... 1.3 Nhật ký chiến tranh Chu Cẩm hong 20 CHƢƠNG ĐẶC TRƢNG NG N NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH CỦA CHU CẨM PHONG 23 2.1 Ngôn ngữ mang đậm tính chất hướng nội, độc thoại .23 2.2 Ngôn. .. nghệ thuật loại hình ký văn học Chƣơng 2: Đặc trƣng ngôn ngữ nghệ thuật Nhật ký chiến tranh Chu Cẩm Phong Chƣơng 3: Một số thủ pháp hiệu biểu đạt việc xây dựng ngôn ngữ nghệ thuật Nhật ký chiến tranh. .. thức ngôn ngữ văn học nói chung ngôn ngữ thể ký, nhật ký nói riêng, khóa luận có nhiệm v đặc điểm ngôn ngữ Nhật ký chiến tranh Chu Cẩm Phong 3.2.2 Khóa luận sâu ph t sáng tạo độc đ o ngôn ngữ
Trang 1TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH
CỦA CHU CẨM PHONG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI - 2015
Trang 2TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH
CỦA CHU CẨM PHONG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học ThS Hoàng Thị Duyên
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian cố gắng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với
đề tài Ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm
Phong Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô giáo
trong khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo trong tổ Lí luận văn học và đặc biệt là Thạc sĩ– Giảng viên Hoàng Thị Duyên đã tạo điều kiện giúp đỡ và hướng dẫn nhiệt tình để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô
Do năng lực nghiên cứu có hạn, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô
Hà Nội, ngày… tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận Ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu
Cẩm Phong được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên–
Thạc sĩ Hoàng Thị Duyên Tôi xin cam đoan: Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi Những gì được triển khai trong khóa luận không trùng khớp với bất cứ một công trình nghiên cứu của tác giả nào đã được công
bố trước đó Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày…tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Hương
Trang 5M C C
MỞ ĐẦU 1
1 do chọn đề tài 1
2 ịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm v nghiên cứu 4
4 ối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 hương ph p nghiên cứu 5
6 óng góp của khóa luận 5
7 ố c c khóa luận 5
NỘI DUNG CHƯƠNG NHỮNG VẤN Đ CHUNG V NG N NGỮ NGHỆ THUẬT VÀ OẠI HÌNH KÝ VĂN HỌC 7
1.1 Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật 7
1.1.1 Quan niệm về ngôn ngữ nghệ thuật 7
1.1.2 ặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật 8
1.1.3 C c thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật 11
1.2 Vài nét về loại hình k văn học nói chung và thể loại nhật k nói riêng 11
1.2.1 Kh i qu t về loại hình ký văn học 11
1.2.2 Vài nét về thể loại nhật k .14
1.3 Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm hong 20
CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG NG N NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH CỦA CHU CẨM PHONG 23
2.1 Ngôn ngữ mang đậm tính chất hướng nội, độc thoại 23
2.2 Ngôn ngữ có khả năng đan xen, đổi hướng liên t c theo dòng hồi tưởng, suy nghĩ của t c giả 32
Trang 62.3 Ngôn ngữ mang đậm tính chủ quan của t c giả 34
2.4 Ngôn ngữ mang tính quy ước ẩn d .35
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ THỦ PHÁP XÂY DỰNG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH CỦA CHU CẨM PHONG 39
3.1 Sử d ng linh hoạt và độc đ o nhiều lớp từ vựng 39
3.2 Cấu trúc câu đa dạng gợi cảm 32
3.3 Những câu văn trần thuật chứa đựng nhiều thông tin 44
3.4 Sử d ng linh hoạt c c loại câu kể, câu tả và câu cảm th n 46
KẾT UẬN
TÀI IỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Mỗi một loại hình nghệ thuật đều tồn tại những chất liệu riêng để cấu thành nên nó Nếu như giai điệu và ca từ là chất liệu của âm nhạc, đường nét và màu sắc làm nên hội họa thì đối với văn học, ngôn từ chính là chất liệu chủ đạo, là phương tiện chủ yếu mang tính đặc trưng của văn học Văn học chính là nghệ thuật ngôn từ Ta có thể thấy, không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học bởi ngôn từ đã vật chất hóa, c thể hóa sự biểu hiện của chủ
đề, tư tưởng, cốt truyện,…
Với nhật ký, một thể loại mang tính chất riêng tư, đời thường, ghi chép lại những sự việc, suy nghĩ, cảm xúc cá nhân bằng những câu chữ thì ngôn từ lại càng đóng một vai trò quan trọng, góp phần phân biệt nhật ký với các thể loại văn học khác và tạo nên diện mạo của thể loại Chính vì vậy, khi khám phá một tác phẩm văn học nghệ thuật nói chung, một tác phẩm ở thể loại nhật
ký nói riêng thì tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật có nghĩa quan trọng hàng đầu
1.2 Văn học là bức tranh chân thực phản nh đời sống Theo dòng chảy của thời gian và dấu ấn lịch sử của dân tộc, văn học đã có những phản ánh kịp thời, ghi lại những mốc son hào hùng, đ ng nhớ của cha ông ặc biệt, với những giai đoạn khác nhau của lịch sử dân tộc, văn học lại có những
sự phản ánh với những khuynh hướng khác nhau Tiêu biểu phải kể đến giai đoạn lịch sử 1965 – 1975, những năm mà nhân dân cả nước dồn hết sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, những năm mà văn học nói chung và thể ký nói riêng tập trung toàn lực để phản ánh cuộc kháng chiến của dân tộc thì khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm lên cả nền văn học, nó chi phối và ảnh hưởng rõ nét đến các sáng tác của c c nhà văn, nhà thơ Các sáng tác của họ, dù có dung lượng hạn chế của một bài tùy bút hay mở rộng tới bức tranh toàn cảnh trong một tiểu thuyết dài, dù câu chuyện
Trang 8chỉ diễn ra quanh một tình huống của một con người hay có quy mô bao quát
cả một giai đoạn lịch sử, một chiến dịch lớn thì các tác phẩm đều đề cập đến những vấn đề hệ trọng của dân tộc và thời đại, vận mệnh của đất nước và nhân dân Ký và văn xuôi giai đoạn này đặc biệt phát triển, tiêu biểu phải kể
đến những tác phẩm: Tập truyện và ký Bức thư Cà Mau (1965) của Anh ức, tập ký Cửu Long cuộn sóng (1965) của Trần Hiếu Minh, truyện ký Người mẹ
cầm súng (1965) của Nguyễn Thi…Khuynh hướng sử thi không chỉ ảnh
hưởng nhiều đến nội dung của các sáng tác thời kỳ này mà nó còn t c động mạnh mẽ đến khía cạnh khai thác ngôn từ, đặc điểm từ ngữ, câu văn, c c thủ pháp sáng tạo về ngôn từ…
Năm 2000, tập nhật ký Chu Cẩm hong được NX Văn Học xuất bản
mang tên Nhật ký chiến tranh và cuốn s ch đã được Hội Nhà Văn Việt Nam
trao tặng thưởng Ngay khi được xuất bản, cuốn nhật k đã làm rung động hàng triệu con tim của bạn đọc bởi vẻ đẹp tâm hồn thuần khiết, tình yêu quê hương đất nước nồng nàn thể hiện qua những cảm nhận bình dị của một nhà văn, một người chiến sĩ luôn gương mẫu, đi đầu trong công t c. Rất nhiều
cuộc hội thảo đã được tổ chức, nhiều bài phê bình, đ nh gi về Nhật ký chiến
tranh xuất hiện Tuy vậy, c c cuộc hội thảo, c c bài viết, nghiên cứu mới
dừng lại ở việc giới thiệu về cuốn sách, khai thác thông tin bên lề tác phẩm, tìm hiểu cuộc đời, thân thế của Chu Cẩm hong cũng như nghiên cứu về chiến tranh dưới góc nhìn chân thực của một nhà văn mang o lính…chứ chưa có một công trình nghiên cứu c thể nào đi sâu tìm hiểu về nghệ thuật của thể loại văn học đặc biệt này Những đặc trưng về ngôn ngữ trong thể loại nhật ký nói chung và ngôn ngữ mang đặc trưng của Chu Cẩm Phong nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu, đề cập và tìm hiểu một cách tỉ mỉ
Vì vậy, đề tài khóa luận này góp phần tìm ra một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về đặc trưng nghệ thuật cơ bản nhất của thể loại nhật ký
Trang 9chiến tranh đó là ngôn ngữ nghệ thuật Từ đó có một c i nhìn đầy đủ và xác
đ ng hơn về những đóng góp của nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm hong đối với nền văn học nước nhà
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Với đặc trưng thể loại “Nhật ký” là những ghi chép mang tính chất riêng tư vì thế có thể nói trước những năm 1986, sự xuất hiện của chúng không nhiều, chưa thu hút được sự chú ý, quan tâm của độc giả và giới nghiên cứu Vì thế sự góp mặt của nhật ký chiến tranh trên diễn đàn văn học trong giai đoạn gần đây được cho là của “hiếm” vì chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu về thể loại nhật ký chiến tranh này, đặc biệt ở khía cạnh ngôn ngữ
2.2 Từ sau năm 1986, đặc biệt là từ khi có sự xuất hiện đầu tiên của
cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm – tác giả là một nữ b c sĩ, liệt sĩ đã được công
bố rộng rãi và đã tạo nên một cơn sốt trong dư luận về nhật ký chiến tranh;
tiếp theo đó là Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc, Nhật ký chiến
tranh của Chu Cẩm hong…đã thực sự gây được ấn tượng mạnh mẽ và thu
hút được sự quan tâm của toàn xã hội, khiến các nhà nghiên cứu phải có cái nhìn sâu rộng và nghiêm túc với thể loại văn học đặc biệt này Bên cạnh việc xuất hiện của những cuốn nhật ký gây xôn xao dư luận thì hàng loạt các bài viết, bài giới thiệu, phê bình…cũng được ra mắt với tần suất lớn trên các phương tiện thông tin đại chúng, điển hình phải kể đến hàng ch c bài báo viết
về đề tài này với những nội dung phong phú khác nhau:
- Đọc Nhật ký chiến tranh: Một tác phẩm văn học kì lạ; Chu Cẩm
Phong xứng đáng là một anh hùng; Đi tìm người cất giữ Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong… Những bài viết này đã có những t c động tích cực tới
dư luận xã hội, khiến cho độc giả có một cái nhìn chân thực hơn về cuộc chiến vĩ đại mà thế hệ cha anh đã đi qua; những khó khăn gian khổ và sự hi
Trang 10sinh vô tư vì lí tưởng tuổi trẻ Hơn thế nữa, nhờ đó mà văn hóa đọc được hưởng ứng sâu rộng, thu hút hấp dẫn hàng triệu độc giả đón đọc và theo dõi cuộc
hành trình cùng số phận để cuốn nhật ký đến được với bạn đọc ngày hôm nay
- Những bài nghiên cứu về nhật ký chiến tranh có tính chất chuyên sâu xuất hiện rất ít: Nguồn tư liệu đ ng qu qua nhật ký chiến tranh của tác giả
Tôn hương an cũng là một trong những đóng góp điển hình
Có thể nói nghiên cứu về Nhật ký chiến tranh bước đầu chỉ dừng lại ở
việc giới thiệu sách và khai thác thông tin bên lề tác phẩm, chứ chưa có một công trình nghiên cứu c thể nào đi sâu vào khai th c về nghiên cứu về khía cạnh nghệ thuật, đặc biệt về ngôn ngữ của cuốn nhật ký này Chính vì vậy, đề tài khóa luận của chúng tôi đã tìm một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về
Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm hong, đó là khai th c khía cạnh ngôn ngữ
nghệ thuật Có thể khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và toàn thể hội đồng nhận xét và cho ý kiến đóng góp để khóa
luận có thể hoàn thiện hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
M c đích của khóa luận là tìm tòi, phát hiện những nét độc đ o của
ngôn ngữ trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong; chỉ ra những thủ
pháp tiêu biểu trong sáng tạo ngôn từ của nhà văn, tất nhiên không tách rời nó với việc thể hiện, làm sáng tỏ giá trị nội dung của cuốn nhật ký
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.2.1 Xuất phát từ việc nắm vững những kiến thức về ngôn ngữ trong văn học nói chung và ngôn ngữ trong thể ký, nhật ký nói riêng, khóa luận có
nhiệm v chỉ ra những đặc điểm cơ bản về ngôn ngữ trong cuốn Nhật ký chiến
tranh của Chu Cẩm Phong
Trang 113.2.2 Khóa luận đi sâu ph t hiện những sáng tạo độc đ o về ngôn ngữ của nhà văn và hiệu quả nghệ thuật của những sáng tạo đó trong khi thể hiện nội dung tác phẩm
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong , Nxb Hội Nhà Văn t i bản
năm 2011 và những công trình nghiên cứu, phê bình liên quan đến tác phẩm
5 Phương pháp nghiên cứu
ể triển khai đề tài này, chúng tôi sử d ng những phương ph p nghiên cứu sau:
- hương ph p nghiên cứu đối tượng theo quan điểm hệ thống
- hương ph p so s nh hệ thống
- hương ph p lịch sử phát sinh
- hương ph p phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
6.1 Trên cơ sở những kiến thức lí luận cơ sở, khóa luận chỉ ra những nét
độc đ o về tổ chức ngôn ngữ trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
6.2 Phát hiện và phân tích những thủ pháp sáng tạo ngôn ngữ trong
Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong Với những phát hiện này, khóa luận
sẽ chỉ ra được sự khác biệt và cá tính sáng tạo của nhà văn trong việc sử d ng ngôn ngữ so với những tác phẩm của những tác giả cùng thể loại
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư m c tham khảo, nội dung chính của khóa luận sẽ được triển khai theo bố c c sau:
Trang 12Chương : Những vấn đề chung về ngôn ngữ nghệ thuật và loại hình ký văn học
Chương 2: Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
Chương 3: Một số thủ pháp và hiệu quả biểu đạt của việc xây dựng
ngôn ngữ nghệ thuật trong Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG NHỮNG VẤN Đ CHUNG V NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
VÀ LOẠI HÌNH KÝ VĂN HỌC
1.1 Vài nét về ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1 Quan niệm về ngôn ngữ nghệ thuật
Từ trước đến nay, ngôn ngữ được coi là một phương tiện giao tiếp trọng yếu và quan trọng nhất của loài người Nhờ có ngôn ngữ mà con người truyền đạt được những suy nghĩ, tư tưởng, m c đích, định với nhau để có
thể tồn tại và phát triển đến ngày nay Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “ Ngôn ngữ là hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp
chúng, làm phương tiện để giao tiếp chung trong một cộng đồng” [18;688]
Cuốn Bàn về ngôn ngữ thì nhận định: “ Ngôn ngữ là ý thức thực tại, thực tiễn,
ngôn ngữ cũng tồn tại cho cả người khác nữa, như vậy cũng tồn tại lần đầu tiên cho bản thân tôi nữa, và cũng như ý thức, ngôn ngữ chỉ sinh ra là do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác nữa”[15;14]
Văn học là nghệ thuật ngôn từ nhưng không chỉ là ngôn từ Nghệ thuật ngôn từ xa xưa đã bao gồm không chỉ thơ trữ tình, kịch, sử thi, mà bao gồm
cả nghệ thuật hùng biện dùng trong giảng đạo, trong xét xử, trong diễn thuyết chính trị trước công chúng Ngày nay, với sự phát triển của b o chí và phương tiện truyền thông đại chúng thì phạm vi của nghệ thuật ngôn từ còn rộng hơn
và đổi khác Do vậy, khi nói văn học là nghệ thuật, ta chỉ nói tới một loại hình của nghệ thuật đó – tức là loại hình sử d ng ngôn từ để sáng tạo ra thế giới nghệ thuật, vì m c đích nghệ thuật Xét ở lĩnh vực văn chương, ngôn ngữ
nghệ thuật chính là ngôn ngữ trong tác phẩm văn học Từ điển thuật ngữ văn
Trang 14học viết: “ Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ… Trong tác phẩm, ngôn ngữ văn học là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn…”[6;215] Ở đây, ta cần phân biệt rõ ngôn
ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật Nếu như ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tín hiệu đầu tiên con người dùng để diễn đạt nghĩ, diễn đạt tình cảm nảy sinh trong hoàn cảnh nhất định một cách cảm tính thì ngôn ngữ nghệ thuật là
hệ thống tín hiệu thứ hai, được phát triển từ hệ thống tín hiệu thứ nhất, có nhiệm v thể hiện tư tưởng của tác phẩm Ngôn ngữ tự nhiên có chức năng giao tiếp là chủ yếu, còn chức năng thứ yếu là chức năng thẩm mĩ Nhưng đối với ngôn ngữ nghệ thuật, chức năng thẩm mĩ là chức năng cơ bản nhất, quan trọng nhất ó là ngôn ngữ giàu tính hình tượng nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để phản nh đời sống, thể hiện tư tưởng tình cảm và t c động thẩm
mĩ tới người đọc
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hóa toàn dân Nó được hoàn thiện nhờ tài năng và khả năng s ng tạo của nhà văn Qua ngôn ngừ nghệ thuật, người đọc không chỉ kh m ph được
tư tưởng, quan niệm của người viết gửi gắm trong tác phẩm mà còn thấy được phong cách cá nhân của nhà văn đó
1.1.2 Đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật
Bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi thông tin mà ngôn ngữ ra đời, bắt nguồn
từ nhu cầu thưởng thức c i hay, c i đẹp mà văn học ra đời Văn học sử d ng ngôn ngữ nhưng văn học và ngôn ngữ là hai loại hình ký hiệu khác nhau, do
đó không thể suy trực tiếp đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật từ đặc điểm của ngôn ngữ thông thường Mà đây là điều nhầm lẫn rất phổ biến Ngôn từ văn học là một hiện tượng nghệ thuật do nghệ sĩ s ng tạo theo quy luật chung của
Trang 15nghệ thuật Văn bản nghệ thuật phải truyền đạt một nghĩa mà không một
ph t ngôn đồng nghĩa nào có thể thay thế được
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra quan niệm của mình về đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật Chẳng hạn như tác giả inh Trọng Lạc trong
cuốn Phong cách học Tiếng Việt đã chỉ ra tính chất cơ bản của ngôn ngữ nghệ
thuật là: tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa và tính c thể hóa
Tác giả ỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ học từ vựng đã bổ sung thêm
tính hệ thống bên cạnh bốn tính chất của tác giả inh Trọng Lạc đã đưa ra
Nguyễn Phan Cảnh trong chuyên luận Ngôn ngữ thơ (2000) đã nhấn
mạnh tính tạo hình, tính biểu hiện của ngôn từ nghệ thuật
Nguyễn Thế Lịch trong bài viết Về các tính chất của ngôn ngữ nghệ
thuật (TCNN số 4 – 1998) cho rằng: Ngôn ngữ nghệ thuật có tính chính xác
Tính hàm súc, tính phóng đại, tính c ch điệu và tính tổ chức
Trong cuốn Lý luận văn học (NXB GD – 2006), Hà Minh ức (chủ
biên) thì cho rằng tính chính x c, tính hàm súc và tính hình tượng là những đặc điểm chung của ngôn ngữ văn học…
Tóm lại, từ những quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu về đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật, ta có thể nhìn nhận khái quát những tính chất
cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật, đó là: Tính chính x c, tính hình tượng, tính cấu trúc, tính hệ thống, tính cá thể hóa
Tính chính xác của ngôn ngữ nghệ thuật xuất phát từ một yêu cầu rất quan trọng của văn học là nói phải phản ánh hiện thực một cách chân thực, đầy đủ như nó vốn có Giống như nhà b c học ê Qu ôn đã từng nói: “Văn muốn hay trước hết phải đúng” Nói rõ hơn, đây chính là khả năng của ngôn ngữ văn học có thể biểu hiện đúng điều mà nhà văn muốn nói, miêu tả đúng
c i mà nhà văn muốn biểu hiện Tính chính xác là một đặc trưng cơ bản đầu tiên của ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 16Tính hình tượng là khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật đưa
ta thâm nhập vào thế giới của những cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng Tính hình tượng của ngôn ngữ thể hiện ở nhiều mặt như c c loại từ, c c phương thức chuyển nghĩa để soi sáng một vật này qua vật khác Ngôn ngữ nghệ thuật không chấp nhận những mô hình có sẵn mà tính hình tượng của nó thể hiện ở
sự thống nhất giữa mặt tạo hình và mặt biểu đạt của văn bản ngôn từ Hai bình diện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc tạo thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo
Ngôn ngữ nghệ thuật cũng là một cấu trúc có tính hệ thống Trong một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu Là sự kết hợp hữu cơ giữa văn bản ngôn từ (về mặt hình thức biểu đạt, chất liệu), hệ thống hình tượng (thành tố trung gian gắn bó thành tố và nội dung) và các lớp nội dung nghĩa của tác phẩm nghệ thuật (cấu trúc chiều sâu: chủ đề tư tưởng, cảm xúc), cấu trúc bề mặt và cấu trúc bề sâu có sự thống nhất căn bản: nội dung nào thì hình thức ấy Tính cấu trúc và tính hệ thống của ngôn ngữ tự nhiên biểu hiện ở mối quan hệ bên trong ngôn ngữ (chủ thể lời nói luôn luôn thống nhất) thì với ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện chủ yếu trong quan hệ với các nhân tố ngoài ngôn ngữ (hình tượng nghệ thuật, phong cách tác giả, tác phẩm, khuynh hướng, trào lưu văn học, hệ tư tưởng, quan niệm thẩm mĩ thời đại) Từ mối quan hệ đó, văn bản tác phẩm trở thành một bản hòa tấu có một tổng hợp lực mạnh mẽ, t c động đến người tiếp nhận văn bản
Ngôn ngữ nghệ thuật có tính cá thể hóa và đó chính là đặc điểm phong cách tác giả thể hiện trên văn bản nghệ thuật Nó thể hiện qua các thao tác sử
d ng ngôn từ, các thủ pháp sáng tạo mà tác giả sử d ng để xây dựng hình tượng Ngôn ngữ nghệ thuật được cá thể hóa khi nó mang dấu ấn phong cách tác giả tức là mang quan niệm của tác giả về đời sống con người Những nhân
Trang 17tố ảnh hưởng đến bút pháp tác giả, hệ thống hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm đó là c c biện pháp thể hiện hình tượng và nội dung tư tưởng sự vận
d ng ngôn ngữ qua các thao tác Ngôn từ nghệ thuật đạt tới tính cá thể (có phong cách) phải thể hiện được nhân cách, tâm hồn, tư tưởng của nhà văn thông qua những thao tác lựa chọn từ vựng, phương thức thể hiện giọng điệu của họ Tác giả có phong cách ngôn ngữ riêng biệt, độc đ o phải là người có quan niệm nghệ thuật riêng, c i nhìn riêng đối với đời sống con người và phải được biểu đạt bằng một giọng điệu riêng, tiếng nói riêng của mình
1.1.3 Các thành phần cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật
Nếu như trong thơ trữ tình, kiểu nói duy nhất thống lĩnh toàn bộ thế giới nghệ thuật là lời trực tiếp của nhân vật trữ tình thì trong văn xuôi tự sự các kiểu lời lại phong phú hơn nhiều: Ngôn ngữ nhân vật có lời đối thoại, lời độc thoại, độc thoại nội tâm; Ngôn ngữ trần thuật có lời kể, lời tả, lời bình luận trữ tình, các kiểu lời trung gian như lời nửa trực tiếp, sự đan xen c c kiểu lời Tùy thuộc vào các chức năng của mỗi kiểu lời và khả năng vận d ng của mình mỗi nhà văn lại sử d ng và phát huy các kiểu lời ấy trong quá trình sáng tạo nghệ thuật
2 Vài nét về loại hình ký văn học nói chung và thể loại nhật ký nói riêng
1.2.1 Khái quát về loại hình ký văn học
1.2.1.1 Khái niệm chung về loại hình ký văn học
Ký là loại hình văn học có nhiều biến thể Nghĩa gốc của chữ “ký” là ghi chép một sự việc gì đó để không quên hải có chữ viết rồi mới có ghi chép, cho nên so với c c thể loại văn thơ c ch luật, ký văn học xuất hiện muộn; lịch sử của nó gắn liền với lịch sử của văn học b c học Ở Việt Nam, sau năm 1945, chúng ta có cả một nền văn học ký Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và hiện thực hai cuộc kh ng chiến chống h p và chống Mỹ để
Trang 18lại dấu ấn đậm nét trong ký của Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Anh ức, Hoàng hủ Ngọc Tường…
Tuy xuất hiện muộn nhưng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, lịch sử của ký đã trải qua nhiều giai đoạn, vận động, phát triển với rất nhiều sự đổi thay và hàng loạt những biến thể Từ văn học trung đại đã thấy có l c, thực
l c, ngữ l c, tạp văn, tạp l c, mạn l c, tiểu l c, tiệp bút, to i sự, mị ngữ, khảo, văn chú, truyện ký, sử ký, ký sự, tùy bút ước sang thời hiện đại lại thấy có
du ký, nhật ký, hồi ký, phóng sự, tản văn, ký chính luận, tiểu luận…
1.2.1.2 Đặc trưng chung của loại hình ký văn học
a Ký là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào đời sống xã hội
Nghệ thuật là hoạt động nhằm thỏa mãn những tình cảm thẩm mĩ của con người Nó có c c yếu tố của trò diễn giúp con người giải trí, vui chơi Văn học nghệ thuật chính là trò diễn bằng ngôn từ nhằm chiếm lĩnh những gi trị tinh thần mang nghĩa nhân sinh
Ký là một loại hình nghệ thuật, một hình thức hoạt động thực tiễn – tinh thần có tham vọng can dự trực tiếp vào mọi lĩnh vực của đời sống Nhà văn ê Minh đã từng nói: “Với thể loại k , từ sự thôi thúc của cuộc sống mà
t c giả có nhu cầu được công bố kịp thời những nhận xét, những đ nh gi , những tưởng… K ghi được rất rõ những dấu ấn của một sự kiện, của một thời kỳ, của một lớp người, của một vùng miền”
ê Minh đã khẳng định một đặc điểm nổi bật, thuộc loại quan trọng nhất của ký mà từ lâu đã được mọi người thừa nhận Tìm mọi cách can dự trực tiếp vào đời sống, ký trở thành loại hình văn học thời sự, một thể văn xung kích theo sát các vấn đề nóng hổi, cấp bách của hiện thực mang nghĩa
xã hội rộng lớn ể can dự trực tiếp vào tiến trình đời sống, người viết ký chẳng những phải nhập cuộc mà nhiều khi còn phải “dấn thân” với tinh thần chiến đấu cao và tính khuynh hướng rõ ràng Sau năm 1975, nhất là những năm 80 của thế kỉ trước, nhiều nhà văn Việt Nam đã có tinh thần “dấn thân”
Trang 19như thế Những bài ký nảy lửa như Tiếng đất của Hoàng Hữu Cát, Người đàn
bà quỳ của Trần Khắc, Cái đêm hôm ấy đêm gì? của Phùng Gia Lộc… đã góp
phần vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước
b Ký là sự thông tin về sự thực của các giá trị nhân sinh
Do “k ” là ghi chép sự việc, nên tính xác thực của việc ghi chép được xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại Có tư liệu để chứng minh, ở
c c nước xã hội chủ nghĩa như iên Xô, Trung Quốc, Việt Nam, quan điểm thể loại về ký được xác lập chủ yếu vào thời kì mà tư tưởng lí luận rất đề cao việc s ng t c văn nghệ theo cách ghi chép sự thực đời sống Cho nên, yêu cầu
về tính xác thực của ký càng được nhấn mạnh, gần như tuyệt đối hóa Nó được xem là tri thức, là quan điểm nền tảng mà khi biên soạn từ điển tra cứu phổ thông hay viết s ch gi o khoa, gi o trình dùng trong nhà trường, tư duy lí thuyết phải dựa vào đó để x c định nội hàm khái niệm
c Ký có cách xử riêng về khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật
Ký là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào hiện thực xã hội ể tạo ra những tác phẩm có khả năng t c động mạnh mẽ tới con người và đời sống, ký điều chỉnh tối đa khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật
Và để xóa bỏ tối đa khoảng cách giữa thời gian trần thuật và thời gian sự kiện,
ký văn học sử d ng rất nhiều thủ pháp kết cấu Có thể thường xuyên bắt gặp
bốn thủ ph p cơ bản: một: dựa vào c i đơn nhất, xác thực để xây dựng hình tượng; hai: tôn trọng trật tự biên niên của thời gian sự kiện; ba: lược bỏ ngôn ngữ trần thuật, sử d ng kĩ thuật “lắp r p” điện ảnh; bốn: làm nổi bật hình
tượng tác giả, người chứng kiến, tham gia
Trang 20d Ký kết hợp linh hoạt các phương thức tự sự, trữ tình, nghị luận với những thao tác tư duy khoa học
Tự sự là nền tảng cấu trúc của tác phẩm ký Ký ghi chép sự việc, thuật lại các sự kiện, biến cố Trong ký có tả người, tả cảnh Cho nên nhiều nhà
nghiên cứu xếp ký vào loại văn xuôi tự sự
Tuy nhiên, là một loại hình văn học trung gian, ký thường có sự kết hợp rất linh hoạt c c phương thức chiếm lĩnh đời sống Như đã nói, k là sự thông tin về sự thực của những giá trị nhân sinh Cho nên trên nền tảng tự sự,
ký phát triển rất tự nhiên yếu tố nghị luận Ta có thể thấy rõ điều này trong
Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành, Bản án chế độ thực dân Pháp
của Nguyễn Ái Quốc…
Việc nhận thức những giá trị nhân sinh cũng mở đường để ký kết hợp một cách tự nhiên, linh hoạt giữa tự sự, nghị luận với trữ tình Ký không chỉ
kể việc, tả người, tả cảnh mà còn là tiếng reo vui trước vẻ đẹp của cảnh, của người
Ký không chỉ kết hợp linh hoạt c c phương thức nghị luận, trữ tình, tự
sự mà còn kết hợp một cách tự nhiên tư duy nghệ thuật với tư duy khoa học
Ở Việt Nam, Nguyễn Tuân là cây bút có biệt tài trong việc đưa nhiều lĩnh vực tri thức vào những bài ký tài hoa của mình
Trang 21loại “tự sự dài hơi” với dung lượng lớn về nhân vật, cốt truyện, phạm vi phản ánh thì truyện ngắn lại là những lát cắt của cuộc sống; với thơ lại nồng nàn say đắm tâm hồn người với nhiều cung bậc cảm xúc đi kèm hình ảnh, nhạc điệu… ặc biệt hơn, nhật ký xuất hiện đã khẳng định vị trí trong lòng độc giả với những hấp dẫn riêng của nó về giọng điệu tâm tình, tiếng nói bên trong, tiếng nói của tư tưởng tình cảm, sự bộc lộ chân thành và sâu lắng nhất cảm xúc suy nghĩ trong tâm hồn người viết
Nằm trong loại thể ký, nhật ký nói chung và nhật ký viết về chiến tranh nói riêng đều mang những nét đặc điểm chung của thể loại đồng thời lại có nét riêng độc đ o góp phần làm nên sự phong phú của văn chương nghệ thuật
1.2.2.1 Các quan niệm về nhật ký
Theo quan niệm của Từ điển thuật ngữ văn học thì nhật ký “là một thể
loại thuộc loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại So với các thể loại kh c như tiểu thuyết, thơ… thì ký xuất hiện muộn hơn, tận thế kỉ XVIII khi có sự gia tăng chú đến thế giới nội tâm của con người, khi xuất hiện nhu cầu tự bộc bạch, tự quan sát thì thể loại này mới xuất hiện ở châu Âu và phát triển cực thịnh vào thế kỉ XIX Ở Việt Nam, thể ký ra đời muộn, có thể lấy
điểm mốc cho sự xuất hiện thể loại này ở thời Lý – Trần với Vũ Trung tùy bút
và Thượng kinh ký sự Cũng như ở phương Tây, thể ký ở Việt Nam cũng được
coi là thể loại mở đường dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật Qua nhiều giai đoạn lịch sử, ký cũng có những biến thể cho phù hợp với xu thế phát triển của văn học Nhật ký chính là một dạng biến thể của ký hiện đại bên cạnh hồi ký, tùy bút, tản văn, phóng sự…
Từ điển văn học (bộ mới) định nghĩa nhật ký là “ oại văn ghi chép sinh
hoạt thường ngày Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít, dưới dạng những ghi chép hàng ngày có đ nh số ngày tháng (…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm;
Trang 22nó ít hồi cố; được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc
được công chúng tiếp nhận”[9;1257] Từ điển thuật ngữ văn học cũng coi
nhật ký là “một thể loại thuộc loại hình ký” hay “là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghi chép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tác giả hay nhân vật chính là người
trực tiếp tham gia hay chứng kiến” Giáo trình Lý luận văn học, tập 2: Tác
phẩm và thể loại văn học do Gi o sư Trần ình Sử chủ biên thì định nghĩa: “
Nhật ký là thể loại ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu có giá trị về tiểu sử và thời đại của người viết”[22;261] Như vậy, có thể nói rằng, nhật ký chính là những ghi chép của
cá nhân về những sự kiện, những cảm xúc, suy nghĩ trước những sự kiện xảy
ra trong ngày hay trong thời điểm gần
Về phân loại, tùy vào tính chất, m c đích mà người ta phân loại thành những thể khác nhau của nhật ký Rõ ràng nhất là sự phân chia nhật ký văn học và nhật ký ngoài văn học Các nhật ký ngoài văn học như: nhật ký riêng
tư, nhật ký khoa học, nhật ký công t c… không nhằm công bố rộng rãi, chỉ viết dành cho m c đích c nhân; đơn thuần chỉ ghi chép lại những sự việc xảy
ra với cá nhân chứ không quan tâm đến những vấn đề, những sự kiện xảy ra với nghĩa xã hội rộng lớn, nghĩa nhân bản… Vì thế, nhật ký ngoài văn học thường không thu hút được sự quan tâm của đông đảo người tiếp nhận cũng như giới nghiên cứu văn học, không có tầm ảnh hưởng lớn Còn nhật ký văn học thường hướng tới các chủ đề nhất định và có sự ưu tiên chú đến thế giới nội tâm của tác giả hoặc của các nhân vật trước nhứng sự kiện lớn có nghĩa không chỉ với cá nhân mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội; nhật ký văn học được viết ra nhằm hướng tới đông đảo công chúng Bên cạnh đó có những cuốn nhật ký riêng tư viết không nhằm làm văn, không hướng tới đông đảo công chúng và không chủ định xây dựng hình tượng văn học, song một
Trang 23khi nó “thể hiện được một thế giới tâm hồn, khi qua những sự việc và tâm tình cá nhân, tác giả giúp người đọc nhìn thấy những vấn đề xã hội trọng đại” thì nó đã mang trong mình phẩm chất văn học
1.2.2.2 Đặc điểm của thể loại nhật ký
Là một biến thể của ký, nhật ký mang những nét đặc điểm chung nhất của ký, đồng thời lại có điểm riêng biệt, làm nên sức thu hút riêng của thể loại Với thể ký – thể loại được coi là “sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào đời sống xã hội” với đặc điểm nổi bật là ghi chép sự việc, thì tính xác thực của việc ghi chép được xem là đặc trưng quan trọng nhất của thể loại Nhật ký cũng vậy, cho dù là nhật ký văn học hay các loại nhật ký ngoài văn học đều coi trọng tính chân thực, đ ng tin cậy của sự kiện được ghi chép lại, vì một cuốn nhật ký trước hết chính là sự giao lưu của người viết với chính bản thân
họ, bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm Với thể loại nhật ký ngoài văn học thì tính xác thực là yếu tố quan trọng hàng đầu, ví d một cuốn nhật ký công tác hay nhật ký khoa học đòi hỏi một sự chính xác cao, hay với nhật ký riêng tư, yếu tố bí mật là yếu tố quan trọng vì đó là những lời bộc bạch tâm sự của chủ thể không hướng tới m c đích quảng bá nên những gì viết ra luôn chân thực Còn với nhật ký văn học,
để mang tính hiện đại cho những vấn đề mang nghĩa thì bản thân việc ghi chép phải có sự chân thực mới thu hút được sự quan tâm của độc giả cũng
như xã hội: Ví d như nhật ký Ở rừng của Nam Cao là những ghi chép chân
thực những ngày tháng gian khổ mà đầy nghĩa trong ngày đầu hoạt động cách mạng của nhà văn, đó cũng là những gian khổ, khó khăn, th ch thức các văn nghệ sĩ trong việc “nhận đường”… Tác phẩm thành công bởi trong nó chứa đựng những cảm xúc chân thành của người viết thể hiện tư tưởng, tình
cảm và cái nhìn bao quát mọi sự vật, sự việc Hay tập Nhật ký trong tù của
Nguyễn Ái Quốc đã cho chúng ta thấy được bộ mặt tàn ác của nhà tù với
Trang 24những gian khổ, thiếu thốn đủ điều nhưng lại toát lên vẻ đẹp của tinh thần lạc quan yêu đời của người chiến sĩ, thi sĩ c ch mạng Tính xác thực của nhật ký cũng có nét tương đồng với hồi ký, tuy nhiên nếu như hồi ký có thể có yếu tố
hư cấu những khi thể hiện th i độ, những sự việc mà nhân vật trải nghiệm nhằm làm nổi bật hơn chủ đề của tác phẩm thì với nhật ký, yêu cầu về tính xác thực rất khắt khe Vì hư cấu trong nhật ký là điều tối kị Người viết nhật
ký không được phép hư cấu thêm tình tiết Hư cấu ở nhật ký chẳng khác với
sự phản bội chính bản thân mình, lừa dối chính mình
Nhật ký chính là lời tâm sự, bộc bạch của tác giả hay nhân vật những lúc cô đơn, muốn tự chiêm nghiệm lại những gì đã xảy ra Vì thế, có thể nói, nhật ký chính là thể loại mang tính chất riêng tư, chân thật và rất đời thường
“Với tư c ch là những ghi chép cá nhân, trong nhật ký, người viết có thể tự do trình bày suy nghĩ, quan điểm, tình cảm và th i độ trước một sự thật” [7] Riêng tư chính là lí do tồn tại của nhật ký, là yếu tố hấp dẫn của thể loại văn học đặc biệt này, vì nó liên quan đến những tâm tư, tình cảm, bí mật của cá
nhân, đặc biệt là những nhân vật được xã hội quan tâm Trong Mãi mãi tuổi
hai mươi, Nguyễn Văn Thạc đã quan niệm về việc ghi nhật ký: “Nếu như người viết nhật ký là viết cho mình, cho riêng mình thì đọc cuốn nhật ký đó sẽ chân thực nhất, sẽ bề bộn và sầm uất nhất Người ta sẽ mạnh dạn ghi cả vào đấy những suy nghĩ tồi tệ nhất mà thực sự họ có Nhưng nếu nhật ký mà có thể có người xem nữa thì nó sẽ khác và khác nhiều – họ không dám nói sự thật, nói đúng bản chất sự kiện xảy ra trong ngày, không dám nói hết và đúng những suy nghĩ đã nảy nở và thai nghén trong lòng họ Mà đó chính là điều tối kị khi viết nhật ký Nó sẽ dạy cho người viết tự lừa dối ngòi bút của mình,
tự lừa dối lương tâm của mình” [24;225]
Nhật ký là thể loại độc thoại, tự mình nói với mình, vì thế chúng ta luôn thấy tác giả hay nhân vật luôn giữ ngôi thứ nhất Nếu trong các thể loại như
Trang 25phóng sự, tùy bút, bút ký… trung tâm thông tin không phải là tác giả mà là các vấn đề xã hội thì ở nhật ký văn học người viết luôn là trung tâm So với các thể loại kh c, “vai trò của cái tôi trần thuật trong nhật ký văn học bao quát, quán xuyến toàn bộ tác phẩm Tác giả không ngần ngại xuất hiện trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang được nghe
kể về những sự thật mà tác giả là người trực tiếp chứng kiến”[7] Tuy nhiên,
có những khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật lại chính là một cuộc đối thoại ngầm với người khác về con người và cuộc đời nó chung, về bản thân mình nói riêng Hình tượng tác giả trong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm kh i qu t tư tưởng thẩm mĩ lớn lao
Nhật ký ghi chép sự việc, suy nghĩ, cảm xúc theo ngày tháng ở thì hiện tại, có thể liên t c nhưng cũng có thể ngắt quãng tùy vào người ghi Nếu như
ở hồi ký là sự ghi chép thời gian đã qua, thời gian quá khứ bằng cách hồi cố, hồi tưởng lại thì nhật ký ghi chép bằng thời gian hiện tại Có thể ngắt quãng nhưng chắc chắn thời gian phải là thời gian của hiện tại, không thể ở thời điểm ghi nhật ký mà ghi hộ cho thời điểm trước hay sau đó được
ặc điểm lời văn của nhật ký là sự ngắn gọn, tự nhiên bởi nó là lời nói bên trong, là tiếng nói nội tâm về những sự việc riêng tư, những tâm sự thầm kín, nghĩa thành thực, vì thế lời văn thường kết hợp linh hoạt giữa tự sự và trữ tình, giữa ngôn ngữ đời thường và giọng văn trữ tình mượt mà
1.2.2.3 Đôi nét về nhật ký chiến tranh
Xuất hiện trong dòng văn học viết về đề tài chiến tranh, thể loại nhật ký được biết đến như một điển hình về sự mới mẻ và chân thực của nó kể từ khi
có sự phát hiện và công bố hai cuốn nhật ký gây ấn tượng mạnh mẽ với đông
đảo nhân dân như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi và tiếp đó
là Nhật ký chiến tranh; Tài hoa ra trận… ến lúc này nhật ký chiến tranh mới
Trang 26thực sự thu hút được sự quan tâm của độc giả cũng như giới nghiên cứu Những cuốn nhật ký kể trên đã tạo nên những “chấn động” trong lòng bạn đọc, gây xúc động mạnh mẽ và tạo ra một hiệu ứng xã hội rộng lớn Chính vì thế, với thể loại văn học vô cùng đặc biệt này đòi hỏi cần phải có một sự quan tâm, nghiên cứu một cách nghiêm túc và toàn diện
Văn chương Việt Nam đã mang một diện mạo mới vô cùng phong phú
kể từ khi có sự ra đời và góp mặt của thể nhật ký chiến tranh Căn cứ từ thực
tế xuất bản mấy thập niên qua, chúng ta có thể xem nhật ký chiến tranh như một tiểu thể loại, với những nét đặc trưng khu biệt của đề tài, hoàn cảnh viết
và theo đó là đặc trưng bút ph p nghệ thuật Qua những ghi chép tỉ mỉ, chi tiết, các tác giả nhật ký đã cho thế hệ mai sau biết về chiến tranh một cách chân thực nhất, sống động nhất về những khó khăn gian khổ, những mất mát
hi sinh của thế hệ cha anh đã sống và chiến đấu giành độc lập tự chủ cho Tổ quốc Hơn thế nữa, đó lại chính là những trang viết của những người trong cuộc, chính họ đã có mặt trong cuộc chiến, trực tiếp sống và chiến đấu cho nên những di bút của họ rất chân thực và chính xác, phản nh được đời sống tinh thần của thế hệ thanh niên Việt Nam thời đó và t c động nhất định đến xã hội hiện tại Vì lẽ đó, việc nghiên cứu về thể loại nhật ký chiến tranh vừa mang nghĩa lí luận, vừa mang nghĩa thực tiễn sâu sắc
Nói tóm lại, nhật ký chiến tranh không những có đóng góp lớn về mặt thể loại mà còn mang đến sự mới lạ cho đời sống văn học, t c động mạnh mẽ
và ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn con người với hiệu ứng xã hội tích cực
ặc biệt là trong nhận thức của giới trẻ hiện nay Sự có mặt của cuốn Nhật ký
chiến tranh của Chu Cẩm Phong nói riêng và những cuốn nhật ký viết về
chiến tranh nói chung đã trở thành những minh chứng lịch sử nhắc nhở các thế hệ người Việt Nam về một thời kỳ đau thương mà hào hùng của dân tộc
và công lao to lớn của thế hệ cha anh đi trước đã cống hiến, hi sinh vì lí tưởng tuổi trẻ, vì nền độc lập của Tổ quốc
Trang 271.3 Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
Nhà văn, liệt sĩ Chu Cẩm Phong (1941- 1971) tên thật là Trần Tiến, sinh năm 1941tại Hội An (Quảng Nam), cha là cán bộ chỉ huy quân sự của Hội An thời kháng chiến chống Pháp, mẹ là cơ sở hoạt động cách mạng hoạt động bí mật cũng tại thị xã này thời kì kháng chiến chống Mĩ Năm 1954 Chu Cẩm Phong theo cha tập kết ra miền Bắc học phổ thông tại c c trường học sinh miền Nam và học đại học tại khoa Ngữ văn (khóa 5) trường ại học Tổng hợp Hà Nội, được kết nạp vào ảng ao ộng Việt Nam năm 1963 khi đang học năm thứ ba Tốt nghiệp đại học vào hàng xuất sắc, được chọn đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng Chu Cẩm hong đã không chọn con đường ấy mà xin về Nam chiến đấu cuối năm 1964, thời gian đầu làm phóng viên TTXVN sau đó chuyển sang làm phóng viên, biên tập viên tạp chí VĂN NGHỆ GIẢI PHÓNG TRUNG TRUNG BỘ (Khu Năm), bí thư chi bộ tiểu ban văn nghệ Ban tuyên huấn Khu Năm Trong công t c cũng như trong đời sống hàng ngày, ở đâu làm gì Chu Cẩm hong cũng luôn là một ảng viên gương mẫu Ngày 1 th ng 5 năm 1971, Chu Cẩm hong đã anh dũng hi sinh,
để lại tấm gương ngời sáng của một nhà b o, nhà văn chiến sĩ cùng những trang viết giá trị ặc biệt cuốn nhật ký của nhà văn đã được các bạn chiến đấu là c c nhà thơ Thanh Quế và Ngô Thế Oanh giữu gìn và bảo quản tại cơ quan trên núi, sau trao lại cho gia đình Một phần cuốn nhật ký mà nhà văn đem theo bên mình tưởng bị mất vĩnh viễn không ngờ đã được một sĩ quan quân đội Sài Gòn thu giữ được, sau trao cho bạn, đó là Hoàng ình Hiếu – sống trong lòng à Nẵng dưới chế độ cũ, sau ngày giải phóng à Nẵng anh Hiếu đã tìm đến trao lại cho nhà thơ ùi Minh Quốc
Năm 2000 tập nhật ký Chu Cẩm hong được NX Văn Học xuất bản
mang tên Nhật ký chiến tranh và cuốn s ch đã được Hội Nhà Văn Việt Nam
Trang 28trao tặng thưởng Năm 2005, NX à Nẵng xuất bản Tuyển tập Chu Cẩm
Phong bao gồm truyện ngắn, bút ký và Nhật ký chiến tranh của nhà văn
Th ng 2 năm 2007, nhà văn Chu Cẩm hong được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Th ng 3 năm 2010, nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong được Nhà nước truy phong danh hiệu anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân
Nhân dịp kỉ niệm 40 năm ngày mất nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm Phong,
NXB Hội Nhà văn đã cho xuất bản cuốn Nhật ký chiến tranh
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG NG N NGỮ NGHỆ THUẬT
TRONG NHẬT KÝ CHIẾN TRANH CỦA CHU CẨM PHONG
Nhật ký là những lời bộc bạch, tâm sự thầm kín của chủ thể s ng tạo viết ra không nhằm m c đích giao lưu, xuất bản thành s ch Vì vậy ở đó người viết bộc lộ toàn bộ tâm tư, tình cảm, những sự kiện xảy ra xung quanh mình một c ch chân thực nhất ó là những dòng tâm tư tình cảm, sự lắng đọng cảm xúc của tâm hồn những lúc chất chứa những tâm trạng, nhiều cảm xúc nhất muốn tự mình chiêm nghiệm lại những sự kiện vừa xảy ra, đang xảy
ra hoặc đang được chứng kiến ể thể hiện được điều này, ngôn từ là một phương tiện hữu ích nhất Qua đó ta có thể gặp được những phút giây độc thoại với chính mình của nhà văn – người lính Chu Cẩm hong thông qua ngôn từ hướng tâm độc thoại Ta thấy được tình cảm của anh dành cho người thân, đồng đội, đồng bào nhân dân và đặc biệt là tình cảm với – người con
g i anh yêu thông qua ngôn từ mang quy ước ẩn d ta còn thấy do bản thân nhà văn phải đối diện với những khó khăn, gian khổ, giữa những bom đạn chiến tranh, nơi mà ranh giới giữa sự sống và c i chết vô cùng mong manh nên trong nhật k của anh, ta bắt gặp những ngôn từ mang giọng điệu buồn thương mà dường như sự xuất hiện của nó đã tạo ra được sức hấp dẫn lớn đối với người đọc Chính những điều này đã tạo nên sự thành công và mang đến
sức hấp dẫn mạnh mẽ của thể loại nhật k nói chung và cuốn Nhật ký chiến
tranh của Chu Cẩm hong nói riêng đối với độc giả
2.1 Ngôn ngữ mang tính chất hướng nội, độc thoại
Th ng 3 năm 2010, nhà văn liệt sĩ Chu Cẩm hong được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.Trong lịch sử Hội nhà
Trang 30văn Việt Nam thành lập từ 1957, Chu Cẩm phong là nhà văn đầu tiên được phong anh hùng với tư c ch nhà văn
Sự nghiệp cầm bút của Chu Cẩm Phong quá ngắn, chỉ có ba năm rưỡi,
mà lại là ba năm rưỡi chồng chất biết bao công việc ngoài văn chương Tuy nhiên, chỉ qua những trang nhật ký Chu Cẩm Phong ghi vội giữa khói lửa chiến trường, chúng ta chẳng những đã được thừa hưởng một khối tư liệu hết sức phong phú đồng thời cũng thấy rõ ở anh một cặp mắt quan sát rất sắc sảo, một trực giác nắm bắt tâm lí bén nhạy, tinh tế, với một lối ghi chân mộc và sinh động, hứa hẹn những tác phẩm tầm cỡ
Cùng với khối tư liệu quý rất phong phú rất sinh động ấy, xuyên suốt những trang nhật ký, ta gặp một con người với toàn bộ cuộc sống hàng ngày của anh, cuộc chiến đấu hàng ngày của anh, với những ứng xử, lo toan, những vui buồn, yêu giận, suy tư
Con người đó chính là Chu Cẩm Phong
Và ta gặp không phải là một con người bình thường úng hơn, ta gặp một con người vừa bình thường vừa cao hơn sự bình thường rất nhiều – đây là một đảng viên cộng sản, một cán bộ đảng, người chiến sĩ tiên phong gương mẫu của nhân dân, một người chiến sĩ kiên trung chiến đấu bằng ngòi bút của mình
Có điều thật lạ, vượt ra ngoài định của người ghi, như một nét riêng
của văn học Việt Nam chiến đấu, Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong tự
thân nó cứ chứa đựng một giá trị văn học độc đ o cần được tiếp t c khám phá Và không cần chờ thêm sự sàng lọc của thời gian, không cần dựa vào số lượng s ch được in được mua nhiều hay ít, một sự thật hiển nhiên đã hiện ra với chúng ta: cái lớn lao hơn hết ở Chu Cẩm hong chính là con người anh, là
sự hòa quyện tự nhiên nhuần nhuyễn giữa tác giả và tác phẩm mà Nhật ký
chiến tranh là bằng chứng mãi mãi tươi ròng sự sống
Trang 31Có một điều đặc biệt, không giống với ặng Thùy Trâm và Nguyễn
Văn Thạc, tác giả của hai cuốn nhật ký gây được sự chú ý của dư luận là Nhật
ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi hai mươi, Chu Cẩm Phong ra trận với tư
cách là một nhà văn, mang trong mình tư chất của một người nghệ sĩ, anh ra trận thực hiện nhiệm v là s ng t c văn nghệ ph c v chiến tranh Từ một địa hình gần bờ sông Thu Bồn thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, nhà văn Chu Cẩm hong đã xếp lại cuốn nhật ký đang ghi dở dang và cầm súng
chuẩn bị chiến đấu Cuốn nhật ký đã vĩnh viến dừng lại ở dòng chữ “ 10 giờ,
2 chiếc phản lực đến thả bom và bắn đạn 20 ly, sau đó quân bộ kéo sang”
(ngày 27-4-1971) úng ba ngày sau, anh hi sinh khi bị địch khui hầm Anh
và đồng đội đã anh dũng chống trả quyết liệt đến viên đạn cuối cùng, cuốn nhật ký vẫn lặng lẽ nằm yên trong ba lô Lẽ ra số phận của nó đã bị chôn vùi trong đất nếu không có hai sĩ quan bên kia chiến tuyến đã lưu giữ nó trong suốt bốn năm trời để rồi đến ngày giải phóng đã được trao tận tay đồng đội của anh, nhà thơ ùi Minh Quốc Cuốn nhật ký có số phận “kì lạ” đã thực sự thu hút đối với người lính đó, thậm chí anh đã bao bìa và vẽ lên đó hình một cái cây mọc thẳng dưới ánh mặt trời Bởi một điều đơn giản, cuốn nhật ký ấy
là nhật ký mà cũng là một tác phẩm văn học, một tác phẩm chân thực đến tận cùng vì tác giả chỉ viết cho riêng mình, một tác phẩm của nhà văn lại được viết khi nhà văn không hề nghĩ mình đang s ng t c, mình đang viết nên một tác phẩm: Chu Cẩm Phong chỉ muốn ghi lại cuộc chiến mà anh trực tiếp dấn thân, ghi lại những gì anh đã nghĩ, đã thấy, đã xúc cảm mãnh liệt về nhân dân,
về đồng đội hay chỉ đơn giản nghĩ rằng nó sẽ trở thành một tư liệu quý giá cho những tác phẩm sau này nếu may mắn còn sống sót thì anh sẽ viết Ngã xuống khi chưa tròn bốn tuổi văn, chưa kịp bộc lộ hết tài năng, nhưng những
gì anh để lại đều gây ấn tượng đối với độc giả, tác phẩm nào cũng đ ng nhớ Mỗi tác phẩm là sự chân thành, là khát khao cháy bỏng của cảm xúc Với