Trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt với tình hình đất nước rối ren, ngay trong những trang Nhật kí người chiến sĩ cũng thể hiện rất rõ tinh thần dân tộc, thể hiện ý thức hệ của một đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KÍ CHIẾN TRƯỜNG, NHẬT KÍ NGUYỄN NGỌC TẤN)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
ThS HOÀNG THỊ DUYÊN
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này
Đặc biệt em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô Hoàng Thị Duyên đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận này
Tuy nhiên, do thời gian có hạn và lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những sai sót Vì vậy em mong nhận được
sự góp ý của thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày , tháng 5 năm 2017
Người thực hiện
Nguyễn Thị Lâm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khóa luận tốt nghiệp này là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của các thầy cô giáo Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Nếu những lời cam đoan trên là sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày , tháng 5 năm 2017
Người thực hiện Nguyễn Thị Lâm
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của khóa luận 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ Ý THỨC HỆ TRONG VĂN HỌC VÀ Ý THỨC HỆ TRONG NHẬT KÍ 7
1.1 Khái quát chung về ý thức hệ 7
1.1.1 Khái niệm ý thức 7
1.1.2 Khái niệm ý thức hệ 7
1.1.3 Mối quan hệ giữa ý thức hệ và văn học 9
1.2 Vài nét về ý thức hệ trong Nhật kí văn học 10
1.2.1 Thể loại Nhật kí văn học 10
1.2.2 Ý thức hệ trong Nhật kí văn học 14
CHƯƠNG 2: NHỮNG DẤU HIỆU CỦA Ý THỨC HỆ TRONG NHẬT KÍ CHIẾN TRANH 17
2.1 Những dấu ấn của lí tưởng thời đại trong Nhật kí chiến tranh 17
2.1.1 Tinh thần yêu nước 17
2.1.2 Sự hi sinh, xả thân vì nghĩa lớn 25
2.2 Nhật kí chiến tranh - nơi phản chiếu hiện thực xã hội 30
2.2.1 Bức tranh quê hương đất nước và con người trong Nhật kí chiến tranh 31 2.2.2 Con người với hiện thực khắc nghiệt nơi chiến trường 43
2.3 Sự đấu tranh trong tâm hồn mỗi cá nhân 46
2.3.1 Con người trở về với bản ngã riêng của mình trong Nhật kí 47
2.3.2 Sự trăn trở trong ý thức cá nhân 53
Trang 52.3.3 Tâm hồn lạc quan, tha thiết yêu cuộc sống 57
PHẦN KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào nếu muốn tồn tại dài lâu cần phải
xuất phát từ đời sống thực cho dù hiện thực ấy là những đau thương “Nghệ
thuật không phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật là tiếng đau khổ kia thoát
ra từ những kiếp lầm than” Bất kỳ loại hình nghệ thuật nào cũng bước ra từ
cuộc sống nhân sinh và văn chương cũng vậy Mỗi thể loại văn chương với những đặc điểm riêng phản ánh cuộc sống theo những cách khác nhau nhưng trong số những thể loại văn học, không có bất kỳ thể loại nào chân thực hơn nhật kí Thể loại Nhật kí phát triển và thực sự đạt thành công lớn trong đề tài viết về chiến tranh Ngày nay, những cuốn Nhật kí chiến tranh thực sự trở thành nguồn tư liệu sống vô cùng đáng quý, đó là những bức tranh sống động của các chiến sĩ viết lên bằng máu xương của mình về cuộc đời thực trong chiến tranh Mặc dù chiến tranh đã lùi xa nhưng ta không thể không cảm thấy những mất mát, hi sinh của dân tộc là quá lớn Trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt với tình hình đất nước rối ren, ngay trong những trang Nhật kí người chiến sĩ cũng thể hiện rất rõ tinh thần dân tộc, thể hiện ý thức hệ của một đất nước với ý chí quật cường, vững mạnh Chính những tư tưởng chung của xã hội đã trở thành cảm xúc chủ đạo của tất thảy những người chiến sĩ để
họ thấm lên từng trang đời của mình những suy tư, chiêm nghiệm về hiện thực mà đất nước đang trải qua
Thể loại Nhật kí vẫn còn là một thể loại rất mới mẻ với bạn đọc Nhật kí viết về chiến tranh thực sự được quan tâm khi có sự xuất hiện của hai cuốn
nhật kí: Nhật kí Đặng Thùy Trâm (của tác giả Đặng Thùy Trâm) và Mãi mãi
tuổi hai mươi (của tác giả Nguyễn Văn Thạc) vào năm 2005 đã tạo bước
ngoặt mới như sự đột phá về thể loại, thu hút sự chú ý của độc giả và giới nghệ sĩ, đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu để lí giải và làm sáng rõ những tác phẩm này
Trang 72
1.2 Mỗi một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử với những đặc điểm xã hội khác nhau đều mang những tinh thần riêng, tuy không nhìn thấy hay cầm nắm được nhưng tinh thần ấy luôn ẩn chứa trong tâm hồn mỗi chúng ta và nó có thể bùng phát bất cứ lúc nào khi gặp phải chất xúc tác trong những điều kiện nhất định Xã hội Việt Nam thời Thị tộc Văn Lang có cơ sở từ trên xuống dưới là tinh thần đoàn thể mà kiểu mẫu là gia đình, lấy tinh thần yêu gia đình làm động cơ; Khi tổ chức Quốc gia chỉnh tề: thời nhà Lý, nhà Lê, nhà Trần, nhà Nguyễn,… chế độ quân chủ nghiêm túc, cần bảo vệ cho dân tộc thoát khỏi họa diệt vong, nhờ tinh thần gia tộc cố hữu nồng nàn đã tạo ra một tinh thần quân dân nhất trí, trăm người như một, nhất quyết bảo vệ tự do, độc lập
Xã hội Việt Nam thời kỳ chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc trải qua biết bao
gian nan, đất nước ta “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, tinh thần dân tộc được đưa
lên đứng đầu, ưu tiên cho tinh thần dân tộc mà gạt bỏ cái tôi, mọi cá thể riêng
rẽ hòa quyện trở thành một đất nước hùng mạnh Những ý thức hệ ấy đã ăn sâu vào tâm hồn con dân người Việt, họ sống và bảo vệ đất nước như chính máu thịt của mình để cùng gắn bó keo sơn và sẵn sàng chia sẻ, cùng nâng đỡ nhau Từ những trang Nhật kí ghi chép rất tỉ mỉ của những người chiến sĩ, ta
có thể thấm nhuần tư tưởng của cả dân tộc trong thời kỳ chiến tranh khắc nghiệt, sống chết cận kề Vì là những người trong cuộc nên những trang Nhật
kí ấy mới chân thực và đáng tin cậy, phản ánh tinh thần của cả dân tộc một thời và còn có sức ảnh hưởng đến cả ngày nay Vì vậy, nghiên cứu ý thức hệ trong thể loại Nhật kí chiến tranh vừa mang ý nghĩa lí luận, vừa mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Nhật kí là một thể loại mới, Nhật kí viết về chiến tranh đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn chương Việt Nam, những bức tranh vừa mang giá trị hiện thực lại vừa thấm nhuần tư tưởng nhân đạo sâu sắc Nhưng, cho tới ngày nay những công trình nghiên cứu về Nhật kí chiến tranh còn rất hiếm hoi Vì
Trang 83
vậy, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: Ý thức hệ trong Nhật kí chiến
tranh với mong muốn khóa luận sẽ góp phần trình bày kết quả nghiên cứu
của mình vào việc khẳng định giá trị của thể loại Nhật kí nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu
Ý thức hệ là một vấn đề được giới nghiên cứu văn học quan tâm bởi đây là một trong những yếu tố chi phối đến các sáng tác của các nhà văn và sự phát triển của văn học Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về ý thức hệ và mối quan hệ giữa ý thức hệ với văn học nhưng chưa có công trình cụ thể nào nghiên cứu ý thức hệ trong Nhật kí, đặc biệt là Nhật kí chiến tranh
Trước những năm 1986, Nhật kí xuất hiện không nhiều bởi tính chất riêng tư của Nhật kí và chưa thu hút được sự chú ý của độc giả và sự quan tâm của giới nghiên cứu Từ sau năm 1986, cụ thể là năm 2005 với sự xuất
hiện của cuốn Nhật kí Đặng Thùy Trâm - một nữ bác sĩ, liệt sĩ đã cống hiến
hết mình cho sự nghiệp giải phóng đã gây bao xúc động trong trái tim bạn
đọc; cuốn Nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc cũng
đã tạo ấn tượng sâu sắc; bên cạnh đó còn có Nhật kí chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, Nhật kí Nguyễn Ngọc Tấn, Nhật kí Nguyễn Huy Tưởng… Các
tác phẩm Nhật kí đã thu hút sự chú ý của toàn xã hội khiến giới nghiên cứu văn học phải hướng đến Nhật kí như một thể loại đặc biệt
Đã có hàng loạt những bài báo, phê bình, giới thiệu… xuất hiện làm sáng
rõ hơn các tác phẩm khiến ta có những cảm nhận hết sức chân thực về những cuộc chiến tranh xương máu, làm sống lại cái không khí hào hùng, tái hiện đất nước trong hoàn cảnh gian khó nhất… Các bài viết với những nội dung phong
phú khai thác nhiều khía cạnh như: Những rung chuyển từ cách sống Thùy
Trâm [9], Đọc Nhật kí chiến tranh: một tác phẩm văn học kỳ lạ [20], Có thêm một cuốn Nhật kí chiến tranh chân thật [10],… Những bài viết đã góp phần
Trang 94
mang tác phẩm lại gần hơn với bạn đọc khiến ta hiểu được những khó khăn gian khổ và sự hi sinh vì lý tưởng của thời đại anh hùng
Nguồn tư liệu đáng quý qua Nhật kí chiến tranh [8] của Tôn Phương Lan
là một trong số ít những bài nghiên cứu chuyên sâu về Nhật kí chiến tranh Bài viết mang lại cái nhìn chân thực cho độc giả về cuộc chiến tranh ác liệt Hầu hết những bài nghiên cứu về Nhật kí chiến tranh mới chỉ khai thác thông tin bên lề tác phẩm chứ chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu khai thác Nhật kí chiến tranh dưới cái nhìn xã hội học, cụ thể là về mặt ý thức hệ Tính đến nay, có một số bài viết nghiên cứu về ý thức hệ và mối quan hệ giữa
ý thức hệ và văn học như Trần Đình Sử, “Văn học và ý thức hệ xã hội”; Nguyễn Hữu Lê, “Giữa văn học và chính trị”, Tạp chí Việt;… Ở đề tài khóa
luận này của chúng tôi mong muốn mang lại một góc nhìn mới về thể loại Nhật kí chiến tranh cùng những giá trị nhân văn Đặc biệt nghiên cứu ý thức
hệ trong Nhật kí văn học nói chung và ý thức hệ trong Nhật kí chiến tranh nói riêng Khóa luận không tránh khỏi thiếu sót, kính mong hội đồng và thầy cô cho ý kiến đóng góp để khóa luận được hoàn thiện hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thể loại Nhật kí nói chung đã góp phần vào việc hoàn thiện kho tàng văn chương Việt Nam Nhật kí chiến tranh phản ánh cuộc sống thời chiến một cách rõ rệt với những khắc nghiệt của chiến trường mưa bom bão đạn, giúp cho độc giả ở những thế hệ sau này có được những cảm nhận và thấu hiểu được cuộc sống của những thế hệ đi trước Nhật kí chiến tranh còn cho thấy được những suy tư, trăn trở của những người chiến sĩ, những người nghệ sĩ trong thời kỳ kháng chiến qua những dòng tâm tư thầm kín của họ
Qua đề tài Ý thức hệ trong Nhật kí chiến tranh, chúng tôi mong muốn
những ý thức hệ về tinh thần dân tộc phản ánh trong Nhật kí chiến tranh sẽ tiếp tục được nuôi dưỡng và nâng cao ở những thế hệ sau này, khiến thế hệ
Trang 105
thanh niên trẻ biết trân trọng những thành quả được đánh đổi bằng xương máu của những người chiến sĩ, từ đó giáo dục nhân cách con người, hướng thế hệ thanh niên có thái độ sống tích cực khi nhìn vào tinh thần dân tộc những năm tháng lịch sử khó khăn mà dân tộc đã đi qua Thông qua đề tài này, chúng tôi
hi vọng mang lại những cái nhìn đúng đắn, chân thực nhất về hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời chiến và ý thức tinh thần dân tộc sâu đậm của nhân dân Việt Nam qua những trang Nhật kí đầy ý nghĩa
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu ý thức hệ chung của thời Đất nước có chiến tranh được thể hiện trong những cuốn Nhật ký điển hình trong kháng chiến chống Mĩ, chống Pháp cứu nước nhằm thấy rõ được ý nghĩa của Nhật kí chiến tranh và ý thức hệ của xã hội Việt Nam thời chiến tranh loạn lạc
b Phạm vi nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu 5 cuốn Nhật kí nổi bật nhất của 5 tác giả mà theo chúng tôi thấy các tác phẩm này hội tụ đầy đủ những yếu tố nằm trong nội dung đề tài
♦ Nhật kí Đặng Thùy Trâm (của tác giả Đặng Thùy Trâm)
♦ Mãi mãi tuổi hai mươi (Nhật kí của tác giả Nguyễn Văn Thạc)
♦ Nhật kí Nguyễn Huy Tưởng (Nhật kí của Nguyễn Huy Tưởng)
♦ Nhật kí chiến trường (của Dương Thị Xuân Quý)
♦ Nhật kí Nguyễn Ngọc Tấn (của tác giả Nguyễn Ngọc Tấn)
Ngoài ra, trong khóa luận chúng tôi còn nghiên cứu, tham khảo một số tác phẩm của các tác giả khác để làm rõ vấn đề mà khóa luận trình bày
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận, chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu
Trang 116
Khóa luận cũng được thực hiện từ điểm nhìn xã hội học tức là tìm hiểu, nghiên cứu những ảnh hưởng xã hội, ý thức hệ tác động vào tâm tư con người, từ đó chi phối nội dung của Nhật kí chiến tranh
6 Đóng góp của khóa luận
Qua những tác phẩm về Nhật kí chiến tranh cũng cho thấy chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo tồn ký ức Nhật kí chiến tranh là thể loại
mới nên chưa có được nhiều sự quan tâm từ độc giả Với đề tài Ý thức hệ
trong Nhật kí chiến tranh, chúng tôi mong muốn khóa luận sẽ mang lại cái
nhìn toàn diện về ý thức dân tộc, tinh thần đấu tranh của những thế hệ đã qua, góp phần hoàn thiện giá trị của thể loại Nhật kí nói riêng và văn học Việt Nam nói chung
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 2 chương:
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ Ý THỨC HỆ TRONG VĂN HỌC
VÀ Ý THỨC HỆ TRONG NHẬT KÍ
CHƯƠNG 2 NHỮNG DẤU HIỆU CỦA Ý THỨC HỆ TRONG NHẬT KÍ CHIẾN TRANH
Trang 12
7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ Ý THỨC HỆ
TRONG VĂN HỌC VÀ Ý THỨC HỆ TRONG NHẬT KÍ
1.1 Khái quát chung về ý thức hệ
1.1.1 Khái niệm ý thức
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì ý thức là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới và mối quan hệ của con
người trong thế giới “Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
Tâm lý học coi ý thức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan của bộ não người Hay nói cách khác, hoạt động phản ánh sự vật, hiện tượng
của bộ não người hình thành nên ý thức E Renan - Pháp nói rằng: “Sống mà
không có một hệ thống ý thức về sự vật thì không phải là sống một cuộc đời nhân loại.” - Cuối thế kỉ 19
1.1.2 Khái niệm ý thức hệ
Có rất nhiều các quan niệm về ý thức hệ khác nhau “Giovani Sartori
cho rằng ý thức hệ giống như một cái hộp đen, mỗi người hiểu một cách, thiếu một sự nhận thức chung Có người khái quát thành 10 định nghĩa như Colin Summer, có người khái quát thành 5 định nghĩa như John Storey Theo
T Eagleton thì đến nay có không ít hơn 16 định nghĩa.” [13]
Ý thức hệ hay hệ tư tưởng (Idealogy) là hệ thống những quan điểm triết học hay chính trị Ý thức hệ là hệ thống các mục đích và quan niệm giúp điều chỉnh mục tiêu, dự tính và hành động của con người Một ý thức hệ có thể hiểu như một tầm nhìn bao quát, như cách thức để xem xét sự vật Ví dụ như
“ý thức hệ Marxist” là hệ thống tư tưởng triết học, kinh tế - chính trị của chủ
nghĩa Marx
Trong cuốn Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác -
Lenin có đưa ra khái niệm về hệ tư tưởng xã hội “là toàn bộ các hệ thống
Trang 138
quan niệm, quan điểm xã hội như: chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo…” [23; tr.144], còn khái niệm ý thức xã hội “dùng để chỉ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định” [23; tr.143]
Nhà Marxist phương Tây, Louis Althusser cho rằng ý thức hệ là một cấu trúc sản xuất xã hội của con người Sự tái sản xuất sức lao động không chỉ sản xuất con người mà còn sản xuất cả tư tưởng, quan hệ, quan niệm, tình cảm của con người lao động, do đó ý thức hệ đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động đó và không có ý nghĩa xấu
Thực tế, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm khoa học về ý thức hệ
xã hội được mọi người nhất trí
Khi ta nói đến ý thức hệ hay hệ tư tưởng là ta nói đến một chủ nghĩa nhất định: Ví dụ ý thức hệ Nho giáo (Confucianism), Ý thức hệ tư sản (Capitalism)
Ở trong một cá nhân luôn có một tâm lí xã hội, một ý thức quần chúng, có những tính cách riêng biệt khác hẳn với tâm lí cá nhân, mà cũng không có gì khác với một tổng cộng những tâm lí cá nhân Ấy là lòng dũng cảm của một đám đông, của một bộ đội trước trận tiền, của ba quân chỉ ngọn cờ đào Đấy
là ý thức xã hội Cái ý thức ấy linh hoạt bao trùm cá nhân, nhưng tất nhiên không hoàn toàn phải đoạn tuyệt với cá nhân Ý thức cá nhân với ý thức xã hội chỉ xung đột đối lập chừng nào chúng ta quan niệm cá nhân ở cái ý thức nhỏ hẹp mà xã hội ở cái đoàn thể không chút linh động, không có một ý thức bao trùm và tồn tại độc lập Ý thức cá nhân và ý thức hệ không phải hai thế lực xung đột, ta không nhìn ở một phương diện mà nhìn ở phương diện nhân sinh, hành vi, hành động thực tế,… thì cá nhân với xã hội giống như cá với nước Vì vậy, con người phải hi sinh cái ngã nhỏ hẹp vị kỷ cho cái ngã xã hội rộng lớn Xã hội phát triển là biểu hiện lòng hi sinh của người này cho người kia
Trang 149
1.1.3 Mối quan hệ giữa ý thức hệ và văn học
Vấn đề mối quan hệ giữa văn học với ý thức hệ là vấn đề không mấy xa
lạ nhưng lại rất khó giải quyết với nhiều nhà nghiên cứu Tính chất ý thức hệ của văn học thể hiện ở chỗ nó có nội dung ý thức hệ của riêng mình, đó là sự quan tâm đặc biệt đến thế giới tình cảm, tư tưởng, cảm xúc, số phận, sự sống,
lí tưởng, khát vọng của con người; quan tâm đến thiên nhiên, cái đẹp, sự nghỉ ngơi, vui chơi, thưởng ngoạn của con người Và từ chỗ đứng, cách nhìn riêng
đó mà văn học thường xuyên đối diện với các hình thái ý thức xã hội khác, phán xét chúng theo nhãn quan của mình Tính chất ý thức hệ riêng đó làm nên sức hấp dẫn không thể thay thế của văn học, bởi không một hình thái ý thức hệ nào khác quan tâm đến con người như văn học Và do quan tâm con người mà nó đề cập tới nhiều vấn đề mà xã hội quan tâm Các tác phẩm văn học nào xa lánh, né tránh vấn đề nhạy cảm của xã hội thì nói chung ít được công chúng để ý Và do quan tâm con người mà văn học không ngại đụng chạm các vấn đề nhạy cảm của xã hội, vượt qua quy phạm, cấm kị, đạo đức, tôn giáo Không phải ngẫu nhiên mà vào thời khắc xã hội có biến động lớn nhỏ, văn học thường tỏ rõ tính chất ý thức hệ mạnh mẽ hơn, có ý thức can dự vào các vấn đề nhạy cảm của xã hội hơn nhằm góp phần thay đổi tiến trình đời sống Nói một cách khác, văn học bao giờ cũng vị nhân sinh với nội dung
ý thức hệ của nó Trong những lúc xã hội có biến động (cách mạng, chống ngoại xâm…) văn học thường có quan hệ mật thiết với ý thức hệ chính đảng, trở thành công cụ hoạt động chính trị của chính đảng đảm đương công cuộc cách mạng hay chống ngoại xâm Trong điều kiện bình thường văn học có quan hệ nhiều mặt với ý thức hệ Nó có thể có bộ phận gắn bó với ý thức hệ chính đảng, chủ lưu, có thể có bộ phận phê phán, chống đối hay quay lưng đối với một số mặt nhất định của ý thức hệ đó Tinh thần phê phán thực tại của văn học có thể xung đột với các ý thức hệ khác, thúc đẩy xã hội tiến bộ
Trang 1510
Thời kỳ chiến tranh là thời kỳ mà trong ý thức xã hội nước ta xoay quanh bình diện xã hội - chính trị, từ cuộc chiến tranh bom đạn, những năm dân quốc, những chiến dịch khởi nghĩa giành độc lập đến những cuộc cải cách kinh tế, giáo dục, xã hội,… Một lực lượng các nhà văn Việt Nam đã hình thành và ra đời trong không khí xã hội đó Có thể nói rằng ý thức xã hội đã ảnh hưởng đáng kể đến văn học Sáng tác của các nhà văn đều xoay quanh hai hiện thực lớn là cổ vũ tinh thần trong chiến tranh và xây dựng đời sống hiện tại Các tác phẩm viết về kháng chiến mang cốt cách của văn học tư liệu nhưng có sức hút rất lớn kể cả khi chiến tranh đã đi qua Có các sáng tác phục
vụ chính sách, từ thơ văn phát động giảm tô thuế đến thơ văn hợp tác hóa Những nhân vật trong văn học được miêu tả giai đoạn này hầu hết đều đứng trong hàng ngũ công - nông - binh, cái tôi trong thơ văn lúc này là cái tôi trữ tình nhập vai, cái tôi nhân danh Tổ quốc, cái tôi nhân danh dân tộc, các nhân vật có khi thác lời vào anh bộ đội để trải lòng cùng nỗi nhớ thương da diết:
“Bầm ơi có rét không bầm! Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn Bầm ra ruộng cấy bầm run…” (Bầm ơi - Tố Hữu) Ngay cả trong những trang Nhật
kí cá nhân thì hiện thực xã hội vẫn luôn hiện diện, qua đó thể hiện những mong muốn, hi vọng của mỗi cá nhân về một thế giới không bom đạn
1.2 Vài nét về ý thức hệ trong Nhật kí văn học
1.2.1 Thể loại Nhật kí văn học
a Khái niệm Nhật kí
Theo Từ điển văn học [4]: “Nhật kí là loại văn ghi chép sinh hoạt
thường ngày Trong văn học, Nhật kí là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất
số ít, dưới dạng những ghi chép hàng ngày có đánh số ngày tháng (…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm; nó
ít hồi cố; được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chép chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận” [4; tr.1257] Thể kí xuất hiện muộn hơn so
Trang 1611
với các thể loại khác, xuất hiện thế kỷ XVIII và phát triển vào thế kỷ XX Ở
Việt Nam, thể Kí được đánh dấu qua tác phẩm Vũ trung tùy bút và Thượng
kinh kí sự
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì Nhật kí “là một thể loại thuộc loại
hình kí” Trong Giáo trình Lí luận văn học tập 2: Tác phẩm và thể loại do
Giáo sư Trần Đình Sử chủ biên [14] thì Nhật kí được định nghĩa: “Nhật kí là
thể loại ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày của chính người viết,
là những tư liệu có giá trị về tiểu sử và thời đại của người viết” [14; tr.261]
Tóm lại, có thể kết luận rằng Nhật kí là những ghi chép, những cảm nhận của
cá nhân, thể hiện cảm xúc, sự đánh giá của bản thân về những sự kiện xảy ra hàng ngày
b Đặc trưng của thể loại Nhật kí văn học
Nhật kí văn học luôn mang đặc trưng quan trọng và nổi trội nhất đó chính là tính xác thực trong ghi chép Nhật kí là những ghi chép của cá nhân mang tính chất riêng tư, bản thân người viết Nhật kí không hề có ý định công
bố bài viết của mình mà họ viết chỉ để cho riêng mình với tư cách là những
ghi chép cá nhân “Nếu như người viết nhật kí là viết cho mình, cho riêng
mình thì đọc cuốn nhật kí đó sẽ chân thực nhất, sẽ bề bộn và sầm uất nhất Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà thực sự
họ có Nhưng nếu nhật kí mà có người xem nữa thì nó sẽ khác và khác nhiều
-Họ không dám nói thật, nói đúng bản chất sự kiện xảy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nảy nở và thai nghén trong lòng họ
Mà đó chính là điều tối kỵ khi viết nhật kí Nó sẽ dạy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình, tự lừa dối lương tâm của mình” [21; tr.225] Bởi xác định
viết cho riêng bản thân mình để chiêm nghiệm cuộc đời nên Nhật kí văn học luôn mang tính xác thực cao, không ai lại tự lừa dối chính bản thân của mình Tìm tới Nhật kí là con người trở về với bản ngã riêng của mình với những
Trang 1712
cảm xúc đa dạng: yêu, ghét, giận dữ, ích kỷ… đều được thể hiện trên những
trang giấy, đó là những tâm sự “sống để bụng, chết mang theo” tuyệt đối
riêng tư Chỉ có những gì thuộc về riêng tư, của cá nhân mới là chính xác nhất, nơi con người có thể tự do bày tỏ suy nghĩ, quan điểm của mình trước những sự việc xảy ra hàng ngày Nếu không mang tính chất riêng tư, Nhật kí
sẽ không còn tồn tại theo đúng nghĩa của thể loại Nếu vậy, thể loại Nhật kí sẽ không hấp dẫn được người đọc nữa
Ngoài ra, thể loại Nhật kí văn học còn mang trong mình những đặc điểm khác đó là tính chất biên niên, đặc điểm về ngôi trần thuật,… Tính chất biên niên được thể hiện rất rõ trong việc ghi chép sự việc theo ngày tháng rất
rõ ràng Bất kỳ sự kiện nào đều được ghi lại ngày tháng, đó cũng chính là cơ
sở khiến cho Nhật kí mang tính chân thực rõ nét
Lời văn trong Nhật kí phần lớn rất ngắn gọn, súc tích, nói thẳng vào vấn đề chính chứ không vòng vo, ít sử dụng ngôn từ hoa mĩ bay bổng mà rất giản dị, gần gũi Đó là những tâm sự viết vội vàng lúc nghỉ ngơi, do điều kiện thời gian ngắn ngủi nên đôi khi chỉ là vài dòng chữ…
Người trần thuật trong Nhật kí luôn ở ngôi thứ nhất, xưng tôi bởi đây là thể loại độc thoại, tác giả tự nói với mình Cũng vì vậy mà người viết không ngần ngại nói bất cứ chuyện gì dù là nhỏ bé nhất, cái tôi trần thuật đóng vai trò to lớn trong Nhật kí văn học nhờ đó những tâm sự được biểu lộ rất tự nhiên, mang lại cảm giác đáng tin cậy cho người đọc, khiến ta như được trực tiếp chứng kiến những sự việc vừa xảy ra
Nhật kí chiến tranh mang những đặc điểm của thể loại Nhật kí Viết về
đề tài chiến tranh, các tác giả viết một cách chân thực nhất những sự kiện, biến cố của lịch sử, hoàn cảnh khắc nghiệt nơi chiến trường đạn lửa, nơi cái chết cận kề luôn rình rập cướp đi sự sống bất cứ lúc nào Qua đó, những người chiến sĩ cũng thể hiện được nghị lực sống mãnh liệt, ý chí quật cường
Trang 1813
của một thế hệ dám hi sinh quên mình với tinh thần lạc quan yêu đời Tất cả đều được thể hiện rõ nét qua những tác phẩm mà chúng tôi chọn lựa để nghiên cứu Những trang Nhật kí chứa đựng những tâm sự cá nhân của nữ bác
sĩ, liệt sĩ, anh hùng Đặng Thùy Trâm hay những ghi chép về cuộc đời của Nguyễn Văn Thạc, Nguyễn Huy Tưởng,… Họ đều là những anh hùng dám gạt đi cái tôi cá nhân nhỏ bé để sống toàn tâm, toàn hồn cho Tổ quốc Nhật kí càng chứa đựng những trăn trở, suy tư bao nhiêu thì ta lại càng thấm thía được sự hi sinh cao cả, sự đấu tranh trong tâm hồn người chiến sĩ Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc,… là những đại diện tiêu biểu cho cả một thế hệ anh hùng bởi đâu phải người chiến sĩ nào cũng viết Nhật kí? Dưới hoàn cảnh thời gian có hạn, môi trường sống liên tục bị thay đổi, với những người chiến sĩ thì thời gian nghỉ ngơi rất cần thiết, nhiều người không có thói quen viết Nhật kí hoặc không kịp ghi Vậy mới thấy được Nhật kí chiến tranh đáng quý như thế nào? Dù bận rộn với chiến trường nhưng họ vẫn dành thời gian ghi lại những cảm xúc, tâm trạng của mình, ấy là những tâm hồn nhạy cảm biết chừng nào?
Họ cần được sẻ chia nên đã viết ra những trang giấy như sự tự độc thoại với chính bản thân mình những điều thầm kín nhất
Những cuốn Nhật kí nằm dưới ba lô người chiến sĩ vô hình chung đã trở thành tài sản đáng giá nhất của họ, được trân trọng, nâng niu và gìn giữ bên mình như người bạn để chuốc bầu tâm sự Đôi khi chỉ là vài chữ trong cả một ngày, thậm chí thời gian viết Nhật kí còn bị ngắt quãng bởi yếu tố khách quan do bị tác động từ hoàn cảnh sống khiến tính liên tục của Nhật kí bị phá
vỡ nhưng bất cứ lúc nào rảnh rỗi, người chiến sĩ lại tìm đến Nhật kí như một người bạn để chia sẻ, kể lại những sự kiện đã và đang xảy ra bằng những hình ảnh sống động khiến cho ta khi đọc Nhật kí như cảm nhận được hiện thực đang hiện hữu trước mắt, như đang được trực tiếp trải qua những năm tháng hành quân vất vả của anh lính tân binh Nguyễn Văn Thạc hay thấu hiểu được
Trang 191.2.2 Ý thức hệ trong Nhật kí văn học
Văn học là một hình thái ý thức đặc biệt, có ý nghĩa như văn hóa nói chung bởi nó tác động đến tất cả các mặt của đời sống, đặc biệt là đời sống cá nhân, nhân cách, cá tính, tình cảm con người Nhưng văn học cũng là hình thái ý thức xã hội ít tính chất ý thức hệ nhất bởi nó không mang tính chất thực tiễn, thực dụng, tính chất quyền lực, tính chất giản lược, giáo điều Bởi các tính chất này mâu thuẫn với tính thẩm mĩ
Ý thức chính trị là một hình thái ý thức hệ xã hội, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội Ý thức chính trị thể hiện ở nhu cầu và lợi ích chính trị, thể hiện trong các quan điểm giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, nhà nước,… Vì là một hình thái ý thức xã hội nên ý thức chính trị có mối quan hệ qua lại và chịu chi phối của các hình thái ý thức xã
Trang 2015
hội khác như ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo,… Xét trong tổng thể thì ý thức chính trị có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định xu hướng và bản chất của các hình thái ý thức xã hội Ý thức chính trị xuất hiện trong các xã hội có giai cấp, nhà nước, nó phản ánh các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia cũng như thái độ của các giai cấp, tầng lớp đối với quyền lực nhà nước Vì vậy, giai cấp nào cũng có ý thức chính trị, xã hội có nhiều giai cấp thì sẽ có nhiều loại ý thức chính trị nhưng chỉ giai cấp có khả năng đại diện cho phương thức sản xuất mới, hình thái kinh tế - xã hội mới, mới có điều kiện hình thành hệ tư tưởng chính trị Ý thức chính trị thông thường là các dạng tâm lý, cảm xúc, tình cảm, ước mơ mong muốn tự phát sinh ra trong hoạt động thực tiễn, ý thức chính trị lí luận được biểu hiện là những tư tưởng, quan điểm chính trị đã được hệ thống hóa thành một chỉnh thể mang tính khoa học, hợp lý phản ánh được các mối liên hệ bản chất, tất yếu, phổ biến trong đời sống chính trị Căn cứ vào chủ thể mang ý thức chính trị thì
ý thức chính trị gồm ý thức chính trị cộng đồng và ý thức chính trị cá nhân Ý thức chính trị cá nhân là nhận thức, thái độ của từng cá nhân về những vấn đề hiện thực của đời sống chính trị Ý thức chính trị cộng đồng là ý thức chính trị sinh ra từ nhu cầu, lợi ích chính trị của cả cộng đồng xã hội hoặc của cả một nhóm xã hội, một giai cấp nào đó trong cộng đồng
Tính chất ý thức hệ của Nhật kí văn học thể hiện ở nội dung ý thức hệ,
đó là thế giới tình cảm, tư tưởng, cảm xúc, lí tưởng, khát vọng, số phận, sự sống của con người, phần lớn biểu hiện ý thức chính trị thông thường Nếu văn học nói chung đề cập đến những vấn đề mà xã hội quan tâm thì Nhật kí văn học dường như quan tâm nhiều hơn đến những sự việc xảy ra xung quanh tác giả, tác động trực tiếp vào cuộc sống của tác giả Trong Nhật kí chiến tranh, nổi bật lên sự biểu hiện của ý thức hệ đó chính là tinh thần dân tộc, là lí tưởng sống cao đẹp hướng về Tổ quốc với tương lai rạng rỡ mà những người
Trang 2116
chiến sĩ dám hi sinh bản thân mình để cống hiến cho đất nước Ngay khi trở
về với bản ngã riêng của mình mà ta vẫn thấy được tinh thần dám xả thân cho cuộc chiến trường kỳ của dân tộc, đó là sự hi sinh cao cả dựa trên tinh thần tự nguyện cống hiến Trong chiến tranh, mỗi người dân Việt đều có một ngọn lửa, một tình yêu dân tộc le lói trong tim và có thể bùng phát bất cứ lúc nào,
họ sống và giữ gìn Tổ quốc, bất kỳ ai cũng đều là chiến sĩ, “giặc đến nhà, đàn
bà cũng đánh”, ngay cả những em bé như Lượm cũng trở thành chiến sĩ liên
lạc, trở thành tấm gương bất tử trong thơ ca huống chi những người thanh niên trai tráng khỏe mạnh lại không hừng hực trong lòng sự căm thù và tinh thần quả cảm chống giặc, bảo vệ Tổ quốc? Chính tinh thần dân tộc ấy là ý thức hệ của một thời đại thể hiện rõ trong Nhật kí chiến tranh Họ không thể hiện tinh thần ấy, không mang ra kể cho ai nghe hay viết cho ai đọc bởi bọ chỉ viết cho chính bản thân mình nên ta thấy được những tinh thần ấy là chân thực và vô cùng đáng tin Đó chính là biểu hiện của ý thức hệ trong Nhật kí văn học
Nội dung trong Nhật kí văn học phần lớn trần thuật về những sự kiện, biến cố lịch sử Trong Nhật kí văn học có cái tôi cá nhân, có những cảm xúc riêng tư thương nhớ nhưng đều gắn liền với những sự kiện lịch sử chung của
xã hội, một tập Nhật kí có phẩm chất văn học khi thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình của cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy được những vấn đề xã hội trọng đại
Trang 2217
CHƯƠNG 2: NHỮNG DẤU HIỆU CỦA Ý THỨC HỆ
TRONG NHẬT KÍ CHIẾN TRANH
2.1 Những dấu ấn của lí tưởng thời đại trong Nhật kí chiến tranh
Mỗi một giai đoạn lịch sử, con người ta lại có những cách sống riêng,
có những cách ứng xử khác nhau đối với cuộc đời, với con người Nếu trong cuộc sống hòa bình khi súng đạn đã lùi xa, con người ta chăm chút hơn cho bản thân của mình thì trong thời chiến cái được đặt lên trên hết chính là độc lập dân tộc, là cơm no áo ấm Cho đến ngày nay, dù chiến tranh đã đi qua hơn 1/3 thế kỉ nhưng mỗi lần nhìn lại những chiến công vang dội, ta vẫn không ngừng thắc mắc nhờ đâu mà một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam lại có thể anh dũng chống trả những âm mưu xâm lược và chiến thắng Pháp, thắng Mĩ, để giành lại Độc lập - Tự do cho Tổ quốc? Có được những chiến công ấy, phần lớn nhờ vào truyền thống yêu nước, sự anh dũng quật cường, tinh thần đoàn
kết “lá lành đùm lá rách”,… Những điều ấy quy tụ lại và trở thành ngọn lửa
le lói mang dấu ấn của thời đại, đó là thời đại sống cho lí tưởng cao đẹp vì Độc lập - Tự do Lí tưởng ấy được thể hiện vô cùng chân thực qua từng trang Nhật kí của những anh hùng đã sống và chiến đấu trong cuộc chiến trường kỳ Những trang Nhật kí ấy như trở thành chứng nhân lịch sử trong cuộc hành trình giữ nước, mở ra kỉ nguyên mới, kỉ nguyên xây dựng đất nước, tiến lên Chủ nghĩa Xã hội
2.1.1 Tinh thần yêu nước
Tinh thần yêu nước là hiện thân của lí tưởng thời đại, ý thức hệ của thời đất nước có chiến tranh tác động trực tiếp đến tư tưởng của con người khiến cho mỗi cá nhân đều hiểu và tự giác trong công cuộc gìn giữ đất nước Cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ cứu nước đối với dân tộc ta là cuộc kháng chiến trường kỳ, là chiến tranh chính nghĩa bảo vệ dân tộc và giành độc lập tự
Trang 2318
do Dân tộc ta trong cuộc chiến này đã huy động sức mạnh của thời đại Sự thức tỉnh một cách tự phát là cội nguồn dẫn đến sự giác ngộ lí tưởng cách mạng mang tính tự giác Sự giác ngộ tự giác thông qua những tác động bên ngoài, đó chính là những chuyển biến của thời đại Điều này thể hiện rõ trong từng trang Nhật kí, những cuốn Nhật kí phản ánh cuộc chiến đấu anh hùng của nhân dân ta, phản ánh một thế hệ thanh niên giác ngộ lí tưởng cách mạng của Đảng Hầu hết tất cả người dân Việt Nam mọi lứa tuổi đều ảnh hưởng bởi
ý thức chính trị, ý thức đạo đức của thời đại, trong đó có những chiến sĩ, nhà văn - chiến sĩ như Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc,…
Ý thức chính trị “là sự phản ánh các quan hệ xã hội trước hết là quan hệ kinh
tế và thái độ của các giai cấp đối với quyền lực nhà nước” [25], ý thức đạo
đức được biểu hiện bằng các quan niệm, tri thức, các trạng thái tâm lý chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng,… Dân ta hiểu rằng cứ chiến tranh bom đạn khiến người dân
ta không còn người thân, đói nghèo cơ cực, bọn cướp nước, giết người ấy là
kẻ thù độc ác; còn một cuộc sống hạnh phúc dĩ nhiên là cuộc sống không có những kẻ độc ác kia thống trị, là cơm no áo ấm, là khi con người được tự do, biết khát khao và hi vọng Thế hệ những người ra trận giác ngộ lí tưởng của Đảng bởi thấy được sự đúng đắn và biết ơn Đảng bởi nhờ Đảng lãnh đạo mà cuộc sống bình yên, hạnh phúc dân tộc mong mỏi đang dần thành hiện thực Nguyễn Ngọc Tấn là một tấm gương sáng trong ý thức giác ngộ cách mạng, luôn coi Đảng là ngọn đuốc dẫn đường cho nhân dân trong cuộc chiến, lí
tưởng của Đảng thấm đẫm trong từng trang Nhật kí chân thật: “Hôm nay
thành lập Đảng, ngày tết của giai cấp, của mình, của nhân dân Việt Nam Nhớ Đảng, không có Đảng, không có đến ngày nay, không có Đảng không có hạnh phúc tốt đẹp Ơn Đảng ngàn năm, cố gắng công tác phục vụ Đảng tiến tới thành người Đảng viên gương mẫu phục vụ nhân dân.” [22; tr.102] Hai
chữ “Nhân dân” được xem là tập hợp đông đảo quần chúng, dân tộc ta lấy
Trang 2419
sức mạnh của quần chúng để chiến thắng sức mạnh vật chất của giai cấp thống trị, nhân dân ta biết ơn cách mạng bởi cách mạng biết coi trọng, trọng dụng nhân tài, công nông được trí thức hóa, mang trí thức gắn bó với công nông, cách mạng nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho dân, đem tài của dân, sức của dân, của của dân để làm lợi cho dân Chàng sinh viên Nguyễn
Văn Thạc ý thức được hoàn cảnh và sứ mệnh của mình “Mẹ ta nghèo, rau
cháo nuôi ta, đau khổ bốn nghìn năm, chắt chiu từng hạt gạo nuôi ta Để bây giờ ta lớn Phải lớn lên, phải to ra cho kịp tầm cao của lịch sử Cánh tay này,
sẽ bóp nghẹt cổ quân thù” [21; tr.36], từng là học sinh giỏi Văn và sinh viên
xuất sắc khoa Toán của trường Đại học Tổng Hợp, giờ đây anh là anh lính tân binh mới nhập ngũ và háo hức khi bước vào cuộc đời người lính Không chỉ mang trong mình ý thức đạo đức mà chàng thanh niên ấy còn chịu ảnh hưởng về mặt pháp quyền, ảnh hưởng bởi pháp luật về quyền và nghĩa vụ của nhà nước Khi Tổ quốc lâm nguy, mỗi người dân đều có trách nhiệm xung phong ra trận tiền bảo vệ đất nước, đó vừa là quyền vừa là nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện của mỗi người dân nhất là đối với một công dân đang ở lứa tuổi thanh niên thì càng nên hoàn thành Nói là quyền có phần tác động vào ý thức tự giác của con người nhằm thức tỉnh ý thức cá nhân gắn bó cộng đồng, nói là nghĩa vụ có phần chạm tới sức mạnh cưỡng chế của pháp luật Việc đầu quân đi lính vốn là hành động đúng đắn, phù hợp với tâm lý pháp luật của xã hội, nếu cá nhân nào đi ngược lại lập tức bị loại bỏ, trốn đi lính không những là hèn yếu mà còn là chống đối pháp luật và sẽ phải chịu phạt Đối với Nguyễn Văn Thạc, trước khi việc ra trận được coi là nghĩa vụ bắt
buộc thì anh coi đó là “quyền” và cảm thấy tự hào vì được là người chiến sĩ
bảo vệ Tổ quốc Anh ý thức rõ về ý thức trách nhiệm và quyền làm chủ đất nước của con người:
“Đất nước của những người con gái con trai Đẹp như hoa hồng, cứng hơn sắt thép
Trang 2520
Lúc chia tay không hề rơi nước mắt
Nước mắt chỉ dành cho ngày gặp mặt…” [21; tr.67]
Mãi mãi tuổi hai mươi là cuốn Nhật kí ghi lại cuộc đời bi tráng của
Nguyễn Văn Thạc khi chưa đầy mười tháng tuổi quân và hai mươi tuổi đời Chàng thanh niên ấy luôn mang trong mình khao khát làm người chiến sĩ, lí
tưởng của thời đại anh hùng luôn hiện diện trong con người trẻ tuổi: “Xe ơi,
lao nhanh hơn, cho ta chóng tới giai đoạn lớn Nơi ta gửi gắm cả thời thanh xuân của mình.” [21; tr.34] Niềm ao ước trở thành sự thật đã mang lại niềm
vui sướng, tự hào đến tột độ “Hơn cả khi trên tay phập phồng tờ quyết định
Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao khi trên người ta là bộ quân phục xanh màu lá Anh sinh viên quen màu trắng áo của cánh cò, quen màu xanh da trời tháng nắng (…) Mình trút bỏ không thương tiếc, và trìu mến khoác lên mình màu xanh lá ấy Màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ và hi vọng Màu xanh bất diệt của sự sống.” [21; tr.34] Anh luôn có một ao ước là
được Đảng tin và giao cho nhiệm vụ nặng nề, luôn giữ một lòng tin bất diệt vào
sự lãnh đạo của Đảng “Không ở đâu sự đấu tranh giai cấp lại diễn ra quyết liệt
như ở trong quân đội cả Không khoan nhượng, không xuê xoa - Và Đảng thực
sự nắm trọn vẹn và vĩnh viễn ngọn cờ lãnh đạo quân đội.” [21; tr.251] Đặng
Thùy Trâm - nữ bác sĩ trẻ xung phong ra trận tuyến với tinh thần yêu nước
mãnh liệt luôn tự nhủ rằng: “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản, tinh
thần trong suốt như pha lê, cứng rắn như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng” [24; tr.78], Thùy Trâm hiểu rõ và luôn nhắc
nhở mình sống sao cho đúng với phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản sống thanh liêm trong sạch, mạnh mẽ và cứng cáp, luôn lạc quan và tràn đầy hi vọng Nữ bác sĩ trẻ tuổi với tinh thần giác ngộ cách mạng nhạy bén và sâu sắc
hạ quyết tâm gắn bó với sự nghiệp giải phóng của đất nước đến cùng “Vậy đó
Thùy ơi! Khi giác ngộ quyền lợi của giai cấp của Đảng thì suốt đời Thùy sẽ
Trang 26“Nguyện vọng tha thiết nhất của tôi là được xông vào những nơi chiến đấu ác liệt nhất để chiến đấu cho lí tưởng vinh quang của mình bằng tất cả sức lực
và trí tuệ cao độ nhất” [12; tr.301] Như vậy đó, nguyện vọng trong thời
chiến tranh bom đạn không phải là những tư lợi cá nhân mà lại là mong muốn được chiến đấu, được cống hiến một phần sức lực của mình cho công cuộc chiến đấu giành Độc lập Đó không phải là những ý định nhất thời nông nổi
mà là “nguyện vọng tha thiết” của người phụ nữ đã có gia đình, hơn rồi “Nếu
Miền Nam bao giờ hết cái ý định ấy rất nghiêm túc bởi chị đã mong muốn từ rất lâu cần đến tôi ở bất cứ một việc nào, bất cứ một nơi nào, tôi xin sẵn sàng làm tròn nhiệm vụ Nếu phải hi sinh tính mạng, tôi sẵn sàng, không một mảy may tính toán Tôi không sợ chết, tôi chỉ sợ không xứng đáng để được chọn làm những nhiệm vụ vinh quang là hi sinh xương máu, hi sinh tính mạng cho
sự nghiệp giải phóng miền Nam Nếu Đảng gọi tôi “vào Nam chiến đấu”, tôi xin có mặt ngay mà không cần một phút giây nào thu xếp Tôi không có một vương vấn, một vướng víu nào cả” [12; tr.302] Trong những tháng ngày hành
quân vất vả có tiếng cười cũng có cả giọt nước mắt, là một người phụ nữ nhạy cảm như chị lại càng khó khăn hơn Chiến tranh cận kề, là con người bằng xương bằng thịt ai mà không sợ, ấy vậy mà sống trong cái không khí hào
hùng đó “Mình sợ chết lắm, nhưng sao những phút nguy hiểm nhất mình lại
bình tĩnh nhất” [12; tr.437]
Trang 2722
Ý thức hệ của thời chiến tranh ấy khiến cho hết thảy những người dân Việt Nam đều mang trong mình một lòng nhiệt huyết căng tràn sức sống cho
sự nghiệp của dân tộc Khi Tổ quốc lâm nguy thì “Thanh niên nhập ngũ Một
cái nhục nếu không tham chiến Một em bé xin tác chiến Bố mẹ bắt về, khóc”
[18; tr.43], đó là hiện thực của xã hội được Nguyễn Huy Tưởng ghi lại trong Nhật kí của mình Ta như được sống lại trong cái không khí hào hùng ngày
ấy, ngay cả em bé chưa đủ tuổi cũng dám xin đi tác chiến, có lẽ khi xin đi em
bé ấy cũng chưa biết mình sẽ làm được gì nhưng vẫn cứ muốn đi, miễn là được chiến đấu, được tiêu diệt giặc là lại thêm hăng hái Vậy là không chỉ thế
hệ thanh niên mà ngay cả thế hệ măng non, thiếu niên nhi đồng ngay từ nhỏ
đã nung nấu trong mình ý chí căm thù giặc sâu sắc Bởi con người sinh ra và lớn lên trong thời chiến tranh đã quen rồi với mưa bom lửa đạn, giệt giặc như
là một nhiệm vụ tất yếu mà họ cần phải thực hiện, ý niệm ấy đã ăn sâu vào trong tiềm thức và được hun đúc ngày một lớn mạnh hơn trở thành lòng yêu nước cố hữu đã ăn sâu vào trong máu thịt Nguyễn Huy Tưởng luôn tỏ rõ ý
thức về trách nhiệm, bổn phận trước cuộc đời: “Phận sự một người tầm
thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi.”
(Nhật kí ngày 19/12/1930) Ông luôn xác định những sáng tác của mình phải
“Đi sâu vào cơ cấu của xã hội, bản chất của cuộc đấu tranh Không phải chỉ ghi hiện tượng Và nhất là phải có tư tưởng, nhận rõ sứ mạng cải tạo xã hội Nhà văn không thể thấp lè tè, mà phải giúp gì vào cuộc sống Giúp Đảng tìm
ra vấn đề Không nên chỉ là một người ghi chép nô lệ, mà phải xây dựng cuộc đời.” [19; tr.64], Nguyễn Huy Tưởng viết văn để tỏ lòng yêu nước, bao trùm
lên sáng tác của ông là nguồn cảm hứng lớn về lịch sử Đối với ông, “người
không biết lịch sử nước mình là một con trâu đi cày ruộng Cày với ai cũng được mà cày ruộng nào cũng được.” (Nhật kí ngày 13/1/1932) Người dân
yêu nước phải hiểu truyền thống dân tộc mình, nhất là khi đất nước đang chìm
Trang 2823
trong bóng đêm nô lệ Những năm tháng chiến tranh ấy, có một phần đông đảo các chiến sĩ là các nhà báo, nhà văn đã xung phong cho đất nước, nhập ngũ, họ đi và viết, viết để phục vụ Tổ quốc, viết theo dấu của lịch sử hào hùng Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Thi là những người như vậy và Dương Thị Xuân Quý gần như là nhà báo - nhà văn - liệt sĩ là nữ duy nhất Nhưng dù
là ai, không kể tuổi tác, giới tính, dù trong tư cách gì thì ta đều thấy một điểm chung là họ yêu nước như chính máu thịt của mình, chỉ cần Tổ quốc kêu tên,
họ sẵn sàng đi mà chẳng cần suy tính, gửi lại sau lưng những mơ ước riêng tư của tuổi trẻ và chấp nhận xa người thân yêu để hòa mình vào không khí chiến
đấu của lịch sử, nơi trận tuyến họ gọi nhau hai tiếng “đồng chí” ấm áp tình
thương yêu
Yêu nước cũng đồng nghĩa với căm thù giặc Qua từng trang Nhật kí,
ta có thể cảm nhận rõ rệt lòng căm thù ngùn ngụt bốc lên như ngọn lửa, có thể
thiêu rụi bất cứ thứ gì Đặng Thùy Trâm gọi lũ cướp nước ấy là “bọn quỷ
cướp nước” và mỗi khi nhớ tới đồng đội, những người em đã hi sinh thì lòng
căm thù ấy lại thôi thúc trong lòng người chiến sĩ trẻ: “Đường ơi! Mỗi lần
nghĩ đến em là lòng chị lại trào dâng một mối căm thù đến ngạt thở đối với lũ giặc cướp nước Phải bắt chúng đền tội, phải trả thù cho em và bao nhiêu đồng chí của ta đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu ác liệt này” [24; tr.104],
lí tưởng cách mạng thấm nhuần trong huyết quản thế hệ thanh niên trẻ thật tự nhiên không chút gượng ép bởi sự căm thù xuất phát từ những trái tim nhạy cảm biết thương yêu và rung động Làm sao có thể dung thứ cho bè lũ cướp
nước, với Nguyễn Văn Thạc: “Bây giờ cái khao khát nhất của ta - cái day dứt
trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn - xọc lê vào thỏi tim đen đủi của quân thù.” [21; tr.54] nhưng hỡi người chiến sĩ trẻ, liệu rằng
bọn quỷ ấy có còn quả tim không? Cớ sao chúng tàn sát đồng bào ta không
thương tiếc? Xọc lê vào tim đã là gì khi “Tây lại bắt một thanh niên cầm dao
Trang 2924
đâm từ từ vào tim, bắt những thanh niên khác lấy âu hứng máu, bắt hát: “Thề phanh thây uống máu quân thù”” [18; tr.45], với những tội ác man rợ mà
chúng gây ra thì cái chết là một hình phạt quá nhẹ nhàng “Tại sao chúng lại
cướp tự do của ta? Ghét cay đắng chế độ người bóc lột người Ghét cay đắng
sự áp bức của cường quyền, của thực dân Nó phải chết” [18; tr.80], cũng vì
“căm giận kẻ thù số một của dân tộc” mà nhà văn chiến sĩ Nguyễn Huy
Tưởng sẵn sàng đốt sách của hai tác giả nổi tiếng người Pháp mà Nguyễn Huy
Tưởng từng coi là thần tượng là A.France và Racine bởi vì “Con cháu các
anh đang làm cái tội ác nhất là phá hoại sự cố gắng, sự kiến thiết, đang phá hoại sức tiến của văn hóa Việt Nam (…) ôi ta thù quân thực dân.” [18; tr.81]
Cứ như vậy lòng căm thù giặc thôi thúc trong con tim người dân Việt, đặc biệt là người chiến sĩ, những người trực tiếp tham gia chiến đấu, hễ thấy quân
giặc là người chiến sĩ trẻ lại muốn chúng phải trả nợ máu: “Kia đúng là thằng
Mỹ, là kẻ thù và ghim súng vào ngực nó Đừng lo bắn vào quả tim người, chúng nó chẳng có tim đâu!” [21; tr.63] Biết đến bao giờ đất nước mới thống
nhất và giành lại tự do? Đây có lẽ là câu hỏi luôn thường trực và cũng chính
là niềm ao ước, mong mỏi chung của biết bao người “Phải hàn gắn được vết
thương trên mình Tổ quốc chúng ta kia Bọn Mỹ như những con quỷ khát máu đang cắn trộm chúng ta Bao giờ đuổi được chúng ra khỏi đất nước Việt Nam lúc đó máu mới ngừng chảy” [24; tr.76] Người dân Việt Nam máu đỏ da
vàng nhỏ bé nhưng gan dạ quật cường trước thế lực thù địch hung hãn, đó chính là sức mạnh của thời đại anh hùng, con người mang lí tưởng thời đại, tinh thần yêu nước vùng lên như vũ bão mạnh mẽ xoáy sâu vào đồn bốt quân thù Tinh thần yêu nước ấy mạnh mẽ hơn bao giờ hết bởi đó là sự đấu tranh sinh tử, độc lập tự do hoặc chịu kiếp nô lệ
Qua từng trang Nhật kí thấm đầy máu tươi của những thế hệ người đã hi sinh ta thấy hừng hực lên ngọn lửa đấu tranh quật cường Tinh thần yêu nước
Trang 3025
được nhào nặn từ những năm tháng dân ta sống trong đau khổ cơ cực nhất và biểu hiện ra bằng hành động, lời nói, tâm trạng, cảm xúc riêng, có người nói lên thành lời, có người âm thầm hun đúc tình yêu nước nhưng tất cả mọi người đều có chung một cái đích đến ấy chính là độc lập - tự do
2.1.2 Sự hi sinh, xả thân vì nghĩa lớn
Bất kỳ thành công nào cũng có cái giá riêng của nó Trong cuộc chiến sinh tử ấy, dù dân tộc Việt Nam đã giữ được nền độc lập dân tộc nhưng không thể phủ nhận những mất mát hi sinh quá lớn của cả thời đại anh hùng Những người con gái, con trai đang rạng rỡ thanh xuân phải gác lại mơ ước cá nhân, hạnh phúc lứa đôi mà xung phong cho tiền tuyến Những người cha, người
mẹ phải bỏ lại con thơ để phục vụ Tổ quốc,… Đồng nghĩa với việc những người mẹ mất con, người vợ xa chồng, người con không được ấp ủ bởi tình thương gia đình Thậm chí có những thiếu niên mười bốn, mười lăm, đôi khi mới chỉ lên bảy lên tám cũng đã xung phong làm nhiệm vụ Tất cả họ ở mọi lứa tuổi, có thể hoàn cảnh xuất thân khác nhau, không cùng quê hương nhưng đều là người dân Việt Nam máu đỏ da vàng, với lòng nồng nàn yêu nước và
sự dũng cảm họ đã làm nên một tập thể anh hùng, một thời đại anh hùng trong lịch sử
Sự hi sinh mất mát to lớn không có gì sánh bằng mà không hề đòi hỏi được đền đáp, tất cả đều có chung mục tiêu chiến đấu đó là làm cho đất nước được giải phóng khỏi ách nô lệ, giành lại tự do, quyền sống, quyền hạnh phúc
Những anh hùng nơi chiến tuyến đều ý thức được rằng “Mà đã đấu tranh thì
phải bỏ sức lực, phải suy nghĩ và phải hi sinh quyền lợi cá nhân, có khi cả cuộc đời mình cho lẽ phải chiến thắng” [24; tr.50] Chiến tranh mang đi tất cả
những tuổi thơ lẽ ra được hạnh phúc ấm no thì thay vào đó là những đau thương, làm thui chột tiềm năng vốn có của con người Đó là cậu bé Đường
với tuổi thơ mất mát và thiếu thốn tình thương “đó là một cậu bé học sinh
Trang 3126
thông minh can đảm, nếu ở chế độ Xã hội Chủ Nghĩa có thể đó là một cây bút trẻ có triển vọng Nhưng ở đây dưới mái trường của địch có những hạn chế đau xót đối với tâm hồn ham hiểu biết, giàu ước mơ như Đường” [24; tr.56]
Đôi khi những mất mát, hi sinh ấy còn nghiệt ngã hơn thế nữa “Có đoàn đi ở
gầm cầu [Long Biên] chạy trốn Im lặng Đứa trẻ khóc Phải vứt xuống sông
Bi kịch.” [18; tr.53], còn gì đau xót hơn cảnh tượng ấy khi chính tay những
người thân yêu phải vứt bỏ máu mủ của mình khi chúng vẫn còn thơ dại? Thế
hệ “trẻ em như búp trên cành” dễ bị tổn thương nhất cũng đã phải chịu đau
thương, trong thời chiến tranh loạn lạc người ta không chỉ nghĩ cho riêng bản
thân mình mà phải hi sinh cho sự nghiệp chung “Vì nền hòa bình độc lập ấy
mà chúng ta đã hi sinh tất cả Biết bao người đã tình nguyện hiến dâng cả cuộc đời mình vì bốn chữ Độc lập Tự do Cả mình nữa, mình cũng đã hi sinh cuộc sống riêng mình vì sự nghiệp vĩ đại ấy.” [24; tr.55] Những người chiến
sĩ tuổi đời còn rất trẻ nhưng họ đã biết sống và hành động theo lí tưởng, xem
lí tưởng cách mạng như lẽ sống của mình, họ đi theo tiếng gọi của non sông
và tình nguyện cống hiến tuổi trẻ thậm chí cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Thùy Trâm, nếu không vào chiến trường thì cô sẽ trở thành một bác sĩ tại bệnh viện ngoài Bắc, sống cuộc sống êm đềm cùng gia đình của mình, có thể lắm chứ? Nhưng không vì những điều ấy, người con gái mạnh mẽ này đã từ chối một cuộc sống với điều kiện đầy đủ ở thủ đô mà dám lăn xả vào cuộc chiến đấu, tình nguyện xông pha vào nơi ác liệt nhất của cuộc chiến bởi vì cô mong được cống hiến cho cách mạng, muốn được san sẻ những vất vả mà những người chiến sĩ phải chịu đựng ngoài kia Ở đó biết bao chiến sĩ bị thương đang quằn qoại trong đau đớn và họ cần một bác sĩ đầy nhiệt huyết và năng nổ, nhiệt tình như cô Đặng Thùy Trâm thấy mãn nguyện
và hạnh phúc vì điều đó, cô hạnh phúc khi thấy những nụ cười rạng ngời trên
môi các chiến sĩ, cô sẵn sàng chia sẻ nếu có niềm vui “Bây giờ niềm mong
Trang 3227
ước của mình khác hơn ngày xưa, nếu có được như vậy thì trên hết, hãy ưu tiên cho những người vào sinh ra tử hai mươi ba năm nay, những thanh niên lớn lên chỉ biết có đau thương căm thù và hi sinh gian khổ Và hãy ưu tiên cho những người thân yêu của mình trên mảnh đất miền Nam này” [24; tr.100], cô biết
cảm thông và chia sẻ với con người ở mảnh đất nơi cô công tác và cũng thấm
thía được sự mất mát, biết trân trọng cuộc đời bởi cô hiểu “Ôi! Cuộc sống đổi
bằng máu xương, tuổi trẻ của bao nhiêu người Biết bao nhiêu cuộc đời đã chấm dứt để cho cuộc đời khác được tươi xanh Miền Bắc ơi có thấu hết lòng miền Nam không nhỉ?” [24; tr.255] Riêng bản thân Thùy Trâm, cô đã cống
hiến toàn bộ cuộc đời của mình cùng nhiệt huyết tuổi thanh xuân “Quả thực
mình đã không nghĩ gì đến hạnh phúc của tuổi trẻ, không hề mong ước được sống trong một tình yêu sôi nổi (…) không mong hơn ngoài việc phục vụ cho Đảng, cho giai cấp nữa.” [24; tr.252] Một cô gái đã mang lòng nhân ái, sự
bao dung, tình thương người ở tuổi 23, độ tuổi thanh xuân của cuộc đời để xông pha vào lửa đạn, lao động tận tụy cho bệnh xá Đức Phổ, chữa trị nhiệt tình cho các chiến sĩ
Nhật kí chiến trường của Dương Thị Xuân Quý chạm đến tâm hồn bạn
đọc bởi sự hi sinh cao cả mà da diết trong từng phút giây, chị hành quân mà không một giây phút nào nguôi nhớ đứa con gái bé nhỏ Càng nhớ bé Ly, chị càng quyết tâm hơn nữa trong cuộc chiến, đi để cảm nhận, để cống hiến và để
viết, dù vất vả khó khăn nhưng với chị là niềm hạnh phúc “Những ngày ở
Nghi Ân mình làm việc với tốc độ như thế Suốt cả ngày đêm Cứ sau mỗi đợt
đi về, các chị ở cơ quan tỉnh hội lại kêu gầy đi Nhưng mình sung sướng lắm”
[12; tr.304] Có biết bao nhiêu những người con phải cống hiến cuộc đời mình
cho cách mạng, tuổi thanh niên “Có hề chi, khi mình đã cống hiến cho cuộc
đời một tâm hồn chính trực và cao cả - Biết yêu và biết ghét - Biết lăn lộn trong cái bình dị của cuộc sống mà cảm hiểu hạnh phúc không có gì so sánh
Trang 3328
nổi Biết sống cao thượng, vươn lên trên tất cả những gì tính toán cá nhân mòn mỏi và cằn cỗi Phải, mình phải sống như vậy, phải cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn như thế - Đây là mơ ước, là nguyện vọng, quan tâm và cũng
là trách nhiệm mình phải làm Phải làm” [21; tr.263] Đó là những dòng suy
nghĩ của anh chàng sinh viên Nguyễn Văn Thạc kèm theo đó là tất cả sự quyết tâm của tuổi trẻ và nhiệt huyết tuổi thanh xuân tươi mới Chính nhờ có những tâm hồn chính trực và cao cả nên dân tộc ta mới có thể bước qua thời
kì gian khó ấy Nhân dân Việt Nam giác ngộ cách mạng, theo lí tưởng của
Đảng, bất cứ ai cũng có thể là chiến sĩ, họ hiểu rằng: “Không ai trong bụng
mẹ đã hỏi được hoàn cảnh xuất thân của mình (…) Ngay cả trong thời đại chúng ta Thời đại mà Đảng sẵn sàng dắt bất kỳ con người nào một lòng trung thành với Đảng để đi tới hạnh phúc của cả loài người” [21; tr.249]
Một người chiến sĩ yêu nước và tuyệt đối tin tưởng vào Đảng, chàng chiến sĩ trẻ ấy từ bỏ tương lai đầy đủ vật chất, chỉ mong được làm một người bình
thường “Ngày mai, các bạn về, các bạn có kiến thức, các bạn là giáo sư, là
các nhà bác học, còn Thạc, sẽ chỉ là một người bình thường nhất, nếu chiến tranh không cướp đi của Thạc một bàn chân, một bàn tay.” [21; tr.263] Nếu
chiến tranh mang lại những mất mát đau thương thì ngày độc lập 2/9/1947
“Dân chúng ăn mừng [tết độc lập] Căn nhà sáng trưng Bày ban thờ Tổ Quốc
có chuối, hoa đỏ, hạc đồng, ảnh Hồ Chủ Tịch, cờ v.v… (…) Họ gọi các em ra hát, khích các em này, hoan hô em nọ Vui Tiếng hoan hô ầm ầm” [18; tr.72]
Cái không khí nhộn nhịp ấy dành cho ngày độc lập đủ hiểu dân ta mong hòa bình như thế nào, đó là những khoảnh khắc hiếm có trong hoàn cảnh cơ cực với những hi sinh Trong bom đạn đau thương đến mấy, chỉ cần nghĩ tới độc lập là sẵn sàng hi sinh Chao ôi, thằng giặc tây, chính chúng đã cướp đi sự
bình yên của nước nhà khiến nước ta rơi vào cảnh lầm than Quả thật là “tức
nước vỡ bờ”, khi phải chịu đựng quá nhiều những khổ đau thì dân tộc Việt