1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sơ Lược Về Sự Hình Thành Và Phát Triển Tư Duy Xã Hội Học Quản Lý

16 619 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 103,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các thành viên của các nhóm xã hội xác định cũng có những quyền tự do nhất định trong việc lựa chọn nghề nghiệp của mình  Một giai đoạn mới đánh dấu một sự tiến bộ đặc biệt trong công t

Trang 1

Chương 2

Sơ lược về sự hình thành và phát triển tư duy xã hội học quản lý

Các tư duy xhhql thời kỳ Ai Cập, La Mã, Hy Lạp cổ đại

 Vào khoảng 2 - 3 nghìn năm trước Công nguyên các nhà nước phương Đông cổ đại như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Ba Tư đã có những hình thức tổ chức, quản lí sơ khai gắn liền với các hình thức tổ chức tôn giáo

Mô hình quản lí xã hội thời Cổ đại:

- có những phương pháp thống kê số lượng dân chúng trong các làng xã phục vụ cho việc phân công lao động, huy động binh lính, thu thuế và các khoản đóng khác đối với người dân trong xã hội tuy còn rất thô sơ, thủ công

- Việc quản lí ruộng đất giữa người chủ ruộng đất &những người làm thuê, giữa địa chủ chúa đất -người nông dân,giữa địa chủ -nô lệ

- Những quan chức nhà nước và tôn giáo có quyền lực rất cao trong việc quản lí xã hội

 Tuy nhiên những phương pháp quản lí xã hội thời cổ đại còn rất thô sơ, thủ công

Các tư duy xã hội học quản lí thời kỳ Ai Cập, La Mã, Hy Lạp cổ đại (tiếp)

 khu vực lao động nô lệ chiếm phần quan trọng trong nền kinh tế xã hội ở phần Trung và Bắc á cổ đại Tuy nhiên điểm hạn chế căn bản trong công tác quản lí xã hội đã dẫn tới hiệu quả lao động nô lệ thấp

 Những nguyên nhân cơ bản là cơ cấu nghề nghiệp, nghề đơn điệu không đa dạng, thứ ba là không có sự cạnh tranh giữa lao động tự do và lao động cưỡng chế

 Thực chất của việc quản lí xã hội của các quốc gia phương Đông cổ đại là nền chuyên chế độc tài nhà nước nhưng quyền lực tập trung vào một người là vua Nhờ có cơ chế tổ chức lao động xã hội dựa trên sự phân chia sức lao động, nhà nước đã có những điều luật cụ thể quy định quyền hạn, trách nhiệm nghĩa vụ cho từng loại dân, phân hạng bậc quan lại trong bộ máy quản lý Các thành viên của các nhóm xã hội xác định cũng có những quyền tự do nhất định trong việc lựa chọn nghề nghiệp của mình

Một giai đoạn mới đánh dấu một sự tiến bộ đặc biệt trong công tác quản lí xã hội là những tư tưởng cai trị của các triết gia Hy Lạp cổ đại Đó là Xôcơrát (469-399 trước công nguyên), Kxênô Phantơ (570-478 trước công nguyên), Pơlaton (427-347 trước Công nguyên), Aritxtốt (384-322 trước Công nguyên)

Họ đều là những người có cách nhìn tiến bộ về việc quản lí xã hội từ việc nghiên cứu quá trình phân công lao động xã hội Theo các tác giả này, thì việc phân công lao động xã hội tất yếu sẽ dẫn tới sự phân tầng xã hội, sự đa dạng hoá các loại

hình lao động, lao động theo nghề nghiệp, và hệ thống trao đổi kinh tế bằng “hàng hoá-dịch vụ”

Trang 2

 Pơlatôn là người đầu tiên đưa ra quy luật sự đa dạng hoá một cách cân đối phân công lao động trên cơ sở của ba yếu tố sau:

 - Sự đa dạng nhu cầu của con người

 - Sự đa dạng về năng lực lao động

 - Sự đa dạng của các loại hình lao động

 Sự khác biệt về các nhu cầu của các khu vực dân cư cũng như lối sống của họ, đòi hỏi phải có sự quản lí cho phù hợp Từ lí do đó các nhà cầm quyền trong xã hội đã tổ chức lao động theo kiểu chuyên môn hóa nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lao động, đáp ứng những nhu cầu phát triển mạnh mẽ cả về vật chất lẫn tinh thần của xã hội

 Pơlatôn là người đầu tiên đưa ra lí luận về tổ chức nô dịch theo nghề nghiệp Việc quản lí xã hội sẽ quy về việc thiết chế hoá nghề nghiệp Trong khi đó Kxênô Phantơ tập trung phân tích mối quan hệ giữa con người trong quá trình biến đổi từ lao động phức tạp đến đơn giản trong phạm vi hẹp (các nhóm lao động)

3 Các tư duy xã hội học quản lí ở Trung hoa thời kỳ cổ đại

 3.1 Tư tưởng Đức trị - Khổng Tử

 3.2 Tư tưởng Pháp trị - Hàn Phi Tử

 3.3 Tư tưởng quản lí theo binh pháp Tôn Tử

3 Các tư duy xã hội học quản lí ở Trung hoa thời kỳ cổ đại (tiếp)

3.1 Tư tưởng Đức trị - Khổng Tử

(551-479 trước Công nguyên)

Nguyên tắc Đức trị - "Người trên noi gương, kẻ dưới tự giác tuân theo" để giúp vua cai trị đất nước Dù ở cương vị "người trên" hay 'kẻ dưới" cũng đều phải lấy chữ "Đức" làm khái niệm trung tâm để chỉ đạo hành vi ứng xử

 "Đức" mà Khổng Tử dùng ở đây chính là "Đức nhân", vì thế thuyết Đức trị còn

gọi là thuyết Nhân trị

Nội dung chủ yếu của thuyết Nhân trị : chỉ ra cách thức quản lí theo mối quan

hệ con người

 "đức nhân" có nghĩa là đạo đức làm người Đạo đức làm người được

Khổng tử khái quát chung là tình yêu con người Mọi người đều cần quan hệ cư xử với nhau bằng tình người, tình đồng loại

Về quan điểm dùng chữ Nhân của Khổng Tử trong quản lí là: "Nhân" là yêu người, là "cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác", là "mình muốn

Trang 3

tự lập thì cũng thành lập cho người, mình muốn thành công thì cũng giúp người thành công"

Nhà quản lí cần phải làm được năm đức tính: "cung, khoan, tín, mẫn, huệ" thì mới là nhà quản lí có Nhân

- Ngoài "đức nhân" nhà quản lí cũng cần phải có các đức: Chính, Kính, Tín,

lễ

- + Chính có nghĩa là ngay thẳng

- + Kính có nghĩa là cung kính

- + Tín là được dân tin tưởng - Khổng Tử nói với Tử Cống rằng: "Dân vô tín bất lập" (Nếu dân không tin thì chính quyền phải đổ)

-  Nhà quản lí muốn thành công thì phải được cấp dưới tin tưởng, muốn làm

được điều đó cần phải có tác phong cung kính, thận trọng, lời nói phải đi đôi với việc làm và phải giữ đúng Lễ

- Trong năm đức trên Khổng Tử nhấn mạnh đức Nhân và Lễ Chữ Lễ ở đây

có nghĩa là cách ứng xử theo một trật tự thứ bậc cao thấp khác nhau giữa các cá nhân trong một cấu trúc xã hội cụ thể, chính trật tự này qui định mô hình hành vi ứng xử của các cá nhân, vì vậy nhà quản lí cần phải học Lễ.

- Đối với việc "Trị dân", Khổng Tử đưa ra các chính sách dưỡng dân, giáo dân, phương pháp chính hình (chính lệnh và hình pháp), võ bị và ngoại giao Trong

đó dưỡng dân và giáo dân là quan trọng hơn cả vì "khéo nuôi dân thì nước trị mà nhà cầm quyền được dân quí, ngược lại thì nước loạn, dân sẽ bỏ đi nước khác “

-  XHHQL đã cho thấy rằng tư tưởng trên của Khổng Tử là khoa học và

chính xác cho tới ngày nay Hiện nay rất nhiều nhóm dân cư di cư từ nước này sang nước khác vì lí do đói nghèo Bên cạnh việc nuôi dân tốt còn phải chăm lo tới việc giáo dục họ để họ có đủ tri thức để thực hiện nghĩa vụ và quyền hạn của mình.

  Như vậy tư tưởng "đức trị" hầu như xuyên suốt các thao tác quản lí của

Khổng Tử Cái lăng kính chủ quan của ông "Từ bụng ta suy ra bụng người" hay còn gọi là phép nội suy trong khi lí giải các sự kiện xã hội, phương pháp này liệu có còn hoàn toàn chính xác không khi mà đất nước ta đang tiến vào "công nghiệp hoá, hiện đại hoá"? Câu trả lời hãy còn bỏ ngỏ, tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận

sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng "đức trị' của Khổng Tử đối với hoạt động quản lí

Trang 4

nói riêng và các quan hệ xã hội ở Việt Nam nói chung

3.1 Tư tưởng Pháp trị – Hàn Phi Tử

(280-233 trước Công nguyên) 3.2.1 Bản chất hám lợi và hám quyền lực của con người

Cái tính bản thiện chỉ có được ở một số ít người mà nhất là những bậc vĩ nhân, còn đại đa số con người đều có tính ác, họ tranh giành nhau về quyền lợi, vì chức vụ, họ tranh giành nhau vì quyền lực, vì sự vinh quang và bản chất của mọi hành vi con người xuất phát từ lợi ích

Hàn Phi Tử là một triết gia, một nhà quản lí xã hội sống cách chúng ta

khoảng 2500 năm, nhưng tư tưởng của ông được đánh giá là một tư tưởng rất thực

tế và thậm chí là tư tưởng thực dụng khi bàn về vấn đề quản lí xã hội.

Quan điểm về cái vị lợi của con người đã được Hàn Phi Tử giải thích trong mọi mối quan hệ, từ mối quan hệ máu mủ trong gia đình họ hàng đến quan hệ xã hội

- Quan điểm về sự rối loạn của xã hội: khi nền sản xuất không đáp ứng được nhu cầu của xã hội, không có sự tương đồng giữa cung và cầu tất yếu sẽ dẫn tới

sự rối loạn xã hội Sự rối loạn xã hội một phần do sự nghèo khổ dẫn tới, sự nghèo khổ lại là nguyên nhân của sự gia tăng dân số quá nhanh và nền sản xuất thấp kém, đất đai chật hẹp và xã hội tiến theo quy luật đấu tranh sinh tồn, cho nên con người vì sự tồn tại của chính mình, người nào cũng muốn sống sót cho nên họ phải đấu tranh và loại trừ lẫn nhau (bản tính ác của con người).

- Tư tưởng này cũng tương tự như tư tưởng của một nhà xã hội học thuộc trường phái " Tiến hoá xã hội" là H Spencer (1820-1903), tuy nhiên H.Spencer nhấn mạnh khả năng thích ứng về mặt chức năng xã hội sẽ giúp cho cá nhân cũng như xã hội " sống sót" và hoàn thiện.

3.1 Tư tưởng Pháp trị – Hàn Phi Tử

(280-233 trước Công nguyên) 3.2.2 Mối quan hệ giữa người cai trị và kẻ bị trị

Trong thời đại phong kiến, mối quan hệ giữa người cai trị và kẻ bị trị chính

là mối quan hệ vua và tôi Khi Khổng Tử chủ yếu nhấn mạnh quan điểm này dựa vào đạo đức, dựa vào cái nhân nghĩa thì Hàn Phi Tử lại dựa vào khoảng cách về địa

vị giữa người cai trị và kẻ bị trị, đó là mối quan hệ quyền lực mà ngày nay XHHQL

Trang 5

tập trung điểm chú ý để nghiên cứu nó.

Dựa trên quan điểm cho rằng người dân, kẻ bị trị cũng như người cai trị đều có chung một bản chất là ham lợi và ham quyền lực Đối với người bị cai trị là người dân thì quyền lực cai trị không có do đó họ tập trung vào ham lợi và phục tùng quyền lực, điều này giúp cho nhà cai trị nắm được quy luật chung mà lập chính sách, thi hành chính sách của nhà nước

Theo ông thì nhà vua phải nắm cả ba quyền lực đó là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp Đây chính là hình thức tốt nhất của quản lí xã hội nhằm hạn chế tội lỗi, lập lại trật tự kỷ cương cho xã hội

Khi đánh giá về khả năng, năng lực quản lí ông cho rằng những người cai trị, ở đây trực tiếp là nhà vua mà nghiêm túc công tâm, ít chú ý đến tư lợi cá nhân thì sẽ làm cho dân giàu nước mạnh

- Mối quan hệ giữa người quản lí và kẻ bị quản lí là mối quan hệ một chiều, trong

đó có sự mâu thuẫn với nhau về mặt lợi ích

- mô hình quản lí xã hội của Hàn Phi Tử là mô hình quản lí pháp trị cứng nhắc theo một trật tự quyền lực từ cao nhất đến thấp nhất trong thang bậc quyền lực,

 - Khi bàn về mối quan hệ giữa các bộ phận trong xã hội có nghĩa là giữa cái công

và giữa cái tư, giữa cái xã hội với cái gia đình thì Hàn Phi Tử cho rằng quan hệ công tư là một mối quan hệ mâu thuẫn và chúng tồn tại trong việc mâu thuẫn đó phần thua thiệt phải

thuộc về phía tư có nghĩa là tư phải sẵn sàng hy sinh cho công, gia đình phải phục tùng và

sẵn sàng hy sinh cho xã hội, vì lợi ích của xã hội

3.1 Tư tưởng Pháp trị – Hàn Phi Tử

(280-233 trước Công nguyên) 3.2.3 Cấu trúc của hoạt động quản lí

* Thế

“Thế là địa vị, uy quyền" Ông cho rằng tài đức chỉ cần ở mức độ trung bình nhưng có Thế tức là có quyền lực, có một chức vụ cụ thể là có thể quản lí được Đối với Pháp gia trọng chữ "Thế" cũng là trọng sự cưỡng chế" và chính vì thế mà:

- "Chủ quyền (lập pháp, hành pháp, tư pháp) tập trung cả vào một người là Vua".

Trang 6

- "Vua phải được tôn kính tuân theo triệt để , dân không được trái ý vua, vua bắt chết phải chết, không chết nghĩa là không trung "

Khái niệm này tương đương như khái niệm địa vị (status) trong xã hội học hiện đại Tuy nhiên trong xã hội phong kiến hầu như không tồn tại một nền dân chủ (theo nghĩa hiện đại) nên chỉ có một vị trí cao nhất do một người nắm giữ đó là vua.

Pháp

"Pháp là hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt đều được dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy

bề tôi sẽ theo pháp"

Pháp chính là hệ thống các chuẩn mực xã hội, các điều luật nó buộc các thành viên của xã hội phải tuân thủ."Pháp" phải đảm bảo bốn yêu cầu :

- Luật pháp phải hợp thời.

- Pháp luật phải soạn thảo sao cho dân dễ biết, dễ thi hành.

- Pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ yếu, số ít.

- Pháp luật có tính cách phổ biến

Cụ thể là Pháp luật phải đảm bảo tính thời sự hay kịp thời, tính dễ hiểu hay phổ biến đối với mọi tầng lớp trong xã hội, tính khả thi và tính công bằng, nhờ đó

mà xã hội ổn định trong một trật tự bền vững.

Thuật

Thuật là kỹ thuật cai trị Theo hai nghĩa:

- Một là "kỹ thuật" tức là cách thức dùng để tuyển dụng và nhận xét, đánh giá khả năng của quan lại Vì thế mà Thân Bất Hại đã định nghĩa “Thuật” như sau:

"Thuật là nhân tài năng mà giao cho chức quan, theo cái danh mà trách cứ cái thực, nắm quyền sinh sát trong tay mà xét khả năng của quần thần".

- - Hai là "Tâm thuật" "Tâm thuật" là mưu mô để chế ngự quần thần, bắt họ phải để lộ thâm ý của họ ra".

Theo cách hiểu của tâm lí học hiện đại thì thuật chính là tác động tâm lí của người lãnh đạo đến cấp dưới để nắm bắt được suy nghĩ của cấp dưới đối với cấp trên

Trang 7

Trong XHH đây chính là một dạng tương tác xã hội giữa những người nắm giữ cương vị khác nhau trong một cấu trúc xã hội nào đó Dựa vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về mặt vị trí xã hội để tìm cách điều khiển cấp dưới tuân theo ý chí cấp trên

Cả hai loại kỹ thuật mà Hàn Phi Tử đã đưa ra cách đây mấy nghìn năm, ngày nay vẫn được vận dụng rộng rãi trong công tác quản lí nhân sự trong các cơ quan,

tổ chức và các nhóm xã hội.

Tóm lại cả Khổng Tử và Hàn Phi Tử đều có những đóng góp rất lớn trong kho tàng lí thuyết về quản lí xã hội

- Nếu như Khổng Tử tập trung vào quan điểm của học thuyết Đức trị, lấy tấm gương của người cán bộ lãnh đạo - cán bộ quản lý, để hướng dẫn cho cấp dưới, cho nhân dân noi theo thực hiện những kỷ cương của đất nước, của tổ chức

- Hàn Phi Tử dựa vào tính cứng rắn của quyền lực mà chi phối, khống chế, ép buộc hành vi con người phải tuân theo pháp luật

-  Hai quan điểm tuy khác nhau nhưng trong những lĩnh vực, trong những

điều kiện và hoàn cảnh xã hội cụ thể đều có những ý nghĩa xã hội tích cực

3.3 Tư tưởng quản lí theo binh pháp Tôn Tử

3.3.1 Chiến lược sử dụng quyền lực

3.3.1.1 Khái niệm quyền lực

Quyền lực ở đây được sử dụng theo nghĩa rộng và chung nhất là sức mạnh của người này đối với người kia trong tương tác xã hội mà kết quả là một bên giành được thắng lợi hay đạt được mục đích không phụ thuộc vào ý chí, tình cảm của bên kia

Muốn sử dụng được quyền lực cần phải hiểu rõ các mối quan hệ và các nhân

tố tạo ra quyền lực, nói một cách khác những nhân tố nào dẫn chủ thể hành động tới thắng lợi, mà theo Tôn Tử “thắng lợi” tức là lấy “thắng” làm “lợi”

Trong chiến lược quyền lực các chủ thể của quan hệ xã hội đều bị ràng buộc lẫn nhau, có liên quan đến nhau theo mức độ trực tiếp hoặc gián tiếp khác nhau như

là một cái “lưới”, tuy nhiên nó không cố định như các mắt của cái lưới mà nó có tĩnh có động, vì bản chất của sự cơ động đó là sự tồn tại

Từ quan niệm về chiến tranh người ta đã khái quát hoá tư tưởng của Tôn Tử thành lối sống văn hoá ứng xử trong đời sống xã hội.

3.3.1.2 Những nhân tố cơ bản trong chiến lược quyền lực

Đạo trong binh pháp tôn Tử "chỉ phép tắc, qui luật"

Trang 8

Đạo là qui tắc ứng xử giữa người với người giữ những cương vị xã hội khác nhau Nội dung cơ bản của " Đạo" là việc qui định người dân phải tuân theo ý chí của vua chúa, kẻ dưới phải tuân theo người trên, con phải tuân thủ cha Nếu như nhân

tố này không có hoặc không đạt được mức độ cho phép thì quan hệ trên dưới (người lãnh đạo với cấp dưới) sẽ bị rối loạn và không có diều kiện giành thắng lợi.

Trời là qui luật của tự nhiên như mùa (xuân, hạ, thu, đông), gió, bão, tuyết, nắng, mưa, ngày và đêm Dựa vào những qui luật của tự nhiên này để tiến hành một cuộc chiến tranh sao cho có lợi nhất.

3.3.1.2 Những nhân tố cơ bản trong chiến lược quyền lực

(tiêp)

Đất ở đây dược Tôn Tử hiểu là sự xa gần về mặt địa lý, sự lợi hại của nó như cao thấp, hiểm trở hay bằng phẳng trên cơ sở đó mà bày binh bố trận.

Tướng là những phảm chất cần thiết của người lãnh đạo như thông minh, trung thành, dũng cảm, nhân ái, nghiêm túc.

Pháp là mô hình thể chế Trong đó cách sắp xếp trật tự của các vị trí xã hội sao cho phù hợp với những phẩm chất cụ thể của mỗi cá nhân, ngoài ra còn đề cập tới số lượng biên chế trong quân sự phù hợp với một nhiệm vụ chiến đấu nào đó.

Muốn thắng đối phương phải hiểu rõ tương quan giữa các bên về 5 nhân tố này.

3.3.1.2 Những nhân tố cơ bản trong chiến lược quyền lực (tiếp)

*Thế

 Thế là tình thế được tạo ra dựa trên tương quan quản lí giữa các bên Phán xét tình thế sẽ giúp cho người cầm quyền lực chọn phương án tác chiến, nếu thấy thế địch mạnh thì nên tránh, dùng các thao tác quân sự để đánh lừa địch tạo ra thế mạnh cho ta ông đã chỉ ra những thao tác quan sự như “dùng lợi nhỏ để nhử kẻ địch nhân địch rối loạn mà chiến thắng”, kẻ địch có binh lực mạnh thì phải tránh xa nó, “dùng lời lẽ nhún nhường để

kẻ địch kiêu căng mà lơi lỏng”v.v  Tóm lại, Tôn Tử hiểu “thế” là tương quan sức mạnh giữa các bên tham chiến được tạo nên do các yếu tố như địa hình, sĩ khí, cách bố trí đội hình, quân số, vũ khí, lương thảo, sự chi viện của hậu phương

 Hư thực là phạm trù đối lập với sự thống nhất Phạm trù này dùng để chỉ binh lực nhiều hay ít, trang bị mạnh hay yếu,ý chí chiến đấu của quân sĩ dũng cảm hay khiếp nhược, tính chiến đấu ở trạng thái chủ động hay bị động Những gì liên quan đến yế tố

“lợi” đều là “thực”, ngược lại quan đến bất lợi là “hư”

Trang 9

 “Hư-Thực” được áp dụng rộng trong chiến lược quan hệ không những trong chiến tranh mà còn ngay trong các quan hệ xã hội, nhát là quan hệ thương mại, chính trị Trong quan hệ con người luôn tiến tới cái “thực”, lấy cái “thực” của mình làm cho đối phương nhận phần “hư” để giành quyền chủ động và đạt tới mục đích đã định

 Tư tưởng dùng nguyên tắc tránh “thực” đánh “hư” kết hợp “kỳ” và “chính” để thắng quân địch vì mục tiêu cuối cùng là thắng lợi Dùng “ sở trường” của mình để đánh vào “sở đoản” của địch có nghĩa là dùng thế mạnh của mình để đánh vào thế yếu của địch Có thể lấy yếu đánh mạnh, lấy ít đánh nhiều mà vẫn giành được thắng lợi Nhưng tại những thời điểm và những vị trí xác định thì binh lực của mình phải mạnh hơn đối phương

 Khi nói đến “kỳ” và “chính” Tôn Tử muốn bàn đến sự vận dụng một cách hợp lí giữa “thực” và “hư”, ví dụ “xuất phát ở nơi kẻ địch không tới, tiến tới nơi kẻ địch không ngờ”

3.3.2 Quyền mưu

“Quyền mưu là sức mạnh bản chất của con người, là trí tuệ của nhân loại, là một hình thức tồn tại của trí tuệ loài người” Quyền mưu trong chiến đấu còn gọi là mưu công có nghĩa là vận dụng các mưu kế, sách lược để chiến thắng kẻ địch Như vậy vấn đề quyền mưu là vấn đề tất yếu, nó là nghệ thuật của chiến tranh Nghệ thuật đó cũng được kết tinh bởi trí tuệ con người và quay trở lại thực tiễn để phục

vụ con người

Quyền mưu có bản chất là “việc binh đứng trên phép lừa” vì bản chất của chiến tranh là giành thắng lợi Nếu mục đích của chiến tranh là bảo vệ dân tộc chống xâm lược thì chiến tranh đó là chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh xâm lược là phi nghĩa Quyền thuật trong binh pháp Tôn Tử đã được áp dụng rộng rãi trong đời sống chính trị, thương mại hiện nay Ngày nay người ta hay dùng thuật ngữ quyền thuật cũng là cách dùng để chỉ một số quyền mưu trong đời sống chính trị mà bản chất của nó cũng chỉ là nghệ thuật lừa đối phương để giành lấy thắng lợi Người ta có thể dùng những ngôn từ rất hợp lòng người mới có thể điều khiển được con người Trong kinh doanh người kinh doanh cần thu lợi nhuận cho nên phải tính toán cân đối giữa thu và chi

4 Các tư tưởng xã hội học quản lí Thời kỳ Trung cổ

* Thời kỳ này không có quan niệm đặc biệt mới trong quản lí xã hội loại trừ tư tưởng tôn giáo

* Học thuyết của Arơgustin (Thế kỷ 4-5) cũng một lần nữa nhấn mạnh tính chất lao động xã hội, đó là sự khác biệt giữa lao động chân tay và trí óc mà những triết gia thời cổ

Trang 10

đại Hy Lạp đã đưa ra

* Các nhà tư tưởng thời trung cổ có bổ sung thêm quan niệm về động cơ đạo đức trong vấn đề lao động xã hội Nghĩa là con người cần lao động để chuộc lại, để đền bù cho tội lỗi của mình, lao động đảm bảo cho sự tồn tại sinh học của con người, còn một sự tồn tại nữa không qua lao động đó là linh hồn thuộc về chúa

4 Các tư tưởng xã hội học quản lí Thời kỳ Trung cổ (tiếp)

* Quản lí xã hội dựa trên niềm tin và tôn giáo sẽ giúp cho nhà quản lý, những người cai trị ổn định tư tưởng an tâm của người dân, thủ tiêu đấu tranh trong dân chúng Đó cũng chính là tư tưởng quản lí xã hội của Acơvinski ở thế kỷ 13-14

* Nếu như Acơvinski kết thúc giai đoạn “tiền khoa học” của các tư tưởng xã hội học

quản lí vào thế kỷ 14 thì có thể coi M Luther (1483-1546) là người bắt đầu của thời đại khoa học của những nghiên cứu tư duy xã hội học quản lý Cả Luther và Canvin (1509-1564) đều đã đưa ra được thuyết về quản lí xã hội dựa trên luận điểm về tinh thần đạo đức tôn giáo Theo họ thang đo giá trị của chủ nghĩa tư bản chính là tính chủ động tích cực cao, có nguyên tắc đạo đức, yêu lao động, lương tâm nghề nghiệp vì lao động là sự trừng phạt của Chúa Do đó lao động chỉ đảm bảo sự duy tồn hiện tại về mặt sinh học Những người thực hiện cuộc sống tu luyện, khổ hạnh là những người lao động cực nhọc nhất và họ sẽ được cứu vớt linh hồn ở kiếp sau trên thiên đàng

* Quan niệm về "xã hội lao động" là một dạng mới của nền văn minh nhân loại trên

cơ sở của lao động theo tinh thần "đạo đức tin lành" Quản lí xã hội gắn liền với việc tổ chức lao động nhân danh Chúa và vì Chúa, đây cũng là lí do thúc đẩy chủ nghĩa tư bản

đạt được những thành tựu rực rỡ về kinh tế xã hội ở thế kỷ 16-17.

5 Các học thuyết kinh điển

(đầu thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 )

5.1 Marx, Anghen và cấu trúc luận kinh điển

- Tổ chức XH nào cũng là kết quả của hoạt động thực tiễn XH của con người,là thước đo chung nhất của hình thái KTXH Hình thái naỳ sẽ chi phối mọi quan hệ xã hội CNXH quản lí xã hội theo chương trình cụ thể đã được kế hoạch hoá phục vụ lợi ích toàn dân và tập thể

K Marx tuyên bố sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản bởi chủ nghĩa cộng sản Marx

đã xem xét giải thích các hiện tượng xã hội như là các sự kiện và cũng xây dựng các khoa học xã hội dựa theo mô hình khoa học tự nhiên.

Ông giải thích về quản lí hành chính mà ông gọi là nguyên tắc thống nhất (phối hợp) giá trị

K Marx đã chỉ ra tính chất quản lí có tính kế hoạch của nhà nước xã hội chủ

Ngày đăng: 07/12/2015, 12:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w