1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận môn đường lối đề tài WTO và bước NGOẶT của KINH tế VIỆT NAM

25 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 54,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mạiquốc tế nhằm điều chỉnh các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắcphục tình trạng hạn chế, ràng

Trang 1

CH ƯƠNG NG I: C S LÝ LU N V VI C VI T NAM THAM GIA WTO ƠNG Ở LÝ LUẬN VỀ VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO ẬN VỀ VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO Ề VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO ỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO ỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

1 Khái quát v WTO ề WTO

WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) WTO được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều chỉnh thươngmại quốc tế của khung khổ tiền thân là GATT - Hiệp định chung về Thuế quanThương mại GATT ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà trào lưu hìnhthành hàng loạt cơ chế đa biên điều tiết các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đangdiễn ra sôi nổi, điển hình là Ngân hàng Quốc tế Tái thiết và Phát triển, thường đượcbiết đến như là Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) ngàynay

Với ý tưởng hình thành những nguyên tắc, thể lệ, luật chơi cho thương mạiquốc tế nhằm điều chỉnh các lĩnh vực về công ăn việc làm, thương mại hàng hóa, khắcphục tình trạng hạn chế, ràng buộc các hoạt động này phát triển, 23 nước sáng lậpGATT đã cùng một số nước khác tham gia Hội nghị về thương mại và việc làm và dựthảo Hiến chương La Havana để thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tưcách là một tổ chức chuyên môn về thương mại quốc tế của Liên Hiệp Quốc Đồngthời, các nước này đã cùng nhau tiến hành các cuộc đàm phán về thuế quan và xử lýnhững biện pháp bảo hộ mậu dịch đang áp dụng tràn lan trong thương mại quốc tế từđầu thập niên 30, nhằm thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại, mở đường cho kinh

tế và thương mại phát triển, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống củanhân dân các nước thành viên

Hiến chương thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) nói trên đã đượcthỏa thuận tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và việc làm ở Havana từ11/1947 đến 23/4/1948, nhưng do một số quốc gia gặp khó khăn trong phê chuẩn, nênviệc hình thành lập Tổ chức thương mại Quốc tế (ITO) đã không thực hiện được Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt được

ở vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bêntham gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lượng thương mại thế giới, 23 nước sánglập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chínhthức có hiệu lực vào 1/1948

Trang 2

Từ đó tới 1995, GATT đã tiến hành 8 vòng đàm phán chủ yếu về thuế quan Tuynhiên, từ thập kỷ 70 và đặc biệt từ sau vòng Uruguay(1986-1994) do thương mại quốc

tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không chỉ

về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các hiệp định hình thành các chuẩn mực, luậtchơi điều tiết các hàng rào phi quan thuế, về thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ,các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về thương mại hàng nông sản, hàngdệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp Với phạm vi của hệ thống thương mại đabiên được mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốnchỉ là một thỏa thuận có nội dung hạn chế và tập trung ở thương mại hàng hóa đã tỏ rakhông còn thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kếtthúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và pháttriển sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống LiênHợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995

2 T m quan tr ng c a vi c h i nh p WTO đ i v i Vi t Nam ầm quan trọng của việc hội nhập WTO đối với Việt Nam ọng của việc hội nhập WTO đối với Việt Nam ủa việc hội nhập WTO đối với Việt Nam ệc hội nhập WTO đối với Việt Nam ội nhập WTO đối với Việt Nam ập WTO đối với Việt Nam ối với Việt Nam ới Việt Nam ệc hội nhập WTO đối với Việt Nam

Một nền kinh tế muốn phát triển xuất khẩu các sản phẩm chế biến thay vì nguyên liệu

và tận dụng các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDIs) trên thực tế không có lựachọn nào khác ngoài việc tham gia hệ thống thương mại của WTO Lý do nằm ở chỗ

“con dấu gia nhập WTO” được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế coi là một dấu hiệu về

sự vận hành bình thường trong các mối quan hệ kinh tế toàn cầu Có thể đưa ra nhiều

lý do kinh tế, luật pháp và chính trị để giải thích tại sao gia nhập WTO lại cần thiết đếnthế

lý do đầu tiên và cũng quan trọng nhất để gia nhập WTO là nhằm hội nhập nền kinh tếquốc gia vào nền kinh tế toàn cầu Nước ta kỳ vọng rằng với việc gia nhập WTO, ViệtNam có thể tiếp cận các thị trường xuất khẩu và nhập khẩu một cách ổn định và dễ dựđoán hơn xuất khẩu nông thủy sản, dệt may, quần áo và dầy dép cũng như các mặthàng sản xuất trong nước khác Đặc biệt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam –những doanh nghiệp có ít nguồn lực để đối phó với những vấn đề phức tạp về thể chế– rất có thể sẽ được hưởng lợi nhờ khả năng tiếp cận thị trường xuất khẩu tốt hơn Tácđộng tới xuất khẩu là tích cực vì khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ được hưởng một môitrường ổn định và bình đẳng hơn ở nước ngoài, có nhiều khả năng hơn trong việc kiệnlại các thực tiễn thương mại không bình đẳng và có cơ hội để đảm bảo rằng các cuộcđàm phán của WTO trong tương lai sẽ đem lại các cơ hội xuất khẩu cho các sản phẩm

Trang 3

mà Việt Nam quan tâm (bốn thị trường xuất khẩu chính chiếm hơn một nửa kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam đều là các Thành viên của WTO) Cũng có thể hy vọng rằngviệc gia nhập sẽ không chỉ thúc đẩy doanh số xuất khẩu các mặt hàng quyền thốngsang các thị trường hiện tại mà còn tăng xuất khẩu các sản phẩm mới sang các thịtrường mới (xem them chi tiết tại Từ đó, số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụxuất nhập khẩu sẽ tăng theo Gia nhập WTO cũng thúc đẩy quá trình tự do hóa nhậpkhẩu, từ đó cho phép tiếp cận với các đầu vào nhập khẩu (công nghệ, trang thiết bị vàphương pháp quản lý hiện đại) cũng như hàng hóa tiêu dùng đa dạng và rẻ hơn; cácđầu vào nhập khẩu rất quan trọng đối với một nền kinh tế đang hiện đại hóa nhanhchóng như Việt Nam.

Một lợi ích kinh tế nữa từ việc gia nhập WTO là tăng cường thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài Gia nhập WTO sẽ khiến các doanh nghiệp tin tưởng hơn vì Việt Nam

sẽ được coi là một điểm đến an toàn cho các nhà đầu tư Có bằng chứng cho thấy rấtnhiều nhà đầu tư nước ngoài lớn (ví dụ như Intel) đã quan tâm hơn tới Việt Nam khiViệt Nam chuẩn bị trở thành Thành viên của WTO Chỉ trong vòng 9 tháng sau khi gianhập WTO, các doanh nghiệp nước ngoài đã cam kết sẽ đầu tư gần 6,5 tỷ Đôla Mỹ vàocác dự án đầu tư mới tại Việt Nam (số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007) Hơnnữa, việc trở thành Thành viên của WTO khuyến khích sử dụng nhiều hơn các tài sảnthuộc sở hữu trí tuệ, dẫn tới các điều kiện tốt hơn để đạt được thành công về kinh tếthông qua chất lượng sản phẩm cao hơn, sự sáng tạo và kỹ năng tiếp thị hiện đại (xâydựng thương hiệu, cấp phép, nhượng quyền và các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm tốt hơn).Lợi ích pháp lý của việc tiếp cận một hệ thống thương mại dựa trên pháp quyền và sửdụng quá trình giải quyết tranh chấp trong WTO cũng thường được nhắc đến như một

lý do quan trọng cho việc gia nhập WTO của Việt Nam Các cuộc tham vấn, đàm phán

và trung gian hòa giải cũng như giải quyết tranh chấp dựa trên quy tắc rõ ràng sẽ rấtquan trọng đối với các quốc gia không có tiếng nói quan trọng trong thương mại bằngcác Thành viên như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản hoặc Trung Quốc Gianhập WTO cho thấy các mối quan hệ thương mại của Việt Nam với các cường quốcthương mại sẽ được bảo vệ bởi các quy tắc và thủ tục của hệ thống thương mại đaphương, rất nhiều lợi ích cụ thể của hệ thống này sẽ được đề cập dưới đây Sau khi gianhập WTO, Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng

Trang 4

minh bạch và tự do hóa hơn, việc cải cách này thể hiện ở các cam kết đa phương vềpháp luật và thể chế cũng như các cam kết mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ.

Gia nhập WTO cũng được thúc đẩy bởi các lý do chính trị Đặc biệt, đối với các nướctrong giai đoạn chuyển đổi như Việt Nam thì WTO là một công cụ giúp Chính phủduy trì được chính sách thương mại minh bạch và tự do nhờ vào vai trò nội địa của hệthống thương mại đa phương, hệ thống này đẩy mạnh các lợi ích xuất khẩu nhiều hơn

so với lợi ích thu được từ các ngành thay thế nhập khẩu Trở thành Thành viên WTOđem lại cơ hội để đảm bảo việc thực hiện các bước tự do hóa cơ chế thương mại thôngqua chấp nhận các nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lý đối với các mức thuế, loại bỏcác hạn chế định lượng hoặc loại bỏ trợ cấp (Michalopoulos,2002) Gia nhập WTOcũng là một công cụ để thể hiện cam kết của nước gia nhập trong việc hòa nhập cácnền kinh tế theo định hướng thị trường vào cộng đồng quốc tế, một điều kiện tiênquyết cho sự phát triển thương mại quốc tế

Tóm lại gia nhập tổ chức có ý nghĩa vô cùng lớn không chỉ kinh tế mà cả chính trị củaViệt Nam Rõ ràng, gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách pháp lý, kinh

tế và thể chế xã hội Tác động mãnh liệt tới nhiều lĩnh vực vấn đề mặc dù vẫn cònnhững khó khăn hạn chế nhưng không thể phủ nhận những lợi ích mà khi tham giaWTO đem lại cho con người nhà nước, doanh nghiệp…

3 Khái quát v vi c gia nh p WTO c a Vi t Nam ề WTO ệc hội nhập WTO đối với Việt Nam ập WTO đối với Việt Nam ủa việc hội nhập WTO đối với Việt Nam ệc hội nhập WTO đối với Việt Nam

Ngày 11/1/2007 tại Geneva, Việt Nam chính thức được Tổ chức Thương mại thế giớiWTO tiến hành nghi lễ trao thẻ thành viên chính thức

Mong muốn của Việt Nam khi gia nhập WTO là vì mục tiêu thúc đẩy tự do hàng hóathương mại với thế giới WTO có các hình thức hỗ trợ như: Giảm thuế quan, xóa bỏnhững rào cản phi thuế quan ( hạn ngạch, cấp phép xuất nhập, khẩu), xóa bỏ đi trợ cấp,

mở cửa thị trường kinh doanh với các nước, tạo một sân chơi bình đẳng cho hầu hếtdoanh nghiệp trong và ngoài nước, bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo đảmquyền trí tuệ và bản quyền sáng tạo

Những quy định được WTO đưa ra, trên lý thuyết sẽ tạo một thuận lợi cho những nướcthành viên mở rộng thị trường, thâm nhập sâu vào trong thị trường của các nước vàtranh thủ vốn đầu tư, được nhận sự hỗ trợ từ công nghệ và kỹ năng quản lý của nướcngoài, được quyền xử lý những cạnh tranh thương mại, thúc đẩy các doanh nghiệp

Trang 5

trong nước nâng cao khả năng tư duy, phát triển, cạnh tranh, đem lại nhiều lợi ích chongười tiêu dùng.

Quá trình việt nam gia nhập WTO

1 – 1995: Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO

1996: Bắt đầu đàm phán hiệp đại thương mại song phương với nước Mỹ.

1998 – 2000: Thực hiện 4 phiên họp đa phương cùng với Ban Công tác về Minh bạch

hóa những chính sách thương mại kể từ năm 7-1998, 12-1998, 7-1999 và 11-2000 Saukhi thực hiện xong 4 phiên họp này, Ban công tác của WTO đã đưa ra nhận xét ViệtNam cơ bản đã kết thúc quá trình minh bạch hóa chính sách và chuyển sang một giaiđoạn đàm phán mở cửa thị trường

7-2000 : Ký kết chính thức BTA với Hoa Kỳ

12-2001 : BTA đã đạt được hiệu lực

4-2002 : Thực hiện phiên họp đa phương lần thứ 5 với Ban công tác Chúng ta đã đưa

ra bản chào đầu tiên về hàng hóa và dịch vụ Tiếp đến thực hiệp đàm phán songphương

2002 – 2006: Đàm phán song phương cùng với một vài thành viên có yêu cầu đàm

phán, cùng với 2 mốc quan trọng

10 – 2004 : Chúng ta đã đàm phán song phương với EU (là đối tác quan trọng lớn

nhất)

5-2006 : Kết thúc phiên đàm phán song phương với Mỹ – đây là đối tác cuối cùng

trong tổng 28 đối tác cần phải đàm phán

26-10-2006 : Kết thúc phiên đàm phán cuối cùng, Ban công tác đã chính thức thông

qua giấy tờ sổ sách gia nhập WTO của Việt Nam

11-1-2007 : WTO đã chính thức nhận được sự phê duyệt chính thức của toàn quốc hội

nước CHXHCN Việt Nam Bắt đầu từ lúc này Việt Nam đã chính thức trở thành thànhviên của Tổ chức WTO

Nền kinh tế Việt sau khi gia nhập WTO được hơn 12 năm, mặc dù bị ảnh hưởng nhiềutác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, những vấn đạt được mức kỳ vọng tăngtrưởng bình quân là 6,29%/năm – thành tựu này vô cùng quan trọng

Trang 6

WTO đã giúp chúng ta thay đổi một diện mạo khung khổ pháp lý, thể chế chính sách

về kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển, cũng như phương thức quản lý kinh tế củaViệt Nam.Từ khi gia nhập, đã mở màn cho sự bùng nổ mới của khu vực doanh nghiệp

tư nhân Việt Nam, đạt kỷ lục gần 60.000 doanh nghiệp mới đã được thành lập

Trang 7

CH ƯƠNG NG II: TÁC Đ NG C A VI C GIA NH P WTO Đ I V I N N KINH ỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI NỀN KINH ỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI NỀN KINH ỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO ẬN VỀ VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO ỐI VỚI NỀN KINH ỚI NỀN KINH Ề VIỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

T VI T NAM Ế VIỆT NAM ỆC VIỆT NAM THAM GIA WTO

1 Các m c đánh d u ch ng đ ối với Việt Nam ấu chặng đường gia nhập WTO của Việt Nam ặng đường gia nhập WTO của Việt Nam ường gia nhập WTO của Việt Nam ng gia nh p WTO c a Vi t Nam ập WTO đối với Việt Nam ủa việc hội nhập WTO đối với Việt Nam ệc hội nhập WTO đối với Việt Nam

04-01-1995: Đơn xin gia nhập WTO được Đại hội đồng tiếp nhận.

31-01-1995: Ban xem xét công tác gia nhập WTO của Việt Nam được thành lập với

chủ tịch là ông Eirik Glenne, đại sứ Na Uy tại WTO

24-08-1995: Việt Nam nộp bị vong lục về chế độ ngoại thương Việt Nam và gửi tới

ban thư ký WTO để luân chuyển đến các thành viên của ban công tác

1998-1999: Các phiên hỏi và trả lời với ban xem xét công tác xét duyệt.

Đầu năm 2002: Việt Nam gửi bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ tới WTO và

bắt đầu tiến hành đàm phán song phương với một số thành viên trên cơ sở bản chàoban đầu về thuế quan và dịch vụ

09-10-2004: Việt Nam và EU đạt thỏa thuận về việc Việt Nam gia nhập WTO

09-06-2005: Việt Nam và Nhật Bản đạt được thỏa thuận cơ bản về vấn đề mở đường

cho Việt Nam sớm gia nhập WTO

12-06-2005: Việt Nam cử một phái đoàn đàm phán hùng hậu sang Washington trước

thềm chuyến thăm Mỹ chính thức của thủ tướng Phan Văn Khải với quyết tâm đi đếnkết thúc đàm phán song phương

18-07-2005: Việt Nam và Trung Quốc đạt thỏa thuận về việc mở cửa thị trường để

Việt Nam gia nhập WTO

31-05-2006: Kí thỏa thuận kết thúc đàm phán song phương với Mỹ - nước cuối cùng

trong 28 đối tác có yêu cầu đàm phán song phương

26-10-2006: Việt Nam hoàn tất đàm phán đa phương tốt đẹp với các nước Cuộc đàm

phán trước đó diễn ra căng thẳng và tưởng chừng không thể kết thúc được cho đếnphút chót

Ngày 7 tháng 11 năm 2006, nước ta đã chính thức được kết nạp vào tổ chức này

Trang 8

2 Th c tr ng c a n n kinh t Vi t Nam tr ực trạng của nền kinh tế Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO ạng của nền kinh tế Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO ủa việc hội nhập WTO đối với Việt Nam ề WTO ế Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO ệc hội nhập WTO đối với Việt Nam ưới Việt Nam c và sau khi gia nh p WTO ập WTO đối với Việt Nam

2.1 Tr ước khi gia nhập WTO c khi gia nh p WTO ập WTO

a Th i kỳ 1976-1982 ời kỳ 1976-1982

Năm 1976, Việt Nam thống nhất đổi tên thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa ViệtNam, năm 1980 ra Hiến pháp thể chế hóa đường lối của Đảng cộng sản Việt Namđược quyết định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc năm 1976 Đường lối kinh tế chủ đạocủa Việt Nam từ thời kỳ này là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độlàm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động (gồm công nhân, nông dân tậpthể, trí thức xã hội chủ nghĩa và lao động khác), xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủnghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu

Để thực hiện điều này, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống kinh tế trong đó có:

Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển

Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốc doanh giữ vaitrò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên, nông dân ở NamTrung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tập thể

Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất

Hội nhập kinh tế thông qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước xã hội chủnghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ Kinh tế từ năm 1978

Do sản xuất kém phát triển, hàng hóa không đủ, nên việc phân phối bị kiểm soát bằngchế độ tem phiếu Chế độ phân phối này chấm dứt vào năm 1994 khi chính sách tiền tệhóa được hoàn tất

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân trong đó có cả “do khuyết điểm, sai lầm của các cơquan Đảng và Nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở về lãnh đạo và quản lý kinh tế,quản lý xã hội” dẫn tới "chủ quan, nóng vội", đề ra những nhiệm vụ và chỉ tiêu của kếhoạch nhà nước quá cao so với khả năng, những chủ trương sản xuất, xây dựng, phânphối, lưu thông thiếu căn cứ xác đáng, dẫn đến lãng phí lớn về sức người, sức của, rất bảo thủ, trì trệ trong việc chấp hành đường lối của Đảng và nhiều nghị quyết củaTrung ương, trong việc đánh giá và vận dụng những khả năng về nhiều mặt của đấtnước kéo dài cơ chế quản lý quan liêu bao cấp với cách kế hoạch hóa gò bó, cứngnhắc, không đề cao trách nhiệm và mở rộng quyền chủ động cho cơ sở, địa phương vàngành, và cũng không tập trung thích đáng những vấn đề mà Trung ương cần và phải

Trang 9

quản lý duy trì quá lâu một số chính sách kinh tế không còn thích hợp, cản trở sảnxuất và không phát huy nhiệt tình cách mạng và sức lao động sáng tạo của nhữngngười lao động chưa nhạy bén trước những chuyển biến của tình hình, thiếu nhữngbiện pháp có hiệu quả" Hậu quả nghiêm trọng phải kể hai cuộc đổi tiền năm 1975 (doCộng hòa Miền Nam Việt Nam thực hiện) và đổi tiền năm 1978 trên toàn quốc để thựcthi "đánh tư sản mại bản", tiêu diệt tiết kiệm vốn liếng của người dân và làm xáo trộnkinh tế trầm trọng.

b Th i kỳ 1982-1986 ời kỳ 1976-1982

Năm 1982, Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thừa nhận kinh tế Việt Namtrong thời kỳ 1976-1980 là: "kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động vàvốn đầu tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốcdân chưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh; thị trường,vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khókhăn" Vì thế, từ năm 1982, Đảng này quyết định Việt Nam sẽ tập trung sức phát triểnmạnh nông nghiệp và coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh sản xuất hàngtiêu dùng, và kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặngtrong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý, tăng cường phân cấp cho địa phươngtrong công tác sản xuất và quản lý sản xuất Kinh tế quốc doanh vẫn tiếp tục giữ vaitrò chủ đạo, kinh tế gia đình được khuyến khích Thị trường không có tổ chức bị quản

lý chặt chẽ

Tuy nhiên, thời kỳ 1981-1985 kinh tế Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đã

đề ra trong nghị quyết đại hội V là cơ bản ổn định tình hình kinh tế-xã hội, ổn định đờisống nhân dân Sai lầm về tổng điều chỉnh giá-lương-tiền cuối năm 1985 đã đưa nềnkinh tế đất nước đến những khó khăn mới Nền kinh tế-xã hội lâm vào khủng hoảngtrầm trọng Siêu lạm phát xuất hiện và kéo dài

Những thực tiễn “xé rào” và lý luận mới trên đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam triểnkhai chính thức chương trình Đổi mới tư duy quản lý kinh tế mà thể hiện trước hết lànghị quyết của Đại hội VI tổ chức vào giữa tháng 12 năm 1986 Và, giai đoạn Đổi Mớibắt đầu từ năm 1987

Trang 10

c Chuy n theo kinh t th tr ển theo kinh tế thị trường ế thị trường ị trường ười kỳ 1976-1982 ng

Thời kỳ 1986-1990, Việt Nam tập trung triển khai Ba Chương trình kinh tế lớn: lươngthực - thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Các hình thức ngăn sông cấm chợ,chia cắt thị trường được xóa bỏ dần, kế hoạch kinh tế của nhà nước được thực hiệntrên cơ sở hạch toán Đặc biệt, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thểđược thừa nhận và bắt đầu được tạo điều kiện hoạt động Nền kinh tế dần dần được thịtrường hóa Song Đảng chủ trương và thực hiện kinh tế quốc doanh là chủ đạo, chiphối các thành phần kinh tế khác Cơ chế quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hànhchính dần dần giảm đi

Kinh tế Việt Nam bắt đầu có những chuyển biến tốt Từ chỗ phải nhập khẩu lươngthực, Việt Nam đã sản xuất đủ tự cung cấp, có dự trữ và còn xuất khẩu gạo Khoán 10được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toàn quốc càng khuyến khích nông dân sảnxuất lúa gạo Hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng, nhiều hơn và đa dạng hơn Xuất khẩutăng mạnh, thâm hụt thương mại giảm Từ năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu dầuthô, đem lại nguồn thu xuất khẩu lớn Lạm phát được kiềm chế dần dần

Tháng 6 năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII, tại đây một văn kiện quan trọng đã ra đời, đó là "Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" Cương lĩnh này sau đó liên tục được

bổ sung và điều chỉnh trong các kỳ họp của Ban Chấp hành trung ương Đảng và Đạihội Đại biểu toàn quốc tiếp theo Cương lĩnh này và các văn kiện có tính chất sửa đổi

nó tuyên bố rằng nhiệm vụ trung tâm của xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội

nền nông nghiệp toàn diện” Các văn kiện này nêu phương hướng: "thiết lập quan hệsản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước" và "phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa"

Thời kỳ 1993-1997 là thời kỳ kinh tế Việt Nam kiềm chế thành công lạm phát đồngthời lại tăng trưởng nhanh chóng Sau đó, kinh tế tăng trưởng chậm lại trong 2 năm1998-1999 Tuy bắt đầu tăng tốc dần từ năm 2000, nhưng nền kinh tế có lúc rơi vàotình trạng giảm phát và thiểu phát Các năm 2007-2008, lạm phát tăng tốc và hàng nămđều ở mức 2 chữ số

Trang 11

MỘT SỐ SỐ LIỆU NĂM 2004 VÀ 2005 THEO CỤC TÌNH BÁO TRUNG ƯƠNG HOA KỲ (CIA):

Xuất khẩu (f.o.b): 32,23 tỉ USD, tăng 21,6% so với 2004

Nhập khẩu (c.i.f): 36,88 tỉ USD, tăng 15,4% so với 2004

Thâm hụt thương mại: 4,65 tỉ USD (Giảm từ mức thâm hụt 5,45 tỷ USD năm 2004)Các mặt hàng xuất khẩu chính (2005, % tổng kim ngạch): Dầu thô (23%), hàng dệtmay (15 %), giày dép (9,3%), hải sản (8,5%), điện tử máy tính (4,5%), gạo (4,3%), cao

su (2,4%), cà phê (2,2%)

Các mặt hàng nhập khẩu chính (2005, % tổng kim ngạch): Máy móc, thiết bị (14,2%),xăng dầu (13,5%), thép (8%), vải (6,5%), nguyên phụ liệu dệt may da (6,3%), điện tửmáy tính (4,6%), phân bón (1,8%)

Các thị trường xuất khẩu chính (2003): Hoa Kỳ (20%), Nhật Bản (14%), Trung Quốc(9%) Úc (7%), Singapore (5%), Đài Loan (4%), Đức (4%), Anh (4%), Pháp (2%), HàLan (2%), các nước khác (29%)

2.2 Sau khi gia nh p WTO ập WTO

a B ước tiến quan trọng trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế: c ti n quan tr ng trong chi n l ế thị trường ọng trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế: ế thị trường ược hội nhập kinh tế quốc tế: c h i nh p kinh t qu c t : ội nhập kinh tế quốc tế: ập kinh tế quốc tế: ế thị trường ốc tế: ế thị trường

Gia nhập WTO là bước tiến quan trọng trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế theochủ trương của Đảng, Nhà nước và Chính phủ

Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO Theo GS-TSKH Nguyễn Mại,khoảng 5 năm 1997-2001 là giai đoạn “minh bạch hóa thể chế chính trị và kinh tế”,các cơ quan nhà nước phải trả lời hơn 1.500 câu hỏi của nhiều nước thành viên WTO

về hiến pháp, luật pháp và tình hình thực tế của đất nước

Gần 6 năm tiếp theo (2002-2007) là quá trình đàm phán song phương với những nước

có yêu cầu và đa phương với WTO, đồng thời sửa đổi, hoàn thiện nhiều văn bản luậtpháp để đáp ứng đòi hỏi của một quốc gia muốn gia nhập WTO Sau khi là thành viênWTO, hệ thống luật pháp nước ta tiếp tục được hoàn thiện để thực hiện cam kết vớiWTO theo lộ trình đối với ngành và lĩnh vực kinh tế

Cả hai giai đoạn sửa đổi và hoàn thiện luật pháp trước và sau khi gia nhập WTO đãchứng minh rằng, đó là quá trình đấu tranh giữa đổi mới với bảo thủ, giữa tự do hóathương mại với bảo hộ mậu dịch, giữa tôn trọng quyền kinh doanh của doanh nghiệpvới duy trì “cơ chế xin-cho”, giữa phương thức điều hành của nhà nước điện tử, nhànước kiến tạo với duy trì nhà nước tập trung-quan liêu Chính cuộc đấu tranh đó đã

Trang 12

đưa lại kết quả bằng sự ra đời của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp 2014, là việcChính phủ đòi hỏi phải áp dụng tiêu chuẩn của các nước OECD về thuế và các nướcASEAN-4 về hải quan.

Và với Dự án Hậu WTO, sự khởi động ngay sau khi gia nhập WTO đã được tiến hànhđồng loạt ở tất cả các bộ, ngành và địa phương; các cơ quan chuyên trách về WTO đãđược thành lập để làm tư vấn cho doanh nghiệp Nhiều tài liệu, trong đó có cẩm nang

về WTO đã được ấn hành Chưa bao giờ có không khí hào hứng, sôi nổi như nhữngtháng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bởi chính sự kiện quan trọng đó đã đượcchuẩn bị khá tốt, đem lại lòng tin của người dân và doanh nghiệp vào tương lai của đấtnước

b Kinh t chuy n mình m nh mẽ ế thị trường ển theo kinh tế thị trường ạnh mẽ

Từ khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhậpsâu rộng với khu vực và thế giới Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quantrọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởngcao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam

Hơn 10 năm qua được đánh giá là giai đoạn có nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế và tất

cả có sự ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế cũng như hội nhập quốc tế của ViệtNam Tuy nhiên, với những cải cách từ bên trong, với những chính sách đa phương, đadạng hóa về kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ViệtNam đã đạt nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh

tế cũng như hội nhập quốc tế

Khi gia nhập WTO năm 2006, quy mô kinh tế của đất nước còn khá khiêm tốn, ViệtNam nằm trong nhóm nước thu nhập thấp; năm 2016 khi tham gia AEC và các FTAmới, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình (thấp), là một trong 32nước có kim ngạch xuất khẩu trên 100 tỷ USD, trong đó có một số mặt hàng đứnghàng đầu thế giới, là nước thu hút FDI ổn định nhất trong ASEAN

Tính đến tháng 10/2019, Việt Nam đã thu hút 30.136 dự án FDI với tổng vốn đăng kýđạt 358,53 tỷ USD Nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới đã chọn Việt Nam làm

“điểm đến”, như: Intel, Microsoft, Samsung, LG, Nokia, Canon, Mitsubishi, Toyota,Honda

Và mặc dù bị ảnh hưởng bởi những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu,khủng hoảng nợ công song nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng

Ngày đăng: 05/05/2020, 16:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w