Đạo Nhân: • Trong các phạm trù lý luận cơ bản của Khổng Tử gồm nhân, lễ, nghĩa, trí, tín … thì nhân là quan trọng nhất.. "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong tr
Trang 24 Ninh Nguyễn Thanh Hằng
5 Nguyễn Thanh Liêm
6 Hà Tuyết Linh
7 Nguyễn Lực
8 Huỳnh Thị Như Ngân
Trang 31 Tư tưởng Đức trị của Khổng
Tử
Trang 4• Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước Công Nguyên, vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc)
Trang 51.1 Những nội dung chính về tư
tưởng quản lí của Khổng Tử
1.1.1 Đạo Nhân:
• Trong các phạm trù lý luận cơ bản của Khổng
Tử gồm nhân, lễ, nghĩa, trí, tín … thì nhân là quan trọng nhất Theo góc độ quản lý, Nhân
là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý, vừa là đạo đức và hành vi của các chủ thể quản lý
Trang 6• Nếu làm được 5 điều trong thiên hạ thì sẽ thực hiện được chữ nhân, 5 điều đó là: Cung, Khoan, Tín, Mẫn, Huệ "Nhân" có quan hệ chặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết lý Khổng Tử để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "Nhân" là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người
Trang 71.1.2 Lễ
• Lễ nghi đúng thủ tục, hợp lòng người trong cuộc sống đương thời mà qua đó xã hội đánh giá đến sự hiểu biết của một cá nhân, phải đạo với trời đất, hợp đạo với đời Chữ lễ ở đây không chỉ là lễ phép, đức độ kính trên nhường dưới, mà còn thể hiện qua những hình thức lễ nghi theo truyền thống đương thời
Trang 81.1.3 Nghĩa
• Nghĩa ở đây thể hiện vai trò trách, trách nhiệm của con người với người, giữa người với đời, với xã hội hiện tại Sống ở đời cần có một trách nhiệm với đời
• Biết trả ơn khi mình đã nhận được những điều may mắn trong cuộc sống – đó cũng là nghĩa
• Nghĩa cũng là sống cho mọi người chứ không chỉ sống cho riêng cá nhân mình
Trang 91.1.4 Trí
• Trí là một sự hiểu biết, người không trí, không hiểu biết thì quả là một thiệt thòi lớn, có thể nói người không trí không làm được gì cả
Trang 101.1.5 Tín
• Có trí mà không có tín thì chưa phải là điều tốt, ai
đó có tài nhưng lại không có được uy tín, lòng tin đối với người khác thì cũng chẳng được ai tôn trọng Chữ tín trong cuộc sống hàng ngày rất quan trọng.
• Thời xưa cái uy tín với bạn bè luôn được đánh giá cao, uy tín đó sẽ gây dựng được lòng tinh, mọi người tin tưởng
• Ngày nay cũng vậy cho dù anh có tài nhưng không
có được uy tín thì cũng chẳng ai theo Chữ tín cái
uy tín trong công việc luôn đặt lên hàng đầu, quyết định đến sự thành công.
Trang 11• Có được nhân, nghĩa, trí, tín tất lễ cũng phải có, bốn chữ trên gần như bao gồm cả một nhân cách con người thì lý gì lễ không có? Chí ít gì cũng hiểu biết thế nào là lễ và vì sao gọi là lễ ở đời Vì vậy nếu nói: Người xưa thì NHÂN, LỄ, NGHĨA, TRÍ, TÍN Còn người nay thì NHÂN, NGHĨA, TRÍ, TÍN, LỄ thì cũng không gì là quá Nhưng cho dù là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín hay nhân, nghĩa, trí, tín, lễ đi chăng nữa thì sự gắn kết cũng như mối tương quan bổ trợ giữa năm chữ trên cũng không bao giờ thay đổi được Năm chữ trên không thể thiếu đi một.
Trang 121.2 Tư tưởng của Khổng tử về
đào tạo cán bộ quản lí
1.2.1 Đào tạo cán bộ quản lí chuyên nghiệp
• Có hai cách đào tạo quan lại:
1 Con cái của tầng lớp quý tộc quan lại được làm quan
theo một phong tục “truyền tử”, làm quan rồi sau đó mới học Lễ, học Nghĩa.
2 Là những người bình dân được học tập trước khi làm
quan, họ thi cử đỗ đạt và được làm quan Khổng tử đánh giá loại quan này cao hơn vì họ có khả năng thực tiễn và tự vận động nhiều hơn loại quan thứ nhất.
Trang 131.2.2 Phẩm chất của nhà quản lí hay mô hình của người quân tử
• Theo Khổng tử phẩm chất quan trọng của nhà quản lí là tính trung thành, trung thành ở đây thể hiện cụ thể qua công việc của nhà quản lí
• Nhà quản lí phải có cái Nhân, mà sự cô đọng lớn nhất của cái Nhân này phải được biểu đạt trong ba phẩm chất mà Khổng tử cho là quan trọng nhất đó là: Nhân Trí và Dũng
Trang 141.2.3 Vai trò của giáo dục trong đào tạo các phẩm chất nhà quản lí
• Muốn hiểu được chữ Nhân, có được cái Trí, có được chính trực, có được “cái cương” nhà quản lí cần phải học tập, vì “bất học diễn tường”, không học thì cái Trí đó sẽ làm hại cái Nghĩa; sẽ bị “cái loạn”, cái mất trật tự làm lu mờ, che khuất; sẽ bị cái “táo bạo”, “cái khinh xuất” làm hỏng.
• Cần phải giữ một trạng thái chung dung Chung dung là một phương pháp sử thế hướng ngoại của cán bộ quản lí Có nghĩa là biết rõ vị trí trong quan hệ xã hội của nhà quản lí và người bị quản lí
để sử lí cho khách quan.
Trang 151.2.4 Chính sách cán bộ
• Chọn người và đề bạt người theo năng lực, theo đức, theo tài, chứ không thể dựa theo giai cấp, dựa theo huyết thống.
• Không được quá cầu toàn trong chính sách cán bộ, đối
sử với cán bộ cần sáng suốt và đại lượng.
• Người cán bộ cấp trên nếu biết người cán bộ cấp dưới
có đức, có tài mà không đề bạt, cất nhắc là loại cán bộ
Trang 161.2.5.2 Giáo dục nhân dân
• Là một trong những nhiệm vụ tối quan trọng của quản lí Việc giáo dân phải thực hiện theo chính sách người trên phải làm gương cho kẻ dưới Đới với nhân dân thì phải dạy cho người
ta hiểu “tiên học lễ, hậu học văn” thông qua kỉ cương mà nhà nước đặt ra
1.2.5.3 Phương pháp chính hình
• Chính hình trong quan hệ giữa người quản lí
và cấp dưới chính là biện pháp dùng mệnh lệnh Hình ở đây có nghĩa là hình pháp
Trang 171.2.5 Quan hệ giữa người quản lí với nhân dân
1.2.5.1 Dưỡng dân
• Người quản lí phải biết thương dân, đó là làm cho dân đủ ăn đủ mặc, cho nên ông dùng khẩu hiệu
“túc thực rồi mới túc binh”
• Việc đóng thuế đối với nhân dân phải nhẹ nhàng, phải đúng mực Chi tiêu theo nguyên tắc tiết kiệm
• Điều khiển, huy động sức dân phải phù hợp, phải kịp thời
• Việc phân phối sản phẩm xã hội là phải coi trọng
sự công bằng và theo chế độ quân binh
Trang 181.2.5.4 Sử dụng thuyết chính danh
• Thuyết chính danh là đòi hỏi người quản lí phải đặt đúng tên sự vật và gọi cái tên của nó vốn có khiến danh (tên) đúng với thực chất hay bản chất của sự vật Chính danh tức là phải xứng đáng với chức vụ, với danh hiệu mà
xã hội đã trao cho mình, những điều đó được thể hiện qua những mô hình hành vi như Cung, Kính, Hành, Giản
Trang 192.Tư tưởng pháp trị - Hàn Phi
Tử(280-233 Tr CN)
• Hàn Phi Tử là ai?
Trang 20• Hàn Phi Tử là nhà triết học, người tập hợp các học thuyết luật học và là nhà Tản văn nổi tiếng trong thời chiến quốc Trung Quốc (475-221 TCN) Ông đã sáng lập ra học thuyết luật học, trở thành cơ sở lý luận cho
sự ra đời của nhà nước chế độ tập quyền trung ương chuyên chế thống nhất đầu tiên ở Trung Quốc.
• Được Tần Thủy Hoàng trọng dụng, Lý Tư là bạn học của Hàn Phi Tử, biết ông có tài hơn mình, ben rèm pha nói xấu với Tần Thủy Hoàng Tần Thủy Hoàng nghe lời và đã giam Hàn Phi Tử và cho ông uống thuốc độc.
Trang 212.1 Vài nét về tiền đề của tư
tưởng pháp trị
• Lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ tiêu biểu nhất đó là thời kì Xuân Thu và thời kỳ Chiến Quốc Thời Xuân Thu năm 770-403 TCN có Lão
Tử, Khổng Tử
• Thời kỳ Chiến Quốc 403-221 TCN là thời kỳ bất
ổn định về chính trị tuy nhiên kinh tế rất phát triển
Trang 22• Chính sách thuế má thay đổi làm cho người nông dân được tự do hơn, độc lập hơn với chủ điền trước đây
• Vấn đề kỹ thuật và thương mại thời Chiến Quốc
có những bước tiến dài hơn so với thời Xuân Thu
• Thời kỳ này vấn đề xã hội không được ổn định, chiến tranh liên miên, đạo đức xã hội suy đồi, quan lại tham nhũng, ăn chơi xa hoa trụy lạc, tầng lớp quý tộc, quản lý chia rẽ về mặt tư tưởng Do
đó, người ta thống nhất đất nước bằng một con đường khác Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử (280-233TCN) ra đời
Trang 232.2 TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA
+ Thứ 1: Luật pháp phải kịp thời,
+ Thứ 2: Luật pháp phải dễ hiểu, phổ biến, dễ thi hành + Thứ 3: Pháp luật phải công bằng và phải bênh vực kẻ yếu.
+ Thứ 4: Pháp luật phải có sự thực thi như nhau đối với tất cả mọi người, đối với tất cả tầng lớp bị trị
Trang 24THUẬT: là kĩ thuật cai trị, học thuyết của Hàn Phi Tử được hiểu theo 2 nghĩa:
+ Thứ nhất là kĩ thuật: kĩ thuật là cách thức, là biện pháp để tuyển dụng, kiểm soát xã hội của tầng lớp quan lại
+ Thứ hai là tâm thuật: là mưu mô để chiếm quân thần không cho họ biết suy nghĩ và ý đồ riêng của người vua, của người lanh đạo
Thực chất đây là thủ đoạn của nhà vua điều khiển quan lại, phải giữ gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh
Trang 25THẾ: là uy thế quyền lực của người làm vua Vua phải triệt để sử dụng quyền của mình để trị nước.
- Quyền lực phải tập trung tuyệt đối vào tay của nhà vua, không được trao quyền cho bất ai, phảo dùng pháp luật để củng cố quyền lực
- Nếu chỉ có pháp luật và thuật thì thiếu quyền lực để cưỡng bức thì cũng không thể cai trị được
Trang 26+ Pháp, thuật và thế có mối quan hệ chặt chẽ cho nhau, bổ sung cho nhau, trong đó pháp là trung tâm, thuật và thế là điều kiện để thực hành pháp luật.
+ Thưởng, phạt là công cụ để thi hành pháp luật Phạt nặng nề để răn đe kẻ xấu, thưởng hậu để khuyết khích, động viên mọi người làm việc Thưởng phạp nghiêm minh, thỏa đáng mới bảo
vệ được pháp luật
+ Phủ nhận thần quyền
Trang 273.1 Vài nét về Tôn Tử
• Tôn Tử còn có tên là Tôn Vũ Năm 532 TCN nổ ra cuộc đấu tranh vũ trang giữa các lực lượng cũ và mới trong nước Tề, vì thế Tôn Tử rời nước Tề sang nước Ngô sống ẩn dật tại Cô Tô Tại đây ông gặp và kết bạn với Ngũ Tử Tư và được ông tiến cử lên vua Ngô Ông đã trình lên vua Ngô tác phẩm chính của ông là “Tô Tử Binh pháp” với nội dung chính là sách lược và chiến lược của chiến tranh mà mục tiêu
là thắng lợi Đối với xã hội học quản lí, triết lý của Tôn Tử có hai nội dung quan trọng là chiến lược sử dụng quyền lực và kỹ thuật dùng người trong quản
lí con người.
Trang 283.2 Chiến lược sử dụng quyền
lực
3.2.1 Khái niệm quyền lực
• Quyền lực ở đây được sử dụng theo nghĩa rộng
và chung nhất là sức mạnh của người này đối với người kia trong tương tác xã hội mà kết quả là một bên giành thắng lợi hay đạt mục đích không phụ thuộc vào ý chí , tình cảm của bên kia
Trang 293.2.2 Những nhân tố cơ bản trong chiến lược quyền lực
3.2.2.1 Đạo
• Đạo là quy tắt ứng xử giữa những người, giữ
vị trí xã hội khác nhau mà nội dung cơ bản của
nó là việc quy định người dân phải tuân theo ý của vua chúa, kẻ dưới phải tuân theo người trên, con phải tuân thủ cha
Trang 303.2.2.2 Trời
• Trời là quy luật của tự nhiên như mùa (xuân,
hạ, thu, đông ) gió, bão, tuyết, nắng, mưa, ngày và đêm… Dựa vào những quy luật của tự nhiên này để tiến hành một cuộc chiến tranh sao cho có lợi nhất
3.2.2.3 Đất
• Đất ở đây được Tôn Tử hiểu là sự xa gần về mặt địa lí, sự lợi hại của nó như cao thấp, hiểm trở hay bằng phẳng trên cơ sở đó mà bày binh
bố trận
Trang 313.2.2.4 Tướng
• Tướng là những phẩm chất cần thiết của nhà lãnh đạo như thông minh, trung thành, dũng cảm, nhân ái nghiêm túc
3.2.2.5 Pháp
• Pháp là mô hình thể chế, trong đó cách sắp xếp trật tự các vị trí xã hội sao cho phù hợp với những phẩm chất cụ thể của mỗi cá nhân , ngoài ra còn đề cập tới số lượng biên chế trong quân sự phù hợp với một nhiệm vụ chiến đấu nào đó
Trang 323.2.2.6 Thế
• Thế là tình thế tạo ra dựa trên tương quan quân lực giữa các bên Phán xét tình thế sẽ giúp cho người cầm quyền lực chọn phương án tác chiến nếu thấy thế địch mạnh thì nên tránh, dùng các thao tác quân sự để đánh lừa địch, tạo ra thế mạnh cho ta
Trang 33 3.2.2.7 Hư – Thực
• Hư thực là phạm trù đối lập với sự thống nhất Phạm trù này dùng để chỉ binh lực nhiều hay ít, trang bị mạnh hay yếu, ý chí chiến đấu của quân
sĩ dũng cảm hay khiếp nhược, tính chiến đấu ở trạng thái chủ động hay bị động Những gì liên quan tới “lợi” đều là “thực”, ngược lại liên quan tới “bất lợi” là “hư” , “Hư – Thực” được áp dụng rộng trong chiến lược quan hệ không những trong chiến tranh mà còn ngay trong các quan hệ xã hội nhất là quan hệ thương mại, chính trị
Trang 34 3.2.2.8 Quyền mưu
• Là sức mạnh bản chất của con người, là trí tuệ của nhân loại, là hình thức tồn tại của trí tuệ loài người Quyền mưu trong chiến đấu còn gọi là mưu công, có nghĩa là vận dụng các mưu kế, sách lược để chiến thắng kẻ địch.
• Vậy quyền mưu là vấn đề tất yếu, nó là nghệ thuật của chiến trang.
Trang 35• Quyền mưu có bản chất là “ việc binh đứng trên phép lừa” vì bản chất của chiến tranh là giành thắng lợi Nếu mục đích của chiến tranh
là bảo vệ dân tộc, chống xâm lược là phi nghĩa Quyền lực trong binh pháp Tôn Tử dã dược áp dụng rộng rãi trong đời sống chính trị, thương mại hiện nay Ngày nay người ta hay dùng thuật ngữ quyền thuật cũng là cách dùng
để chỉ một số quyền mưu trong đời sống chính trị mà bản chất của nó cũng chỉ là nghệ thuật lừa đối phương để giành thắng lợi