1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

bai giang kinh te dat

55 255 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 172,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bài giảng kinh tế đất các vấn đề liên quan đến hạch toán kinh tế, tính toán hiệu quả các dự án trong sử dụng đất đai, lợi ích chi phí, mô hình ba mặt, dòng tiền đầu tư vào đất đai, phân tích chi phí, lợi ích trong sử dụng đất

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ ĐẤT 1

1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ KINH TẾ ĐẤT 3

1.2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ ĐẤT 4

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu đất 4

1.2.2 Nội dung nghiên cứu kinh tế đất 5

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu kinh tế đất 5

1.3.CHỨC NĂNG VAI TRÒ CỦA ĐẤT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 6

1.3.1 Đất đai là một tư liệu sản xuất 6

1.3.2 Vai trò đặc biệt của đất trong nông nghiệp 7

1.3.3 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế 8

1.4.KHÁI QUÁT VỀ QUỸ ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 9

1.4.1 Khái niệm về quỹ đất 9

1.4.2 Vài nét chung về đất thế giới 9

1.4.3 Khái quát về tài nguyên đất Việt Nam 12

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ ĐẤT 14

2.1 MÔ HÌNH BA MẶT TRONG SỬ DỤNG ĐẤT 14

2.1.1 Khái niệm mô hình ba mặt 14

2.1.2 Các yếu tố trong mô hình ba mặt 15

2.2 CHI PHÍ CƠ HỘI TRONG SỬ DỤNG ĐẤT 26

2.2.1 Chi phí cơ hội trong sử dụng đất 26

2.2.2.Vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất 27

2.3 LỢI THẾ SO SÁNH 28

2.3.1 Lợi thế tuyệt đối 28

2.3.2 Lợi thế tương đối 29

2.3.3 Vận dụng lý thuyết lợi thế trong sử dụng đất 30

2.4 PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG KINH TẾ ĐẤT 31

2.4.1.Mục đích của phân tích tài chính 31

2.4.2.Tính giá trị theo thời gian của dòng tiền 32

2.5 PHÂN TÍCH CHI PHÍ - LỢI ÍCH (CBA) 35

2.5.1 Khái quát chung về CBA 35

2.5.2 Trình tự tiến hành phân tích chi phí lợi ích 38

2.5.3 Các chỉ tiêu sử dụng khi đánh giá một dự án 40

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT 44

3.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ 44

3.1.1.Những quan điểm khác nhau về hiệu quả 44

Trang 2

3.1.2.Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất 47

3.1.3.Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất 49

3.2.HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT 49

3.2.1 Hệ thống chỉ tiêu thứ nhất 49

3.2.2 Hệ thống chỉ tiêu thứ hai 50

3.2.3.Khả năng ứng dụng các hệ thống chỉ tiêu trong đánh giá hiệu quả kinh tế đất 52

3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐẤT THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 52

3.3.1.Hiệu quả kinh tế 52

3.3.2 Hiệu quả môi trường 53

3.3.3 Hiệu quả xã hội 54

Trang 3

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KINH TẾ ĐẤT

1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ KINH TẾ ĐẤT

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiệntồn tại và phát triển của con người và sinh vật và vật khác trên trái đất

C Mác viết: “Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần đểsinh tồn, là điều kiện không thể thiếu để sản xuất, là tư liệu cơ bản trong nông,lâm nghiệp”

- Đất là phần không gian nhất định, bền vững về vị trí (thường nói là đấtđai có vị trí cố định, không di chuyển được), số lượng diện tích bị hạn chế về

cả diện tích đất tự nhiên và diện tích các loại đất theo các mục đích sử dụng

- Đất đai là tài nguyên thiên nhiên đồng nhất và gần gũi với thiên nhiên,

là sản phẩm của tự nhiên, nhưng đồng thời cũng là sản phẩm của con người.Diện tích đất tự nhiên hầu như không thay đổi nhưng tính chất của đất luônthay đổi; đất đai có khả năng tái tạo hay không tái tạo hoàn toàn phụ thuộc vàocon người; nếu biết kết hợp tốt giữ quản lý, sử dụng với bảo vệ, cải tạo đất thì

sử dụng được lâu dài bền vững

- Đất đai là yếu tố của sản xuất: Đất đai là nền tảng, là cơ sở để conngười tiến hành sản xuất trên đó, là yếu tố đầu vào của sản xuất, là phươngtiện, là công cụ quá trình sản xuất Bất kỳ một ngành sản xuất nào cũng phảidựa vào đất đai Đối với các ngành công nghiệp, thương mại dịch vụ, giaothông vận tải thì đất đai là nền tảng xây dựng các công trình; đối với sản xuấtnông – lâm – ngư nghiệp thì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu

và không thể thay thế được

- Đất đai là một loại hàng hóa đặc biệt, khác với các loại hàng hóa thôngthường Từ trước năm 1993, nhà nước ta chưa thừa nhận đất đai là hàng hóa.Việc thừa nhận đất đai là hàng hóa phụ thuộc với quy luật khách quan, phù hợpvới nền kinh tế thị trường, nó mở ra nhiều hướng mới cho việc hoạch định cácchính sách mới cho việc hoạch định các chính sách về quản lý và sử dụng đấtđai Đất đai được quan tâm về giá cả, mối quan hệ cung cầu, quan hệ mua bánrất phức tạp Nhà nước có hệ thống pháp luật sử lý riêng để quản lý hoạt động

sử dụng đất, tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị

- Đất đai là một loại tài sản: có thể mua bán, cho tặng, chuyển nhượng,thừa kế, cho thuê, thế chấp, được phép thừa nhận và bảo đảm quyền lợi

- Đất đai được coi là một loại vốn có giá trị ngày càng cao do diện tíchđất càng khan hiếm, là nguồn dự trữ của cải, bảo hiểm cho vốn tài chính Chính

vì điều này mà trong những năm qua nhiều đơn vị kinh tế của nước ta thực hiệnviệc góp vốn bằng quỹ đất trong liên doanh, liên kết với nước ngoài, tạo điềukiện cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh

Trang 4

Tóm lại, kinh tế đất là môn khoa học kinh tế nhằm nghiên cứu các mối quan hệ về mặt kinh tế giữa con người với con người đối với việc sử dụng tài nguyên đất đai và các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất.

Đất đai bị giới hạn bởi bề mặt của quả địa cầu và trong lãnh thổ của từngquốc gia Đất đai không chỉ phục vụ cho nhu cầu sản xuất nông lâm nghiệp màcòn phục vụ cho tất cả các ngành khác của nền kinh tế quốc dân như: xâydựng, giao thông, thuỷ lợi, khai khoáng, quốc phòng và nhà ở kể cả nhu cầu đôthị hoá Tài nguyên đất là một nguồn lực đối với mọi quốc gia Nguồn lực ấy

có hạn

Theo tài liệu của FAO về đánh giá đất thế giới thì hiện nay hành tinhchúng ta có khoảng 149 triệu km2 Trong đó đất tuyết băng, hồ, hoang mạcchiếm hơn 20% còn gần 80% có thể phục vụ cho các mục đích của con người.Đất canh tác để sản xuất nông lâm nghiệp chỉ còn khoảng 27% đất tự nhiên.Sựhạn hẹp về bề mặt diện tích đất đai, cùng với sự hạn chế trong việc khai tháctiềm năng đất đai do tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng chúng vào khai thác đấtđòi hỏi con người phải biết tính toán, đánh giá đầy đủ về đất đai không chỉ vềmặt kỹ thuật mà cả về mặt kinh tế của đất đai

Mặt khác dân số ngày càng tăng, kinh tế- xã hội ngày càng phát triển,những nhu cầu về đất đai ngày càng tăng lên Đất đai để sản xuất nông nghiệp,trực tiếp tạo ra sản phẩm nuôi sống con người ngày càng có xu hướng giảm sút,trong khi những nhu cầu về đất đai cho các ngành khác lại tăng lên như xâydựng, giao thông, nhà ở và nhất là quá trình đô thị hoá tăng lên làm cho đất đaiphi sản xuất nông nghiệp tăng lên

Đất đai lại rất đa dạng và phong phú, có thể sử dụng cho nhiều mục đíchkhác nhau, nhiều ngành nghề khác nhau Đất đai màu mỡ để trồng trọt canh táccũng không phải là nhiều Những khu vực đất đai thuận lợi dễ khai thác thì đãđược khai thác Những vùng đất đai khó khăn chưa được khai thác cho sản xuấtthì thường gặp những trở ngại về kỹ thuật và khả năng kinh tế, những điều kiệnkhác để khai thác sử dụng chúng

Những bất cập về cung - cầu đất đai nói trên đang đặt ra cho con ngườinhững bức bách cần được giải quyết Trên phạm vi mỗi quốc gia, diện tích đấtđai bị hạn hẹp Như vậy cần phải làm gì để khai thác và sử dụng có hiệu quảnguồn tài nguyên thiên nhiên này, để vừa cải tạo bồi dưỡng đất vừa bảo vệ môitrường sinh thái trên phạm vi quốc gia và từng tiểu vùng lãnh thổ của quốcgia , Khoa học kinh tế tài nguyên đất đóng vai trò xứng đáng trong hệ thốngkhoa học kinh tế vì tài nguyên đất đai chiếm vị trí quan trọng trong sự giàu có

và làm tăng nguồn của cải của xã hội đối với mỗi quốc gia

1.2.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ ĐẤT

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu kinh tế đất

Đất đai trên phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia là vô cùng rộng lớn Đấtđai bao gồm cả phần bộ mặt và cả phần bề sâu trong lòng đất Trong lòng đất

Trang 5

chứa đựng nhiều khoáng chất đã được khám phá hoặc chưa dược khámphá,chứa đựng nhiều loại kháng sản đã được khai thác hoặc chưa khai thác.

Khoa học kinh tế đất nghiên cứu bề mặt đất (bao gồm cả bề mặt nước)

đã, đang và sử dụng và khai thác Tuy nhiên chúng có mối quan hệ với phần bềsâu trong lòng đất

Như vậy bề mặt đất và các loại đất đai đã, đang và sẽ sử dụng là đối tượngnghiên cứu trực tiếp của khoa học kinh tế đất

Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước đều trực tiếp haygián tiếp liên quan đến đất đai Những luật và các văn bản dưới luật về quản lý,khai thác sử dụng, bảo vệ đất của Nhà nước qua các thời kỳ cũng được xem xéttrong qúa trình nghiên cứu của khoa học kinh tế đất

Việc nghiên cứu và xem xét đất đai và các loại đất đã,đang và sẽ sử dụngkhông chỉ trên phạm vi toàn quốc mà còn được nghiên cứu trong từng vùng,từng tiểu vùng,từng phạm vi quản lý hành chính nhà nước

1.2.2 Nội dung nghiên cứu kinh tế đất

Nội dung nghiên cứu của khoa học kinh tế đất được thể hiện trong một

- Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichũ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước thì đất đai là nguồn lực, nguồn tàinguyên và cũng được coi là một thị trường song là một thị trường đặc biệt

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu kinh tế đất

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp khoahọc chung nhất cho mọi khoa học Vì vậy khoa học kinh tế đất cũng sử dụngphương pháp duy vật biện chứng và khoa học lịch sử làm cơ sở nền tảng trongphương pháp luận nghiên cứu của mình

Phương pháp này coi tài nguyên đất như một sự vật và hiện tượng, mộtđối tượng trực tiếp, đặt nó trong sự vận động gắn liền với sự vận động của môitrường sinh thái, trong đó có sự tác động của con người Sự tác động của conngười vào việc sử dụng, cải tạo đất hoặc chuyển hóa các loại đất phải nằmtrong mối quan hệ biện chứng hợp quy luật

Phương pháp duy vật chứng và duy vật lịch sử trong nghiên cứu khoahọc kinh tế đất là một phương pháp tư duy khoa học nhằn tìm tòi và rút nhữngquy luật, tính quy luật chung nhất chính xác và cụ thể trong quá trình sử dụnghợp lý nguồn tài nguyên đất,tùy theo điều kiện cụ thể của từng không gian vàthời gian

Trang 6

Phương pháp thống kê phân tổ,so sánh cũng được sử dụng rộng rãixuyên suốt trong quá trình nghiên cứu khoa học kinh tế đất Phương pháp giúpcho chúng ta nắm được quy luật chung số lớn đối với đất đai trên tổng thể, từngloại đất, sự biến động của chúng và mối quan hệ giữa các loại đất trên phạm vi

cả nước trong từng vùng, từng địa phương

Phạm vi chuyên khảo, điều tra, phân tích cũng được sử dụng trongnghiên cứu khoa học kinh tế đất

1.3 CHỨC NĂNG VAI TRÒ CỦA ĐẤT TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI

1.3.1 Đất đai là một tư liệu sản xuất

Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đờisống của con người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng, lòng đất, rừng và mặt nướcchiếm vị trí đặc biệt Đất là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất

kỳ một quá trình sản xuất nào

Các Mác cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cungcấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể.Chúng ta đều biết rằng, không có đất thì không thể có sản xuất, cũng nhưkhông có sự tồn tại của con người

Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất vàhoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tácđộng như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất, v.v ), vừa là phươngtiện lao động (cho công nhân nơi làm việc, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc,v.v ) Tuy nhiên, đất đai là "tư liệu sản xuất đặc biệt" Nó khác với các tư liệusản xuất khác ở những điểm sau:

- Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thứccủa con người; là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tựnhiên của lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dướitác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Trong khi đó, các

tư liệu sản xuất khác là kết quả của lao động có trước của con người (do conngười tạo ra)

- Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất (sốlượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu Các tư liệu sảnxuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội

- Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàmlượng các chất dinh dưỡng, các tính chất lý, hoá, v.v trong đất (quyết địnhbởi các yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau) Các tưliệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn (mangtính tương đối do quy trình công nghệ quyết định)

- Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu khác là việc không thểlàm được Các tư liệu sản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lựclượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn,

Trang 7

có hiệu quả kinh tế hơn

- Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sửdụng không thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác) Các tư liệu sản xuất khácđược sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách khácnhau tùy theo sự cần thiết

- Tính bền vững (khả năng tăng tính chất sản xuất): Đất đai là tư liệu sảnxuất vĩnh cửu (không lệ thuộc vào tác động phá hoại của thời gian) Nếu biết

sử dụng hợp lý đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bịphá , ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả

sử dụng đất Khả năng tăng sức sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phương thức sửdụng tính chất có giá trị đặc biệt, không tư liệu sản xuất nào có được Các tưliệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng bịloại khỏi quá trình sản xuất

Có thể nói, đất đai là một tư liệu sản xuất cực kỳ quan trọng đối với conngười Sự quan tâm chú ý đúng mức trong việc quản lý và sử dụng đất đai sẽlàm cho sản lượng thu được từ mỗi mảnh đất không ngừng tăng lên

1.3.2 Vai trò đặc biệt của đất trong nông nghiệp

Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sảnxuất nào Đất cần cho công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, v.v Nhưng trong mỗi ngành, đất có vai trò không giống nhau

Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chứcnăng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng

dự trữ trong lòng đất (các ngành khai khoáng) Quá trình sản xuất và sản phẩmđược tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm độ phì nhiêu của đất, chất lượngthảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất

Riêng trong nông nghiệp đất có vai trò khác hẳn Với nông nghiệp, đấtkhông chỉ là cơ sở không gian, không chỉ là điều kiện vật chất cần thiết cho sựtồn tại của ngành sản xuất này, mà đất còn là yếu tố tích cực của sản xuất Quátrình sản xuất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc nhiều vào

độ phì nhiêu của đất, phụ thuộc vào các quá trình sinh học tự nhiên Trongnông nghiệp, ngoài vai trò cơ sở không gian, đất còn có hai chức năng đặc biệtquan trọng:

- Đất là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trìnhsản xuất;

- Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồngnước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết để cây trồng sinh trưởng vàphát triển Như vậy đất gần như trở thành một công cụ sản xuất Năng suất vàchất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất Trong số tất

cả các loại tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp, chỉ có đất mới có chứcnăng này Chính vì vậy, phải nói rằng đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặcbiệt trong nông nghiệp

Trang 8

1.3.3 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế

Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như làmột tư liệu sản xuất đặc biệt Tuy nhiên đối với từng ngành cụ thể trong nềnkinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau

Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng), đất đai làm nền tảng,làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuấtkinh doanh

Muốn xây đựng một nhà máy, trước hết phải có địa điểm, một diện tíchđất đai nhất định, trên đó sẽ là nơi xây dựng các nhà xưởng để máy móc, kho

tàng, bến bãi, nhà làm việc, đường xá đi lại trong nội bộ v.v Tất cả những

cái đó là cần thiết trước tiên để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh

Sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp đòi hỏi mở rộng qui

mô xây dựng, các nhà máy mới tăng lên làm tăng số lượng diện tích đất đaidành cho yêu cầu này

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành công nghiệp là sự pháttriển của các ngành xây dựng, các công trình dân cư phát triển đòi hỏi xâydựng nhà ở và hình thành đô thị, các khu dân cư mới Những yêu cầu này ngàycàng tăng lên làm cho nhu cầu đất đai dành cho các ngành đó cũng tăng lên Trong nông nghiệp đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầucủa ngành sản xuất này Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động màcòn là nguồn thức ăn cho cây trồng Mọi tác động của con người vào cây trồngđều dựa vào đất đai và thông qua đất đai Đất đai sử dụng trong nông nghiệpđược gọi là ruộng đất

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệtkhông thể thay thế được Ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệulao động

Hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, đặc biệt trong ngành trồng trọt, là

quá trình tác động của con người vào ruộng đất (như cày bừa, bón phân v.v .)

nhằm thay đổi chất lượng đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinhtrưởng và phát triển, tức là quá trình biến ruộng đất kém màu mỡ thành ruộngđất màu mỡ hơn Trong quá trình này ruộng đất đóng vai trò như là đối tượnglao động Mặt khác con người sử dụng đất đai như một công cụ để tác động lêncây trồng, thông qua đó làm tăng độ màu mỡ của đất nhằm thu sản phẩm nhiềuhơn Trong quá trình này, ruộng đất đóng vai trò như là tư liệu lao động

Quá trình sản xuất nông nghiệp (trong ngành trồng trọt) là quá trình khaithác, sử dụng đất Bởi vậy không có ruộng đất thì không thể có hoạt động sảnxuất nông nghiệp

Trang 9

1.4.KHÁI QUÁT VỀ QUỸ ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

1.4.1 Khái niệm về quỹ đất

Quỹ đất là toàn bộ diện tích đất đai các loại của một quốc gia, của mộtvùng hay của một địa phương, của loại đất theo mục đích sử dụng Quỹ đất cóthể được tính cho toàn bộ hay được tính cho một đầu người Quỹ đất của mộtquốc gia hay địa phương thường được cố định, việc tăng thêm quỹ đất là rấthạn chế; quỹ đất theo đầu người thường thay đổi theo xu hướng giảm bớt vì đấtđai không được sản sinh ra thêm nhưng dân số lại không ngừng tăng lên

Quỹ đất đai một nguồn lực tự nhiên cần phải được bảo vệ và sử dụngmột cách tiết kiệm, có hiệu quả, đặc biệt là đất tốt, có giá trị làm tăng nhiều củacải cho xã hội

Quỹ đất được hình thành một cách tự nhiên gắn liền với quá trình hìnhthành đất, với một lịch sử lâu dài trong quá trình sử dụng đất của con người;quỹ đất cũng được phân bố một cách tự nhiên gắn liền với sự phân bố các vùnglãnh thổ Mặt khác, do những nhu cầu khác nhau trong quá trình sử dụng quỹđất cũng được hình thành bởi con người nhằm điều hòa và bố trí lại đất đaitheo nhu cầu sử dụng

Ví dụ: Nước ta tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì nhu cầu về

đất để xây dựng các khu công nghiệp, xây dựng đô thị, giao thông vận tải,thương mại dịch vụ đều tăng lên Chúng ta phải điều chỉnh, giảm bớt diện tíchcủa các quỹ đất khác như nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chưa sử dụng choloại nhu cầu trên

Sự thay đổi cơ cấu quỹ đất trong tổng thể quỹ đất tự nhiên có ý nghĩa rấtquan trọng, nói lên những xu thế phát triển của đất nước trong phát triển kinh

tế xã hội, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển của khoa học

kỹ thuật và ứng dụng chúng vào sản xuất, đặc biệt đối với sự thayđổi trong sản xuất nông nghiệp

1.4.2 Vài nét chung về đất thế giới

Trái đất của chúng ta, với tổng diện tích bề mặt là 510 triệu km2 trong

đó đại dương chiếm 361 triệu km2 (71%), còn lại diện tích lục địa chỉ chiếm

149 triệu km2 (29%) Bắc bán cầu có diện tích đất liền lớn hơn nhiều so vớiNam bán cầu

Sự thay đổi về khí hậu, thảm thực vật, đá mẹ, địa hình và tuổi của đất trên.Trái đất là nguyên nhân hình thành nhiều loại đất khác nhau về màu sắc, độdày đất, độ chua và nhiều tính chất khác Nhìn chung, trên thế giới có 5 nhómđất phổ biến nhất

- Những vùng có khí hậu lạnh, lượng mưa dồi dào và điều kiện thoátnước tốt có nhóm đất podzol

- Những vùng khí hậu ôn hòa với rừng rụng lá theo mùa có nhóm đấtalfisols, đất có màu nâu hoặc xám

Trang 10

- Những vùng có khí hậu ôn hòa và đồng cỏ bán khô hạn hình thành nhómđất đen giàu mùn, đất có tầng dày và màu đen

- Nhóm đất khô hạn (aridosols) phát triển ở những vùng khô hạn Bắc Mỹ,Nam Mỹ và Châu Phi, nơi gần hoang mạc hoặc ở hoang mạc Nhóm đất này rấtxấu, chỉ để chăn nuôi và phát triển nông nghiệp nếu có nguồn nước tưới

- Ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới với lượng mưa phong phú, cónhóm đất đỏ (oxisols) nghèo chất dinh dưỡng

Bảng 1.1 Tỷ lệ diện tích các loại đất trên thế giới

(Nguồn: FAO năm 1990)

Số liệu của bảng cho thấy, những loại đất thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp như đất phù sa, đất nâu rừng chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu(4 loại đầu) chiếm tới 40,5% Hiện trạng sử dụng đất của thế giới theo FAOnhư sau:

- 20% diện tích đất lục địa ở vùng có nhiệt độ quá lạnh (< 50C)

- 20% diện tích đất lục địa là hoang mạc và sa mạc

- 20% diện tích đất ở vùng quá dốc

- 20% diện tích đất ở vùng quá khô hạn

- 10% diện tích đất lục địa đang canh tác

- 10% diện tích đất lục địa là đồng cỏ hoặc chăn thả tự nhiên

Đất trên thế giới rất hiếm nhưng chúng lại phân bố không đồng đều ởcác nước và châu lục khác nhau:

Bảng 1.2 Diện tích đất phân bổ theo bề mặt trái đất

Trang 11

tự nhiên (khoảng 1500 triệu ha), và được FAO đánh giá là:

Bảng 1.3 Năng suất đất phân bổ theo bề mặt trái đất

do số lượng người tăng lên dẫn đến hàng năm thế giới mất đi khoảng 8 triệu hađất nông nghiệp do chuyển sang xây dựng cơ bản Đất nông nghiệp còn mất đi

do xói mòn, nhiễm mặn, ô nhiễm khác, v.v khoảng 4 triệu ha Như vậy, mỗi

năm nhân loại mất đi 12 triệu ha đất nông nghiệp

Những đất còn lại cũng bị giảm sút về chất lượng do nhiều nguyên nhânnhư xói mòn, rửa trôi, đặc biệt ở vùng nhiệt đới ẩm do mưa lớn cùng với đấtdốc, 1 ha đất trong 1 năm mất từ 100 - 150 tấn đất Ngoài ra còn nhiều nguyên

nhân khác như: Khô hạn, chất thải rắn và lỏng, bụi, v.v đã làm cho đất bị ô

nhiễm thoái hóa Bên cạnh đó, tình trạng kết vón, đá ong hoá, hoang mạc hóa,v.v ngày càng gia tăng Song song với việc đất nông nghiệp ngày càng bị mất

và xấu đi thì sự bùng nổ dân số trên cả thế giới ngày càng báo động Dân số thếgiới mỗi năm tăng từ 80 - 85 triệu người Với năng suất như hiện nay, mỗingười cần 0,2 - 0,4 ha đất nông nghiệp mới đủ lương thực thực phẩm Muốnnuôi sống 80 - 100 triệu người dân tăng/năm cần phải khai hoang 20 - 30 triệu

ha đất mỗi năm Như vậy muốn đất nông nghiệp khỏi mất đi hàng năm thì phảikhai hoang mở rộng diện tích từ 30 - 40 triệu ha Song tiềm năng đất nôngnghiệp của thế giới chỉ có hạn Theo nhiều nhà khoa học tính toán, trong 3,2 tỷ

ha đất của trái đất chúng ta đã khai thác 1,5 tỷ ha, còn 1,7 tỷ ha với tốc độ khai

Trang 12

thác 40 triệu ha/năm thì chỉ còn 40 năm nữa là không có đất để khai hoang mởrộng diện tích Hơn nữa, việc khai hoang sẽ có một số trở ngại lớn như:

+ Phải có nguồn vốn lớn

+ Không được xâm canh vào đất rừng vì rừng đã bị tàn phá quá nhiều, + Những vùng còn đất khai hoang là những vùng ít dân nên sẽ hạn chế về

lực lượng lao động

Như vậy, việc cần quan tâm ở đây là sử dụng tài nguyên đất sao cho thực

sự hợp lý để giải quyết mâu thuẫn giữa đất và việc tăng dân số Hiện nay chỉ cóhướng thâm canh tăng năng suất và nâng cao hệ số sử dụng đất được coi là cóhiệu quả nhất Gần đây, nhờ có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, con người đãlàm tăng năng suất gấp 2 - 3 lần năng suất cũ Tuy nhiên, cũng có những khókhăn cần phải được quan tâm giải quyết là:

+ Đất thoái hoá do xói mòn, rửa trôi, bón nhiều phân hoá học và thuốc

phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại, v.v

+ Giá thành nông sản ngày càng cao Người ta đã tổng kết muốn tăng

năng suất 1 lần thì phải tăng chi phí máy kéo 2 lần, phân hoá học 5 lần, thuốctrừ sâu, bệnh và cỏ dại 10 lần

1.4.3 Khái quát về tài nguyên đất Việt Nam

Việt Nam có diện tích tự nhiên là 330.104,2 km2, xếp thứ 59 trên tổng

số 200 nước trên Thế giới, thuộc quy mô diện tích trung bình Trong đó diệntích sông, suối, núi đá và các hải đảo chiếm khoảng 2 triệu ha, còn lại là cácloại hình thổ nhưỡng đất liền Gần 3/4 diện tích đất đai của nước ta là rừng núi

và chưa khai thác Diện tích đất đai được sử dụng vào sản xuất nông nghiệpchưa đầy 25%

Có thể nói, Việt Nam rất đa dạng về các loại hình thổ nhưỡng và phongphú về khả năng sử dụng đất, nhưng phân bố giữa các vùng không đều ởnhững vùng đất rộng lớn thì dân cư lại ít, thưa thớt Những vùng này thườngđiều kiện sản xuất khó khăn, do đó đời sống cũng gặp nhiều khó khăn VùngTrung du Bắc bộ chiếm 31,3% diện tích đất tự nhiên nhưng chỉ chiếm 16,4%tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước Trong khi đó, Đồng bằng sôngHồng chiếm 3,78% diện tích đất tự nhiên nhưng chiếm 8,7% tổng diện tích đấtnông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 11,95% diện tích đất tự nhiên,nhưng chiếm 33,0% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất tự nhiên vàđất nông nghiệp trên đầu người 4, ngày càng giảm do tốc độ tăng dân số cao,

sự phát triển mạnh của các yếu tố như đô thị hoá, công nghiệp hoá và các cơ sở

hạ tầng mà ở đó chủ yếu là đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụngsang các hoạt động kinh tế khác với số lượng ngày càng tăng Diện tích đấtbình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp trên Thế giới, diện tích đất tựnhiên bình quân đầu người là 0,46 ha, đứng thứ 10 trong 11 nước Đông Nam á(cao hơn Singapore) và đứng thứ 135 trong số 200 nước trên Thế giới Bìnhquân đất nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam hiện chỉ còn dưới 0,12 ha

Trang 13

(theo số liệu thống kê đất nông nghiệp năm 2002 của Bộ Tài nguyên và Môitrường) Đặc điểm phân bố đất đai tại Việt Nam cũng rất đa dạng, phụ thuộcvào điều kiện địa lý của từng vùng, miền Ở các nơi vùng sâu, vùng xa thuộctrung du miền núi diện tích đất tự nhiên bình quân đầu người cao, nhưng loạiđất tốt với các điều kiện đảm bảo cho người dân có thể canh tác được lại rấtthiếu Ở đồng bằng - nơi đất đai đã được khai phá từ lâu, thuận lợi cho sản xuấtnông nghiệp thì quỹ đất lại rất khan hiếm do mật độ dân số đông và ngày càngtăng, tốc độ phát triển kinh tế nhanh và hầu như không có đất khai phá mới để

bổ sung

Từ trước những năm 1990, đất nông nghiệp hầu như không tăng, chênhlệch từ 6.933.400 ha (năm 1980) đến 6.993.200 (năm 1990) Tuy nhiên, saunăm 1990, diện tích đất nông nghiệp gia tăng đáng kể Trong khi đó, đất lâmnghiệp có chiều hướng giảm dần, nhất là vào thời kỳ 1980-1985 Đây là thời kỳcông cuộc khai hoang diễn ra mạnh mẽ Sau đó, diện tích đất lâm nghiệp đãtăng lên do có sự đầu tư trồng rừng, khôi phục và bảo vệ tài nguyên rừng

Diện tích đất chưa sử dụng đều có ở tất cả 7 vùng kinh tế - sinh thái củađất nước, nhưng tập trung nhiều nhất là ở miền núi trung du Bắc bộ và TâyNguyên Đây cũng là hai vùng có mật độ dân cư thấp nhất Ngoài ra còn có ởvùng Duyên hải miền Trung và Khu Bốn cũ Đất chưa sử dụng phần lớn là đấtrừng và đồi núi trọc, điều kiện sản xuất khó khăn Bởi vậy việc khai thác đấtđai ở các' vùng này có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội to lớn trên phạm vi cảnước, nhưng đòi hỏi phải có những đầu tư lớn, kể cả trong việc xây dựng cơ sở

hạ tầng để hình thành các vùng kinh tế mới

Trang 14

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ ĐẤT

2.1 MÔ HÌNH BA MẶT TRONG SỬ DỤNG ĐẤT

2.1.1 Khái niệm mô hình ba mặt

Quá trình sử dụng tài nguyên đất hoặc bất động sản của con người luônluôn diễn ra dưới sự tác động của mô hình ba mặt Mô hình này phải đảm bảođược về hiệu quả về kinh tế, phát triển hài hòa các mặt xã hội; nâng cao mứcsống, trình độ sống của các tầng lớp dân cư và cải thiện môi trường môi sinh,bảo đảm phát triển lâu dài vững chắc cho thế hệ hôm nay và mai sau Để sửdụng một vùng đất đạt hiệu quả và tránh rủi ro chúng ta phải xem xét 3 yếu tốsau:

Hình 2.1: Mô hình ba mặt

- Xem xét nhóm các yếu tố vật lý, sinh học - căn cứ vào khả năng thựctiễn về mặt tự nhiên của vùng đất

- Khả năng chấp nhận về mặt xã hội của vùng đất

- Xem xét tính khả thi về mặt kinh tế trong sử dụng đất

Sự phối hợp của ba mặt này tạo nên những giới hạn, trong đó từng cánhân, cộng đồng và chính phủ có thể thực hiện các hoạt động của họ trong từnglĩnh vực sử dụng đất, phát triển và bảo vệ nguồn tài nguyên đất với một trình

độ khoa học kỹ thuật và công nghệ cho phép Ba yếu tố này có quan hệ và tácđộng qua lại với nhau Đảm bảo khai thác đất đai trong giới hạn về sinh học vàvật lý, cải tạo đất và bảo vệ môi trường giúp cho kinh tế phát triển nhanh hơn,

ổn định xã hội Sự phát triển về kinh tế góp phần cải tiến các công nghệ kĩthuật trong khai thác và sử dụng đất, bảo vệ môi trường Xã hội ổn định, thểchế thông thoáng tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, và khai thác tài nguyênđất hiệu quả Ngược lại, nếu loài người không tôn trọng, không bảo toàn môitrường môi sinh Thiên nhiên bị hư hại, hệ sinh thái mất cân bằng, di sản môitrường-môi sinh suy thoái khiến loài người bị đe dọa, tình trạng đói nghèo trênthế giới nghiêm trọng, chênh lệch giầu nghèo giữa các nước gia tăng Ổn địnhchính trị xã hội bị đe dọa

Khả năng thực tiễn về sinh học, vật lý

Khả năng chấp nhận

về mặt thể chế, xã hộiTính khả thi về mặt

kinh tế

Trang 15

2.1.2 Các yếu tố trong mô hình ba mặt

2.1.2.1 Nhóm các yếu tố về vật lý và sinh học

Nhóm này quan tâm đến môi trường thiên nhiên, trong đó các loại tàinguyên khác nhau với đầy đủ các tính chất và đặc điểm của chúng mà conngười luôn gắn liền sự hoạt động của mình vào đó

Các yếu tố, đặc tính về mặt vật lý của vùng đất: Thổ nhưỡng, địa hình,dạng đất nông hoá, khí hậu, thuỷ văn v.v

Các nhóm yếu tố, đặc tính về mặt sinh học: Thảm thực vật, hệ cây trồng,

hệ động vật, hệ thuỷ sinh, hệ vi sinh vật

Các yếu tố vật lý sinh học cung cấp: nguyên liệu thô, vị trí và địa bàn,điều kiện hỗ trợ về mặt địa lý, các loại sinh vật và tài nguyên khác cho mọihoạt động của con người

Tất cả các yếu tố kể trên đều có thể trực tiếp tạo nên những thuận lợi hoặcgây khó khăn trở ngại cho con người trong quá trình sử dụng đất Chúng tạonên những tác động ảnh hưởng quan trọng tới cả hai mặt:

- Tổng số tài nguyên đất có thể cung cấp

- Tổng lượng nhu cầu của con người từ các nguồn tài nguyên đó

Điều quan tâm có ý nghĩa nhất của nhóm các yếu tố vật lý, sinh họctrong mô hình là nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì, giữ gìn các mối quan hệsinh thái theo thời gian

Để có thể đạt được những thắng lợi trong sử dụng đất thì các chính sách

sử dụng tài nguyên phải hướng sự hoạt động của con người tuân thủ các quyluật vật lý, sinh học và sinh thái tự nhiên trong các hoạt động ngắn hạn, dài hạncũng như trong tương lai lâu dài Khai thác đât đai về phương diện môi trường

có nghĩa phải bảo vệ khả năng tái sinh của hệ sinh thái, nhịp độ gia tăng sửdụng tài nguyên có khả năng tái sinh phải thấp hơn tốc độ tái sinh, việc sửdụng tài nguyên không có khả năng tái sinh phải tùy thuộc khả năng sáng chế

tư liệu thay thế Sau cùng, mức độ ô nhiễm phải thấp hơn khả năng tái tạo củamôi trường, môi sinh Phải nhận thức được tác hại của sự phá huỷ nguồn tàinguyên và môi trường Nếu con người không có ý thức thì với khả năng khoahọc kỹ thuật của mình cùng với sự cám dỗ về khả năng cho lợi nhuận cao trongthời gian trước mắt của một số kiểu khai thác tài nguyên, con người có thể pháhuỷ nguồn tài nguyên, vi phạm quy luật tự nhiên của sinh thái, phá huỷ hoặclàm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường thiên nhiên, dẫn đến nguồn tài nguyên

sẽ bị suy kiệt, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của toàn nhân loại trong tương lai

Chính vì vậy toàn xã hội, đặc biệt là các chính sách quốc gia phải tậptrung chống lại các hành động có khả năng phá huỷ nguồn tài nguyên khanhiếm và không thể thay thế, chống lại các hành động vi phạm hoặc phá vỡnghiêm trọng các quá trình sinh thái bình thường

Trang 16

Bài tập: Em hãy đọc vầ phân tích nguyên nhân thất bại của sự án đầu tư phát

triển cà phê chè tại Thanh Hóa?

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệtChương trình phát triển cà phê chè trên phạm vi cả nước và được ủy quyền tổchức thẩm định, phê duyệt các dự án thành phần để triển khai chương trìnhtrồng cà phê chè tại các tỉnh (1997) TCty Cà phê Việt Nam (VINACAFE) đãphê duyệt dự án đầu tư phát triển cà phê chè tại tỉnh Thanh Hóa, với qui mô3.260 ha, trên địa bàn 4 huyện miền núi (Như Xuân, Như Thanh, Ngọc Lặc,Thạch Thành) với tổng mức đầu tư là 71,773 tỷ đồng (trong đó, nguồn vốn vaycủa Cơ quan phát triển Pháp là 25,786 tỷ đồng, nguồn vốn khác 45,987 tỷđồng) và do Cty Cao su, Cà phê Thanh Hóa

Mất nhiều hơn được Rất phấn khởi với phong trào “nhà nhà trồng càphê, người người làm cà phê”, tỉnh Thanh Hóa đã dốc hết công sức, tiền bạcvào phong trào mà không lường hết được những khó khăn, bất cập trong quátrình lập, triển khai thực hiện Sau 4 năm thực hiện dự án (kể từ năm 1999),theo “ghi nhận” của lãnh đạo tỉnh thì: Cty Cao su, Cà phê Thanh Hóa đã triểnkhai thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của dự án, đã trồng được 4.009,37 ha càphê chè, với 6.384 hộ dân tham gia dự án Tổng giá trị đã đầu tư cho dự án là:130.670 triệu đồng Kết quả của dự án cũng được ngành chức năng cố gắngđưa lên: “Bắt đầu từ năm 2001, một số diện tích cà phê trồng thời kỳ đầu đãcho thu hoạch, với năng suất bước đầu khá khả quan; Cty Cao su, Cà phêThanh Hóa đã thu mua, chế biến và tiêu thụ thuận lợi, hiệu quả đạt khá!” Tuynhiên, cái “được” của dự án chỉ rất nhỏ so với cái “mất” Những “khó khăn,bất cập” mà những người trồng cà phê theo kiểu phong trào ở Thanh Hóa gặpphải là điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt (sương muối, rét đậm, rét hại kéodài trong mùa đông; gió tây nam khô nóng trong mùa hè) Cũng do vội vàng

mà những cây cà phê mới trồng không được tưới nước do “chưa có điều kiện

để chủ động tưới” Quan trọng nhất là kinh nghiệm, kỹ thuật trồng, chăm sóccây cà phê của đồng bào các dân tộc thiểu số còn rất hạn chế, mới mẻ, khảnăng về vốn có hạn Bên cạnh đó, giá cà phê thời kỳ 2001 - 2003 xuống thấp,chỉ bằng 50%-60% giá xây dựng trong dự án; nguồn vốn đối ứng gặp khókhăn nên không chỉ các vườn cà phê sau một thời gian trồng đã bị chết hàngloạt mà ngay người dân cũng ngoảnh mặt với cây trồng Đến năm 2007, cùngvới nhiều dự án khác của các tỉnh phía Bắc, toàn bộ diện tích cà phê trồng trênđịa bàn tỉnh Thanh Hóa bị chết, mất trắng hoàn toàn

2.1.2.2 Nhóm các yếu tố về kinh tế

Nhóm về các yếu tố kinh tế trong mô hình quan tâm đến sự hoạt độngcủa hệ thống giá cả, giá trị tác động đến từng chủ sử dụng đất, cùng với sự cốgắng của họ để tạo ra lợi nhuận cao trên mảnh đất của mình

Nhóm yếu tố này cũng là sự quan tâm của người sử dụng đất trong cácmối quan hệ đầu vào đầu ra trong quá trình sản xuất để có thể đạt được tối đamức thu nhập của họ

Trang 17

Bản chất của mô hình kinh tế là giải quyết các vấn đề như: Giá trị sảnxuất, thu nhập, lợi nhuận đối với các điều kiện đầu tư của quá trình sản xuất

Mô hình cũng đặc biệt quan tâm đến các vấn đề sau:

- Hệ thống marketing

- Nhu cầu của người tiêu dùng

- Vấn đề lưu thông vận chuyển vật tư sản phẩm

Ngoài ra các nhóm yếu tố về kinh tế trong mô hình còn quan tâm đếnvấn đề phúc lợi xã hội, đến vấn đề bảo tồn tài nguyên đất và tài nguyên thiênnhiên khác, đến việc phân phối thu nhập và lợi nhuận từ sản xuất giữa các chủ

sử dụng đất, đến người lao động và các thành viên khác trong xã hội

Bài tập: Hãy phân tích tình trạng được mùa mất giá trong nông nghiệp

Việt Nam

Tình trạng được mùa-mất giá của nhiều mặt hàng nông sản liên tục diễn

ra trong thời gian qua gây thiệt hại lớn cho ngành nông nghiệp nói chung vàảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng trăm nghìn người nông dân

Mặc dù, nước ta có thế mạnh để phát triển các nông sản đặc sản tuynhiên với nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún thiếu sự liên kết khiến cho nhiều loạinông sản chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường xuất khẩu cũng như trênthị trường “sân nhà.” Nhiều loại nông sản Việt lao đao vì tình trạng được mùanhưng rớt giá như dưa hấu đổ bỏ, cà chua chín thối ruộng, cà rốt giá rẻ như bèo…

Cộng đồng xã hội đã chung tay tổ chức cứu hộ thu mua nông sản giúp bàcon nông dân, song liệu rằng cộng đồng xã hội có thể kiên nhẫn để giải cứu hếtnông sản này đến nông sản khác hay không và cần phải làm gì để nền nôngnghiệp phát triển một cách bền vững Đây là bài toán lớn cần được giải đáp

Mặt hàng rau củ quả chiếm hơn 16,25% so với giá trị sản xuất của ngànhtrồng trọt (năm 2016) và ước tính có khoảng 700.000-800 000 hộ nông dântham gia sản xuất lĩnh vực này Do đó, những biến động liên quan đến lĩnh vựcnày có ảnh hưởng khá nặng nề cho người sản xuất cũng như sự phát triển kinh tế

Đặc biệt, tình trạng “được mùa mất giá” lặp đi lặp lại trong những nămqua đang là bài toán khó giải trong ngành nông nghiệp Việt Nam Lời giảikhông chỉ là nỗi lo của những người nông dân "một nắng hai sương", nguồnthu nhập chính trông vào mấy sào ruộng mà còn làm "đau đầu" doanh nghiệp

và các Bộ, ngành

Theo số liệu từ Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn), xuất khẩu rau quả cả nước năm 2016 đạt 2,458 tỷ USD, chiếm 7,6% sovới tổng giá trị của toàn ngành nông nghiệp và chiếm 16,25% so với giá trị sảnxuất của ngành trồng trọt Tính đến hết quý 1 năm 2017, cả nước đã xuất được

664 triệu USD các mặt hàng rau quả và tiếp tục tăng trưởng 23,1% so với cùng

kỳ quý 1 năm 2016

Năm 2016, ngành rau quả được xem là điểm sáng ấn tượng trên bứctranh xuất khẩu nông sản, tiếp tục lọt top ngành hàng đóng góp “tỷ đô” vàokim ngạch xuất khẩu và liên tục có sự tăng trưởng mạnh mẽ

Trang 18

Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả nước ta liên tụctăng trưởng cao: từ 151,5 triệu USD năm 2003 lên đạt mốc 1,07 tỷ USD năm

2013, năm 2016 đạt 2,458 tỷ USD, bình quân tăng 1,25 lần/năm, trong đó ướctính các sản phẩm cây ăn quả chiếm hơn 80% tổng giá trị xuất khẩu

Thống kê của Cục Trồng trọt cũng nêu rõ, thu nhập của người dân từviệc trồng cây ăn quả tập trung mang lại giá trị kinh tế rất cao như: thu nhậpcủa người trồng cam ở Cao Phong Hòa Bình là từ 300-500triệu đồng/ha/năm.Hay như Huyện Lục Ngạn, Bắc Giang có 26.000ha đất trồng cây ăn quả, năm

2016 đã thu về trên 3.000 tỷ đồng từ các sản phẩm trái cây…

Các loại quả được xuất khẩu năm 2016 chủ yếu gồm xuất khẩu thanhlong đạt giá trị khoảng 800 triệu USD, chuối đạt giá trị khoảng 45 triệu USD,chôm chôm, nhãn, vải khoảng 52 triệu USD, xoài có giá trị 35 triệu USD,

Xuất khẩu rau củ quả năm 2016 có 10 thị trường lớn nhất, trên 20 triệuUSD: Bên cạnh Trung Quốc là thị trường tiêu thụ lớn nhất (chiếm 70,8% thịphần), nhiều loại rau quả nước ta đã được xuất khẩu vào các thị trường khótính (Mỹ, Hàn Quốc, Nhật), tiếp đến là Hà Lan, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan,Singapore và Australia

Sản phẩm rau củ quả là ngành hàng có nhiều tiềm năng phát triển songmức độ rủi ro cũng khá lớn vì hầu hết đây là các sản phẩm tươi sống và nước tavẫn yếu trong trong khâu bảo quản chế biến và phụ thuộc lớn vào diễn biến thịtrường Thị trường xuất khẩu có những lúc, có những thời điểm do chúng takhông nắm bắt được nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng của nước nhậpkhẩu mà một số loại cây ăn quả, đã sản xuất cung vượt quá cầu dẫn đến thua lỗnặng nề Đơn cử như bài học về thanh long, chuối, dưa hấu đã phải đổ bỏ, hoặc

cả vùng sản xuất cam sành Hà Giang, Tuyên Quang lao đao trong những nămtrước đây (giai đoạn 2009-2013)

Theo số liệu của Cục Trồng trọt xuất khẩu cao su giai đoạn hoàng kim(năm 2011) khi giá cao su tăng cao, thì lượng cao su xuất khẩu cả năm 2011chỉ 846.000 tấn song kim ngạch đạt 3,3 tỷ USD Đến năm 2015 giá cao sugiảm xuống đáy thì chúng ta xuất khẩu cao su đến 1,13 triệu tấn nhưng giá trịchỉ đạt 1,5 tỷ USD, như vậy chúng ta mất 1,8 tỷ USD chỉ riêng với cao su

Đáng chú ý, những ngày gần đây, dưa hấu Quảng Ngãi đang bước vào

vụ thu hoạch nhưng những ruộng dưa hấu lại tiếp tục rơi vào thảm cảnh vắngbóng người mua Thậm chí giá dưa hấu tại ruộng chỉ còn khoảng 1.000đồng/kg nhưng người dân vẫn đang mong ngóng người mua hòng gỡ đồng vốn

Những hộ trồng dưa tại xã Tịnh Hiệp, huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi)đang rối ruột vì dưa hấu chín rộ từng ngày, trong khi bóng dáng thương láikhông thấy đâu Nông dân với hàng trăm hécta dưa hấu của các tỉnh miềnTrung Quảng Ngãi, Quảng Nam đang thấp thỏm liệu dưa hấu năm nay có “rơivào vết xe đổ” những năm trước phải đổ bỏ cho gia súc ăn hay không?

Trang 19

Theo đại diện của xã Tịnh Hiệp, dù chỉ mới đầu vụ thu hoạch, thế nhưngdưa hấu loại nông sản vốn mang lại nguồn lợi nhuận khá cho hàng chục nghìn

hộ dân Quảng Ngãi không chỉ giá thấp, mà còn tiêu thụ chậm Cá biệt có nhiều

hộ trồng dưa hấu đến lúc thu hoạch để bán nhưng không có người mua

Riêng xã Tịnh Hiệp, vụ năm nay diện tích dưa trồng của người dân trongtoàn xã khoảng 50ha, nhiều hơn so với năm ngoái Năng suất dưa thu hoạchbình quân từ 2,5-3 tấn/sào Tuy giá tại ruộng tại thời điểm này chỉ 1.000 đồng/

kg thế nhưng rất ít thương lái đến hỏi mua Và hiện khoảng 10ha dưa củangười dân Tịnh Hiệp đã đến lúc thu hoạch thế nhưng vẫn chưa tìm được ngườimua

Tình trạng được mùa, mất giá không còn quá xa lạ, vì thời điểm này nămngoái, nhiều nông dân Gia Lai (Kontum, Tây Nguyên) rớt nước mắt đổ dưahấu cho trâu, bò ăn bởi giá dưa rẻ như bèo chỉ từ 300 - 1.700 đồng/kg

Trước đó, thời điểm tháng 3-4/2015, cộng đồng xã hội cũng rộ lên phongtrào giải cứu dưa hấu cho bà con miền Trung các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi

vì giá “rớt thảm” chỉ còn 1.000-2.000 đồng/kg

Hay đối với mặt hàng cà chua, thời điểm giữa tháng Ba năm nay, nôngdân Hưng Yên cũng đứng ngồi không yên khi cánh đồng cà chua chín đỏ ruộng

mà không có người thu hái Giá cà chua chạm đáy 1.000 đồng/kg, nhiều người

bỏ ruộng, không chăm bẵm, không thu hoạch vì mức giá quá rẻ, thậm chí cònphá ruộng cà chua để tính trồng cây khác

Một bài học tương tự cũng xảy ra đối với sản phẩm này vào cuối năm

2014, nông dân trồng cà chua ở Lâm Đồng cũng khổn khổ kêu cứu cộng đồng

xã hội giải cứu cà chua đến vụ, rộ mùa lại bị ép giá, không biết bán cho ai…

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, trong tháng3/2017, thị trường trái cây trong nước có nhiều biến động Tại Tiền Giang,nông dân trồng vú sữa lao đao vì giá nhiều loại giảm hơn một nửa so với nămtrước

Bên cạnh đó, tại Sóc Trăng giá dưa hấu trong tháng bất ngờ giảm mạnhvới giá từ trên 4.000 – 4.300 đồng/kg do mùa thu hoạch và thương lái bỏ cọckhiến nguồn cung tăng mạnh

Sau nhiều tháng sụt giảm, giá chuối ở Đồng Nai trong tháng 3/2017 đãbắt đầu nhích lên, tạo nguồn thu, giúp nông dân phần nào thoát cảnh thua lỗ.Hiện giá chuối chín cây được thương lái thu mua với mức 3.000 - 3.500đồng/kg Còn loại đẹp để xuất khẩu có giá bán 6.500 đồng/kg, đây là mức giá

đã nhỉnh hơn so với tháng 2 khoảng 1.500 - 4.000 đồng/kg

Điểm lại một số mặt hàng nông sản trong những năm vừa qua liên tụcrơi vào tình trạng được mùa, mất giá thấy nhiều tên những sản phẩm quá quennhư thanh long, dưa hấu, cà chua, chuối, chôm chôm, vải, vú sữa, gừng…

Trang 20

Đặc biệt là mặt hàng dưa dấu, trong những năm gần đây, hầu như nămnào dưa hấu cũng rơi vào “cảnh lỗ” này vì cứ đến mùa, dưa hấu lại bị ép giá,thậm chí người dân còn đổ dưa hấu cho gia súc ăn vì không biết bán cho ai.

Ngay đối với cả mặt hàng thanh long-sản phẩm được chú trọng pháttriển phục vụ mục đích xuất khẩu với nhiều chính sách đầu tư quy mô cũngkhông thoát khỏi quy luật luẩn quẩn của câu chuyện “được mùa, mất giá” thậmchí bị thương lái ép giá trong nhiều năm nay

Hai vụ liên tiếp của năm 2015, 2016 thanh long ở Bình Thuận được mùavới năng suất cao, tuy nhiên, do việc phụ thuộc vào thương lái phía TrungQuốc nên dẫn đến việc bị ép giá xuống thậm chí chỉ còn 500-2.000 đồng/kg…

Nhiều người cho rằng được mùa, mất giá là một nghịch lý, tuy nhiên, từtrước đến nay, tình trạng này đang diễn ra như một thuận lý, một quy luật tấtyếu của thị trường Song đáng lo ngại nhất, khi vấn đề này cứ lặp đi lặp lại từmùa vụ này sang mùa vụ khác, từ năm này, sang năm khác mà vẫn chưa có mộtlời giải./

Sau đây là phần trả lời của Giáo sư Nguyễn Hồng Sơn, Cục trưởng CụcTrồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) để trao đổi về vấn đềnày:

Trước hết chúng ta phải khẳng định chuyện “được mùa, mất giá” đối vớinhiều mặt hàng nông sản là có bởi đó là hậu quả tất yếu của nền sản xuất nôngnghiệp manh mún, thiếu kế hoạch, thiếu liên kết giữa sản xuất với thị trườngtiêu thụ sản phẩm

Mặc dù nhà nước đã có quy hoạch trong đó có tính đến yếu tố cung cầu,thị trường tiêu thụ sản phẩm nhưng việc kiểm soát thực hiện quy hoạch là rấtkhó khăn do có quá nhiều hộ nông dân tham gia sản xuất Trong khi đó, các hộtham gia chủ yếu có quy mô nhỏ lẻ khiến việc điều tiết để khớp hoàn toàn giữanhu cầu thị trường với kế hoạch sản xuất là điều không hề đơn giản

Ngoài yếu tố sản xuất nhỏ lẻ, mạnh mún thì nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng “được mùa, mất giá” còn do các mặt hàng nông sản của chúng ta rất đadạng và phong phú nên dẫn đến việc quy hoạch cũng gặp khó khăn

Ở nước ngoài, khi nói đến Mỹ người ta nói đến các nông sản như táo,nho; nói đến Australia người ta nói đến các mặt hàng như táo, nho, thịt bò, cừuthì chúng ta lại có các sản phẩm “thượng vàng, hạ cám.” Bất kì sản phẩm nàocũng có thể trở thành mặt hàng cho nông dân Mặt khác, chúng ta quá nhiềunông dân tham gia sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đồng nghĩa với có hàngnghìn, hàng vạn nông trại khiến cho việc điều tiết kế hoạch vênh với nhu cầurất dễ xảy ra

Người nông dân sản xuất ra không biết mình sẽ bán sản phẩm đi đâu.Hầu hết tất cả vẫn dựa theo kinh nghiệm, thói quen Khi thiếu mối liên kết chặtchẽ giữa sản xuất và tiêu thụ, khi không có hợp đồng bao tiêu ổn định thì rất dễdẫn đến câu chuyện được mùa mất giá hoặc “khủng hoảng thừa” là khó tránh

Trang 21

khỏi Câu chuyện được mùa rớt giá chỉ xảy ra với một số nhóm mặt hàng nôngsản khó kiểm soát quy mô sản xuất vì không có vùng hàng hóa tập trung, cácloại nông sản khác vẫn giữ được giá khá ổn định không đến mức độ khủnghoảng Ví dụ như: giá lúa thấp nhất là 4.400 đồng/kg – cao nhất là 6.700 đồng/kg; giá càphê, giá tiêu, trái cây cũng ít khi có những cuộc khủng hoảng lớn.Một số mặt hàng có sự khủng hoảng cục bộ trong thời gian ngắn ví dụ giá cao

su giảm rất là thấp trong ba năm 2014-2016 nhưng đến đầu giữa năm 2016 thìlên giá rất cao và hiện nay cao su đang là mặt hàng xuất khẩu tốt nhất, thậm chíquý 1 năm nay tăng 90% so với cùng kì năm 2016

Ngoài những nguyên nhân thuộc về sản xuất, hợp đồng tiêu thụ sảnphẩm thì hệ thống tổ chức thị trường của chúng ta cũng chưa tốt Chính vì thếdẫn đến giá cả thị trường phụ thuộc vào thương lái, tình trạng thương lái ép giánhất là các mặt hàng tươi sống, hoa, rau, quả vẫn thường xuyên xảy ra

Phát triển nông sản: Cần kết nối nông dân, doanh nghiệp với thị trường.

Ví dụ, cùng quả thanh long buổi sáng có giá 5.000 đồng/kg nhưng buổi chiềulên 15.000 đồng/kg, điều này rõ ràng có sự điều tiết của thương lái Sự điều tiếtnày không minh bạch, không phải là một chuỗi liên kết để chia sẻ lợi ích giữangười thu mua, người bán hàng với người nông dân Hiện tượng này vẫn cònxảy ra tương đối là phổ biến vì vậy người nông dân vẫn phải chịu thiệt thòi

Trước hết, đối với người nông dân cần phải có kiến thức về thị trường.Trước khi tiến hành trồng cây gì, nuôi con gì người nông dân cần tìm hiểu vềthông tin thị trường cũng như vấn đề quy hoạch của nó Nông dân cần xem xétcây trồng của mình đã có nhiều vùng trồng chưa, tránh tính trạng sản xuất ồ ạt

Mặt khác, vai trò định hướng, tư vấn của các tổ chức chính trị, xã hội ởđịa phương cũng rất quan trọng Các tổ chức đơn vị này cần thông tin tuyêntruyền định hướng cho người dân trong vùng về quy hoạch cây trồng và vậnđộng người dân thực hiện đúng quy hoạch

Các hợp tác xã, các tổ chức chính trị xã hội cố gắng định hướng về mặtquy hoạch đối với một số cây trồng lâu năm, đảm bảo cung cấp thông tin vềmặt thị trường các sản phẩm

Ví dụ như người nông dân ở Thái Bình sẽ không biết vùng nào trồng đàonhiều, trồng quất nhiều nhưng lãnh đạo có thể có đầy đủ thông tin, Bắc Giangtrồng bao nhiêu, Hải Dương trồng bao nhiêu, từ đó xác định quy mô hợp lý chođịa phương mình bởi thị trường đã được cố định Các cấp chính quyền phảinắm chắc thông tin để tư vấn cho nông dân về chủng loại, thời vụ Đấy cũngchính là chức năng chính của chính quyền trong thời gian tới, hỗ trợ cho sảnxuất, cung cấp thông tin tư vấn cho người dân tốt hơn

Có thể thấy người nông dân từ chỗ không có kế hoạch đã biết điều tiếtdần kế hoạch sản xuất Bắt đầu hình thành nên những liên kết chặt chẽ giữadoanh nghiệp với nông dân để được tổ chức thu mua và sản xuất theo các hợpđồng Đây chính là thay đổi trong nhận thức của nông dân và doanh nghiệp để

Trang 22

tiến tới khắc phục hiện tượng được mùa mất giá và sản xuất thiếu kế hoạch nhưtrước đây.

Đặc biệt là trong việc thực hiện liên kết sản xuất theo chuỗi, người dâncần thực hiện liên kết với nhiều hình thái khác nhau phù hợp với quy mô, tínhchất mà không nhất thiết chờ doanh nghiệp vào mới là liên kết

Định hướng của chúng ta trong tương lai chính là từng bước hình thànhliên kết xâu chuỗi Đặc biệt, sắp tới đây Thủ Tướng Chính phủ chỉ đạo sửa đổiNghị định 109 về vấn đề liên kết sản xuất để buộc các doanh nghiệp khi ký hợpđồng xuất khẩu lớn buộc phải có vùng nguyên liệu Tức là doanh nghiệp phảihình thành vùng liên kết sản xuất với nông dân, có vùng nguyên liệu mới đượcphép kinh doanh lĩnh vực xuất khẩu

Việc xây dựng liên kết theo chuỗi đó là một xu hướng tất yếu mà chúng

ta phải đi đến Không thể đi bằng con đường nào khác nhất là trong bối cảnhsản xuất hàng hóa lớn, chúng ta phải có cạnh tranh về mặt chất lượng để có thểvượt qua được hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu đặt ra Liên kết đểđáp ứng ba mục tiêu: giảm giá thành, sản xuất được quy mô hàng hóa lớn,đồng đều về mặt chất lượng và kiểm soát được về mặt vệ sinh an toàn thựcphẩm Để thực hiện được liên kết thì các bên cũng phải chia sẻ với nhau vềquyền lợi nếu không chúng ta vẫn tồn tại dưới dạng cắt đứt công đoạn sản xuất

ở một hình thái khác Hiện hình thức liên kết vẫn chủ yếu dừng lại ở mức cungcấp vật tư đầu vào hoặc kí hợp đồng bao tiêu sản phẩm, thuê công lao độngv.v Gọi là liên kết sâu theo chuỗi nhưng thực ra là chúng đã bị bóp méo trongquá trình thực hiện bởi không đảm bảo được sự bình đẳng, hỗ trợ nhau trongsản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Đối với nông dân, từ những bài học về được mùa, mất giá, người dâncần phải hình thành ngay thói quen tìm thị trường hoặc tìm các hợp đồng baotiêu sản phẩm trước khi sản xuất, sản xuất khi có đầu ra chứ không phải cứ sảnxuất rồi tìm đầu ra sau Đó có lẽ là một cách tiếp cận sản xuất theo định hướngthị trường mà nông dân chúng ta cần phải có khi bước vào nền sản xuất hànghóa lớn và nền kinh tế hội nhập quốc tế

2.1.2.3 Nhóm các yêu tố về xã hội, thể chế trong mô hình

Về mặt xã hội và thể chế phải đảm bảo tuân thủ được các yêu cầu sau:

- Tuân thủ theo thể chế quốc gia được thể hiện ở hiến pháp và các vănbản pháp luật Sử dụng vùng đất được chấp nhận về mặt chính trị

- Yêu cầu trong sử dụng đất phải phù hợp và không sai trái về mặt đạođức luân lý, phù hợp với thuần phong mỹ tục

- Phát huy được tính tích cực, chủ động của cộng đồng địa phương trongviệc sử dụng vùng đất để phát triển cho chính họ

- Việc sử dụng một vùng đất phải thuận tiện trong việc thực hiện về mặthành chính

Trang 23

Tóm lại: Mô hình 3 mặt tác động trong quá trình sử dụng đất là:

- Các chương trình và dự án sử dụng đất phải phù hợp với điều kiện vềmặt vật lý và sinh học, đảm bảo tính khả thi về mặt kinh tế, đồng thời phảiđược chấp nhận về mặt thể chế, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn

Các nhà quản lý tài nguyên và hoạch định chính sách sử dụng đất luônphải quan tâm đến các mặt hạn chế đặt ra của từng nhóm yếu tố trong mô hình

để có thể đưa ra các chương trình và chính sách sử dụng đất thích hợp, đảmbảo thắng lợi trong công tác quản lý sử dụng đất, đáp ứng được mục tiêu pháttriển lâu dài

Mô hình này ràng buộc các vấn đề thực tiễn về sử dụng đất phải tuân thủnghiêm ngặt mối quan hệ 3 chiều: tự nhiên, kinh tế, thể chế để đạt được cáctiêu chuẩn của sự phát triển bền vững, đó là:

- Sử dụng đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên và môi trường

- Sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

- Sử dụng đất phải tuân thủ theo pháp luật, thể chế và được xã hội chấp nhận

Bài tập: Em hãy nêu sự khác biệt dẫn đến thành công của loại hình du lịch home

stay tại Đồng bằng sông Cửu Long?

Từ lâu, khái niệm “du lịch cộng đồng” đã được đề cập rộng rãi tại nhiềuquốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cụ thể:

Ở Thái Lan khái niệm Community-Based Tourism - Du lịch dựa vàocộng đồng được định nghĩa: “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được quản

lý và có bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặtmôi trường, văn hóa và xã hội Thông qua du lịch cộng đồng du khách có cơhội tìm hiểu và nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương”(REST, 1997)

Khái niệm này cũng được nhắc đến trong chương trình nghiên cứu củanhiều tổ chức xã hội trên thế giới Pachamama (Tổ chức hướng đến việc giớithiệu và bảo tồn văn hóa bản địa khu vực Châu Mỹ) đã đưa ra quan điểm củamình về Community-Based Tourism như sau: “du lịch cộng đồng là loại hình

du lịch mà du khách từ bên ngoài đến với cộng đồng địa phương để tìm hiểu vềphong tục, lối sống, niềm tin và được thưởng thức ẩm thực địa phương Cộngđồng địa phương kiểm soát cả những tác động và những lợi ích thông qua quátrình tham gia vào hình thức du lịch này, từ đó tăng cường khả năng tự quản,tăng cường phương thức sinh kế và phát huy giá trị truyền thống của địaphương” Còn Istituto Oikos (Tổ chức hướng đến việc hỗ trợ các nghiên cứu,huy động nguồn lực tài chính trong công tác bảo tồn về mặt sinh thái tự nhiên

và nhân văn cho các quốc gia đang phát triển trên thế giới, ra đời tại Ý, 1996)lại đề cập đến nội dung của Du lịch cộng đồng theo hướng: “Du lịch cộngđồng là loại hình du lịch mà du khách từ bên ngoài đến và có lưu trú qua đêmtại không gian sinh sống của cộng đồng địa phương (thường là các cộng đồng ởnông thôn hoặc các cộng đồng nghèo hoặc sinh sống ở những vùng có điều

Trang 24

kiện kinh tế khó khăn) Thông qua đó du khách có cơ hội khám phá môi trườngthiên nhiên hoang dã hoặc tìm hiểu các giá trị về văn hóa truyền thống, tôntrọng tư duy văn hóa bản địa Cộng đồng địa phương có cơ hội thụ hưởng cáclợi ích kinh tế từ việc tham gia vào các hoạt động khám phá dựa trên các giá trị

về tự nhiên và văn hóa xã hội tại khu vực cộng đồng địa phương sinh sống”.Trong khi Tổ chức mạng lưới du lịch cộng đồng vì người nghèo đã nêu: “Dulịch cộng đồng là một loại hình du lịch bền vững thúc đẩy các chiến lược vìngười nghèo trong môi trường cộng đồng Các sáng kiến của Du lịch cộngđồng nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người dân địa phương vàoviệc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một phương tiện giảmnghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng Các sáng kiến của Du lịchcộng đồng còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phươngcũng như các di sản thiên nhiên.”

Tại Việt Nam, hàng loạt khái niệm về Du lịch cộng đồng đã được đềcập Tác giả Trần Thị Mai (2005) đã xây dựng nội dung cho khái niệm này nhưsau: “Du lịch cộng đồng là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan,nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệđược môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thựchiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” Cùng cóquan điểm nhấn mạnh vai trò của phương thức phát triển Du lịch cộng đồngtrong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn, tác giả Võ Quế (2006)

đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịchtrong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch,đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thờicộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch

và bảo tồn tự nhiên.” Bên cạnh nội dung xem xét phát triển Du lịch cộng đồng

là phương thức góp phần đẩy mạnh tính hiệu quả trong công tác bảo tồn, tácgiả Bùi Thị Hải Yến (2012) còn đề cập đến việc tham gia của cộng đồng địaphương, với cách nhìn về Du lịch cộng đồng : “Du lịch cộng đồng có thể hiểu

là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự thamgia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển và mọi hoạt động du lịch.Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước

và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận đượcphần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng,bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu

du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách.”

Tựu chung lại, khái niệm Du lịch cộng đồng chứa đựng các nội dungchủ yếu như sau:

- Du khách là tác nhân bên ngoài, là tiền đề mang lại lợi ích kinh tế và

sẽ có những tác động nhất định kèm theo việc thụ hưởng các giá trị về môitrường sinh thái tự nhiên và nhân văn khi đến với một cộng đồng địa phương

cụ thể

- Cộng đồng địa phương là người kiểm soát các giá trị về mặt tài

Trang 25

nguyên du lịch để hỗ trợ du khách có cơ hội tìm hiểu và nâng cao nhận thứccủa mình khi có cơ hội tiếp cận hệ thống tài nguyên du lịch tại không gian sinhsống của cộng đồng địa phương.

- Cộng đồng địa phương sẽ nhận được lợi ích về mặt kinh tế, mở rộngtầm hiểu biết về đặc điểm tính cách của du khách cũng như có cơ hội nắm bắtcác thông tin bên ngoài từ du khách

- Cộng đồng địa phương ngày càng được tăng cường về khả năng tổchức, vận hành và thực hiện các hoạt động, xây dựng các sản phẩm du lịchphục vụ cho du khách Từ đó, cộng đồng ngày càng phát huy vai trò làm chủcủa mình

Hơn mười năm trở lại đây, loại hình du lịch homestay đã xuất hiện tạinhiều địa phương trong cả nước Với lợi thế về tự nhiên và sự đa dạng về vănhóa của các dân tộc bản địa, Sa Pa được xem như là một điển hình cho sựthành công của mô hình homestay tại Việt Nam Mặc dù phát triển sau so cácđịa phương khác, song việc khai thác du lịch homestay tại làng chài Cửa Vạn(Quảng Ninh) cũng đã mang lại một số thành công nhất định, góp phần nângcao đời sống hàng ngày cho người dân tại đây Bên cạnh đó, không thể khôngnhắc đến Thừa Thiên - Huế và Hội An Hai địa phương đang dành được nhiều

sự quan tâm của du khách bởi vẻ dân dã của nó Chỉ trong một khoảng thờingắn tại các homestay, du khách vừa có cơ hội thưởng ngoạn vẻ đẹp của di sảnvăn hóa thế giới, vừa có thể hiểu thêm về nếp ăn ở, sinh hoạt cũng như nét vănhóa của cư dân địa phương

Qua đó có thể thấy, homestay là một loại hình du lịch gắn với cộngđồng theo xu hướng tích cực khám phá, tìm hiểu văn hóa bản địa, cùng làm,cùng sống và trao đổi trực tiếp với người dân bản xứ Loại hình homestaykhông chỉ có tác động tích cực đến sự phát triển chung của du lịch mà còn đang

có tác động sâu sắc đến xã hội như: tăng cường giáo dục ý thức về bảo vệ môitrường, bảo tồn các di tích văn hóa, lịch sử của người dân bản địa và du khách;tạo ra sự giao lưu văn hóa, phong tục tập quán giữa các dân tộc và các quốc giakhác nhau; tăng cường các mối quan hệ trong cộng đồng người dân; sự gắn bócủa chính quyền địa phương và người dân bản xứ; giáo dục ý thức về phongcách ứng xử trong cộng đồng người dân Đồng thời, loại hình du lịch này cũng

có tác động đến kinh tế như: thu hút các nhà đầu tư vào du lịch và các lĩnh vựckhác như: hệ thống giao thông, trường học, mở rộng và nâng cấp các làng nghềtruyền thống, trùng tu các di tích lịch sử… tạo ra nguồn thu nhập cho ngườidân, tạo cơ hội việc làm cho nhiều hộ gia đình nghèo; góp phần vào chươngtrình xóa đói giảm nghèo tại địa phương

Nhìn rộng hơn ở tầm kinh tế vĩ mô, loại hình du lịch homestay cũng làcách thức tạo nên tính độc đáo trong bức tranh kinh tế du lịch của địa phương.Hay nói cách khác, homestay hứa hẹn tạo nên diện mạo riêng để dần hìnhthành nên sản phẩm du lịch đặc thù Đồng thời khi xây dựng và triển khai loạihình du lịch homestay cũng là cách thức có tính khả thi và đem lại hiệu quả từ

Trang 26

việc nhận thức homestay là một hình thái tích cực của du lịch cộng đồng.

Trên thực tế, du lịch homestay ở đồng bằng sông Cửu Long bắt đầuđược biết đến từ sau chương trình tàu Thanh niên Ðông Nam Á, cập cảng lầnđầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1995 Tham gia homestay tại đồngbằng sông Cửu Long, du khách không chỉ hòa vào không gian sống và sinhhoạt của người dân vùng sông nước mà du khách còn được trải nghiệm với cáchoạt động thường ngày của người dân nơi đây như tát ao, bắt cá, thu hoạch tráicây, đi chợ nổi, cùng chủ nhà nấu những món ăn dân dã, nghe và được thử hátđờn ca tài tử cùng với các “nghệ nhân nông dân” theo phương châm 3 cùng

“cùng ăn, cùng ở, cùng làm” Bên cạnh các hoạt động mà khách du lịch thamgia cùng với gia đình các chủ nhân homestay, các công ty lữ hành cũng phốihợp với các homestay để tổ chức một số tour đậm chất miền Tây như: “Về quêtát mương bắt cá” tại Cồn Phụng (Bến Tre), “Một ngày làm nông dân” ở Cái

Bè (Tiền Giang), “Tây ở nhà ta” (Vĩnh Long),…

Có thể nói, loại hình homestay ở đồng bằng sông Cửu Long đã phầnnào đáp ứng được kỳ vọng của khách du lịch đến đây Như Simon Kapitza (nữ

du khách người Đức) đã từng chia sẻ: “Chỉ homestay mới giúp trải nghiệm,nắm bắt sâu hơn nhịp sống, khát vọng sống đầy sáng tạo và mãnh liệt của vùngđất này”, khi nhìn những chiếc xuồng câu bé nhỏ dập dềnh giữa mùa nước nổimênh mông trắng xóa đầu nguồn An Giang

Đối tượng khách du lịch của các homestay tại đồng bằng sông CửuLong khá đa dạng, không chỉ có “Tây ba lô” như nhiều người thường nghĩ màngay cả giới du khách nhà giàu và có địa vị cao trong xã hội như: doanh nhân,bác sĩ, kỹ sư đến từ Pháp, Bỉ, Ðức, Hà Lan, Nhật,… cũng sẵn sàng tham gialoại hình du lịch này

2.2 CHI PHÍ CƠ HỘI TRONG SỬ DỤNG ĐẤT

2.2.1 Chi phí cơ hội trong sử dụng đất

Chi phí cơ hội là khái niệm của kinh tế học vi mô, cho phép nhà sản xuất

và các doanh nghiệp lựa chọn ngành sản xuất nào hợp lý nhất và có hiệu quảnhất Nó được kết hợp với thuyết lợi thế so sánh để lựa chọn ngành sản xuất.Khi một nhà sản xuất, nhà kinh doanh muốn chuyển từ ngành sản xuất nàysang ngành sản xuất khác phải tính đến chi phí cơ hội Trong việc sử dụng đất,ứng dung khái niệm chi phí cơ hội để bố trí sử dụng các loại đất hợp lý nhấthoặc chuyển đổi từ một loại đất này sang một loại đất khác về mục đích sửdụng

Chi phí cơ hội của một diện tích đất đai để sản xuất một loại sản phẩm Achính là sản lượng hoặn giá trị sản lượng của loại sản phẩm B trên diện tích đấtđai phải bỏ đi để sản xuất loại sản phẩm A

Ví dụ: Chi phí cơ hội để sản xuất mía trên một diện tích đất đai nào đó,

chẳng hạn đang sản xuất lúa chính là sản lượng thóc thu được trên diện tíchtrồng mía đó Người sản xuất chuyển diện tích trồng lúa sang trồng mía thì giátrị sản lượng mía thu được phải bằng hoặc lớn hơn giá trị sản lượng thóc.Trong

Trang 27

trường hợp ấy việc chuyển diện tích đất đai từ trồng lúa sang trồng mía mới có

ý nghĩa

Cụ thể: gia đình ông A sử dụng một hecta trồng lúa 1vụ (thực tế hầu nhưkhông có đất 2 vụ lúa năo mă chuyển sang trồng mía), do điều kiện sản xuấtlúa khó khăn (đất xấu, thường xuyín bị khô hạn,…) nín gia đình ông chuyểnmột hecta đất đó sang trồng mía Nếu trồng lúa mỗi năm gia đình ông A thuđược 3,5 tấn thóc, giâ thóc 4.000.000đồng/ 1 tấn, giâ trị sản lượng thóc lă14.000.000 đồng Chuyển sang trồng mía, mỗi năm gia đình ông thu được sảnlượng mía lă 60 tấn cđy mía, giâ mía 300.000đồng/1 tấn, giâ trị sản lượng mía

lă 18.000.000 đồng Giả sử chi phí cho trồng lúa mă trồng mía bằng nhau thìtrồng mía mỗi năm gia đình ông A thu lợi hơn so với trồng lúa 4.000.000đồng(18.000.000đồng – 14.000.000 đồng)

2.2.2.Vấn đề chuyển mục đích sử dụng đất

Đất đai được sử dụng cho nhiều ngănh sản xuất khâc nhau với nhiều mụcđích sử dụng cụ thể khâc nhau Diện tích đất đai có hạn, nhưng nhu cầu về đấtcho câc ngănh vă cho câc mục đích sử dụng không ngừng tăng lín vă thay đổinhanh chóng tùy theo sự phât triển kinh tế xê hội ở từng từng thời kỳ Vì vậyviệc chuyển đổi mục đích sử dụng tất yếu xảy ra vă lă hiện tượng thườngxuyín không thể trânh khỏi

Đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp – bao gồm cả đất có mặt nướcnuôi trồng thủy sản đang có xu hướng giảm đi do những yíu cầu phât triển củacâc ngănh giao thông thủy lợi …

Quâ trình đô thị hóa cùng với gia tăng dđn số lăm cho nhu cầu đất xđydựng nhă ở, công trình kiếm trúc, xđy dựng cơ sở hạ tầng đều tăng lín Quâtrình công nghiệp hóa, phât triển câc ngănh công nghiệp diễn ra với tốc độnhanh, lăm cho nhu cầu đất đai đối với ngănh năy ngăy một lớn, có nguy cơlăm giảm đất nông nghiệp vă đất canh tâc

Ngăy nay trong nội bộ đất nông nghiệp cũng có sự thay đổi về cơ cấusản xuất, trước hết giữa trồng trọt(đất trồng cđy lđu năm, đất trồng cđy hăngnăm) với chăn nuôi( đất lăm chuồng trại, đất trồng cỏ, đất có mặt nước nuôitrồng thủy sản) Một nền nông nghiệp phât triển cần có sự cđn đối giữa trồngtrọt vă chăn nuôi, hai ngănh năy vừa thúc đẩy vừa hỗ trợ nhau phât triển Trồngtrọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, kể câc sản phẩm phụ cũng có thể tận dụngđược; ngược lại, chăn nuôi cung cấp sức kĩo, phđn bón cho trồng trọt, cung cấpthực phẩm cho người lao động Trong một thời gian dăi chăn nuôi chỉ được coi

lă một ngănh sản phẩm phụ, không dănh đất để sản xuất thức ăn cho chăn nuôi

mă chỉ tận dụng sản phẩm phụ của trồng trọt lăm thức ăn cho gia súc gia cầm;gia sức ăn cỏ như trđu, bò chủ yếu được chăn thả trín câc bêi cỏ tự nhiín hoặcđược chăn dắt trín bờ đí, bờ ruộng Nay chăn nuôi phải được xâc định lă mộtngănh sản xuất chính, sản xuất với quy mô lớn Ở nhiều địa phương, ngườinông dđn đê chuyển một phần diện tích đất trồng cđy lđu năm như chỉ, camhoặc trồng cđy hằng năm như sắn, mía sang trồng cỏ để chăn nuôi bò sữa, hiệuquả kinh tế cao hơn so với trước Nhiều vùng đất lúa một vụ “chưa mưa đếng, chưa nắng đê hạn” nín chuyển sang nuôi trồng thủy sản, vừa tăng diện

Ngày đăng: 30/08/2017, 09:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w