Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh đang ở giai đoạn quyết liệt, ĐCS Đông Dương quyết định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1953 - 1954, đơn vị hành quân đi chiến dịch, Bế Văn Đàn làm l
Trang 2 Người dân tộc Tày, quê ở xã
Quang Vinh (nay là xã Triệu Ẩu), huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng
Tham gia trận Điện Biên Phủ
trong chiến dịch Đông Xuân
Trang 3Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Minh đang ở giai đoạn quyết liệt, ĐCS Đông Dương quyết định mở chiến dịch Đông Xuân năm 1953 - 1954, đơn vị hành quân đi chiến dịch,
Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây giữ Pháp ở Mường Pồn Lúc đó, khi thấy lực lượng Việt Minh ít, Pháp tập trung 2 đại đội
có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả 2 lần chúng đều bị quân Việt Minh đánh bật Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt Quân Pháp liều chết xông lên, quân Việt Minh kiên quyết ngăn chặn, chốt giữ.
Lúc đó có lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, để các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch Mặc dù Bế Văn Đàn vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, ông đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ Bế Văn Đàn vượt qua lưới đạn dày đặc của quân Pháp, xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chính xác Trong khi đó, trận chiến đấu diễn ra ngày càng ác liệt hơn, Bế Văn Đàn được lệnh ở lại đại đội chiến đấu.
Quân Pháp phản kích lần thứ ba, mở đường tiến, đại đội Việt Minh bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng ông vẫn tiếp tục chiến đấu Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì không có chỗ đặt súng Trong tình thế hết sức khẩn trương,
Bế Văn Đàn không ngần ngại chạy lại cầm 2 khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng
đội bắn Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn đã nói: Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi
thì bắn chết chúng nó đi! Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, Bế Văn Đàn bị hai vết
thương nữa và hy sinh, hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai mình.
Trang 4 Quê ở xã Cẩm Quan, huyện
Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Nhập ngũ năm 1950, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam
Khi hi sinh anh là tiểu đội phó thuộc đại đội 58, tiểu đoàn 428, trung đoàn 141, sư đoàn 312
Danh hiệu anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân
Trang 5Trong trận Him Lam ngày 13 tháng 3 năm 1954 (thuộc
chiến dịch Điện Biên Phủ), khi Phan Đình Giót phá hàng rào cuối cùng thì bị thương, lực lượng xung kích của tiểu đoàn 428 xung phong vào cứ điểm, bị đối phương trong lô cốt bắn cản dữ dội Phan Đình Giót nhanh chóng trườn lên dùng tiểu liên, lựu đạn diệt hỏa điểm địch, đạn hết, hỏa
điểm thứ 3 vẫn chưa bị diệt, Phan Đình Giót liền lao cả
thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên tiêu diệt cứ điểm Him Lam
Trang 6 Người dân tộc Tày, tỉnh Cao
Bằng
Sinh ra và lớn lên trong hoàn
cảnh đất nước có chiến tranh,
được nhiều cán bộ tuyên truyền giác ngộ, anh đã hiểu rõ nguồn
gốc sự cực khổ của người nghèo
và người dân mất nước, nên hăng hái tham gia vào công cuộc kháng chiến ở quê hương Với khát khao được cầm súng giết giặc giải
phóng đất nước, La Văn Cầu mới
16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội
Trang 7Lúc đó là năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn Nhưng niềm vui
và ý chí đã giúp anh vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, nên được anh em đồng đội rất quí mến Anh đã tham gia chiến đấu
nhiều trận và lập được nhiều chiến công Một trong những
chiến công mà từ đó tên tuổi của anh đã đi vào sử sách là
Trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai (từ 16-18.9.1950)
Trong trận đánh này, anh được phân công chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu (cửa mở trận đánh) Trong trận đánh, anh bị thương nát tay phải và đã nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay ấy cho khỏi vướng rồi tiếp tục đánh bộc phá mở đường cho đơn vị xung phong
Trang 8 Quê ở xã Nông Trường, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Nhập ngũ năm 1949, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Khi
hy sinh anh là khẩu đội trưởng pháo phòng không, đại đội 827, tiểu đoàn394, trung đoàn 367
Danh hiệu Huân chương quân công hạng nhì, Huân chương chiến công hạng nhất và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân
Trang 9Để phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ, tháng 3 năm
1953, Tô Vĩnh Diện và đồng đội kéo pháo ra đến đoạn Dốc Chuối Lúc đó, anh và pháo thủ Ty xung phong cầm càng lái pháo Khi dây tời chính bị đứt, pháo lao nhanh và khó điều khiển, pháo thủ Ty bị càng pháo
đánh bật ra, TôVĩnh Diện vẫn bám lấy càng, điều
khiển hướng lao của pháo, bất chấp nguy hiểm lấy
thân mình đẩy càng pháo vào vách núi cho pháo dừng lại, Tô Vĩnh Diện hy sinh
Trang 10Quê ở vùng Đất Đỏ, Long Điền, tỉnh Bà Rịa (nay thuộc xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu)
Năm 1949, cô tham gia đội Công
an xung phong Đất Đỏ làm liên lạc, tiếp tế
Cô bị xử bắn năm 1952 tại Côn Đảo khi chưa đủ 18 tuổi
Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Trang 11Năm 1950, khi mới 15 tuổi cô bị chính quyền Pháp bắt
và bị tòa án binh Pháp kết án tử hình vào tháng 4 năm
1951 vì đã ném lựu đạn tại chợ Đất Đỏ, giết chết một Cai Tổng Tòng quan ba và gây thương tích cho 20 tên lính Pháp Tuy nhiên, các luật sư biện hộ cho cô đã phản đối án tuyên này với lý do cô chưa đủ 18 tuổi Trước khi bị đưa ra hành án, cô bị đày qua các nhà tù Chí Hòa, Bà Rịa và Côn Đảo Cô bị xử bắn năm 1952 tại Côn Đảo khi chưa đủ 18 tuổi
Trang 12Quê ở làng Thanh Quýt, xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, Quảng Nam
Ông bị xử bắn tại sân sau nhà lao Chí Hòa lúc 9 giờ 45 phút ngày
15 tháng 10 năm 1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên nước ngoài
Nguyễn Văn Trỗi được truy nhận Đảng viên Nhân dân Cách mạng miền Nam và Huân chương
Thành đồng hạng nhất
Trang 13 Ngày 2 tháng 5 năm 1964, ông nhận nhiệm vụ đặt mìn ở
cầu Công Lý (nay là cầu Nguyễn Văn Trỗi), để ám sát phái đoàn quân sự chính trị cao cấp của Chính phủ Hoa Kỳ do
Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara dẫn đầu Công việc bại lộ, ông bị bắt lúc 22 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1964
Những phút cuối cùng, ông tỏ ra rất can đảm, không đồng ý bịt mắt và xưng tội và hô lên những lời cuối cùng được các phóng viên ghi lại:
“ Hãy nhớ lấy lời tôi!
Đả đảo Đế quốc Mĩ!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Việt Nam muôn năm!”
Trang 14Quê ở xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Trong Cách mạng tháng Tám, cô
tham gia Phụ nữ Cứu quốc tại địa
phương Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, bà bắt đầu tham gia lực lượng
du kích và là một cán bộ chính trị cơ
sở, hoạt động ở địa phương
Bị giết vào ngày 23 tháng 4 năm
1951, khi đó bà mới 24 tuổi
Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân và Huân chương quân công hạng II
Trang 15Năm 1949, quân đội Pháp xây dựng bốt (đồn) Trung Hà, lập hàng rào,
tháp canh, liên tục tổ chức càn quét, kiểm soát một địa bàn rộng lớn
quang xã Nam Tân Vì vậy cán bộ Việt Minh ở xã Nam Tân bị bật sang các vùng lân cận Chỉ riêng Mạc Thị Bưởi vẫn tiếp tục ở lại, hoạt động xây dựng tổ chức cho Việt Minh trong những điều kiện khó khăn Hơn thế, bà còn tổ chức được 3 tổ nữ du kích, xây dựng 35 cơ sở ở ba thôn của xã; vận động quần chúng chống nộp thuế, đi phu cho quân Pháp.
Năm 1950, quân Việt Minh tấn công đồn Thanh Dung(?) Trong trận đánh này, Mạc Thị Bưởi đã thực hiện việc trinh sát tiền trạm, tạo cơ sở để trận đánh thành công Quân đội Pháp nhiều lần treo giải thưởng để có thể bắt được Mạc Thị Bưởi, nhưng đều không thành công.
Năm 1951, bà làm nhiệm vụ vận động nhân dân vùng tạm chiếm chuẩn bị gạo, đường, sữa chuyển ra vùng tự do phục vụ chiến dịch Trần Hưng
Đạo, đánh đường 18 Trong một chuyến vận chuyển đó, bà bị quân Pháp phục kích bắt được và tra tấn tàn bạo Bà kiên quyết không khai một lời
và bị giết vào ngày 23 tháng 4 năm 1951, khi đó bà mới 24 tuổi
Trang 16Bí danh của Nông Văn Dèn, người dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Anh là người đội trưởng đầu tiên của tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
Anh đã anh dũng hi sinh ngay bên
bờ suối Lê Nin 15/2/1943, Anh
vừa tròn 14 tuổi
hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
Trang 17Kim Đồng đã cùng những đội viên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh làm nhiệm vụ giao liên đưa đón cán bộ cách mạng, chuyển thư từ Trong một lần đi liên lạc, phát hiện có địch, Kim Đồng đã đánh lạc
hướng bọn địch để các bạn của mình đưa bộ đội về căn
cứ được an toàn Kim Đồng chạy qua suối, qua con
đường mà thường ngày vốn đã rất quen thuộc với anh Tất nhiên bọn chúng theo không kịp liền xả súng xối xả vào anh Anh đã anh dũng hi sinh ngay bên bờ suối Lê Nin 15/2/1943, Anh vừa tròn 14 tuổi
Trang 18Học Đại học Y Hà Nội từ nǎm
1928, tốt nghiệp bác sĩ ở Paris nǎm 1934
Ông tham gia hoạt động cách mạng
ở Sài Gòn từ thời kỳ Mặt trận Bình dân (1936-1939), vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3 nǎm
1945
Từ tháng 3 nǎm 1945, là một thủ lĩnh của tổ chức Thanh niên Tiền phong, tham gia cướp chính quyền tháng 8 nǎm 1945
Trang 19Từ 27 tháng 8 nǎm 1945 là Bộ trưởng Y tế đầu tiên của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
ủy viên ủy ban Nhân dân Nam Bộ, rồi lần lượt Thứ trưởng Phủ Chủ tịch, Trưởng phái đoàn chính phủ tại Nam Bộ
(1948-1950), Chủ tịch ủy ban Kháng chiến Hành chính
Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Trưởng ban Y tế của Đảng, Thứ trưởng Y tế (1954-1958), từ 1958 là Bộ trưởng Y tế
Năm 1968, tuổi 59, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lại thiết tha xin vào chiến trường Miền Nam xây dựng và phát triển
ngành và đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ
Trang 20Danh hiệu:
Anh hùng Lao động đầu tiên của ngành y tế - Nǎm 1958, tại Đại hội liên hoan Anh hùng Chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất
Giải thưởng Hồ Chí Minh - Truy tặng năm 1997 vì các
cống hiến trong lĩnh vực khoa học
Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận định:
“Phạm Ngọc Thạch đã nêu một tấm gương về cách nhìn,
cách nghĩ, cách nghiên cứu để giải quyết một cách sáng tạo và độc đáo những vấn đề khó khǎn và phức tạp của việc thanh toán những bệnh tật do chế độ cũ để lại, trong việc vệ sinh phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe nhân dân và đồng chí đã thành công trong nhiều công trình nghiên cứu quan trọng”.
Trang 21Quê ở làng An Cựu, ngoại thành kinh đô Huế.
Ông tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm
1937, tại trường Đại học Y khoa
Hà Nội
Ông làm trợ lý cho giáo sư bác sĩ người Pháp Henry Galliard chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng
trường Đại học Y khoa Đông
Dương (tiền thân của trường Đại học Y Hà Nội)
Trang 22Năm 1942 ông là trưởng Labo (phòng thí nghiệm) Ký sinh
trùng và ông đã hoàn thành 19 công trình nghiên cứu khoa
Trong thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp tại chiến khu Việt Bắc, ông đã nghiên cứu thành công cách sản xuất ra thuốc nước Penicillin, loại thuốc kháng sinh này đã góp phần rất lớn trong điều trị chống nhiễm khuẩn cho thương binh và nhân dân trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ sau
này
Trang 23Năm 1955, ông sáng lập ra Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam, và làm Viện trưởng đầu tiên của viện này Trong Kháng chiến chống Mỹ, ông tập trung nghiên cứu phòng chống và điều trị căn bệnh sốt rét tại Việt Nam
Ngày 1 tháng 4 năm 1967, ông đã mất trong một trận Mỹ ném bom B52, tại một địa điểm trên dãy Trường Sơn
thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, khi đang nghiên cứu căn bệnh sốt rét
Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một về lĩnh vực Y học
Trang 24Sinh trưởng trong một gia đình trí
thức Hà Nội Bố là bác sĩ ngoại khoa,
mẹ là dược sĩ, giảng viên trường Đại học Dược Hà Nội
Tốt nghiệp trường Đại học Y khoa
Hà Nội năm 1966
Tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam với tư cách là một bác sĩ quân y
và được điều vào công tác ở Đức
Phổ, chiến trường Quảng Ngãi trong chiến tranh Việt Nam
Thùy Trâm vào Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968
Trang 25Ngày 22 tháng 6 năm 1970, bệnh xá Đức Phổ bị tập kích,
Đặng Thùy Trâm hy sinh Hài cốt bà được mai táng tại nơi hy sinh, sau thống nhất được đưa về nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ
Cường Năm 1990, được gia đình đưa về nghĩa trang Liệt sĩ
Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội
1968, khi phụ trách bệnh xá Đức Phổ, cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1970, 2 ngày trước khi hy sinh Hai tập nhật ký này được Frederic Whitehurst, cựu sĩ quan quân báo Hoa Kỳ, lưu giữ
cho đến ngày được trả lại cho gia đình tác giả vào cuối tháng 4 năm 2005 Sau đó được nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn
biên tập thành quyển sách mang tên Nhật ký Đặng Thùy Trâm.
Trang 26Bà tên thật là Nguyễn Châu Sa hay Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày
26 tháng 5 năm 1927 tại tỉnh Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) Tuy nhiên, nguyên quán của thân phụ bà là ông Nguyễn Đồng Hợi, lại ở Điện Bàn, Quảng Nam
Thân mẫu bà là bà Phan Thị
Châu Lan (1904-1944), là người con gái thứ hai của nhà chí sĩ
Phan Chu Trinh
Trang 27 Bà là một nữ chính trị gia nổi tiếng của Việt Nam Bà nổi tiếng trên thế giới khi giữ cương vị Trưởng phái
đoàn Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, rồi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền
Nam Việt Nam tham gia Hội nghị 4 bên về hòa bình
cho Việt Nam tại Paris trong giai đoạn 1968-1973
Bà là 1 trong những người đại diện các bên ký hiệp
định Paris năm 1973 và là người phụ nữ duy nhất đặt
bút kí vào Hiệp định
Bà cũng từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam
từ 1992 đến 2002
Trang 28Sinh ra ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
nhất (1955–1987)
tịch Hồ Chí Minh
phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976 và Thủ
tướng của nước Việt Nam thống
nhất từ năm 1976 (từ năm 1981 gọi
là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng)
cho đến khi nghỉ hưu năm 1987
Ông có một bí danh là Tô.
Trang 29Năm 1954, ông là Trưởng phái đoàn Chính phủ dự Hội
nghị Genève về Đông Dương Tháng 9 năm 1954, ông trở thành Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng
Ngoại giao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Từ tháng
9 năm 1955, ông là Thủ tướng Chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và từ năm 1976 là Thủ tướng của
nước Việt Nam thống nhất, Phó Chủ tịch Hội đồng
Quốc phòng cho đến khi về hưu năm 1987 Ông cũng liên tục là đại biểu Quốc hội từ năm 1946 đến năm 1987
Trang 30Ông là Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1986 đến 1997 Ông cùng
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Thủ tướng Đỗ Mười đã tham gia cuộc gặp không chính thức với lãnh đạo Trung Quốc tại Thành Đô tháng 9 năm 1990 nhằm bình thường hóa mối quan hệ giữa hai nước sau hơn 10 năm căng
thẳng và xung đột
Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng của
Việt Nam và nhiều huân chương khác của Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, Bulgaria, Ba Lan và Mông Cổ
Ông mất tại Hà Nội ngày 29 tháng 4 năm 2000, hưởng thọ
94 tuổi và là chính trị gia nhiều tuổi nhất vào lúc bấy giờ
Trang 31 Thế danh Lâm Văn Tức là một hòa thượng phái Đại
thừa
Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, thuộc miền
Trung
Văn Tức thọ giới Sa Di, năm hai mươi tuổi thọ Tỳ Kheo giới lấy tên là Thích Quảng Đức
Trang 32 Là người đã tẩm xăng tự thiêu tại một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn vào ngày 11 tháng 6 năm 1963 nhằm phản đối sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Việt Nam Cộng hòa
Ngô Đình Diệm
Sau khi chết, thi hài của Thích Quảng Đức đã được hỏa táng lại, nhưng trái tim của ông thì vẫn còn nguyên Đây được coi là biểu tượng của lòng trắc ẩn, dẫn đến việc giới Phật tử suy tôn ông thành một vị Bồ tát, làm tăng sức ảnh hưởng của vụ tự thiêu lên dư luận
Hành động tự thiêu của Thích Quảng Đức được coi như một bước ngoặt trong cuộc khủng hoảng Phật giáo Việt Nam, dẫn tới việc xóa bỏ nền Đệ nhất Cộng hòa tại miền Nam Việt Nam