1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chương 3 nghèo đói và bất bình đẳng

76 289 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cho tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại; nghèo tại khu vực thành thị gia tăng do tốc độ đô thị hóa nhanh khiến người dân gặp khó khăn trong giai đoạn chuyển đổi và nguy cơtái nghèo mớ

Trang 1

TỔNG HỢP CÁC BÀI BÁO TÌM ĐƯỢC:

CHƯƠNG 3: NGHÈO ĐÓI VÀ BẤT BÌNH ĐẲNG

CHÍNH TRỊ | 09:45 Thứ Năm ngày 17/10/2013

 (HNMO) - Những hiện tượng, hình thức mới của đói nghèo đang tiếp tục nổi

lên ở các đô thị, các hộ gia đình di cư và người làm trong khu vực phi chính thức Rút ngắn khoảng cách chênh lệch về thu nhập, giàu-nghèo nói chung, thành phố nói riêng là vấn đề cần xem xét trong công cuộc xóa đói giảm nghèo hiện nay.

Tạo điều kiện về vốn vay cho người dân sản xuất, chăn nuôi làgóp phần xóa đói giảm nghèo bền vững (Ảnh: Minh Bắc)

Do sự suy giảm kinh tế và bất ổn kinh tế vĩ mô nên đói nghèo càng ảnh hưởng không chỉ

ở vùng nông thôn, vùng sâu, xa mà ngay cả ở các khu đô thị nhất là các hộ gia đình côngnhân di cư và người làm trong khu vực phi chính thức Theo đánh giá của Ngân hàng Thếgiới từ cuối năm 2012 thì tình trạng phân hóa giàu-nghèo tại Việt Nam đang chuyển dần

từ mức tương đối bình đẳng (năm 2002) sang mức chênh lệch thu nhập ngày càng tănggiữa các nhóm dân cư Cũng cần nhận thấy rằng, hai chục năm qua, tỷ lệ nghèo ở ViệtNam đã giảm từ 58% (năm 1993) xuống dưới 10% Với thành tích như vậy, Việt Nam đãđược vinh danh là một trong 18 nước sớm hoàn thành Mục tiêu thiên niên kỷ 1 “Xóa bỏtình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói” (gọi là MDG1)

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn tình trạng bất bình đẳng trong tiến trình thực hiện MDGs ởcác vùng (nhất là vùng dân tộc thiểu số), nhóm dân cư và đây là vấn đề có thể tạo ra rủi

ro lớn đối với những thành tựu của Việt Nam Lâu nay, ở Việt Nam việc xác định khoảngcách giàu-nghèo thông qua khoảng cách thu nhập là chủ yếu mặc dù điều này có thể được

Trang 2

thể hiện bằng nhiều cách như qua chi tiêu, qua việc hưởng thụ các tiện ích y tế, giáo dục,văn hóa Để biểu thị mức độ chênh lệch về giàu-nghèo qua thu nhập người ta dùng hệ sốGini(G) hay là mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các tầng lớp cư dân.Nếu G=0 chỉ sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi người đều có cùng một mức thu nhập)còn G=1 chỉ sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (một người có toàn bộ thu nhập, trongkhi tất cả mọi người khác không có thu nhập) Theo các số liệu thống kê được công bốnhững năm trước đây thì hệ số Gini năm 1994 là 0,350, năm 1995 là 0,357, năm 1996 là0,362, năm 1999 là 0,390, năm 2002 là 0,420, năm 2004 là 0,423 Qua đó cho thấy sựbình đẳng đang giảm đi còn sự bất bình đẳng đang lớn lên và đạt mức độ nguy hiểm.Những năm gần đây, chưa thấy công bố thông tin nào nói về khoảng cách giàu-nghèo

Theo các chuyên gia về xã hội học thì mức chênh lệch giàu-nghèo hiện đang khá lớn và

Hà Nội cũng có hiện tượng giống với xu hướng phân hóa giàu-nghèo của cả nước Kể từkhi Hà Nội mở rộng thì khoảng cách này lại càng tăng cao hơn Khoảng cách giàu-nghèo

có thể ước đoán qua những quan sát về chênh lệch giữa người có tiền lương cao nhất sovới trung bình hoặc cách thức chi trả lương khá chênh lệch giữa người lao động và ngườiquản lý ở các doanh nghiệp Ngoài ra một số doanh nghiệp có “tính đặc thù” còn chi trảnhững khoản “lương khủng” cho tầng lớp quản lý, rồi xu thế đô thị hóa ồ ạt làm nhiềungười giàu lên nhanh chóng nhờ đất đai đó là chưa kể tình trạng lợi dụng chức vụquyền hạn để tham nhũng, làm giàu bất hợp pháp Tất cả những vấn đề đó sẽ góp phầnnới rộng khoảng cách giàu-nghèo là điều dẫn đến bất bình đẳng xã hội Người giàu có rấtnhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội như chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo nghề

và họ lại có điều kiện để giàu thêm Số liệu thống kê cho thấy, 20% nhóm giàu đượchưởng phúc lợi xã hội nhiều hơn so với 20% nhóm nghèo Điều đó chứng tỏ rằng ngườicàng giàu thì càng được hưởng lợi nhiều hơn so với người nghèo

Hơn nữa, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì phân hóa giàu-nghèo càng diễn

ra phức tạp Và tất nhiên, nhóm hộ vừa mới thoát nghèo lại có xu hướng lâm vào tìnhtrạng thoát nghèo không bền vững, dễ quay trở lại nhóm nghèo Nhất là sắp tới chúng ta

sẽ tiếp cận nghèo theo hướng mới đa chiều chứ không đơn chiều, lấy chuẩn nghèo bằngthu nhập hoặc chi tiêu trung bình tính trên từng người làm cơ sở như trước đây Việc xácđịnh nghèo được tiếp cận theo hướng đa chiều nghĩa là không chỉ tính mức thu nhập bìnhquân dưới chuẩn nghèo mà nếu thiếu hụt ít nhất một trong những nhu cầu xã hội như giáodục, y tế, an sinh xã hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản tại nơi ở, lương thực, thực phẩm… thì vẫnxác định là nghèo Đây cũng là xu thế xét nghèo chung của nhiều đô thị lớn trên thế giới,bức tranh toàn diện về tình trạng nghèo được xây dựng với nhiều chiều đói nghèo là thunhập, giáo dục, y tế, tiếp cận hệ thống an sinh xã hội, chất lượng và diện tích nhà ở, dịch

vụ nhà ở, tham gia các hoạt động xã hội, an toàn xã hội…Qua thực tế, có thể nói rằng, sự bình đẳng tuyệt đối giữa giàu-nghèo là không có Rất khó

Trang 3

đạt được việc kéo gần khoảng cách giữa người giàu và người nghèo bởi nhiều lý do.Nhưng đây cũng là một mục tiêu cần có lộ trình thực hiện Vì thế, ngay bây giờ ngoàiviệc thực hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, chính sách quan tâm tới việctăng cường tính tự chủ, vươn lên của người nghèo, động viên các người giàu, doanhnghiệp, doanh nhân làm tốt trách nhiệm xã hội thì còn phải thực hiện đồng bộ nhiều giảipháp khác nữa Nhất là khi chúng ta chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèođói từ đơn chiều sang đa chiều Nghĩa là chính sách đưa ra phải quan tâm tới việc khắcphục dần tình trạng quá tải ở các bệnh viện và cải thiện chất lượng khám chữa bệnh;Nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dạy nghề; Chăm lo tốt đờisống người có công… Kể cả việc chỉ đạo để giảm tai nạn giao thông và bảo đảm trật tự

an toàn xã hội Đây cũng là thông điệp đưa ra nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Xóa đói Giảmnghèo và Ngày Vì người nghèo Việt Nam (17/10) để chúng ta xóa đói giảm nghèo bềnvững

Nhận xét:

- Trong những năm qua nhờ chính sách của chính phủ nước ta đã có những tiến bộ

trong thu nhập, thoát khỏi tình trạng nước nghèo Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, sự bất bình đẳng, chênh lệch thu nhập vẫn còn cao

- Vấn đề chênh lệch giàu nghèo vẫn còn cao.

- Cần có những chính sách để xóa đói giảm nghèo Sự chuyển đổi việc đo lường

nghèo sang đa phương diện Quan tâm đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân và giáo dục đào tạo, an toàn và an sinh xã hội

Bài 2: Thực trạng xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ các nước trên thế giới

Hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong hai thập kỷ qua, nhưng các thách thức mới cũng đang nổi lên Những bài học kinh nghiệm từ quốc tế sẽ giúp Việt Nam giải quyết những vấn đề này.

Trang 4

Những kết quả đáng mừng sau 10 năm xóa đói giảm nghèo

Sau 10 năm thực hiện “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo” (2002-2013) và 5 năm thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về

“Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo nhất trong

cả nước (2008-2013), Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng mừng trong công tác xóa đói giảm nghèo

Theo Báo cáo Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 mới công bố của Ngân hành thế giới World Bank, hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong hai thập kỷ qua Nghèo đói ở Việt Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% hồi đầu những năm 1990 xuống 20,7% trong năm 2010 Việt Nam đã đạt được tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở cao, lần lượt hơn 90% và 70%

Theo đánh giá gần đây nhất của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc FAO, Việt Nam là một trong những nước đạt được thành tích nổi bật trong việc giảm số người bị đói từ 46,9% (32,16 triệu người) giai đoạn 1990 – 1992 xuống còn 9% (8,01 triệu người) trong giai đoạn 2010 – 2012, và đã đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 1 (MDG1) – hướng tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015

Những thách thức mới phải đối mặt

Tuy đạt được những thành tích đáng mừng nhưng công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam lại đang đối mặt với những thách thức mới Phần lớn những người nghèo còn lại sống ở vùng nông thôn xa xôi, hạn chế về tài sản, trình độ học vấn và điều kiện sức khỏe kém Nghèo trong các nhóm dân tộc thiểu số là một thách thức kéo dài Tuy chỉ chiếm 15% dân số cả nước nhưng chiếm tới 47% tổng số người nghèo vào năm 2010, so với 29% năm 1998 Hơn nữa, những người nghèo ngày càng khó tiếp cận với các điều kiện giảm nghèo chung do không theo kịp tốc độ gia tăng của các điều kiện giảm nghèo, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số

Bên cạnh những thách thức giảm nghèo mang tính lâu dài thì công cuộc giảm nghèo ở nước ta còn phải tính đến một số thách thức mới như: Bất ổn vĩ mô ngày càng tăng khiến

Trang 5

cho tốc độ giảm nghèo có xu hướng chậm lại; nghèo tại khu vực thành thị gia tăng do tốc

độ đô thị hóa nhanh khiến người dân gặp khó khăn trong giai đoạn chuyển đổi và nguy cơtái nghèo mới ở khu vực nông thôn, ven biển…

Bài học kinh nghiệp từ quốc tế

(1) Hàn Quốc

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống nghèo đói, tuyệt đại đa số là tá điền, ruộng đất tập trung vào sở hữu của giai cấp địa chủ, nhân dân sống trong cảnh nghèo đói tột cùng Từ đó gây

ra làn sóng di dân tự do từ nông thôn vào thành thị để kiếm việc làm, chính phủ không thể kiểm soát nổi, gây nên tình trạng mất ổn định chính trị - xã hội Để ổn định tình hình chính trị - xã hội, chính phủ Hàn Quốc buộc phải xem xét lại các chính sách kinh tế - xã hội của mình, cuối cùng đã phải chú ý đến việc điều chỉnh các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn và một chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn được ra đời gồm 4 nội dung cơ bản:

- Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay

- Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao

- Thay giống lúa mới có năng suất cao

- Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở

Với những nội dung này, chính phủ Hàn Quốc đã phần nào giúp nhân dân có việc làm, ổnđịnh cuộc sống, giảm bớt tình trạng di dân các thành phố lớn để kiếm việc làm chính sách này đã được thể hiện thông qua kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn nhằm cảitiến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, từng bước

Trang 6

đưa nền kinh tế phát triển nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn.

Tóm lại, Hàn Quốc đã trở thành 1 nước công nghiệp phát triển nhưng chính phủ vẫn coi trọng những chính sách có liên quan đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo cho dân chúng ở khu vực nông thôn, có như vậy mới xoá đói giảm nghèo cho nhân dân tạo thế ổn định và bền vững cho nền kinh tế

(2) Trung Quốc

Ngay từ khi Đại Hội Đảng XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm 1984, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhung cái chính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn Mục đích của nó là làm thay đổi các quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đè quá nặng lên những người nghèo khổ ởnông thôn trong nhiều năm qua, phục hồi ngành sản xuất nông nghiệp

Năm 1985 ông Đặng Tiểu Bình đã nói: "Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn " Sau khi áp dụng một loạt các chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu được những thành tựu đáng kể,

đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chính trị, thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản lý, thay đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai trò chính, và Trung Quốc đã thực hiện thành côngviệc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết cuả Nhà nước, thu hút vốn đầu

tư nước ngoài

Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường thì sựphân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội Do chính sách mở cửa nền kinh tế, các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp, tuy có phát triển một

số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn, song vùng giàu có thì ngày càng giàu

có, vùng nghèo đói thì vẫn nghèo đói, nhất là vùng sâu, vùng xa Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn chính phủ đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xoá đói giảm nghèo cho nhân dân, trong đó có các giải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, xây dựng các vùng định canh, định cư, khu dân cư mới,

Trang 7

chính sách này đã đem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế - xã hội Trung Quốctrong những năm qua.

(3) Đài Loan

Đài Loan là một trong những nước công nghiệp mới (NIES), nhưng là 1 nước thành côngnhất về mô hình kết hợp chặt trẽ giữa phát triển công nghiệp với phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ( mặc dù Đài Loan không có các điều kiện thuận lợi như một số nước trong khu vực) đó là chính phủ Đài Loan đã áp dụng thành công một số chính sách về phát triển kinh tế -xã hội như:

- Đưa lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình với quy

mô nhỏ, chủ yếu đi vào sản xuất nông phẩm theo hướng sản xuất hàng hoá

- Đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, mở mang thêm những nghành sản xuất kinh doanh ngoài nông nghiệp cũng được phát triển nhanh chóng, số trang trại vừa sản xuất nông nghiệp, vừa kinh doanh ngoài nông nghiệp chiếm 91% số trang trại, sản xuất thuần nông chiếm 90% Việc tăng sản lượng và tăng năng suấtlao động, ttrong nông nghiệp đến lượt nó lại tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp phát triển

- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để phát triển nông thôn Đài Loan rất coi trọng phát triển mạng lưới giao thông nông thôn cả về đường bộ, đường sắt và đường thuỷ

Trong nhiều thập kỷ qua, Đài Loan coi trọng việc phát triển giao thông nông thôn đều khắp các miền, các vùng sâu vùng xa, công cuộc điện khí hoá nông thôn góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, điều kiện sinh hoạt ở nông thôn Chính quyền Đài Loan cho xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp ngay ở vùng nông thôn để thu hút những lao đông nhàn rỗi của khu vực nông nghiệp, tăng thu nhập cho những người nông dân nghèo, góp phần cho họ ổn định cuộc sống Đài Loan áp dụng chế độ giáo dục bắt buộc đối với những người trong độ tuổi, do đó trình độ học vấn của nhân dân nông thôn được nâng lênđáng kể, cùng với trình độ dân trí được nâng lên và điều kiện sống được cải thiện,Tỷ lệ tăng dân số đã giảm từ 3,2%/năm(1950) xuống còn 1,5%/năm(1985) Hệ thống y tế ,

Trang 8

chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân cũng được quan tâm đầu tư thích đáng.

(4) Braxin

Lập quỹ hỗ trợ cho các gia đình nghèo nhất: Ở Braxin, Quỹ gia đình (Bolsa Familia) được chính phủ của tổng thống Luiz Inacio Lulu da Silva thiết lập vào năm 2003 nhằm cung cấp một khoản lương cơ bản cho 7,5 triệu gia đình nghèo nhất của Braxin (tương đương với 30 triệu dân) Mục đích của Quỹ là cung cấp một mức thu nhập hàng tháng tính theo đầu người là dưới 100 reai/người/tháng cho 11,2 triệu gia đình (bằng một phần

tư dân số Braxin) cho đến cuối năm 2006 Đây là chương trình lớn nhất của một thế hệ mới các chương trình xã hội ở châu Mỹ La tinh, được gọi là các kế hoạch trợ cấp tiền mặt

có điều kiện Mục tiêu của các kế hoạch này là giảm tình trạng nghèo của ngày hôm nay, trong trường hợp của Braxin là bằng cách trợ cấp tới mức 95 reai mỗi tháng cho các gia đình nghèo (các chính quyền tiểu bang và địa phương có thể tăng thêm mức lương trên tùy theo khả năng tài chính của các chính quyền này) và ngăn chặn tình trạng tái nghèo trong tương lai bằng cách ràng buộc nhiều điều kiện cho việc trợ cấp tiền mặt này: nhữngngười thụ hưởng phải cho con họ đi tiêm ngừa, đến bệnh viện để theo dõi tình hình sức khoẻ của chúng, và cho chúng tiếp tục đi học

Bộ máy hành chính hiệu quả: Sự thành công của các kế hoạch mới này nhờ có một bộ máy hành chính điều hành có hiệu quả Ở Braxin, cơ cấu liên bang bao gồm: 5.561 đơn vịquận huyện tự trị, việc thiết lập quĩ Bolsa Familia ở đây không đơn giản Ban đầu, tổng thống Lula gây rối rắm nhiều hơn là củng cố quĩ Ông tạo ra hai bộ chống nghèo đói và chương trình trợ cấp tiền mặt có điều kiện khác nữa Bị chỉ trích nặng nề, chính phủ Braxin phải suy nghĩ lại cách làm của mình ở bốn chương trình trợ cấp tiền mặt có điều kiện, được họp lại thành ra quĩ Bolsa Familia Bộ phát triển xã hội được thiết lập để điều hành quĩ Một quan chức của chính quyền đã cho biết là thời kỳ chuyển tiếp của quĩ rất lộn xộn Người ta quên đi việc kiểm tra chất lượng Các kiểm toán nhà nước và giới truyền thông đã phát hiện có sự gian lận trong phân phối các khoản tiền và có sự chểnh mảng trong việc theo dõi các điều kiện ràng buộc Với hàng triệu người hưởng thụ ghi tênvào danh sách và quyền lợi tăng lên gấp 3 lần số tiền 65 reai, quĩ Bolsa Familia có vẻ nhưmuốn được lòng dân hơn là một chính sách xã hội, với một đội ngũ công chức chuyên nghiệp phụ trách và có sự cố vấn của Ngân hàng Thế giới - nơi cho vay 572 triệu đôla để

Trang 9

giúp mở rộng và cải thiện quĩ Quĩ Bolsa Familia tự điều chỉnh lại các hoạt động của mình Theo đó, các cơ quan cấp liên bang, cấp quận, huyện, các tổ chức phi chính phủ cùng chính những người thừa hưởng đều tham gia vào việc điều hành quĩ Nhiệm vụ của

họ là bắt đầu hướng đến mục tiêu và nhận diện chính xác người thụ hưởng Nhưng Bộ Phát triển xã hội của Braxin mới là cơ quan quyết định ai trong số họ xứng đáng được hưởng khoản tiền đó Người thụ hưởng đó sẽ rút tiền qua một thẻ điện tử tại chi nhánh ở địa phương của ngân hàng nhà nước Thông qua các danh sách duy nhất này, chính quyền

có thể kiểm tra xem ai xứng đáng nằm trong danh sách này Những người được coi là không xứng đáng là vì họ không thuộc diện gia đình nghèo đói hoặc họ được một số người có quyền thế ở địa phương ban cho cái đặc ân là tên của họ được ghi danh vào danh sách này để đổi lấy lá phiếu ủng hộ trong các kỳ bầu cử tới Theo hợp đồng mới với chính phủ liên bang thì các chính quyền địa phương phải thành lập các “hội đồng xã hội” gồm các quan chức ở địa phương và đại diện của các tổ chức chính phủ để theo dõi việc thực thi quỹ Các chính quyền địa phương cũng được cấp ngân sách để cập nhật các danh sách duy nhất tại địa phương Qua chương trình chuyển giao tiền mặt có điều kiện này, chính phủ Braxin cũng tranh thủ với các gia đình thụ hưởng, buộc họ phải tuân thủ các điều kiện ràng buộc kèm theo để khỏi bị mất số tiền họ nhận được Chẳng hạn như tất cả trẻ trong gia đình đều phải được đi học, đến lớp đều đặn cho đến khi chúng được 15 tuổi, bằng không gia đình sẽ bị phạt và mức phạt cao nhất là gia đình sẽ mất đi số tiền đã được chuyển giao Kết quả là số học sinh bỏ học nửa chừng giảm mạnh, và số học sinh đăng kýtheo học bậc trung học tăng lên khả quan

Nhận xét:

- Sau những chính sách và nổ lực trong xóa đói giảm nghèo nước ta đã có những cải

thiện đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế cần được giải quyết

- Bài viết rút ra nhưng bài học kinh nghiệm từ những nước trên thế giới: Hàn Quốc,

Trung Quốc, Braxin, Đài Loan

- Ví dụ như chính trình phát triển nông nghiệp nông thôn gồm 4 điểm cơ bản:

 Mở rộng hệ thống tín dụng nông thôn bằng cách tăng số tiền cho hộ nông dân vay

 Nhà nước thu mua ngũ cốc của nông dân với giá cao

 Thay giống lúa mới có năng suất cao

 Khuyến khích xây dựng cộng đồng mới ở nông thôn bằng việc thành lập các HTX sản xuất và các đội ngũ lao động để sửa chữa đường xá, cầu cống và nâng cấp nhà ở

Bài 3: http://vov.vn/chinh-tri/ba-giai-phap-chinh-de-giam-ngheo-ben-vung-331092.vov

Trang 10

Ba giải pháp chính để giảm nghèo bền vững

từ 47% năm 2006 xuống 28,8% năm 2010; tại 62 huyện nghèo giảm từ 58,33% năm 2010xuống 43,89% năm 2012 Đó là những con số mà các tổ chức thế giới đánh giá Việt Nam

là một trong những quốc gia đã có những chính sách giảm nghèo đạt thành tựu, kết quả

ấn tượng và rất đáng ghi nhận

Cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, bản thân người dân phải tự lực vươn lên

để thoát nghèoTuy nhiên, để giảm nghèo một cách bền vững, đặc biệt là giảm bớt sự chênh lệch quá lớn giữa “vùng nghèo” và “vùng giàu”, thì cần phải có những giải pháp căn cơ, thiết thực hơn Nên chăng cần tập trung vào ba giải pháp chính sau:

Một là, chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí Ông cha ta có câu: “Cho

cái cần câu thay vì cho con cá” Đầu tư cho giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí

ở các vùng, các huyện, các xã có nhiều hộ nghèo chính là trao “cái cần câu” cho người

Trang 11

dân Một khi người dân có nhận thức, có kiến thức thì họ sẽ biết làm gì trên “luống cày”của mình Họ sẽ tự biết trồng cây gì, nuôi con gì cho năng suất, có hiệu quả cao nhất.Đầu tư cho giáo dục, đào tạo, dạy nghề nâng cao dân trí ở các vùng nghèo được xem như

“chiếc chìa khóa” để cho người dân tự mở khóa kho tàng kiến thức cũng như những tiềmnăng phát triển sản xuất kinh doanh trên mảnh đất của họ

Hai là, tăng cường đầu tư xây dựng cho giao thông nông thôn Giao thông là huyết mạch

quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, giao thông nông thôn lại càng có ý nghĩa cho sựphát triển đối với các vùng nghèo Thiếu giao thông thì không thể thông thương, càngkhông thể giao thương khi mà sản xuất hàng hóa ở các vùng nghèo còn rất manh mún,nhỏ lẻ Người dân ở vùng này khi sản xuất và chăn nuôi đã vô cùng khó khăn do điềukiện tự nhiên và điều kiện địa lý không thuận lợi nhưng lại càng khó khăn hơn khi sảnphẩm làm ra không được tiêu thụ dễ dàng Ở địa bàn cấp huyện, nhiều xã còn mang tính

tự cung, tự túc, sản phẩm làm ra khi tiêu thụ cũng khó khăn để tiếp cận thị trường, dẫnđến bị tư thương ép giá Không có giao thông thì không có nền nông nghiệp hàng hóa,nông dân vốn đã nghèo giao thông nông thôn cũng không thuận tiện khiến cuộc sống của

họ càng nghèo hơn

Ba là, chính sách hỗ trợ vay vốn và đưa tiến bộ khoa học công nghệ Muốn thực thi chính

sách này một cách có hiệu quả thì cần phải giải quyết hai vấn đề trên một cách đồng bộ,căn cơ Người nông dân mong muốn và có ước nguyện làm giàu trên mảnh đất của mình,tuy nhiên họ cần được hỗ trợ về chính sách vay vốn Với một lãi suất ưu đãi, hợp lý, vốnđược xem như một “cú hích” như sự “cứu cánh” cho những ước mơ đích thực của ngườinông dân muốn tự mình vươn lên thoát nghèo Người xưa có câu “có bột mới gột nênhồ”, vốn chính là “bột” cho người nông dân “gột” lên sản phẩm của mình Khi đã có vốnlại được cập nhật những tiến bộ khoa học công nghệ cùng với bàn tay, khối óc, sự khaokhát vươn lên thoát nghèo của người nông dân hy vọng rằng sẽ giải quyết được bài toángiảm nghèo một cách bền vững

Giảm nghèo là tiêu chí minh chứng cho một quốc gia phát triển Ngân khố quốc gia tuychưa dồi dào để có thể đồng thời giải quyết một lúc tất cả những vấn đề đặt ra của đấtnước, nhưng chính sách giảm nghèo những năm qua của Nhà nước đã và đang ngày càng

đi vào vùng nghèo một cách sâu sát, thiết thực hơn

Tuy nhiên, chính sách của nhà nước mới chỉ là yếu tố cần vô cùng quan trọng, mà điều

quan trọng hơn là sự chỉ đạo của các ngành, các cấp ở các địa phương cùng với sự tự lực,

tự cường vươn lên của người dân sẽ là yếu tố đủ để 62 huyện nghèo của nước ta thoát

nghèo một cách bền vững./

Nhà báo Nam Dũng/VOV Nhận xét:

Trang 12

- Để giảm nghèo một cách bền vững, giảm bớt khoảng cách giữa “người giàu” và

“người nghèo” có ba giải pháp cơ bản sau:

 Chính sách giáo dục đào tạo nâng cao dân trí “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”

 Tăng cường đầu tư xây dựng cho giao thông nông thôn

 Chính sách hỗ trợ vay vốn và giao thông nông thôn

CHƯƠNG 4: VỐN VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TẾ VIỆT NAM NĂM 2016

- Báo:

http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/3-do-ng-lu-c-cho-tang-truo-ng-kinh-te-vie-t-nam-2016-20160118090713658.chn

Cơ hội từ các FTA thế hệ mới; tiêu dùng hộ gia đình và đầu tư tư nhân phục hồi và kết quả bước đầu của công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế là ba động lực chính cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2016

 HSBC: Việt Nam sẽ còn tăng trưởng mạnh trong năm 2016

 TS Lê Xuân Nghĩa: Việt Nam sắp bước qua thời kỳ tăng trưởng ngắn hạn

 WB: GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,6% trong năm 2016

Công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) vừa công bố báo cáo chiến lược về triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2016

Theo đó, báo cáo nhận định, năm 2015 là một năm thành công đối với Việt Nam trên phương diện tăng trưởng GDP tiếp tục cải thiện, lạm phát xuống mức thấp kỷ lục, xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng tốt

Cụ thể, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2015 ước tăng 6,68% so với năm 2014 Trong đó, quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,87%; quý IV tăng 7,01%.Mức tăng này vượt kế hoạch đặt ra từ đầu năm và cũng là mức tăng cao nhất trong vòng

5 năm trở lại đây Cùng với xu hướng hồi phục nhẹ của hai năm 2013-2014, tín hiệu tăng tốc trong năm 2015 được xem là một trong những cơ sở cho thấy khả năng nền kinh tế đãquay lại chu kỳ tăng trưởng ổn định

Khu vực công nghiệp và xây dựng có sự bứt phá trong năm 2015 với mức tăng 9,64%, vượt trên khu vực dịch vụ (tăng 6,33%); đồng thời cao hơn nhiều mức tăng 6,42% của năm trước, đóng góp 3,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung của chỉ số GDP

Với những tín hiệu hồi phục ngày một rõ nét hơn của nền kinh tế, BVSC tin rằng Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng khả quan trong năm 2016 dựa trên 3 động lực chính.

Trang 13

Thứ nhất, động lực tăng trưởng kinh tế không chỉ trong năm 2016 mà còn trong cả giai

đoạn 3-5 năm tới là lộ trình hội nhập của các hiệp định thương mại tự do đã và sắp được

ký kết, điển hình là AEC, ASEAN+6, VEFTA, VKFTA và đặc biệt là TPP

Cơ hội sẽ mở ra cho tất cả các thành phần của nền kinh tế nói chung nhưng vai trò đầu tàu vẫn sẽ thuộc về các doanh nghiệp FDI, với làn sóng chuyển dịch đầu tư, cơ sở sản xuất để được hưởng lợi từ các hiệp định thương mại và những lợi thế về nguồn nhân cônggiá rẻ của Việt Nam

Thứ hai, tiêu dùng hộ gia đình và đầu tư tư nhân được dự báo sẽ phục hồi mạnh hơn Với

những tín hiệu khởi sắc của tăng trưởng GDP các năm qua, thu nhập hộ gia đình cũng tăng lên và hỗ trợ cho cầu tiêu dùng nội địa Cùng với đó, diễn biến bình ổn của nền kinh

tế vĩ mô với mặt bằng lãi suất ở mức hợp lý sẽ kích thích nhu cầu đầu tư tư nhân

Thứ ba, kết quả bước đầu của công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, với trọng tâm là cải cách

hệ thống tài chính ngân hàng, cải cách doanh nghiệp nhà nước và cải cái đầu tư công Bên cạnh đó là những đổi mới trong cơ chế điều hành lãi suất và tỷ giá mang tính thị trường cao hơn, giúp nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế

Do vậy, sau khi đã điều chỉnh rủi ro suy giảm của các yếu tố đột biến trong năm 2015, BVSC dự báo trong kịch bản trung bình, GDP của Việt Nam sẽ tăng 6,5-6,7% năm 2016

Nhận xét:

- Trong những năm qua, tăng trưởng GDP nước ta có sự tăng trưởng khả quan, đồng

thời cũng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài

- Việt Nam có những triển vọng trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng dựa trên 3

động lực chính

 Lộ trình hội nhập của các hiệp định thương mại tự do đã và sắp được ký kết, điển hình là AEC, ASEAN+6, VEFTA, VKFTA và đặc biệt là TPP đưa đến cho nước

ta cơ hội và thách thức

 Tiêu dùng hộ gia đình và đầu tư tư nhân được dự báo sẽ phục hồi mạnh hơn

 Kết quả bước đầu của công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế, với trọng tâm là cải cách

hệ thống tài chính ngân hàng, cải cách doanh nghiệp nhà nước và cải cái đầu tư công

Bài 2: http://vietbao.vn/Kinh-te/Su-danh-doi-giua-ngheo-doi-va-tang-truong-tai-VN/ 10849661/87/

Sự đánh đổi giữa nghèo đói và tăng trưởng tại VN

Tags: bất bình đẳng, sự đánh đổi, nền kinh tế, tốc độ tăng, tăng trưởng, thu nhập, phát

triển, chính sách, thế giới, người giàu, VN, năm, nước, hội, tỷ

Trang 14

Một lớp học phổ thông tại tỉnh Hà Tây - địa phương còn gặp nhiều khó khăn.

Trong giai đoạn 1993-2003, khi VN đạt được tốc độ tăng GDP hàng đầu thế giới thì sự phân hóa giàu nghèo lại gia tăng Vì thế, theo các chuyên gia, tới đây, Chính phủ có thể sẽ phải thực hiện rất nhiều biện pháp để dung hoà mục tiêu tăng trưởng nhanh và công bằng xã hội

Trong 18 năm tiến hành đổi mới (bắt đầu từ 1986), VN đã ngày càng được biết đến như một nền kinh tế năng động hàng đầu trong danh sách các nước đang phát triển trên thế giới Mặc dù vậy, tự do hoá, đặctrưng bằng quá trình mở cửa và hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, cũng đã làm nảy sinh sự gia tăng chênh lệch về thu nhập giữa các nhóm dân cư Số liệu điều tra của Tổng cục thống kê (GSO) cho thấy,

hệ số Gini (đặc trưng cho sự bất bình đẳng mức sống) của VN đã tăng

từ 0,35 năm 1993 lên 0,38 năm 1998 và 0,42 năm 2002

Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập là một vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa Làm thế nào để định lượng phân phối thu nhập tại VN? Phải chăng có sự đánh đổi giữacác mục tiêu tăng trưởng và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo? Chính phủ cần có chính sách gì để dung hoà hai mục tiêu này?

Trước hết, về khía cạnh tăng trưởng Trong giai đoạn 1993-2002, GDPcủa VN đã tăng gấp 2 lần, do tốc độ tăng trưởng đạt trung bình gần 7,5%/năm, chỉ xếp sau Trung Quốc tại châu Á (theo lý thuyết, để nhân đôi GDP trong 10 năm, một quốc gia cần đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 7%/năm) Bảng dưới đây viện dẫn so sánh của Quỹ tiền tệ Quốc

tế (IMF):

Trang 15

tế, giáo dục đã được thế giới biết đến như một điển hình tiêu biểu Chẳng hạn, tỷ lệ học sinh nhập học cấp 2 tăng từ 42% năm 1992/1993 lên 61% năm 1997/1998 và 70% năm 2002/2003.

Tuy nhiên, gia tăng bất bình đẳng thu nhập lại là một thách thức lớn Theo các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), Chương trình Pháttriển Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)…, không chỉ có sự chênh lệch ngày càng tăng về thu nhập giữa các nhóm dân cư mà hiện tượng này còn xảy ra giữa thành thị với nông thôn, giữa các tỉnh có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau Báo cáo thường

niên năm 2003 của GSO chỉ rõ, trung bình nhóm 20% số người thuộc nhóm thu nhập cao nhất hằng năm kiếm thêm được số tiền nhiều gấp 8,1 lần so với nhóm 20% số người thu nhập thấp nhất.

Theo một nghiên cứu mới đây của Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, bất bình đẳng có cả tác động trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế Nếu tăng 1 điểm phần trăm về bất bình đẳng thu nhập thì GDPtăng thêm 1,55 điểm phần trăm Kết quả này có thể được lý giải như sau: Trong quá trình đổi mới, bắt đầu theo đuổi “kinh tế thị trường”, nền kinh tế VN có hiệu suất sinh lời của đồng vốn đầu tư cao Những người giàu có nhiều điều kiện hơn người nghèo để sản xuất, kinh doanh và sự sinh lời nhanh đã tạo thêm thu nhập cho họ, góp phần làm tổng sản phẩm quốc nội tăng trưởng nhanh hơn Cùng lúc, tại các địa phương có tỷ lệ vốn đầu tư cao so với GDP và chất lượng giáo dục tốt hơn thì nhóm người giàu càng có cơ hội tích tụ tài sản, đẩy mạnh làm

ăn thu lời Sự tăng trưởng của các địa phương này vừa tạo thêm của cảicho người giàu (tăng chênh lệch giàu - nghèo), lại góp phần thúc đẩy tăng trưởng

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, đối với các quốc gia có mức thu nhập

Trang 16

đầu người thấp như VN, mỗi thay đổi nhỏ về chính sách chi tiêu công cộng thường đem lại nhiều lợi ích hơn cho người giàu Theo Báo cáo

Phát triển thế giới 2004 của WB, công bố cuối tháng 9/2003, nhóm 1/5

nghèo nhất của dân cư nhận được ít hơn 1/5 chi tiêu cho giáo dục hoặc

y tế, trong khi nhóm 1/5 giàu nhất lại nhận được nhiều hơn Lý do cơ bản là chi tiêu công cộng đã nghiêng lệch về những dịch vụ được người giàu tiêu dùng nhiều hơn, cho dù ban đầu nó có xu hướng vươn tới người nghèo Đối với VN, những hạn chế chung này vẫn còn tồn tại, cho dù ở mức độ kém nghiêm trọng Các chính sách hướng đến cải thiện cuộc sống cho người nghèo nhiều khi lại vô hình dung tạo thu nhập cho người giàu (mà điển hình là chương trình 135 của với hàng loạt các sai phạm trong quản lý ngân sách Theo báo cáo của Chủ tịch Hội đồng dân tộc Tráng A Pao trước Quốc hội khóa X, bình quân 4 năm qua, Nhà nước đã đầu tư cho 2.300 xã thuộc diện nghèo 2 tỷ đồng, nhưng đến nay chưa một xã nào được xét thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn Hàng trăm tỷ đồng ngân sách của chương trình 135

đã bị thất thoát qua các khâu, mà chủ yếu vào túi người giàu)

Theo kinh tế gia nổi tiếng Simon Kutznets, thường thì tại các nước bắt đầu thực hiện tự do hoá, mở cửa kinh tế (như tại phương Tây giữa thế

kỷ 20), bất bình đẳng thu nhập tăng nhanh, sau đó chậm dần rồi đến một thời điểm nào đó bắt đầu giảm xuống Nguyên nhân của hiện tượng này là do các yếu tố liên quan đến cầu Cụ thể, tại thời điểm bắt đầu thực hiện công nghiệp hoá, công nghệ và thể chế thay đổi sẽ kéo theo nhu cầu về vốn và lao động có kỹ năng, trong khi hạ thấp vai trò của lao động không có kỹ năng Sau đó, kỹ thuật mới liên tục xuất hiện(theo nguyên tắc đàn nhạn bay - “catching up”), còn thể chế thì thay đổi chậm hơn Nhờ đó, thu nhập của đại bộ phận lao động (chuyên môn kém) cũng được cải thiện bởi vai trò của yếu tố nhân lực trong cơ cấu sản phẩm lại được chú trọng

Qua việc chỉ số Gini tại VN tăng từ 0,33 (năm 1993) lên 0,38 (năm 1998) và 0,42 (năm 2003), có thể thấy bất bình đẳng thu nhập ngày một gia tăng, nhưng đã bắt đầu chậm lại Một sự nắm bắt thấu đáo các kinh nghiệm quốc tế, qua đó hoạch định các chính sách phù hợp sẽ giúp chặn được sự gia tăng bất bình đẳng thu nhập, song song với việc nền kinh tế tiếp tục trong top dẫn đầu khu vực về tăng trưởng GDP

Những phân tích trên đã khẳng định: bất bình đẳng thu nhập đã vừa trực tiếp vừa gián tiếp góp phần vào tăng trưởng GDP Tuy nhiên, rõ ràng điều này sẽ kéo theo các vấn đề xã hội ngày một trở nên nan giải hơn Dưới đây là một số kiến nghị chính sách có thể giúp dung hoà

Trang 17

được hai khía cạnh này:

- Thứ nhất, cần đảm bảo người nghèo được hưởng các lợi ích từ

các chính sách công như giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở… Điều này

không chỉ có nghĩa là Nhà nước tăng cường tiền bạc cho các địa

phương còn gặp khó khăn, mà còn phải tìm cách đảm bảo cho người dân tại đây được trực tiếp nhận những ưu đãi này Một kinh nghiệm quốc tế là cho người nghèo được tham gia vào quá trình đề xuất, hoạchđịnh chính sách, để rồi tự họ theo dõi, giám sát quá trình thực thi chínhsách Trong báo cáo “Nước cho tất cả” vừa được ADB công bố, các tácgiả đã chứng minh được rằng trong khi tại các thành phố lớn ở các nước đang phát triển, người dân kêu ca về giá nước cao thì tại các vùng nông thôn, lại không có đủ nước sạch để dùng và “người dân nghèo sẵn sàng trả giá nước sạch cao hơn tại thành phố nếu họ được cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên này đầy đủ và thường xuyên”

- Thứ hai, chính sách đầu tư phát triển cần làm sao để tăng cường

vốn cho các địa phương còn trong điều kiện khó khăn Một thực tế

rất rõ là vốn cao sẽ đi đôi với tăng trưởng cao khi mà nền kinh tế vẫn đang được đánh giá là năng động hàng đầu khu vực Vì vậy, việc cân đối các khoản giải ngân ODA cũng cần hướng đến mục tiêu lâu dài hơn là tạo ra sự phát triển bền vững và cân bằng trong nền kinh tế Việc hiện đại hoá các thành phố lớn bằng tiền ODA (chẳng hạn TP HCM có kế hoạch vay theo hình thức viện trợ này 2 tỷ USD trong 2 năm 2004-2005, bằng gần nửa nhu cầu của cả nước mà mục đích chính

là xây đường, cầu, công viên…) ở khía cạnh công bằng thì cần giảm xuống, thay vào đó là nghiên cứu xem các tỉnh vùng sâu, xa, tây nguyên… đang cần hỗ trợ những gì Hiện, mỗi năm VN nhận được cam kết cho vay ưu đãi khoảng 2,4-2,5 tỷ USD từ các nhà tài trợ quốc

tế, trong đó, năm 2004, lượng ODA sẽ đạt kỷ lục: 2,8 tỷ USD

- Thứ ba, tiếp tục đẩy nhanh phát triển kinh tế thị trường và hội

nhập kinh tế quốc tế Lợi thế của VN là giá nhân công rẻ, nguồn tài

nguyên thiên nhiên phong phú Mở cửa kinh tế sẽ giúp tất cả các lĩnh vực có cơ hội phát triển, tạo thu nhập cho người dân, đồng thời qua đó giải quyết được các mục tiêu Thiên niên kỷ Một điều tất yếu là quá trình này cần được tiến hành song song với việc quản lý của Nhà nước,trên cơ sở hoạch định ra các chiến lược lâu dài qua những cơ chế chínhsách phù hợp, bởi nếu không sẽ xảy ra tình trạng lợi bất cập hại của toàn cầu hoá là: VN trở thành nơi đón nhận những công nghệ lạc hậu trên thế giới, thu nhập đầu người được cải thiện chậm chạp

Trang 18

Nếu thực hiện đồng bộ các biện pháp cơ bản trên, về lâu về dài,

khoảng cách giàu - nghèo sẽ được thu hẹp lại mà nền kinh tế vẫn tiếp tục phát triển bền vững

- Bất bình đẳng thu nhập đã vừa trực tiếp vừa gián tiếp góp phần

vào tăng trưởng GDP Tuy nhiên, rõ ràng điều này sẽ kéo theo các vấn đề xã hội ngày một trở nên nan giải hơn

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/255110/20-nam-viet-nam-vay-20 năm, Việt Nam vay 80 tỷ USD vốn tài trợ ODA

07/08/2015 12:01 GMT+7

- 20 năm vay vốn ODA đã giúp Việt Nam đầu tư phát triển

Trang 19

cơ sở hạ tầng, ổn định phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, thách thức đặt ra là vấn đề tham nhũng và tiêu cực trong việc sử dụng nguồn vốn tài trợ này.

Giám đốc từ chối ODA: Trả giá để giành quyền tự quyết

Thêm hai dự án ODA dính nghi án tham nhũng

Choáng: Tư vấn dự án ODA ăn lương 500 triệu/tháng

Xem bài khác trên Vef.vn

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đánh giá như vậy tại Hội thảo “Hoạtđộng ODA tại Việt Nam - 20 năm nhìn lại”, do Ban Kinh tế Trungương chủ trì tổ chức ngày 7/8 tại Đà Nẵng

Phó Thủ tướng đánh giá cao kết quả đạt được từ nguồn vốn ODA màcác nhà tài trợ quốc tế trợ giúp cho Việt Nam 20 năm qua, với tổng sốtiền khoảng 80 tỷ USD

Đây là nguồn vốn bổ sung quan trọng phục vụ quá trình phát triển kinh

tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp, nông thôn, xâydựng hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực,

Trang 20

Việt Nam sẽ “tốt nghiệp ODA” vào năm 2018

Quan trọng hơn, theo Phó Thủ tướng, thông qua ODA đã khẳng định

sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với công cuộc đổi mới

và chính sách phát triển đúng đắn của Việt Nam, sự tin tưởng của cácnhà tài trợ vào hiệu quả tiếp nhận và sử dụng vốn ODA của Việt Nam.Tuy nhiên, nhìn nhận về một số hạn chế trong việc sử dụng nguồn vốnODA, ông Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Kinh tế TƯ, cho rằng, việchuy động và sử dụng các nguồn vốn ODA những năm qua bộc lộ một

số hạn chế, mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một định hướng tổngthể với tầm nhìn dài hạn làm cơ sở cho việc huy động và sử dụng mộtcách có hiệu quả hơn, nhất là sau khi Việt Nam “tốt nghiệp ODA” vàonăm 2018 và những năm tiếp theo

Trên thực tế, các nguồn vốn ODA ưu đãi thường kèm theo những điềukiện như chỉ định thầu, ưu tiên nhà thầu nước ngoài, yêu cầu mua máymóc, thiết bị, vật tư từ quốc gia tài trợ vốn ODA nên các dự án thiếutính cạnh tranh Vì vậy, chi phí đầu tư thực tế thường tăng hơn rấtnhiều so với dự toán ban đầu

Bên cạnh đó, nguồn vốn dễ tiếp cận và trách nhiệm của người đi vaykhông cao nên các dự án sử dụng vốn ODA có nguy cơ quản lý kémhiệu quả, nảy sinh nhiều bất cập

Gọi tên đích danh những yếu kém trong sử dụng vốn ODA, Phó Thủtướng Vũ Văn Ninh cũng nhấn mạnh, nguồn vốn ODA đang đối mặtvới thách thức tham nhũng và tiêu cực

Tuy nhiên, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách đểhạn chế và loại trừ những thách thức đặt ra Đồng thời, tăng cườngthanh tra, kiểm tra để đảm bảo nguồn vốn ODA sử dụng đúng mụcđích, đạt hiệu quả và chống thất thoát

Tính đến tháng 12/2012 đã có 20 Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợcho Việt Nam (Hội nghị CG thường niên) được tổ chức Từ 2013, cácquan hệ hợp tác của Việt Nam với các nhà tài trợ được nâng lên tầmđối tác thông qua Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam (chủ yếu từcác nước Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Hiệp hội Phát triển Quốc tếIDA, ADB, WB)

Nguồn vốn ODA tại Việt Nam được thực hiện dưới 3 hình thức, chủ

Trang 21

yếu gồm ODA viện trợ không hoàn lại (chiếm khoảng 10-12%), ODA

vay ưu đãi chiếm (80%) và ODA hỗn hợp (chiếm khoảng 8-10%)

Từ năm 1993 đến 2014, tổng giá trị vốn ODA cam kết cho Việt Nam

đã lên đến 89,5 tỷ USD; tổng vốn đã ký kết đạt 73,68 tỷ USD, bình

- Vốn ODA có vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển

kinh tế của nước ta Nhiều năm qua vốn ODA ở nước ta tăng

lên

- Tuy nhiên, việc sử dụng vốn ODA chưa được hiệu quả và còn

có nhiều bất cập

- Chính phủ đã từng bước hoàn thiện thể chế, chính sách để hạn

chế và loại trừ những thách thức đặt ra Đồng thời, tăng cường

thanh tra, kiểm tra để đảm bảo nguồn vốn ODA sử dụng đúng

mục đích, đạt hiệu quả và chống thất thoát

CHƯƠNG 5: LAO ĐỘNG

nghiep-khi-tham-gia-tpp-3308840.html

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/lao-dong-viet-nam-truoc-nguy-co-that-BÁO VNEXPRESS- 7H24’ thứ 2, ngày 9/11/2015

Lao động Việt Nam trước nguy cơ thất nghiệp khi tham gia TPP

Lực lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp, sức ép cạnh tranh có thể khiến nhiều doanh nghiệp phá sản là những rủi ro về việc làm tại Việt Nam khi tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.

Thuế nhập khẩu ôtô về 0% sau 10 năm gia nhập TPP / Rủi ro từ những khu công nghiệp dệt nhuộm đón đầu TPP

Lao động và việc làm là một trong những vấn đề nóng khi Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Hiệu trưởng

Trang 22

Đại học Kinh tế - Luật (Đại học quốc gia TP HCM), đây là thách thức lớn với kinh tế Việt Nam

Khi TPP có hiệu lực, cơ hội tiếp cận của hàng hóa có xuất xứ Việt Nam đứng trước cơ hội tiếp cận các thị trường Mỹ, Nhật Bản, Canada với thuế nhập khẩu bằng 0% Kết hợp với các cam kết rõ ràng hơn về cải thiện môi trường đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TPP sẽ góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, nhất là từ các tập đoàn lớn

Nếu biết tận dụng thời cơ này, Việt Nam sẽ hưởng lợi từ làn sóng đầu tư mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm, hình thành năng lực sản xuất mới để tận dụng các cơ hội xuất khẩu và tham gia các chuỗi giá trị trong khu vực và toàn cầu

TPP cũng tạo cơ hội cho các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, trong đó tập trungvào các ngành, lĩnh vực như: may mặc, giầy da, thủy hải sản, lắp ráp thiết bị điện tử Trong xu thế hội nhập và chiều hướng phát triển hiện nay, khi gia nhập TPP, với tầm nhìn lâu dài và tổng thể, tiền lương và thu nhập của người lao động có xu hướng được cảithiện tốt hơn

Tham gia Hiệp định TPP đòi hỏi lực lượng lao động phải có tay

nghề kỹ thuật cao

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi trên cũng có không ít thách thức Trong số các hiệp định thương mại tự do, TPP có chứa đựng nhiều nội dung không trực tiếp, nhưng có liên quan đến thương mại như quyền của người lao động, các tổ chức xã hội, tiêu chuẩn lao động, tự do thành lập và hoạt động của hiệp hội - công đoàn …

Trang 23

Đây là hiệp định đòi hỏi các quốc gia khi tham gia phải có những điều chỉnh chính sách phù hợp, đặc biệt là sửa đổi hệ thống pháp luật lao động - công đoàn trong nước Những yêu cầu này về cơ bản, có điểm hiện chưa hoàn toàn phù hợp với thực trạng ở Việt Nam.

Thứ nhất là vấn đề việc làm và thu nhập của người lao động Bên cạnh những tác động tích cực thì vấn đề tự do hóa thương mại của TPP cũng sẽ làm cho một bộ phận lao động mất việc do các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh, dẫn đến phải thu hẹp sản xuất thậm chí giải thể, phá sản Vì vậy, trước mắt khi tham gia TPP, lao động Việt Nam có thể phải chịu những bất lợi sau đây

Đầu tiên là cùng với mở cửa thị trường, hàng hóa của các nước đặc biệt là hàng tiêu dùng

sẽ nhập khẩu vào Việt Nam với số lượng ngày càng lớn và đa dạng Hàng nhập khẩu với nhiều ưu thế về chất lượng, giá cả và tâm lý thích dùng hàng ngoại của người Việt sẽ rất

dễ chiếm lĩnh thị trường Tình trạng này khiến doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn, phải thực hiện tái cơ cấu, sắp xếp lại, thu hẹp sản xuất, phá sản dẫn đến lao động trong các doanh nghiệp đó bị mất việc làm

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tham gia TPP sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ di chuyển lao động từ nông thôn tới thành phố và các khu công nghiệp Sức ép về việc làm ở các khu đô thị sẽ tăng lên Vấn đề mất cân bằng giữa cung và cầu lao động có nguy cơ trở nên trầm trọng hơn dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp có nguy cơ tăng cao

Ngoài ra, nguồn nhân lực của Việt Nam trẻ và dồi dào nhưng trình độ chuyên môn

kỹ thuật thấp Năm 2013, lực lượng lao động qua đào tạo chiếm gần 18% Năm 2015, tỷ

lệ này là 19,5% Điều này có thể gây thất nghiệp cao khi các ngành nghề phát triển mạnh nhờ TPP và đồi hỏi yêu cầu cao về chất lượng lao động Bên cạnh đó, lao động từ các nước láng giềng có thể là sự cạnh tranh gay gắt cho Việt Nam khi mà Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chính thức hình thành

Thứ hai, về thực thi các tiêu chuẩn quốc tế về lao động Khi tham gia TPP, ngoài việc phải áp dụng các tiêu chuẩn về lao động của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các quốc gia thuộc TPP sẽ phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn cao hơn nữa Trong đó, đáng lưu ý là

“đảm bảo các điều kiện lao động chấp nhận được” gồm tiền công tối thiểu, thời giờ làm việc, an toàn vệ sinh lao động, lao động trẻ em

Về cơ bản, pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy định cụ thể về tiền công tối thiểu, thời gian làm việc và an toàn vệ sinh lao động, lao động trẻ em Nhưng hiệu quả thực tế của những chuẩn mực này vẫn còn nhiều điểm chưa đáp ứng được yêu cầu theo TPP Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ không được hưởng mức thuế nhập khẩu 0% từ các nước thành viên nếu không cải thiện các tiêu chuẩn này

Thu nhập của người lao động Việt Nam nhìn chung còn thấp; lương tối thiểu mới chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu tối thiểu và khoảng 80% lao động Việt Nam không có tích lũy hoặc chỉ có mức tích lũy dưới 2 triệu đồng một người mỗi tháng

Trang 24

Tính chung 9 tháng năm 2015, cả nước có gần 228.000 lượt hộ thiếu đói, tương ứng với gần 939.000 lượt nhân khẩu thiếu đói Mức lương tối thiểu tại Việt Nam hiện nay theo nhiều đánh giá vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu và tích lũy tiết kiệm tối thiểu.

Thời gian làm việc tại một số doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề tăng ca quá mức tại các doanh nghiệp dệt may và trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn thường xuyên diễn ra Trong khi dệt may và nông nghiệp là những lĩnh vực dự báo sẽ được hưởng lợi rất lớn khi Việt Nam tham gia vào TPP

Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp nước khi gia công hay hợp tác sản xuất với nước ngoài

đã đáp ứng tiêu chuẩn lao động cao (như tiêu chuẩn sạch, xanh, trách nhiệm xã hội) Tuy nhiên, việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn chưa được đảm bảo Các trang thiết bị, công cụ bảo hộ an toàn cho người lao động còn thiếu thốn, chế tài xử phạt của nhà nước đối với các doanh nghiệp vi phạm an toàn,

vệ sinh lao động chưa có tính răn đe cao

Để có được thành công từ TPP, Việt Nam sẽ phải hết sức nỗ lực, biến thách thức thành

cơ hội nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động Theo đó, nước ta cần có những điều chỉnh cần thiết và chủ động hơn trong việc đẩy mạnh chất lượng nguồn lao động để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất khi TPP có tác động thúc đẩy xuất khẩu

PGS TS Nguyễn Tiến Dũng

 NHỮNG ĐIỀU RÚT RA TỪ BÀI BÁO:

- Cũng như những ngành kinh tế, lao động cũng có những cơ hội và thách thức

riêng khi Việt Nam gia nhập vào TPP

- Nhìn chung lao động Việt Nam cần phát huy được những lợi thế khi thị trường

được mở rộng hơn, việc làm trở nên phổ biến hơn cho mọi người trên thế giới

- Tuy nhiên trong quá trình phát triển cần lưu ý những rủi ro do sự gia nhập TT thế

Trang 25

Dù kinh tế có ấm lên trong quý I/2015 và dự báo cả năm nay sẽ tăng trưởng lạc quan nhưng tình trạng thất nghiệp và giải quyết việc làm chưa đồng hành tương ứng, thậm chí sắp tới còn bi quan hơn nhiều

Tình trạng thiếu việc làm nói chung và cử nhân thất nghiệp nhiều nói riêng đã từng khiến

dư luận “choáng” Và hôm 24-4, một lần nữa, dư luận lại giật mình khi nghe Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận thông báo tại phiên giải trình của Chính phủ với

Ủy ban Văn hóa - Giáo dục - Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội: “Mặc dùtrong giai đoạn 2010-2014, số lao động có trình độ ĐH, CĐ có việc làm tăng nhưngngười thất nghiệp cũng tăng cao hơn so với số tốt nghiệp và số có việc làm Trong khingười có việc làm chỉ tăng 38% thì người thất nghiệp tăng gấp đôi (ở nhóm lao động này

- NV)”

Việc làm tăng không kịp số người cần việc

Đó quả là con số nhức nhối, phản ánh đúng thực tế hiện nay Theo số liệu của PGS-TSTrần Đình Thiên và các cộng sự (Viện Kinh tế Việt Nam), trong năm 2014, nền kinh tế

có những dấu hiệu tích cực hơn so với 2 năm 2012 và 2013 nên đã giải quyết việc làmcho khoảng 1,6 triệu lao động, tăng 3,6% so với thực hiện năm 2013, trong đó tạo việclàm trong nước khoảng 1,494 triệu lao động, đạt 98,8% kế hoạch, tăng 2,7% so với năm

2013 Tuy nhiên, đó chỉ là dấu hiệu tích cực về mặt số lượng, chất lượng việc làm mớivẫn thấp và thiếu bền vững

Trang 26

Tư vấn tuyển dụng cho người thất nghiệp tại Trung tâm Giới thiệu việc làm TP HCM

Ảnh: TẤN THẠNH

Cụ thể hơn về tình trạng này, TS Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xãhội của Quốc hội, cho biết: Đến thời điểm 31-12-2014, dân số cả nước là 90,7 triệungười, trong đó có 54,4 triệu người thuộc lực lượng lao động Cả nước đã có khoảng 1,2triệu lao động thiếu việc làm (tỉ lệ 2,45%, trong đó khu vực thành thị là 1,18% và nôngthôn là 3,01%) và gần 1 triệu lao động thất nghiệp chiếm 2,08%; trong số này khu vựcthành thị là 3,43% và nông thôn là 1,47%

Như vậy, số việc làm tạo ra dù tăng nhưng không theo kịp số người có nhu cầu tìm việc,

vì vậy tỉ lệ thất nghiệp vẫn nóng bỏng

Vì đâu nên nỗi?

TS Bùi Sỹ Lợi đúc kết một số nguyên nhân cơ bản khiến thất nghiệp ở Việt Nam trởthành vấn đề thách thức

Một là, lực lượng lao động phân bố không đồng đều giữa các vùng địa lý kinh tế, chủ yếutập trung ở đồng bằng sông Hồng (không bao gồm Hà Nội): 15,2%, đồng bằng sông CửuLong: 19,1%, trong khi các vùng đất rộng có tỉ trọng lao động thấp như trung du và miềnnúi phía Bắc chỉ chiếm 13,7%, Tây Nguyên chiếm 6,3% lực lượng lao động Vì vậy,chưa tạo điều kiện phát huy được lợi thế về đất đai, tạo việc làm cho người lao động và

Trang 27

góp phần phân bố lại lực lượng lao động, đây chính là nguyên nhân tạo ra sự mất cân đốicục bộ về lao động và là tác nhân của thất nghiệp, thiếu việc làm.

Số người có việc làm năm 2014 dù tăng so với năm 2013 nhưng chưa thể giải quyết được nạn thất nghiệp (Nguồn: Tổng cục Thống kê; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Hai là, lực lượng lao động có chất lượng thấp Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới,chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếphạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát tại châu Á Nguồn nhân lực nước ta yếu

về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp Trong tổng

số hơn 53,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế, chỉ cókhoảng 49% qua đào tạo, trong đó qua đào tạo nghề từ 3 tháng trở lên chỉ chiếm khoảng19% Khoảng cách khác biệt về tỉ lệ này giữa khu vực thành thị và nông thôn là khá cao(20,4% và 8,6%) Ngoài ra, thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, chưađáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theotiêu chuẩn quốc tế Công tác chăm sóc sức khỏe và an toàn nghề nghiệp chưa tốt; bêncạnh đó, kỷ luật lao động còn kém so với nhiều quốc gia trong khu vực Một bộ phận lớnngười lao động hiện nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp, tùy tiện vềgiờ giấc và hành vi Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làmviệc theo nhóm, thiếu khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến vàchia sẻ kinh nghiệm làm việc

Trang 28

Ba là, năng suất, hiệu quả lao động trong các ngành kinh tế thấp và có sự khác biệt đáng

kể giữa khu vực nông nghiệp với khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ

Bốn là, tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra Thịtrường lao động nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọngđiểm, nơi có nhiều KCX-KCN, như: Long An, TP HCM, Bình Dương, Đồng Nai…Ngược lại một số tỉnh như Bạc Liêu, Ninh Thuận, Thanh Hóa, Nghệ An lại có tình trạng

dư cung, đang phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao

Năm là, mặc dù đã tiến hành 2 đợt cải cách tiền lương (năm 1993 và 2004), bước đầutách bạch tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hành chính sự nghiệp, tạođiều kiện đổi mới chính sách tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh theo định hướng thịtrường nhưng mức tiền lương tối thiểu thấp chưa được tính đúng, tính đủ cho mức sốngtối thiểu và chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu cơ bản của người lao động, thấp hơn mứclương tối thiểu thực tế trên thị trường khoảng 20% và hiện nay mới đạt khoảng 45% mứctiền lương tối thiểu trung bình của khu vực ASEAN

Sáu là, công tác quản lý nhà nước về lao động - việc làm còn nhiều hạn chế, các chínhsách, pháp luật đang từng bước hoàn thiện, hệ thống thông tin thị trường lao động còn sơkhai thiếu đồng bộ Chính sách bảo hiểm thất nghiệp hết sức tiến bộ nhưng chưa đạt đượcmục tiêu như mong muốn nhằm không chỉ hỗ trợ cuộc sống người lao động khi mất việclàm mà còn phải đào tạo nghề, tư vấn, hỗ trợ để giúp quay lại thị trường lao động

Chưa thể lạc quan

Cũng theo ông Bùi Sỹ Lợi, kết thúc năm 2014, tình hình lao động - việc làm và thấtnghiệp của thị trường lao động đã có xu hướng cải thiện hơn, cụ thể: Cả năm có gần68.000 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động, trong khi đã có thêm 75.000 doanhnghiệp thành lập mới, giảm 2,7% so với năm 2013, tăng 10,3% so với số giảm Ngay từquý I/2015, kinh tế đã có tín hiệu khởi sắc với tăng trưởng GDP đạt 6,03%, điều này sẽtác động nhanh đến doanh nghiệp trong việc thu hút lao động, bởi Việt Nam đang ngàycàng thu hút các doanh nghiệp mới, nhất là trong lĩnh vực sản xuất, điều này làm tăngtính cạnh tranh trong thu hút nhân tài, từ một thị trường lao động có nguồn cung giới hạn.Không lạc quan như vậy, PGS-TS Trần Đình Thiên lo ngại: Trong năm 2014, số lượnglao động bị mất việc làm do doanh nghiệp bị giải thể vẫn rất lớn Số doanh nghiệp mớithành lập lớn hơn số doanh nghiệp giải thể nhưng số lượng việc làm mới tạo ra thấp hơn

số việc làm mất đi Các doanh nghiệp mới thành lập thường tạo ra chỗ làm mới bấp bênhhơn những doanh nghiệp cũ có thời gian dài hoạt động ổn định

Trang 29

PGS-TS Nguyễn Thị Lan Hương (Viện Khoa học Lao động và Xã hội), dẫn dự báo của

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Việt Nam sẽ có khả năng tạo thêm được 6 triệu việclàm (1/10 số việc làm tăng thêm đến năm 2025 của toàn bộ khối ASEAN), do tác độngcủa xây dựng cộng đồng ASEAN Tuy nhiên, 60% trong số việc làm này là việc làm yếuthế!

Nỗi buồn năng suất lao động

Năng suất lao động của Việt Nam liên tục tăng trong thời gian qua, bình quân đạt3,7%/năm trong giai đoạn 2005-2014, góp phần thu hẹp dần khoảng cách so với năngsuất lao động của các nước trong khu vực Tuy nhiên, hiện nay năng suất lao động ViệtNam chỉ bằng 1/18 năng suất lao động của Singapore; bằng 1/6 của Malaysia; bằng 1/3của Thái Lan và Trung Quốc

Một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới năng suất lao động của nước ta đạt thấp sovới các nước trong khu vực, theo TS Bùi Sỹ Lợi (tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân, vừa tổchức tuần này ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An): (1) Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyểndịch tích cực nhưng tỉ trọng lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn ởmức cao (2) Chất lượng nguồn lao động thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý, hiệu quả sửdụng qua đào tạo chưa cao (3) Máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu với

tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ thấp và trung bình trong toàn ngành chế biến, chế tạo (4)Trình độ tổ chức quản lý, quản trị doanh nghiệp còn yếu cùng với hiệu quả sử dụngnguồn lực thấp

Ngoài ra, tăng trưởng năng suất lao động của Việt Nam trong các ngành sản xuất và dịch

vụ vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực Điều này cho thấythị trường lao động Việt Nam thiếu ổn định, việc làm chưa đầy đủ và bền vững, với năngsuất lao động thấp

Nhận xét:

- Sự gia tăng dân số đã để lại hậu quả cho việc giải quyết việc làm gây nên tình

trạng thất nghiệp lớn ở nước ta

- Nguyên nhân thất nghiệp theo TS Bùi Sỹ Lợi gồm:

 Lực lượng lao động phân bố không đồng đều giữa các vùng địa lý kinh tế

 Chất lượng lao động thấp

 Năng suất, hiệu quả lao động trong các ngành kinh tế thấp và có sự khác biệt đáng

kể giữa khu vực nông nghiệp với khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ

 Tình trạng mất cân đối cung - cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra

Trang 30

 Mức lương thấp dẫn đến chưa đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của người lao động.

 Hạn chế về các chính sách và hệ thống quản lý Hệ thống trợ cấp thất nghiệp

- Nhìn chung vẫn còn nhiều bất cập trong việc giải quyết việc làm cần được giải quyết, trong quá trình phát triển cần chú trọng hỗ trợ cho người lao động có điều kiện tốt nhất để làm việc

Bài 3: Thị trường lao động Việt Nam: Thừa lượng, thiếu

chất

Ngành Dệt may đang cần nhiều nhân công lành nghề Theo các chuyên gia về nhân lực, nguồn nhân lực ở Việt Nam rất dồi dào nhưng lại thiếu trầm trọng về chất lượng Lao động Việt Nam được đánh giá là khéo léo, thông minh, sáng tạo, tiếp thu nhanh những kỹthuật và công nghệ hiện đại được chuyển giao từ bên ngoài nhưng thiếu tính chuyên nghiệp Dù chưa cung cấp hoàn toàn đầy đủ thông tin về thị trường lao động tại Việt Nam, song những phân tích về thị trường lao động vừa được mạng tuyển dụng

VietnamWorks công bố đã cho thấy một phần tương đối đầy đủ của thị trường lao động trong nước Bản thông số đã cung cấp những thông tin có giá trị về thị trường lao động trong nước giúp doanh nghiệp và người lao động có những kế hoạch tốt hơn về việc làm

So với quý IV-2004, số lượng vị trí đăng tuyển trong ngành tiếp thị tăng nhiều nhất, tuy nhiên tỷ lệ tăng cao nhất lại thuộc về y tế với mức tăng 400% Nguồn cung ứng nhân lực cũng tăng đạt 49% trong quý I Các ngành thu hút được nhiều người tìm việc là: Công nghệ viễn thông, hành chính, thư ký, quảng cáo, khuyến mãi, đối ngoại và bán hàng Theo đó, trong quý I/2005, nhu cầu nhân lực tại Việt Nam tăng 15%, những ngành tuyển mới nhiều nhất là công nghệ thông tin, bán hàng, tiếp thị, kỹ thuật và hành chính Bản thông số cũng cho thấy chỉ số cầu trong những tháng đầu năm có bước tăng trưởng đáng

kể, số lượng việc làm trong hầu hết các lĩnh vực đều tăng Trong đó, 6 lĩnh vực có cầu nhân lực cao nhất là bán hàng, công nghệ viễn thông, tiếp thị, hành chính - thư ký, kế toán và kỹ thuật Bên cạnh đó, báo cáo cũng ghi nhận sự sụt giảm của các lĩnh vực tiện ích công cộng, bất động sản hay vận tải giao nhận Nguyên nhân chính của sự suy giảm các lĩnh vực này chủ yếu do nhu cầu công việc ít, các ứng viên thường lựa chọn các công việc có nhiều chỉ tiêu hơn Về phạm vi, TP.HCM và Hà Nội là những nơi có nhu cầu tuyển dụng lớn nhất, tiếp đó là Biên Hòa - Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu, An Giang Song song với chỉ số cầu, báo cáo cũng cho thấy lực lượng lao động đang gia tăng trong các lĩnh vực công nghệ viễn thông, hành chính, bán hàng, kế toán, quảng cáo và kỹ thuật Sau Tết Âm lịch, số lao động đăng ký tuyển dụng trong các ngành này tăng đột biến cho thấy nguồn lao động trên thị trường hiện nay rất dồi dào, thừa khả năng đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp Vẫn còn thiếu chất Trên thị trường lao động hiện tại, nguồn nhânlực cao cấp và công nhân tay nghề cao vẫn đang là mối quan tâm của nhà tuyển dụng Thịtrường đang rất cần các chuyên gia về quản trị kinh doanh, lập trình viên, kỹ thuật viên,

Trang 31

các nhà quản lý trung gian hiểu biết về tài chính và tiếp thị với yêu cầu cơ bản về tiếng Anh, những công nhân có tay nghề cao, ham học hỏi Tuy nhiên, nguồn cung ứng lao động có chất lượng trên thị trường còn hạn chế Bên cạnh đó, kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác để hoàn thành công việc của lao động Việt Nam quá yếu kém Nhiều nhà quản lý nước ngoài đã nhận xét rằng: "Lao động Việt Nam làm việc rất tốt khi tự mình giải quyết công việc, nhưng nếu đặt họ trong một nhóm thì hiệu quả kém đi nhiều" Chính điều này đã khiến cho nhiều doanh nghiệp không thể thành đạt được, cho dù họ đã tập hợp được đội ngũ nhân công có đẳng cấp cao Theo đánh giá, các chương trình đào tạo của Việt Nam hiện nay thường nhấn mạnh đào tạo kiến thức lý thuyết chứ chưa quan tâm đến các kỹ năng thực hành Hầu hết các sinh viên ra trường không thể bắt tay ngay vào công việc mà luôn phải qua một thời gian đào tạo lại Để tạo nên một bước tiến về đào tạo, cơ chế tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp, đặc biệt

là trong các doanh nghiệp Nhà nước cần có sự thay đổi theo hướng ưu tiên lao động có chất lượng, có tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp Theo Công an Nhân dân -

Xem thêm: Thị trường lao động Việt Nam: Thừa lượng, thiếu chất - Lao dong viec lam, http://vietbao.vn/Viec-lam/Thi-truong-lao-dong-Viet-Nam-Thua-luong-thieu-chat/

40082084/271/

Tin nhanh Việt Nam ra thế giới vietbao.vn

Nhận xét:

- Từ bao đời nay, lao động Việt Nam luôn được các nước trên thị trường thế giới

đánh giá là thị trường tiềm năng Có rất nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vàonước ta để tận dụng nguồn lao động rẻ và nhiều

- Tuy nhiên lao động của ta vẫn còn rất nhiều hạn chế Chương trình đào tạo cho lao

động chất lượng cao gặp rất nhiều hạn chế, chú trọng vào lý thuyết nhiều hơn là thực hành

- Là một sinh viên, bản thân tôi cũng có nhiều suy nghĩ, chưa có nhiều ứng dụng

kiến thức vào thực tế, chủ yếu là học chay Không biết tương lai sẽ có kĩ năng làm việc hay không?? 

CHƯƠNG 6: MÔI TRƯỜNG

Bài 1:

Tăng trưởng kinh tế và môi trường dưới góc nhìn kinh

tế sinh thái

Thứ ba - 28/07/2015 15:21

Trang 32

Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và của cả loài người trong quá trình sống.Tuy nhiên, nếu nghiên cứu những hoạt động diễn ra trong nền kinh tế hiện nay mà khôngxem xét đến các tác động tới môi trường thì quả là một sai lầm nghiêm trọng Các mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và môi trường tự nhiên là rất phức tạp và đa dạng Sựphát triển của lý thuyết về đường cong Kuznets cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và môitrường theo hính chữ U ngược cho thấy tăng trưởng kinh tế, ban đầu, sẽ làm gia tăng cácvấn đề về môi trường, tuy nhiên khi nền kinh tế đã đạt đến một mức tăng trưởng nào đó

đủ lớn thì con người dường như sẽ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề môi trường và do

đó, chất lượng môi trường dần được cải thiện một cách đáng kể và ngày càng tốt hơn Sựthật là tăng trưởng kinh tế không phải luôn luôn làm tăng suy thoái môi trường, cũngkhông phải cuối cùng tăng trưởng luôn luôn tháo gỡ và giảm suy thoái môi trường.Những mâu thuẫn và đánh đổi giữa bảo vệ môi trường và phát triển đã dẫn đến sự xuấthiện các quan niệm, các lý thuyết khác nhau về hướng đi cho sự phát triển của mỗi quốcgia và của toàn nhân loại

Các tác động của một nền kinh tế tới môi trường sẽ phụ thuộc vào mức dân số, lượngtiêu thụ của mỗi người, và các công nghệ sản xuất hoặc công nghệ tiêu thụ hàng hóa -dịch vụ Các đại lượng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, và trên cơ sở mối quan hệnày, chúng ta có thể xây dựng được các kịch bản về những biến đổi của tác động từ nềnkinh tế tới môi trường trong tương lai gần Tuy nhiên, mối quan hệ này cho phép địnhlượng cụ thể một đại lượng khi biết thông tin về các đại lượng khác, nhưng lại khôngcung cấp cái nhìn sâu hơn cho việc ra quyết định Do đó, trên cơ sở hướng tới việc hỗ trợ

ra quyết định phát triển trong tương lai, cần nghiên cứu khả năng thay thế nguyên liệutrong sản xuất và thay đổi công nghệ cho triển vọng tăng trưởng khi có những hạn chế tàinguyên thiên nhiên

Trang 33

Ngày nay, người ta chấp nhận rằng tăng trưởng trong nền kinh tế thế giới là cách khảthi duy nhất để đối phó với vấn đề đói nghèo, đồng thời thừa nhận việc tiếp tục đi theocác mô hình tăng trưởng kinh tế trước đây - quá chú trọng đến phát triển kinh tế đơnthuần sẽ làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường trầm trọng và quay lại ảnh hưởng trực tiếpđến triển vọng kinh tế trong tương lai Một mô hình tăng trưởng mới luôn coi trọng sựphụ thuộc và tương tác lẫn nhau của nền kinh tế với môi trường mà không làm giảm triểnvọng kinh tế trong tương lai gọi là phát triển bền vững Phát triển bền vững phụ thuộcvào tình hình phát triển quy mô dân số của con người, các hình thức tiêu dùng, và cáccông nghệ được sử dụng trong sản xuất Do đó, để thực hiện tốt mô hình phát triển này,chúng ta cần giảm các tác động đáng kể của hoạt động kinh tế tới môi trường bằng cáchđổi mới công nghệ, giảm mức sử dụng nguyên liệu và năng lượng, và từ đó giảm lượngphát thải trên mỗi đơn vị sản lượng Những nguồn năng lượng tái tạo ít gây ô nhiễm môitrường được khuyến khích sử dụng phục vụ quá trình sản xuất như: năng lượng gió, điện,mặt trời, năng lượng sóng, Đồng thời, quá trình tái chế và xử lý chất thải cũng cần đượcquan tâm hơn.

Sự ra đời của mô hình phát triển bền vững vừa là cơ hội vừa là thách thức cho sự quátrình định hướng phát triển của Việt Nam trong tương lai Muốn thực hiện tốt mô hìnhnày, Việt Nam cần điều chỉnh và hoàn thiện các chính sách về phát triển kinh tế và bảo vệmôi trường Muốn vậy, hệ thống pháp luật cần phải được bổ sung, chặt chẽ và có tính răn

đe đối với những hoạt động phát triển gây tổn hại tới môi trường Áp dụng hiệu quả cáccông cụ kinh tế theo quy luật thị trường vào việc điều chỉnh hành vi sản xuất của các

Trang 34

doanh nghiệp và hành vi tiêu dùng của các cá nhân Đồng thời, cần phải sớm bắt tayvào xây dựng nền kinh tế tri thức, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế,nhất là khi Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu (GPS) và chuỗi giá trịtoàn cầu (GVC) Có thể thấy, tập trung vào phát triển bền vững chính là giải pháp tối ưucho tương lai và để đạt được sự phát triển bền vững đòi hỏi trước tiên phải thay đổi nhậnthức của con người về môi trường trên cơ sở tiếp cận phát triển nền kinh tế dưới góc nhìnkinh tế sinh thái.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Hồng Tươi, K57 Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế,

ĐHQGHN

Lời bình:

- Không phải hoàn toàn định lý Kuznet là đúng, nó có thể xảy ra một vài trường hợp

khác nữa

- Các tác động của một nền kinh tế tới môi trường sẽ phụ thuộc vào mức dân số,

lượng tiêu thụ của mỗi người, và các công nghệ sản xuất hoặc công nghệ tiêu thụ hàng hóa - dịch vụ Các đại lượng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau Phát triển kinh tế cần đi đôi với bào vệ môi trường tài nguyên

- Thi hành các chính sách bảo vệ môi trường và các bộ luật sao cho hợp lý Tăng

khả năng cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước trên thế giới

Bài 2: báo Vietnamnet:

http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/moi-truong/phat-trien-nong-thon-di-doi-voi-bao-ve-moi-truong-2394620.html

Phát triển nông thôn đi đôi với bảo vệ môi trường

Quê tôi xưa kia là vùng quê nghèo với nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, phương thức canh tác lạc hậu, tự cung tự cấp nên thu nhập của người dân thường thấp lại bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên.

> Nhận bài dự thi "Bảo vệ môi trường"

Đời sống người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn Những năm gần đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước với nhiều chính sách như tạo điều kiện cho người dân vay vốn đầu tư trang thiết bị, máy móc vào sản xuất nông nghiệp, khai hoang đất trống, sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật, đổi mới giống cây trồng, vật nuôi , đời sống nông thôn khá hơn Đặc biệt nhiều loại phân bón hóa học được sử dụng làm cho đại bộ phân nông dân không còn theo lối canh tác truyền thống nữa

Những lợi ích to lớn trong đổi mới canh tác mang lại như sản lượng sản xuất nông nghiệptăng nhanh, diện tích đất canh tác được mở rộng Đặc biệt trong chăn nuôi đã hình thành nên những gia trại, trang trại quy mô lớn với đàn vật nuôi lên tới hàng trăm con khác nhau Mô hình V - A - C đã được áp dụng rộng rãi, đem lại lợi nhuận không nhỏ cho

Trang 35

người dân, thu nhập bình quân tăng lên đáng kể khoảng 50 - 60 triệu đồng một năm Đặc biệt, một số hộ thu nhập bình quân lên tới hàng trăm triệu đồng một năm.

Tôi là người sống xa quê nhưng mỗi lần được về thăm lại thấy quê mình ngày càng có nhiều sự đổi mới Lòng tôi cũng thấy vui và tự hào Chất lượng đời sống người dân ngày một nâng cao Họ đã xây được những ngôi nhà kiên cố, sắm được các vật dụng đắt tiền,

có điều kiện cho con em mình học hành cao hơn

Bên cạnh những lợi ích mang lại, vấn nạn ô nhiễm môi trường ở nông thôn cũng ngày một gia tăng do hậu quả của quá trình cơ giới hóa nông nghiệp nông thôn nhanh chóng gây ra Đây là một vấn đề nan giải, bức bách cần phải giải quyết cấp thiết hiện nay Tôi nhớ lại khi còn nhỏ mỗi buổi chiều đi chăn trâu cùng đám bạn rồi đều rủ nhau đi tắm sông hoặc đi bắt tôm, cá về cải thiện cho bữa ăn hàng ngày

Dòng sông đã gắn liền với tuổi thơ tôi với nhiều gian khó nhưng cũng có rất nhiều kỷ niệm đẹp Tuy nhiên, bây giờ bọn trẻ lứa tuổi tôi hồi đó không một ai còn dám lội xuống dòng sông đó nữa Sinh vật không thể sống nổi do nguồn nước đã bị ô nhiễm nặng vì người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi, rác thải sinh hoạt không được xử lý Bên cạnh đó, chất thải của vật nuôi bị người dân xả trực tiếp ra môi trường thông qua kênh rạch, cống rãnh, sông ngòi, ao hồ Điều này gây tác động không nhỏ tới môi trường nước, không khí, đất ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của người dân xung quanh

Hầm biogas nên được nhân rộng ở khắp các tỉnh thành

Từ năm 2007 trở lại đây, Nhà nước và các tổ chức của Hà Lan đã hỗ trợ một phần kinh phí cho người dân làm hầm khí sinh học (Biogas) từ phân thải của gia súc Chương trình đến nay đã triển khai được trên 52 tỉnh thành trong cả nước "Biogas" còn gọi là khí sinh học là một hỗn hợp khí được sản sinh từ sự phân hủy những hợp chất hữu cơ dưới tác

Trang 36

dụng của vi khuẩn trong môi trường yếm khí Lúc đầu chuyển giao công nghệ còn gặp nhiều khó khăn, do chưa được áp dụng rộng nên người dân còn khá dè dặt để đầu tư.Biogas đã giải quyết tốt về vấn đề xử lý phân thải của vật nuôi Môi trường không khí, nguồn nước mặt không bị ô nhiễm, vệ sinh chăn nuôi, chuồng trại sạch sẽ có tác dụng thúc đẩy tốt tốc độ tăng trọng của vật nuôi Khí biogas cung cấp nguồn nhiên liệu khí đốt thỏa mãn nhu cầu đun nấu và thắp sáng Nếu trước đây một hộ phải chi trả vài trăm nghìntiền điện và tiền chất đốt một tháng nhưng khi dùng khí sinh học thì đã giảm chi phí đáng

kể, nâng cao hiệu quả kinh tế và điều kiện sống cho nông dân

Sử dụng khí biogas, nông dân không phải sử dụng đến nguồn nguyên liệu củi làm chất đốt cũng góp phần tốt trong việc bảo vệ rừng và giảm chi phí mua củi, than, ga giảm sự ô nhiễm môi trường do sử dụng củi, than làm chất đốt Lượng phân sau khi đã qua phân hủy ở hầm biogas thì sử dụng bón cho các loại cây trồng rất tốt, ít bị các mầm bệnh sống

ở phân gây hại cho cây trồng Do đó chính sách đã tạo được niềm tin cho người dân quê tôi nói riêng cũng như trong cả nước

Hiện nay, chi phí xây dựng hầm biogas không lớn lắm, khoảng 8 - 10 triệu đồng một hầm

có dung tích từ 12-15 m3 Với mức kinh phí này thì không quá cao so với lợi ích lâu dài

mà hầm biogas mang lại Hiện nay với những phát minh mới như làm hầm biogas từ nguyên liệu composite thay thế cho xây hầm bằng gạch truyền thống đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân về chi phí lắp đặt, thay thế sửa chữa Đồng thời khí sinh học còn được

sử dụng với nhiều mục đích khác nữa như làm nhiên liệu chạy máy nổ, máy phát điện Với những lợi ích như vậy, mô hình này nên được nhân rộng hơn nữa tại

Trong điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, quy mô sản xuất lớn cần phải chú trọng đến việc xử lý môi trường thì mới phát triển được nền nông

nghiệp bền vững Hầm biogas có đóng góp rất nhiều trong xử lý môi trường đối với sản xuất nông nghiệp đặc biệt là chăn nuôi gia súc ở nông thôn

Lời bình: Quá trình phát triển kinh tế đã mang lại lợi ích lớn cho xã hội và đời sống của

người dân Tuy nhiên, nó cũng để lại những hậu quả về môi trường, những con sông đầy rác không còn là chỗ cho trẻ em chơi đùa như ngày xưa nữa

- Chính phủ cần đưa ra chính sách gì đó nhẳm cải thiện chất lượng môi trường và đi đôi với nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân

- Bài viết đề cập đến sử dụng hầm khí biogas nhằm xử lý môi trường

Bài 3: Báo Vietnamnet:

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/204560/moi-truong-kinh-doanh-viet-nam-lai-tut-hang.html

Môi trường kinh doanh Việt Nam lại tụt hạng

30/10/2014 07:43 GMT+7

Trang 37

Ngân hàng Thế giới vừa công bố, môi trường kinh doanh của Việt Nam năm

2015 xếp thứ 78 trong tổng số 189 nền kinh tế, tụt tới 6 bậc với năm 2014 Các nỗ lực cải cách gần đây vẫn chưa được ghi nhận.

Đã có vốn ngân hàng cho kinh doanh nhỏ lẻ

Tư Hường: Lão bà 80 đứng đầu gia tộc kinh doanh khét tiếng

8 ngành nghề có thể bị cấm kinh doanh ở Việt Nam

Xem bài khác trên Vef.vn

Báo cáo về môi trường kinh doanh thế giới năm 2015 vừa được Ngân hàng Thế giới(WB) công bố hôm 29/10 vẫn cho một kết quả không mấy tích cực về Việt Nam

Đây cũng là năm đầu tiên WB nghiên cứu đánh giá mức độ thuận lợi của môi trường kinhdoanh các nước theo phương pháp mới Theo đó, năm 2014, thứ hạng về môi trường kinhdoanh của Việt Nam là 72 Năm 2015, chỉ số xếp hạng môi trường kinh doanh của ViệtNam là 78, nghĩa là tụt tới 6 bậc

Theo phương pháp cũ, năm 2014, chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam đã đượccông bố rộng rãi là xếp thứ 99, tụt 1 bậc so với năm 2013

Thủ tục nộp thuế vẫn còn nhiều phiền hà

Báo cáo cũng cho biết, tổng thu nhập quốc dân bình quân trên đầu nước GNI của ViệtNam năm 2015 là 1.730 USD/người

Trang 38

10 chỉ số đánh giá của báo cáo này đều tương ứng với các hoạt động quan trọng của đờisống doanh nghiệp So với năm trước, Việt Nam có 5 lĩnh vực thụt lùi, 3 lĩnh vực khôngchuyển biến và 2 lĩnh vực có thăng bậc không đáng kể

Cụ thể, 5 lĩnh vực giảm hạng là khởi sự kinh doanh đứng thứ 125, giảm 5 bậc so; vay vốnđứng thứ 36, giảm 6 bậc; bảo vệ các nhà đầu tư đứng thứ 117, giảm 2 bậc; nộp thuế đứngthứ 173, cũng tụt 2 bậc; giao thương, thương mại qua biên giới đứng thứ 75, tụt 1 bậc sovới năm ngoái

3 lĩnh vực không có chuyển biến gì là kết nối điện đứng thứ 135, giải quyết tình trạngphá sản đứng thứ 104 và thực thi hợp đồng đứng thứ 47

2 lĩnh vực được ghi nhận có thăng hạng nhưng chỉ tăng 1 bậc so với báo cáo xếp hạngnăm trước Đó là đăng ký tài sản đứng thứ 33 và xin cấp phép xây dựng đứng thứ 22 Nếu như so với con số 189 quốc gia và vùng lãnh thổ được nghiên cứu thì Việt Nam cóđến một nửa lĩnh vực bị xếp hạng ở cuối bảng, áp chót, đứng sau hơn 100 quốc gia Lĩnhvực có thứ hạng cao nhất của Việt Nam là cấp phép xây dựng

Nộp thuế vẫn mất 872 giờ

Đáng chú ý nhất là các lĩnh vực đang phải cải cách nhiều nhất hiện nay vẫn bị xếp hạng

tệ nhất của "bảng" Đó là nộp thuế, giao thương và tiếp cận điện năng

DN ở Việt Nam vẫn phải tốn mất 872 giờ/năm và 32 lần để thực hiện các thủ tục thuế.Con số này vẫn tương đương như báo cáo xếp hạng năm ngoái đã khiến Việt Nam gầnnhư đội sổ, chỉ đứng trên 16 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới về vấn đề nộp thuế Đặc biệt, việc nộp thuế ở Việt Nam tốn thời gian nhất so với 5 quốc gia lân cận, trongkhi, đây chính là đối thủ cạnh tranh về thu hút đầu tư nước ngoài hiện nay

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w