"Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết lý Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm tr
Trang 11 Tư tưởng Đức trị của Khổng Tử
Khổng Tử là ai?
- Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước Công Nguyên, vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc)
- Năm lên ba, Khổng Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học Năm 19 tuổi, làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương
- Nhờ làm việc chăm chỉ, xuất sắc, Khổng Tử được thăng
chức lên làm quan tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học
- Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó
- Năm 51 tuổi, ông quay lại nước Lỗ và được giao coi thành Trung Đô, năm sau được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng
- Nhưng rồi bị ly gián, gièm pha, ông bèn từ chức và lại
ra đi một lần nữa Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước
Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách cho tới khi mất
- Ông mất tháng 4 năm 479 TCN, thọ 73 tuổi
1.1 Những nội dung chính về tư tưởng quản lí của Khổng Tử
1.1.1 Đạo nhân
Theo Khổng Tử “Nhân là yêu người” Nhân là giúp đỡ người khác thành công “ Người nhân, mình muốn thành công thì cũng giúp người thành công” Biết từ bụng ta suy ra bụng người đó là phương pháp thực hành của người Nhân” Trong các phạm trù lý
Trang 2luận cơ bản của Khổng Tử gồm nhân, lễ, nghĩa, trí, tín … thì nhân là quan trọng nhất Theo góc độ quản lý, Nhân là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý, vừa là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý
Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quy định quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội Nếu làm được 5 điều trong thiên
hạ thì sẽ thực hiện được chữ nhân, 5 điều đó là: Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết lý Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người
1.1.2 Lễ
Với người xưa họ rất xem trọng lễ vì vậy sau chữ nhân là lễ 禮 Xem qua cách hành xử, ứng xử cùng với những nghi thức, lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong cuộc sống đương thời
mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo với trời đất, hợp đạo với đời Chữ lễ ở đây không chỉ là
lễ phép, đức độ kính trên nhường dưới trong đạo vua – tôi, cha – con, vợ - chồng, anh – em mà còn thể hiện qua những hình thức
lễ nghi theo truyền thống đương thời, cũng chính vì thế mà có nhiều lễ nghi rờm rà, tốn kém, nhưng là điều không thể thiếu khi hành xử một việc gì đó cho là quan trọng, để rồi nó trở thành một nét văn hóa của dân tộc Họ cho rằng có lễ rồi mới có nghĩa,
và ngày nay lễ cũng đóng góp một vai trò quan trọng trong văn hóa giao tiếp ứng xử của mọi người trong xã hội Nhưng ngày
có phải lễ quan trọng hơn nghĩa không, điều đó cần phải bàn Thực tế cho thấy, nếu đánh giá một con người, một gia đình mà
Trang 3chỉ xét qua cánh hành lễ nghi thôi không xét về nghĩa thì quả là thiếu sót
Bởi có nhiều người trong xã hội hàng ngày hành sự có thừa lễ nghi nhưng nghĩa thì lại thiếu, cũng chính vì thiếu nghĩa ở đời
mà sinh ra nhiều lễ nghi không phù hợp lại lãng phí thời gian tiền của, nên không hợp với lòng người và làm sai lễ, không đúng với giá trị thuần túy của lễ
1.1.3 Nghĩa
Nghĩa 義 ở đây thể hiện vai trò trách, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời, cũng chính vì vậy mà cần có nghĩa, sống có trách nhiệm với quê hương đất nước, với gia đình dòng họ, ông bà cha mẹ, vợ con, anh em bằng hữu cũng là nghĩa Biết trả ơn khi mình đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa Tại sao có nhiều người luốn biết quan tâm giúp đỡ mọi người trong xã hội, làm từ thiện tri ân với đời… cũng vì họ sống có nghĩa với đời, với cuộc sống hiện tại, họ biết cho khi đã nhận Nghĩa cũng là sống cho mọi người chứ không chỉ sống cho riêng cá nhân mình Có những việc có thể họ chưa biết hành xử sao cho đúng với lễ nghi, nhưng giá trị thực trong con người thực của họ qua những việc làm nghĩa thì
sẽ được mọi người người trong xã hội nhận ra và tôn trọng Còn hơn là những lễ nghi mang tính chất hình thức mà không có nghĩa Vì vậy phải chăng ngày nay chữ nghĩa cần đặt trước chữ lễ
1.1.4 Trí
Nếu muốn làm được việc nghĩa thì phải có trí, phải có một sự hiểu biết nhất định ở xã hội Có nhân, có nghĩa mà không có trí thì chẳng khác nào một người lính ra trận chỉ có áo giáp mà không có gươm, đao, chỉ bảo vệ được mình mà không bảo vê
Trang 4được người khác Sống ở đời nếu chí sống cho riêng ta thì đơn giản quá, mà muốn giúp đỡ được người khác tất mình phải có tài, có hiểu biết Trí 智 là một sự hiểu biết, người không trí, không hiểu biết thì quả là một thiệt thòi lớn, có thể nói người không trí không làm được gì cả Nếu như ngày xưa đánh giá chữ trí của một con người qua sự hiểu biết về đạo quân tử, triết lý khổng giáo, lão giáo hay phật giáo thì ngày nay ngoài sự hiểu biết về lĩnh vực văn hóa xã hội, triết học thì cần có một sự hiểu biết về khoa học tự nhiên, bước sang thế kỷ XXI, với cuộc sống hiện đại, thông tin chóng mặt thì điều đó là cần thiết Hiểu biết nhiều có thể làm được nhiều việc có ích với đời nếu người đó có nhân, có nghĩa trong tâm
1.1.5 Tín
Có trí 智 mà không có tín 信 thì chưa phải là điều tốt, ai đó có tài nhưng lại không có được uy tín, lòng tin đối với người khác thì cũng chẳng được ai tôn trọng Chữ tín 信 trong cuộc sống hàng ngày rất quan trọng, dù thời xưa hay thời nay thì sống ở đời mọi người cũng cần có một uy tín nhất định trong quan hệ với mọi người xung quanh Thời xưa cái uy tín với bạn bè luôn được đánh giá cao, uy tín đó sẽ gây dựng được lòng tinh, mọi người tin tưởng sẽ dễ dàng được mọi người giúp đỡ trong cuộc sống Nói thì phải làm, sống trung thực với mọi người, với bản thân Ngày nay cũng vậy cho dù anh có tài nhưng không có được uy tín thì cũng chẳng ai theo, muốn được người khác giúp
đỡ thì bản thân mình phải giữ được lòng tin trước mọi người, chưa nói đến trong quan hệ làm ăn ở xã hội, chữ tín 信 cái uy tín trong công việc luôn đặt lên hàng đầu, quyết định đến sự thành công
Có được nhân, nghĩa, trí, tín tất lễ cũng phải có, bốn chữ trên gân như bao gồm cả một nhân cách con người thì lý gì lễ không có? Chí ít gì cũng hiểu biết thế nào là lễ và vì sao gọi là lễ ở đời
Trang 5Vì vậy nếu nói: Người xưa thì NHÂN, LÊ, NGHĨA, TRÍ, TÍN Còn người nay thì NHÂN, NGHĨA, TRÍ, TÍN, LỄ thì cũng không gì là quá Nhưng cho dù là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín hay nhân, nghĩa, trí, tín, lễ đi chăng nữa thì sự gắn kết cũng như mối tương quan bổ trợ giữa năm chữ trên cũng không bao giờ thay đổi được Năm chữ trên không thể thiếu đi một
1.2 Tư tưởng của Khổng tử về đào tạo cán bộ quản lí
1.2.1 Đào tạo cán bộ quản lí chuyên nghiệp
Theo Khổng tử thì đào tạo cán bộ chuyên nghiệp phải hiểu biết sâu sắc về con người, và lịch sử về xã hội
Theo Khổng tử có hai cách đào tạo quan lại:
- Con cái của tầng lớp quý tộc quan lại được làm quan theo một phong tục “truyền tử”, họ làm quan rồi sau đó mới học Lễ, học Nghĩa
- Là những người bình dân được học tập trước khi làm quan,
họ thi cử đỗ đạt và được làm quan Chính Khổng tử đánh giá loại quan thứ hai cao hơn vì họ có khả năng thực tiễn và khả năng tự vận động nhiều hơn loại quan lại thứ nhất
1.2.2 Phẩm chất của nhà quản lí hay mô hình của người quân tử Theo Khổng tử phẩm chất quan trọng của nhà quản lí là tính trung thành, trung thành ở đây thể hiện cụ thể qua công việc của nhà quản lí
Nhà quản lí phải có cái Nhân, mà sự cô đọng lớn nhất của cái Nhân này phải được biểu đạt trong ba phẩm chất mà Khổng tử cho là quan trọng nhất đó là: Nhân Trí và Dũng
1.2.3 Vai trò của giáo dục trong đào tạo các phẩm chất nhà quản lí
Trang 6Khổng tử cho rằng, muốn hiểu được chữ Nhân, nhà quản lí cần phải học tập, vì “bất học diễn tường” Nhà quản lí muốn có cái Trí mà không học thì cái Trí đó sẽ làm hại cái Nghĩa; nhà quản lí muốn có chính trực mà không học thì sẽ bị “cái loạn”, cái mất trật tự làm lu mờ, che khuất; nhà quản lí muốn có “cái cương” mà không muốn học thì sẽ bị cái “táo bạo”, “cái khinh xuất” làm hỏng
Cần phải giữ một trạng thái chung dung Chung dung là một phương pháp sử thế hướng ngoại của cán bộ quản lí Có nghĩa là biết rõ vị trí trong quan hệ xã hội của nhà quản lí và người bị quản lí để sử lí cho khách quan
1.2.4 Chính sách cán bộ
- Sáng suốt hay còn gọi là Trí Trí là sự hiểu biết người, đề bạt những người chính trực, nhửng người có tài năng
- Chọn người và đề bạt người theo năng lực, theo đức, theo tài, chứ không thể dựa theo giai cấp, dựa theo huyết thống
- Không được quá cầu toàn trong chính sách cán bộ, trên cơ
sở phải phân biệt được các vị trí và vai trò của từng loại cán bộ
từ cao xuống thấp để dao quyền, đồng thời đòi hỏi ở họ những trách nhiệm và nghĩa vụ tương đương Trong vấn đề đối sử với cán bộ cần sáng suốt và đại lượng, có thể bỏ qua các sai phạm nhỏ của cấp dưới, nhưng cương quyết không bỏ qua những lỗi lớn có tính nghiêm trọng, không được làm ngơ với những sai phạm của cấp dưới.Người cán bộ cấp trên nếu biết người cán bộ cấp dưới có đức, có tài mà không đề bạt, mà không cất nhắc là loại cán bộ “tiếm quyền”
- Cần phải quan tâm đến đời sống cán bộ quản lí, có chính sách khen thưởng và trừng phạt kịp thời
Trang 7- Trong chính sách cán bộ phải biết trọng người hiền và phải nghiêm khắc tiêu diệt kẻ ác, hình thức tiêu diệt kẻ ác chính là hình thức trọng hiền
1.2.5 Quan hệ giữa người quản lí với nhân dân
1.2.5.1 Dưỡng dân
Dưỡng dân nghĩa là nuôi dân Người quản lí là cha mẹ của nhân dân, do trách nhiện của người quản lí trong quan hệ với nhân dân được thể hiện ở những nội dung như sau:
- Người quản lí phải biết thương dân, đó là làm cho dân
đủ ăn đủ mặc, cho nên ông dùng khẩu hiệu “túc thực rồi mới túc binh”
- Việc đóng thuế đối với nhân dân phải nhẹ nhàng, phải đúng mực Chi tiêu theo nguyên tắc tiết kiệm
- Điều khiển, huy động sức dân phải phù hợp, phải kịp thời
- Việc phân phối sản phẩm xã hội là phải coi trọng sự công bằng và theo chế độ quân binh
1.2.5.2 Giáo dục nhân dân
Là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng của quản lí Việc giáo dân phải thực hiện theo chính sách người trên phải làm gương cho kẻ dưới Đới với nhân dân thì phải dạy cho người ta hiểu “tiên học lễ, hậu học văn” thông qua kỉ cuong mà nhà nước đặt ra
1.2.5.3 Phương pháp chính hình
Chính hình trong quan hệ giữa người quản lí và cấp dưới chính là biện pháp dùng mệnh lệnh Hình ở đây có nghĩa là hình pháp
Trang 81.2.5.4 Sử dụng thuyết chính danh
Thuyết chính danh là đòi hỏi người quản lí phải đặt đúng tên
sự vật và gọi cái tên của nó vốn có khiến danh (tên) đúng với thực chất hay bản chất của sự vật Chính danh tức là phải xứng đáng với chức vụ, với danh hiệu mà xã hội đã trao cho mình, những điều đó được thể hiện qua những mô hình hành vi như Cung, Kính, Hành, Giản
2 Tư tưởng pháp trị - Hàn Phi Tử (280-233 Tr.CN.)
Hàn Phi Tử là ai?
- Hàn Phi Tử là nhà triết học, người tập hợp các học thuyết luật học và là nhà Tản văn nổi tiếng trong thời chiến quốc Trung Quốc (475-221 TCN) Ông đã sáng lập ra học
thuyết luật học, trở thành cơ sở lý luận cho sự ra đời của nhà nước chế độ tập quyền trung ương chuyên chế thống nhất đầu tiên ở Trung Quốc
- Hàn Phi Tử sinh vào thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, là Vương tộc nước Hàn sau thời chiến quốc Ông nói ngọng, không có sở trường nói chuyện nhưng lại rất giỏi viết lách
- Được Tần Thủy Hoàng trọng dụng, Lý Tư là bạn học của
Hàn Phi Tử, biết ông có tài hơn mình, ben rèm pha nói xấu với Tần Thủy Hoàng Tần Thủy Hoàng nghe lời và đã giam Hàn Phi Tử và cho ông uống thuốc độc
2.1 Vài nét về tiền đề của tư tưởng pháp trị
Lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ tiêu biểu nhất đó là thời kì Xuân Thu và thời kỳ Chiến Quốc Thời Xuân Thu năm 770-403 TCN có Lão Tử, Khổng Tử Thời kỳ Chiến Quốc
403-221 TCN là thời kỳ bất ổn định về chính trị tuy nhiên kinh tế rất phát triển Nếu thời Xuân Thu công cụ sản xuất chủ yếu là đồng thì thời kỳ Chiến Quốc người ta chủ yếu sử dụng công cụ bằng
Trang 9sắt Đây cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy các quan hệ sản xuất, mở rộng đất đai nông nghiệp và tăng năng suất lao động Chính sách thuế má thay đổi làm cho người nông dân được tự
do hơn, độc lập hơn với chủ điền trước đây Vấn đề kỹ thuật và thương mại thời Chiến Quốc đã có những bước tiến dài hơn so với thời Xuân Thu Thời kỳ này vấn đề xã hội không được ổn định, chiến tranh liên miên, đạo đức xã hội suy đồi, quan lại tham nhũng, ăn chơi xa hoa trụy lạc, tầng lớp quý tộc tầng lớp quản lý chia rẽ về mặt tư tưởng Do đó, người ta thống nhất đất nước bằng một con đường khác: ổn định đất nước không phải bằng đức trị Đó là tiền đề khách quan để ra đời tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử (280-233TCN)
2.2 Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử lấy 3 chữ pháp, thế, thuật làm nền tảng lí luận
PHÁP: luật do vua ban ra, trăm quan quan sát, nhân dân thực hiện Luật pháp được đặt ra phải theo nguyên tắc sau:
+ Thứ 1: luật pháp phảo kịp thời,
+ Thứ 2: luật pháp phải dễ hiểu, phổ biến, dễ thi hành
+ Thứ 3: pháp luật phải công bằng và phait bênh vực kẻ yếu + Thứ 4: Pháp luật phải có sự thực thi như nhau đối với tất cả mọi người, đối với tất cả tầng lớp bị trị
THUẬT: là kĩ thuật cai trị, học thuyết của Hàn Phi Tử được hiểu theo 2 nghĩa:
+ Thứ nhất là kĩ thuật: kĩ thuật là cách thức, là biện pháp để tuyển dụng, kiểm soát xã hội của tầng lớp quan lại
Trang 10+ Thứ hai là tâm thuật: là mưu mô để chiếm quân thần không cho họ biết suy nghĩ và ý đồ riêng của người vua, của người lanh đạo
Thực chất đây là thủ đoạn của nhà vua điều khiển quan lại, phải giữ gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh
THẾ: là uy thế quyền lực của người làm vua Vua phải triệt để
sử dụng quyền của mình để trị nước
- Quyền lực phải tập trung tuyệt đối vào tay của nhà vua, không được trao quyền cho bất ai, phảo dùng pháp luật để củng cố quyền lực
- Nếu chỉ có pháp luật và thuật thì thiếu quyền lực để cưỡng bức thì cũng không thể cai trị được
+ Pháp, thuật và thế có mối quan hệ chặt chẽ cho nhau, bổ sung cho nhau, trong đó pháp là trung tâm, thuật và thế là điều kiện
để thực hành pháp luật
+ Thưởng, phạt là công cụ để thi hành pháp luật Phạt nặng nề
để răn đe kẻ xấu, thưởng hậu để khuyết khích, động viên mọi người làm việc Thưởng phạp nghiêm minh, thỏa đáng mới bảo
vệ được pháp luật
+ Phủ nhận thần quyền
3 Tôn Tử
3.1 Vài nét về tiểu sử
Tôn Tử còn có tên là Tôn Vũ Năm 532 TCN nổ ra cuộc đấu tranh vũ trang giữa các lực lượng cũ và mới trong nước Tề, vì thế Tôn Tử rời nước Tề sang nước Ngô sống ẩn dật tại Cô Tô Tại đây ông gặp và kết bạn với Ngũ Tử Tư và được Ngũ Tử Tư tiến cử lên ngôi vua Ngô Ông đã trình lên vua Ngô tác phẩm chính của ông là “Tô Tử Binh pháp” dày 13 tập với nội dung