể được tạo thành từ sự dung hợp hai phôi sớm, từ đó cho ra đời một con chuột có hai dòng tế bào riêng biệt Minzt và Barker (1967) đã dung hợp phôi chuột có khả năng sản xuất cho ra những loại enzyme isocitrate dehydrogenase khác biệt Enzyme này đuợc tìm thấy trong tất các tế bào, gồm hai tiểu đơn vị y hệt nhau

Vì thế, nếu ống cơ được hình thành từ một tế bào mà nhân của nó phân chia không qua quá trình phân bào, khi đó người ta tin rằng sẽ cho rằng tìm thấy hai hình thái enzyme riêng biệt, có nghĩa là hai dạng cha mẹ trong một con chuột di truyền khác nguồn (allophenic mouse) Nhưng nếu ống cơ được hình thành bởi cách dung hợp các tế bào,

ắt hẳn sẽ tìm thấy những tế bào cơ giống nhau không chỉ chứa hai loại enzyme bố mẹ (AA và BB) mà còn một loại thứ ba mà mỗi tiểu đơn vị lấy từ mỗi loại bố mẹ (AB) Những hình thức khác nhau của enzyme isocitrate

dehydrogenase có thể được phân lập và nhận dạng nhờ tính di động của chúng trên trường điện di (electropherotic mobility), những kết quả này rõ ràng chứng tỏ rằng mặc dù chỉ có hai dạng enzyme bố mẹ hiện diện trong tất cả các

mô của con chuột di truyền khác nguồn, nhưng dạng enzyme lai (AB) đã xuất hiện trong dịch chiết của mô cơ xương Do đó những ống cơ phải được hình thành từ sự dung hợp một số nguyên bào cơ (xem hình)

Trang 11

Bằng chứng này quan trọng trong việc chứng tỏ rằng sự dung hợp nguyên bào cơ thật sự diển ra trong phôi và chấm dứt quá trình tranh cãi dai dẳng về hai lý thuyết đa nhân hóa ở cơ vân Từ đó đến nay hàng lọat nghiên cứu về

sự hình thành và phát triển cơ vân đã được thực hiện rộng khắp các đối tượng từ người cho đến ruồi giấm

(Drosophila).

2 Tóm tắt sự hình thành cơ xương đa nhân

Về cơ bản, sự hình thành và tăng trưởng các bó cơ hay ống cơ đa nhân diễn ra theo một tiến trình gọi là sự phát sinh cơ Trong suốt quá trình phát sinh cơ, các nguyên bào cơ đơn nhân sẽ rút ra khỏi chu trình tế bào, các gene chịu trách nhiệm cho biệt hóa tế bào cơ sẽ được biểu hiện và sau đó sẽ dung hợp với các tế bào lân cận từ đó tạo thành những sợi cơ mới sinh có đặc tính là đa nhân Sợi cơ lại tiếp tục trãi qua nhiều sự trưởng thành sâu hơn như gia tăng kích thước, tiếp tục dung hợp thêm nữa và tạo ra nhiều protein vận động

Ở người trưởng thành, cơ vân khá là linh động Chúng có thể giảm kích thước ở những cơ không dùng đến gọi là hiện tượng teo cơ Hoặc gia tăng kích thước ở những trường hợp luyện tập – còn gọi là trương cơ.

Sự thay đổi kích thước cơ gắn liền với sự thay đổi số lượng nhân trong sợi cơ Quan hệ này tuân theo tỷ thuận ở tất

cả trường hợp đã quan sát được Ví dụ số lượng nhân giảm trong trường hợp teo cơ và chúng tăng trong trương

cơ Điều này cho thấy số lượng nhân không là một hằng số và sự gia tăng kích thước bó cơ đòi hỏi phải có sự gia tăng số lượng nhân để giữ cho “vùng nhân” luôn là hằng định Vùng nhân là một vùng không gian (thể tích) tế bào chất được điều khiển bởi các sản phẩm gene của một nhân cơ đơn lẻ Do nhân của bó cơ luôn nằm ở trạng thái hậu nguyên phân do đó tất cả nhân được thêm vào là kết quả của quá trình tăng sinh nguyên bào sợi, biệt hóa và dung hợp tế bào Thông qua quá trình tăng nhân nhờ dung hợp, sợi cơ có thể gia tăng thể tích tế bào chất và sinh tổng hợp protein từ đó gia tăng kích thước tế bào Tóm lại sự tăng trưởng của sợi cơ phụ thuộc vào tiến trình phát sinh cơ: tăng sinh nguyên bào cơ, biệt hóa và dung hợp tế bào.

Quá trình tế bào học của việc dung hợp nguyên bào cơ đã được nghiên cứu khá chi tiết từ đó người ta đúc kết rằng

sự dung hợp tế bào là chuỗi sự kiện đặc biệt có trật tự trước tiên các tế bào sẽ nhận diện qua sự tương tác của các phân tử bề mặt; sau đó chúng sẽ gắn kết với nhau trong suốt tiến trình hình thánh ống cơ Khi đã gắn kết với nhau, các màng nguyên bào cơ đã kéo dài sẽ áp sát song song với ống cơ hay các nguyên bào cơ khác Sự hợp nhất màng sẽ xảy ra giữa các màng sinh chất nằm kề nhau trong một khu vực nhỏ có dòng tế bào chất liên tục Các phần màng thừa ở khu vực dung hợp sẽ được tạo thành các túi bào quan nhỏ Kết quả là tạo ra một tế bào đơn lẻ đa nhân Như thế sự dung hợp nguyên bào cơ diễn ra theo trật tự là: nhận diện, gắn kết, sắp xếp và hợp nhất màng Điều cần lưu ý là nguyên bào cơ không dung hợp màng với các lọai tế bào khác mà điều này chỉ xảy ra giữa các nguyên bào cơ hay giữa nguyên bào cơ với sợ cơ hoặc giữa các bó cơ trong thời kỳ tăng trưởng cơ

http:// www sinhhocvietnam\tin tuc khoa hoc

Trang 12

Australia: đột phá trong nghiên cứu phát triển cơ quan người - 8/6/2006 10h:16

Các nhà khoa học Australia đã nuôi cấy thành công mô tim đang đập trong phòng thí nghiệm trong một công trình nghiên cứu mang tính đột phá đầu tiên trên thế giới Thành công này có thể mở đường cho việc tạo ra các cơ quan người phục vụ cho các ca phẫu thuật cấy ghép, thay thế nội tạng…

Nhóm nghiên cứu cho biết mục đích của họ là nhằm tạo ra và nuôi các

cơ quan, trong đó có các bộ phận của tim, bằng cách sử dụng các tế bào mầm của bệnh nhân để tránh các vấn đề thải loại miễn dịch ở các cơ quan cấy ghép

Cho đến nay, các nhà khoa học mới chỉ có thể tạo ra các mô 2 chiều như da trong phòng thí nghiệm Tuy nhiên, trưởng nhóm nghiên cứu gồm nhiều nhà khoa học và bác sĩ phẫu thuật AustraliaWayne Morrison cho biết họ có thể nuôi cấy mô 3 chiều mà một ngày nào đó sẽ giúp tạo ra các cơ quan trong cơ thể

“Việc tạo ra các cơ quan này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với hàng ngàn người trên thế giới - những

người mà sự sống của họ phụ thuộc vào phẫu thuật cấy ghép, đặc biệt là các bệnh nhân tim”, Morrison nói

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Hai loại gen liên quan tới bệnh nhồi máu

cơ tim - 15/5/2006 10h:30

Các nhà khoa học Trường Đại học California, Mỹ vừa tìm ra hai loại gen liên quan tới bệnh nhồi máu cơ tim sau khi thực hiện nghiên cứu trên 2000 bệnh nhân.

Hai loại gen được các nhà khoa học Trường Đại học California,

Mỹ tìm ra có tên VAMP8 và HNRPUL1

Gen VAMP8 đã từng biết đến có liên quan tới giai đoạn đầu của quá trình hình thành máu đông cục, nếu quá trình này xảy ra ở tim nó sẽ làm tắc nghẽn oxy và gây ra nhồi máu cơ tim

Gen HNRPUL1 có liên quan chặt chẽ tới nguyên nhân bệnh nhồi máu cơ tim Nhưng bản chất của sự liên kết gen này vẫn chưa rõ ràng

Theo đánh giá của các nhà khoa học từ các Trường Đại học trên thế giới như California, San Francisco, Cleveland Clinic, Case Western Reserve và Brigham Young những người có hai loại gen này có nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim tăng gấp đôi

Giáo sư Tiến sỹ John Kane Trường Đại học California, tác giả của nghiên cứu này cho biết việc tìm ra hai loại gen có liên quan tới bệnh nhồi máu cơ tim này sẽ tạo ra một bước ngoặt trong việc chuẩn đoán bệnh, đồng thời có thể dự đoán được người bệnh nào có nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim cao

Mục tiêu nghiên cứu này của các nhà khao học là xác định sự khác nhau của di truyền học Từ đó, các nhà khoa học có thể dự đoán trước được những người bị bệnh tim

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Trang 13

Rối loạn nhịp tim: nguyên nhân và cách phòng tránh - 11/5/2006 7h:55

Hoạt động bình thường của tim sẽ bị ảnh hưởng khi một trong ba thành phần: cơ tim, van tim, hệ thần kinh tim tổn thương Tổn thương hệ thần kinh tim làm xung động dẫn truyền trong quả tim bị rối

loạn, dẫn đến các buồng tim co bóp không theo tu

ần tự Máu được hút đẩy không đều trong quả tim gây hậu quả là máu ứ lại trong tim đồng thời máu không được cung cấp đầy đủ ra hệ tuần hoàn gây ra rối loạn nhịp tim

Các biểu hiện của rối loạn nhịp tim

Một số rối loạn nhịp tim không gây biểu hiện gì, tuy nhiên phần lớn các bệnh rối loạn nhịp tim đều có các biểu hiện rất rõ bằng các dấu hiệu:

Với loạn nhịp tim nhanh và nhịp không đều

Hồi hộp, đánh trống ngực: nhịp tim đập dồn dập hoặc đập tăng dần

Hụt hẫng: nhịp tim đập cách quãng trong giây lát

Khó thở - thở nhanh nông: nhịp tim đập loạn xạ, hay nhiều nhịp cách quãng xuất hiện trong thời gian ngắn.Một số biểu hiện hay gặp khác: đau ngực, choáng váng, hoa mắt, đau đầu nhẹ dai dẳng

Khi nhịp tim đột ngột đập nhanh loạn xạ có thể là báo hiệu của rung thất đe dọa tính mạng bệnh nhân

Với loạn nhịp tim chậm

Các biểu hiện kín đáo hơn: mệt mỏi triền miên, hoa mắt choáng váng, đau đầu nhẹ dai dẳng, có thể ngất Phần lớn các bệnh nhân rối loạn nhịp tim bị ngất đột ngột mà không có dấu hiệu báo trước Tuy nhiên đôi khi người bệnh thấy được một số biểu hiện báo trước: hoa mắt, chóng mặt; nhìn thấy quầng xanh trước mắt; vã mồ hôi; nôn hoặc buồn nôn; chướng bụng; đánh trống ngực; đau đầu; lú lẫn hay khó diễn đạt suy nghĩ

Nguyên nhân gây ra rối loạn nhịp tim

Mô hình quả tim (Ảnh: smm.org)

Trang 14

Mọi người đều từng trải qua cảm giác tim của mình đập rối loạn trong một khoảnh khắc nào đó, tuy nhiên

sự xuất hiện đó qua đi và không ảnh hưởng đến cuộc sống Nhưng cũng có những rối loạn nhịp tim tồn tại, ảnh hưởng hoặc gây nguy hiểm đến cuộc sống do đó cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời

Nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim có thể chia ra là nguyên nhân bẩm sinh và nguyên nhân mắc phải: Nguyên nhân bẩm sinh: Biểu hiện bệnh có thể từ nhỏ hoặc xuất hiện trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống

Nguyên nhân mắc phải: bệnh lý cơ tim, van tim và một số nguyên nhân khác tác động tới hệ thần kinh tim, dẫn tới các hoạt động bất thường của hệ thần kinh tim

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Một số rối loạn nhịp tim hay gặp

Rối loạn nhịp nhanh trên thất, có thể gặp các biểu hiện như:

Nhịp nhanh nhĩ: Xuất hiện một ổ phát nhịp khác với nút xoang ở tâm nhĩ, nó phát ra các xung động lấn át

xung động từ nút xoang làm tim đập rất nhanh, không đều

Rung nhĩ: Tâm nhĩ co bóp loạn xạ và rất nhanh lên đến trên 350 nhịp/phút, đồng thời làm cho tâm thất co

bóp nhanh và không đều Loạn nhịp này dễ dẫn đến các rối loạn nhịp khác Rung nhĩ gây biểu hiện mệt mỏi mạn tính, suy tim ứ máu và nguy cơ đột quỵ cao hơn 5 lần so với người không bị rung nhĩ

Cuồng nhĩ: Là tình trạng tâm nhĩ đập rất nhanh, thậm chí lên đến 300 nhịp/phút và hậu quả là tim đập rất

nhanh và không đều

Nhịp xoang nhanh: Nhịp xoang nhanh thường gặp trong lúc lo lắng hay tập luyện, khi nghỉ ngơi thì nhịp sẽ

trở lại bình thường Trong một số bệnh như sốt cao, thiếu máu hay cường tuyến giáp cũng có nhịp nhanh xoang và khi bệnh được điều trị nhịp tim cũng sẽ trở lại bình thường

Nhịp nhanh thất do rung thất.

Rối loạn nhịp nhanh thất

Nhịp nhanh thất tự phát: Do một nhóm tế bào tại tâm thất phát ra xung động kích thích tâm thất co bóp, làm tâm thất co bóp không đều với tâm nhĩ

Nhịp nhanh thất do bệnh tim thiếu máu cục bộ: Vùng cơ tim bị thiếu máu trong bệnh mạch vành gây ra vết sẹo, vết sẹo này tạo nên những đường dẫn truyền xung động bất thường trong tâm thất, kích thích tâm thất

co bóp mà không cần xung động từ tâm nhĩ chuyển xuống

Với hai tổn thương trên, tâm thất đều co bóp khi chưa chứa đủ máu, do đó tim đập rất nhanh mà máu vẫn không được bơm đủ ra hệ tuần hoàn Bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung, thở nhanh Nếu không điều trị kịp thời dễ xuất hiện rung thất

Rối loạn nhịp chậm

Khi nhịp tim chậm xuống dưới 60 nhịp/phút, có nguy cơ không cung cấp đủ máu ra hệ tuần hoàn, tuy nhiên với những người thường xuyên hoạt động thể thao, nhịp tim của họ có thể thấp dưới 60 nhịp/phút

Trang 15

Rối loạn nhịp chậm có thể không gây biểu hiện gì rõ rệt, có thể xuất hiện những biểu hiện sau: mệt mỏi, chóng mặt, choáng váng, đau đầu, thở nông, hoặc ngất.

Rối loạn nhịp chậm chia ra hai loại chính:

- Suy yếu nút xoang: Suy yếu nút xoang không phải là một bệnh đặc trưng, nó thể hiện bằng một nhóm các triệu chứng thể hiện nút xoang không duy trì hoạt động bình thường Nhịp tim có thể chuyển luân phiên từ rối loạn nhịp chậm sang nhịp nhanh

- Blốc nhĩ thất: Blốc nhĩ thất là hiện tượng xung động bị cản trở khi đi từ tâm nhĩ xuống tâm thất

Về điều trị: Tùy theo từng nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim mà có cách điều trị như: dùng thuốc, can thiệp tim mạch hay phẫu thuật Dù là phương pháp điều trị nào thì bệnh nhân cũng phải thực hiện các thói quen tốt trong cuộc sống như: tập luyện, không hút thuốc lá, chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Phòng tránh rối loạn nhịp tim bằng cách nào?

- Lựa chọn một thói quen sống tốt: tập luyện thường xuyên, ăn ít chất mỡ, ăn nhiều rau và các thực phẩm chứa nhiều vitamin, duy trì cân nặng ở mức cho phép

- Không hút thuốc lá

- Hạn chế dùng các chất kích thích với tim như: cà phê, rượu

- Tránh các căng thẳng, bảo đảm đủ thời gian nghỉ ngơi

- Kiểm tra sức khỏe định kỳ

- Điều trị tốt các bệnh lý liên quan: bệnh xơ vữa mạch, mỡ máu cao, bệnh mạch vành, bệnh van tim, bệnh tuyến giáp

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Trang 16

U bướu phá hoại ngầm hệ miễn dịch - 30/5/2006 13h:56

Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson, Seattle, Hoa Kỳ vừa phát hiện ra cách thức những khối u tác động để vô hiệu hóa khả năng tiêu diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch.

Họ nhận thấy ở giai đoạn cuối, tế bào ung thư sản xuất một loại protein có khả năng làm tê liệt tác dụng có ích - bảo vệ cơ thể - của hệ miễn dịch.

Thay vì động viên hệ miễn dịch hoạt động - tiêu diệt "kẻ địch", những protein do tế bào ung thư tiết ra lại ngăn cản

hệ miễn dịch tấn công khối u ung thư.

Các ung buớu sản xuất ra nhiều dạng tế bào bất thường Chúng đóng những vai trò khác nhau trong quá trình phát triển Một vài loại giúp cho tế bào ung thư phát triển nhanh Một vài loại khác vô hiệu hóa tác dụng của hệ miễn dịch.

Toán nghiên cứu Seattle phát hiện một protein làm thay đổi vai trò của một tế bào có ích của hệ miễn dịch tên là tế bào trợ lực T Trong giai đoạn bệnh ung thư mới phát, tế bào T giúp tiêu hủy tác nhân ung thư.

Do ảnh hưởng của chất thẩm thấu từ protein tiết ra, tế bào T biến dạng thành kẻ ngăn cản hệ miễn dịch tiêu diệt quân thù.

Các nhà nghiên cứu chưa hiểu được lý do của sự biến đổi này Tuy nhiên giáo sư Thomas Spies, trưởng Nhóm nghiên cứu nói rằng sẽ mau chóng tìm ra một protein có khả năng ngăn chận khối u sản xuất chất thẩm thấu và kích hoạt vai trò kháng u của hệ miễn dịch.

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Làm sạch” máu dùng cho cấy ghép

[30/08/2005 - Sinh học Việt Nam]

Các nhà khoa học đã tìm ra một kỹ thuật mới cho phép bệnh nhân cấy ghép nhận được các cơ quan từ người cho khác nhóm máu.

Kỹ thuật này là lấy đi kháng thể từ máu Khi người cho khác nhóm máu với người nhận, các kháng thể này có thể gây ra hiện tượng loại trừ Hiện nay, các bộ phận cấy ghép đang thiếu thốn và người ta thường dùng các bộ phận cấy ghép từ cơ thể người cho đã chết

Tuy nhiên, việc dùng các bộ phận cấy ghép từ cơ thể người cho còn sống lại gặp phải vấn đề lớn là sự khác biệt nhóm máu giữa người cho và người nhận Nhiều nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới đã và đang tìm cách khắc phục vấn đề này

Nhóm nghiên cứu của Guy và St Thomas thuộc Sở Y tế quốc dân đã sử dụng một kỹ thuật được gọi là

Tế bào ung thư sản xuất nhiều

protein (Ảnh: BBC)

Trang 17

hấp thu miễn dịch đặc biệt kháng thể Nó hoạt động tương tự như thẩm tách, có vai trò "làm sạch" máu trước khi cấy ghép

Theo một chuyên gia tại Cơ quan cấy ghép Anh, kỹ thuật mới này là bước phát triển đáng kể với nhiều tiềm năng đáng chú ý trong tương lai Khi có nhiều bệnh nhân hơn được cấy ghép và nếu kết quả này tiếp tục thành công, nó sẽ là một bước tiến quan trọng, cho phép ngày càng nhiều bệnh nhân hơn được cấy ghép các bộ phận từ những người cho còn sống.

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Cách mới chẩn đoán và điều trị lao xơ hang - 12/5/2006 9h:2

Lao xơ hang là thể lao phổi mạn tính mà đặc trưng là có hang vỏ bọc xơ hóa và tổn thương xơ nhiều chung quanh hang Đây cũng là thể lao cuối cùng của các thể hậu lao tiên phát, có khả năng lây lan mạnh nhất vì thường xuyên có trong đờm của người bệnh

Các thể lao phổi xuất phát để hình thành lao xơ hang là lao thâm nhiễm có hang, viêm phổi bã đậu, lao hang phổi, lao tản mạn đường máu có hang, lao nốt có hang Nguyên nhân các thể lao phổi nói trên chuyển thành lao xơ hang

là do khả năng đáp ứng miễn dịch chống lao của bệnh nhân bị suy giảm, người bệnh được phát hiện chẩn đoán lao muộn và điều trị chống lao không đúng phương pháp, không phối hợp đủ thuốc, không liên tục đủ thời gian quy định từ 6-8 tháng

Ở người trưởng thành cũng như người già mắc lao phổi, lao xơ hang là thể lao gặp nhiều nhất, chiếm gần 80% Phần lớn trong số này đều được phát hiện muộn sau 12 tháng do công tác chẩn đoán và phát hiện của cơ sở y tế còn hạn chế

Để khắc phục tình trạng này, mới đây Bệnh viện 103 đã có

những bước tiến mới trong chẩn đoán xác định bệnh, giúp cho

việc điều trị có hiệu quả hơn Kinh nghiệm cho thấy, việc chẩn

đoán trước tiên căn cứ vào bệnh sử mà người mắc lao từ 6

tháng đến trên 1 năm thường có những đợt tiến triển lao rầm rộ

như ho, sốt cao hoặc sốt nhẹ về chiều kéo dài, ho ra máu, khó

thở, gầy sút cân, ra mồ hôi đêm, ăn ngủ kém, mệt mỏi, nhiễm

độc lao xen kẽ với các giai đoạn ổn định Khám phổi nghe có

tiếng ran ẩm đanh, to hạt, ran ổ, rì rào phế nang giảm, ngực lép,

gõ đục Mức độ tổn thương rộng ở cả hai bên phổi Kết quả

chụp X-quang phổi chuẩn thẳng và nghiêng thấy có nhiều

hang, thể hình tròn hoặc méo, kích thước từ nhỏ đến lớn Hang

lớn chiếm trên 50% Có nhiều hang khổng lồ, kích thước trên 6

cm, khu trú chủ yếu ở thùy trên một hoặc hai bên phổi Có

những bệnh nhân, trên phim còn nhìn thấy nhiều tổn thương xơ

hóa xung quanh hang xơ, xơ hóa màng phổi gây co kéo khí

quản, trung thất, rốn phổi, tim, vòng hoành làm các khoang

gian sườn bị hẹp lại Nhằm xác định chính xác số lượng hang

lao, thành hang, hình thể hang, vị trí khu trú của hang lao, tất

cả bệnh nhân đều được chụp cắt lớp vi tính lồng ngực và làm xét nghiệm soi phế quản ống mềm Khi đã có những kết quả chẩn đoán chính xác, bệnh viện đưa ra phác đồ điều trị cụ thể cho từng trường hợp

Mục tiêu điều trị lao xơ hang là làm cho tổn thương ổn định, hết nhiễm độc lao và âm hóa trực khuẩn lao Theo

kinh nghiệm, trước khi điều trị, người bệnh được các bác sĩ khám phân tích, làm kháng sinh đồ để xác định thuốc chống lao nào có khả năng bị kháng Đồng thời cho người bệnh điều trị phối hợp ít nhất 2-3-4 thuốc mà trực khuẩn lao còn mẫn cảm

Để dùng thuốc có hiệu quả mà an toàn, các bệnh nhân đều được làm xét nghiệm men gan, acid uric máu, urê, creatinin máu, nước tiểu, khám tai, mắt Các thuốc mà bệnh viện 103 dùng trong điều trị lao xơ hang là rifampicin, pyrazinamid, ethambutol kết hợp với các thuốc chống lao hàng thứ yếu như ciproflo Xacin viên 500 mg,

kanamycin tiêm bắp, ethionamid viên và cycloserin

Hình ảnh chụp X-quang bệnh nhân bị lao phổi

(Ảnh: unboundedmedicine)

Trang 18

Đối với những bệnh nhân trước khi vào viện đã bị lao kháng thuốc, bắt buộc phải điều trị lâu hơn, khoảng 12-18 tháng sau khi trực khuẩn lao âm hóa trong đờm Với những người bệnh sau 6 tháng điều trị mà lao xơ hang không

âm hóa được trực khuẩn, hoặc những người có tổn thương lao ở một bên phổi, sức khỏe và chức năng phổi còn tương đối tốt thì sẽ có chỉ định phẫu thuật cắt thùy phổi hoặc cắt một bên phổi Bằng kinh nghiệm chẩn đoán và điều trị tích cực trên của Bệnh viện 103, thời gian qua đã có nhiều bệnh nhân thể lao xơ hóa tiến triển tốt, sức khỏe hồi phục nhanh

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Trang 19

Thứ bảy, 29/4/2006, 09:00 GMT+7

Bị ung thư phổi cần kiêng gì?

Bệnh nhân ung thư phổi nếu có nhiều đờm trắng dạng bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng, nhầy hoặc sợ lạnh thì nên kiêng ăn các món nhiều mỡ, hải sản, lạc, khoai lang.

Sự phát sinh ung thư phổi có liên quan tới không khí ô nhiễm, chứng nghiện thuốc lá và chế độ ăn uống Người nghiện thuốc lá ngoài việc hấp thu chất độc của thuốc còn bị giảm lượng vitamin C trong cơ thể, khiến sức đề kháng sa sút Chế độ ăn quá nhiều thịt và chất tanh, ít rau tươi cũng khiến lượng vitamin C đưa vào không đủ, dễ gây ra ung thư cục bộ ở hệ thống hô hấp.

Vì vậy, nhiều nhà chuyên môn cho rằng kiêng kỵ ăn uống là yếu tố quan trọng trong quá trình điều trị ung thư phổi.

Trước hết, phải kiêng thuốc lá: Hút thuốc làm cho hàm lượng vitamin ở từng bộ phận của đường hô hấp xuống thấp, khiến chứng ung thư khuếch tán hoặc bệnh tình nặng thêm Hơn nữa, thuốc lá là thứ tân nhiệt, chứa những tạp chất độc hại như nicotin, gây ra sự kích thích xấu đối với phổi và khí-phế quản, nhất là đối với những trường hợp đang ủ bệnh ung thư Nó khiến niêm mạc đường hô hấp tăng tiết nhiều, đờm ngưng tích tụ không ngừng, đồng thời còn tăng thêm những chất gây ung thư.

Y học phương Đông đã sớm chỉ ra rằng: Hút thuốc lá sẽ hun đốt làm tổn thương lá phổi, khiến đờm thấp không ngừng sinh ra và ngưng tụ, gây ra ho, đờm nhiều, khạc ra máu, khí cấp tăng lên dữ dội, từ đó bệnh tình ngày càng xấu đi, có thể chóng đi đến tử vong.

Về kiêng kỵ trong ăn uống, phải tùy theo triệu chứng và bệnh tình của từng người Nếu triệu chứng chủ yếu là đờm nhiều, có thể căn cứ vào màu sắc của đờm, độ đặc của đờm và có dễ khạc ra hay không để quyết định kiêng kỵ những thứ gì.

Đờm trắng ở trạng thái bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng và nhầy, hoặc sợ lạnh: Kiêng ăn các thứ dầu mỡ ngậy béo, quá bổ dưỡng như thịt mỡ, gà béo, vịt béo, tôm, cua, cá hồi, các hải sản tanh Không uống các thứ lạnh, kiêng lạc, khoai lang vì chúng gây đờm, làm bệnh nặng thêm.

Nếu đờm vàng, tương đối đặc, khó khạc nhổ, kèm theo rêu lưỡi vàng và nhầy, nên chọn các thức ăn vừa hóa được đờm lại vừa có tác dụng thanh nhiệt như quả lê, đường phèn hầm củ cải, quả hồng Kiêng ăn các thức ngậy béo, cay (hạt tiêu, bột hạt cải, bột cari, ớt, rượu), đồ hun nướng Kiêng hồ đào, lạc.

Nếu trong đờm có lẫn máu hoặc khạc ra máu thì ngoài việc kiêng kỵ nghiêm ngặt các thức trên, bệnh nhân còn phải kiêng các thức thô ráp và cấm dùng đồ rán, nướng, quay, hun

Nếu thể chất hư nhược, nên ăn uống các thứ ôn hòa, giàu dinh dưỡng mà dễ tiêu hóa như thịt lợn nạc, thịt bò hầm suông, cháo hạt sen và ý dĩ Trong khi tẩm bổ cũng cần coi trọng vấn đề kiêng kỵ Nếu bụng trướng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng và nhầy, phải dùng ít hoặc kiêng dùng sữa bò, đường, dưa muối, trái cây sống lạnh, dầu mỡ ngậy béo Nếu miệng khát, người gầy, lưỡi đỏ, khạc ra máu thì cấm ăn các thức cay, động hỏa, hại âm Nếu người hư nhược đến độ phải dùng các thuốc bổ như nhân sâm thì cần kiêng ăn cải củ, uống trà đặc.

Người bị ung thư phổi đã xạ hoặc hóa trị nếu thấy chán ăn hoặc tiêu chảy thì nên ăn uống thanh đạm, dùng các thứ tươi mới, không có dầu mỡ, ăn thứ bổ vừa phải Việc không chú ý kiêng kỵ trong ăn uống chẳng những gây thêm phản ứng nặng sau khi điều trị bằng phóng xạ và hóa chất mà còn làm suy thoái công năng tỳ vị, khiến bệnh tình

Bệnh nhân ung thư phổi

không nên ăn lạc

(da.gov.ph).

Trang 20

nặng hơn.

http://www vnexpress\doi song

Trang 21

Các tổn thương mô miệng ở trẻ em - 24/5/2006 8h:36

Nhiễm nấm candida miệng-họng - Thường gặp ở trẻ sơ sinh do tiếp xúc với vi nấm từ mẹ trong khi sinh,

biểu hiện dưới dạng các mảng bám trắng đục và có thể gỡ ra khỏi mô mềm thường có viêm với các chấm xuất huyết

Chẩn đoán dựa vào kết quả soi trực tiếp phết mẫu hoặc nuôi cấy mẫu lấy từ sang thương Bệnh nấm

candida albicans miệng-họng thường tự khỏi ở trẻ khỏe mạnh, trường hợp bệnh kéo dài, cần điều trị bằng nystatin, fluconazone giúp bệnh mau khỏi và giảm nguy cơ lây truyền

Bệnh nấm candida miệng-họng còn là vấn đề quan trọng trong điều trị suy tủy Bệnh nấm candida toàn thân thường xuất hiện và gây tử vong trong điều trị suy tủy, và hầu như không thể tránh khỏi ở các bệnh nhân đã

có nhiễm nấm candida miệng-họng, thực quản hay ruột Điều trị kết hợp dung dịch chlorhexidine 0,2% và fluconazole phòng ngừa nhiễm nấm candida miệng-họng cho bệnh nhi ghép tủy xương có ý nghĩa phòng và giảm nguy cơ nhiễm nấm candida miệng-họng, toàn thân và thực quản

Loét áp tơ

Là một sang thương đặc hiệu ở miệng, có xu hướng tái phát Loét áp tơ được ghi nhận chiếm khoảng 20% dân số, biểu hiện dưới dạng vết loét có bờ giới hạn rõ, đáy có mô hoại tử màu trắng và xung quanh có vòng viêm đỏ Sang thương tồn tại trong vòng 10-14 ngày và tự lành không để lại sẹo

Viêm nướu-miệng Herpes

Sau thời kỳ ủ bệnh khoảng 1 tuần lễ, người nhiễm virus herpes bắt đầu có các biểu hiện như sốt và mệt mỏi Khoang miệng có thể có các biểu hiện ở các mức độ khác nhau bao gồm nướu sưng đỏ và các đám mụn nước nhỏ rải rác khắp miệng Các triệu chứng trên thường biến mất sau 2 tuần và không để lại sẹo Có thể bù nước nếu trẻ bị mất nước Các thuốc nước súc miệng có tác dụng giảm đau và giảm sốt giúp trẻ dễ chịu hơn

Viêm môi Herpes tái phát

Nhiễm nấm candida

(Ảnh: uhavax)

Trang 22

Khoảng 90% số người có kháng thể chống virus herpes simplex, khác với bệnh viêm nướu-miệng nguyên phát do herpes, bệnh lý viêm do herpes tái phát thường chỉ khu trú

ở môi Ngoài biểu hiện mụn nước gây đau và các biểu hiện không điển hình khác, viêm môi herpes tái phát thường không có các biểu hiện toàn thân Điều trị bằng thuốc kháng virus ít có hiệu quả hơn so với liệu pháp làm dịu ở các bệnh nhân khoẻ mạnh bị virus herpes tái phát

Nốt Bohn

Xuất hiện ở trẻ sơ sinh, là các nốt bẩm sinh có ở khoang miệng và lưỡi tại vùng sóng hàm dưới và sóng hàm trên, và ở vùng khẩu cái cứng Đây là các sang thương hình thành từ phần biểu mô còn sót lại của các tuyến tiết nhầy Nốt bohn không cần điều trị, tự biến mất sau vài tuần lễ

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Nang lá răng

Xuất hiện ở trẻ sơ sinh, là các nang nhỏ nằm dọc theo vị trí mào sóng hàm dưới và mào sóng hàm trên Các

sang thương này hình thành từ biểu mô còn sót lại của lá răng Nang lá răng không cần điều trị, tự biến mất sau vài tuần lễ

Hạt Fordyce

Khoảng 80% người trưởng thành có nhiều hạt nhỏ, màu trắng hay vàng, hợp thành đám hay mảng ở niêm mạc miệng, chủ yếu là ở môi và má trong Đây là các tuyến bã bất thường Tuyến này xuất hiện ngay sau sinh, có thể to ra và có biểu hiện ban đầu ở dạng các mảng xuất tiết màu vàng; tần suất xuất hiện khoảng 50% ở trẻ em Hạt Fordyce không cần điều trị

Áp-xe lợi

Có biểu hiện nốt mềm, màu đỏ ở kế các chân răng bị áp-xe răng mạn tính Áp-xe lợi thường ở vị trí sẽ rò

mủ áp-xe răng Điều trị áp-xe lợi chủ yếu là chẩn đoán chính xác răng bị áp-xe để nhổ bỏ hay xử lý tủy

Khô nứt môi

Viêm môi Herpes tái phát (Ảnh: pathmicro)

Hạt Fordyce ở lưỡi (Ảnh: dental)

Trang 23

Thường gặp ở trẻ em, có biểu hiện khô môi, tiếp theo là tạo vảy và nứt môi, kèm theo cảm giác rát bỏng Bệnh thường do dị ứng với chất tiếp xúc (đồ chơi hay thức ăn), hoặc với tia sáng mặt trời Bệnh nặng hơn khi thiếu sự làm ướt của lưỡi và bị làm khô thêm bởi gió, đặc biệt khi thời tiết lạnh Viêm khô nứt môi thường có kèm sốt Thường xuyên bôi chất gel loãng sẽ giúp sang thương mau lành và phòng tránh bệnh.

Tật dính lưỡi

Có đặc điểm là dây hãm lưỡi ngắn gây cản trở chuyển động lưỡi Dây hãm lưỡi dài thêm khi trẻ lớn lên Nếu tật dính lưỡi mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động phát âm thì nên chỉ định can thiệp phẫu thuật

Lưỡi bản đồ

Thường lành tính và không gây ảnh hưởng lâm sàng, biểu hiện dưới dạng một hay vài mảng màu đỏ tươi và phẳng, xung quanh có viền trắng, vàng hay xám, nằm trên nền mô lưỡi màu đỏ bình thường Bệnh chưa rõ nguyên nhân và không có chỉ định điều trị

Trang 24

Thuốc chữa đau răng từ thảo dược - 3/6/2006 9h:1

Bồ kết, cúc áo hoa vàng, trám trắng là những vị thuốc chữa đau răng rất hay

Bồ kết: Lấ

y 1 quả đã khô đen, để cả hạt, nướng cho hơi cháy vỏ ngoài, nghiền nhỏ cùng với diêm sinh lấy từ 10 đầu que diêm Ngâm với rượu trắng cho thật đặc trong 2-3 ngày (muốn có thuốc dùng ngay, đun nhỏ lửa trong vài phút) Khi dùng, nhấp ít một ngậm vào chỗ răng đau trong 10 - 15 phút rồi nhổ đi Ngày làm 2 - 3 lần

Cúc áo hoa vàng: Lấy một cụm hoa rửa sạch, đặt trực tiếp vào chỗ răng bị đau, cắn nhẹ dần dần Sau vài

phút, cơn đau nhức dịu dần Có thể lấy cụm hoa phơi khô, giã nhỏ, rồi ngâm vào rượu trắng trong vài giờ (để càng lâu càng tốt) Khi dùng, nhấp một ít rượu thuốc này, ngậm vào chỗ đau, không nuốt Ngày làm 2 -

3 lần

Có người còn dùng hoa cúc áo thay thuốc tê để nhổ răng (Cây cúc áo hoa vàng mọc ở chỗ ẩm bên bờ ao, ven hồ)

Sao đen: Lấy 50 - 100g vỏ thân, cạo sạch lớp vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô, ngâm với 100ml

rượu 30 - 40o, càng lâu càng tốt Dung dịch có mầu nâu đen, hơi đỏ Mỗi ngày ngậm 2 - 3 lần rượu này trong 15 phút, rồi nhổ đi Hoặc nấu vỏ thân sao đen, sắc lấy nước đặc, cũng ngậm nhổ nước Thuốc làm giảm đau nhanh, chắc lợi

Trám trắng: Vỏ thân thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa xuân, cạo bỏ lớp vỏ ngoài, rửa sạch, phơi khô,

lấy 30 - 50g thái mỏng, sắc lấy nước đặc, ngậm nhổ nước Ngày làm nhiều lần Dùng riêng hoặc phối hợp với rễ cà dại, rễ chanh và vỏ cây lai hay cây trẩu

Có thể dùng quả trám trắng, đốt thành than, tán bột, trộn với ít xạ hương, rồi bôi xỉa

Đốt mắt ở cành thông , thu hái quanh năm, tốt nhất vào mùa hè thu Cắt về, cạo sạch vỏ, bỏ giác trắng, chỉ lấy toàn lõi đỏ Phần này có tên thuốc trong y học cổ truyền là tùng tiết, đem chặt nhỏ, ngâm rượu, càng đặc càng tốt Hằng ngày ngậm rồi nhổ nước

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Bồ kết (Ảnh: cheynewalk)

Trang 25

Cần cảnh giác với viêm tụy cấp tính - 9/5/2006 7h:0

Tụy là một tạng dài từ 12-15cm nằm dựa vào thành sau ổ

bụng, tương ứng với đốt lưng số 2 và nằm lọt vào trong

khung tá tràng nên khi tụy bị bệnh có thể dễ chẩn đoán

nhầm với bệnh của tá tràng

Có hai loại viêm tụy:

Viêm tụy cấp không hoại tử

Tổn thương viêm tụy cấp thường gặp trong các trường hợp bệnh

nhân có sỏi đường mật như: sỏi túi mật, sỏi các đường mật

trong gan và sỏi ống mật chủ (ống cholédoque), giun chui ống

mật Vì vậy những trường hợp có cơn đau quặn thận nghi do sỏi

hệ thống đường mật, giun chui ống mật cần thật trọng với bệnh

viêm tụy cấp.

Triệu chứng chính của viêm tụy cấp không hoại tử là đau đột ngột, đau nhiều ở hạ sườn bên phải lan ra sau lưng,

lên vai Nhiều khi đau “chổng mông” như giun chui ống mật, có sốt, rét run, ấn điểm sườn - lưng bệnh nhân kêu

đau, đặc biệt là điểm sườn - lưng bên trái Cơn đau kéo dài khoảng vài giờ rồi giảm dần Bệnh nhân mệt lả, đôi khi cơn đau khác lại ập đến.

Xét nghiệm thấy bạch cầu, men amilase, bilirubin, ure máu tăng cao Siêu âm rất có giá trị trong chẩn đoán nhưng đôi khi gặp khó khăn do hơi và dịch ứ đọng trong ruột che hình ảnh của tụy.

Viêm tụy cấp chảy máu

Khác với viêm tụy cấp (phù tụy), loại viêm tụy cấp chảy máu thường ít gặp ở bệnh nhân có sỏi mật kèm theo nhưng hay gặp do giun chui ống mật và viêm nhiễm đường mật do vi sinh vật.

Bệnh nhân thường bị choáng rõ rệt Triệu chứng chính là đau bụng vùng trên rốn từ bờ sườn trái ra sau lưng Đau liên tục với cường độ vừa phải nhưng thỉnh thoảng xuất hiện cơn kịch phát, buồn nôn và nôn Nôn ra thức ăn, dịch màu vàng, tiêu chảy, phân có lẫn máu Bệnh nhân trong trạng thái hốt hoảng, toát mồ hôi Trong những giờ đầu mới bị bệnh, đôi khi có tăng huyết áp nhưng sau đó huyết áp tụt xuống Khám thấy bụng đau, nhất là vùng trên rốn

và vị trí sườn - lưng bên trái Trong những trường hợp này dễ chẩn đoán nhầm với thủng dạ dày

Cần chụp Xquang không chuẩn bị để xem có liềm hơi hay không? Trên phim có thể thấy những quai ruột ở vùng gần tụy như khung tá tràng và đoạn đầu của hỗng tràng bị giãn Nhìn vào vùng da bụng thấy quanh vùng rốn có nốt bầm tím Đôi khi có thể xuất hiện tràn dịch màng phổi Hình ảnh siêu âm cho thấy tụy bị phù nề, xung quanh tụy có dịch tiết.

Xét nghiệm men amilase tăng cao trong 12-18 giờ đầu Nếu đường máu và đặc biệt amilase tăng cao trong 7 ngày liên tục là tiên lượng nặng và tăng cao sau hai tuần là có khả năng hình thành nang tụy hoặc cổ trướng do dịch tụy thấm tràn ra Ngoài ra có thể thấy trong nước tiểu có albumin, hồng cầu, bạch cầu.

Điều trị

Khi bị viêm tụy cấp, người bệnh cần được điều trị tích cực bằng truyền dịch; chống đau (tuyệt đối không dùng morphin vì làm co thắt cơ 0ddi); chống choáng (nếu có); chống nhiễm khuẩn bằng kháng sinh đặc hiệu và điều trị bằng ngoại khoa khi có hội chẩn xác định chắc chắn.

Phòng bệnh viêm tụy cấp

Để phòng bệnh, người bệnh nên xét nghiệm phân định kỳ để tẩy giun khi có chỉ định của thầy thuốc; không uống rượu quá mức cho phép Viêm tụy hoại tử là một căn bệnh rất nguy hiểm, phải luôn luôn cảnh giác để chẩn đoán sớm có hướng xử trí kịp thời, hạn chế tử vong Khi phát hiện có sỏi đường mật và sỏi túi mật cần điều trị dứt điểm

Trang 26

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Dấu hiệu sớm của bệnh xơ gan - 11/5/2006 9h:40

Đau ở hạ sườn phải, bụng trướng nhẹ, giãn các vi mạch ở cổ, mặt có thể là các dấu hiệu đầu tiên của bệnh xơ gan Các biểu hiện này thường không điển hình, lại mờ nhạt nên rất dễ bị bỏ qua.

Xơ gan gặp ở cả người lớn và trẻ em Đây là bệnh tiến triển từ từ, khi có triệu chứng rõ ràng thì bệnh đã rất nặng với nhiều biến chứng nguy hiểm, việc điều trị sẽ gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy, cần phải phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời

Trước khi bị xơ gan, hầu hết bệnh nhân đều mắc các bệnh lý gan mật như viêm gan do virus, nghiện rượu

Xơ gan tiến triển thành 2 giai đoạn chính:

Giai đoạn sớm (tiềm ẩn): Các triệu chứng của bệnh rất nghèo nàn Người bệnh chỉ thấy hơi đau ở hạ sườn

phải, bụng trướng nhẹ, xuất hiện sự giãn các vi mạch ở cổ, mặt Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng, người bệnh vẫn lao động, học tập bình thường Giai đoạn này có thể chỉ vài tuần, có khi kéo dài vài tháng, thậm chí vài năm Vì không có biểu hiện rõ rệt nên người bệnh chủ quan, không đi khám, không có chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý Nhiều người vẫn dùng rượu bia, thuốc lá, sử dụng những chất không có lợi cho gan làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo

Giai đoạn muộn (mất bù): Có nhiều triệu chứng rõ rệt nên bệnh nhân mới đi khám Biểu hiện rõ rệt nhất là

suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa Tình trạng xơ hóa làm chức năng gan suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện Bên cạnh đó, bệnh nhân dễ bị chảy máu dưới da và niêm mạc, như chảy máu cam, chảy máu chân răng Một số trường hợp da sạm đen do lắng đọng sắc tố hoặc vàng mắt, vàng da kèm theo ngứa, nhất là trường hợp xơ gan do ứ mật

Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có

thể bị phù toàn thân Ngoài ra, xơ gan cũng ảnh hưởng đến chức năng nội tiết của cơ thể Nam giới có biểu hiện giảm ham muốn tình dục, teo tinh hoàn, vú to ra Nữ giới rối loạn kinh nguyệt hoặc mất kinh

Tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa thường biểu hiện bằng hiện tượng tuần hoàn bàng hệ Lúc đầu, các tĩnh mạch nổi lờ mờ ở vùng mũi ức và hạ sườn phải, sau đó phát triển rõ dần, có khi nhìn thấy từng búi tĩnh mạch nổi lên Lúc này, bệnh nhân có thể bị trĩ nội, trĩ ngoại, xuất huyết tiêu hóa do vỡ các tĩnh mạch ở thực quản và dạ dày Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng trương phình Chọc hút dịch cổ trướng thường có màu vàng, nếu có màu hồng thì có thể xơ gan đã bị ung thư hóa

Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa Lúc này, bệnh rất ít đáp ứng điều trị, có đến 60% tử vong trong năm đầu tiên, trên 80% tử vong trong vòng 2 năm và chỉ 6% sống quá 3 năm Bệnh nhân tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan

Gan bị xơ (Ảnh: VNN)

Trang 27

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Trang 28

Nấm chứa nhiều vitamin D - 19/4/2006 9h:23

Kết quả nghiên cứu ban đầu của các nhà khoa học người Mỹ về nấm cho thấy những loại nấm nhạt nhẽo và tầm thường sẽ trở thành nguồn cung cấp vitamin D khổng lồ nếu đặt chúng dưới tia tử ngoại trong một thời gian ngắn sau khi thu hoạch

Theo đó, một cây nấm bình thường chứa đến 869% giá trị vitamin D mà một người cần hấp thu mỗi ngày sau khi được chiếu tia tử ngoại trong vòng 5 phút Số vitamin này tương đương với hơn 2 muỗng dầu gan

cá tuyết, vốn được xem là một trong những nguồn cung cấp vitamin D tự nhiên Nghiên cứu cho thấy lượng vitamin D trong nấm tăng lên đáng kể nếu chiếu tia tử ngoại nhân tạo lên những cây nấm đang phát triển trong 3 giờ

http://www.khoahoc\y hoc-cuoc song

Nấm chứa nhiều vitamin D

(Ảnh: wikipedia)

Ngày đăng: 20/07/2013, 01:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh giải phẫu khớp gối (Ảnh: TTO) - Sổ tay nghiệp vụ 8
nh ảnh giải phẫu khớp gối (Ảnh: TTO) (Trang 3)
Hình ảnh chụp X-quang bệnh nhân bị lao phổi - Sổ tay nghiệp vụ 8
nh ảnh chụp X-quang bệnh nhân bị lao phổi (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w