1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại

31 480 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, đều đặn nhiều năm nay, tôi cùng với các đồng nghiệp khác của Viện Nghiên cứu Phát triển Genève tham gia giảng dạy về các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng xã hội.. Về tầm q

Trang 1

1.1 Khác biệt xã hội và

bất bình đẳng ở Đông Nam Á Thực trạng dưới góc nhìn

đa ngành và lịch đại

Jean-Luc Maurer, Viện nghiên cứu quốc tế và phát triển (IHEID)

(nội dung gỡ băng)

Tôi xin cảm ơn Viện Khoa học xã hội Việt

Nam và các cơ quan đối tác của Pháp là AFD,

IRD, AUF, ÉFEO, Đại học Nantes – và đặc biệt

cảm ơn Stéphane Lagrée, anh thực sự là trụ

cột của Khóa học mùa hè Tam Đảo ngay từ

năm đầu tiên sự kiện này được tổ chức Cũng

chính anh đã có lời mời tôi tham dự Khóa học

mùa hè Tam Đảo lần thứ 5 năm nay Lời mời

tham gia Khóa học mùa hè về khoa học xã

hội đã từ những năm trước, lý do là bởi từ gần

mười năm nay hè nào tôi cũng sang giảng

dạy trong thời gian từ 2 đến 3 tuần tại Việt

Nam Viện nghiên cứu nơi tôi công tác đang

có một chương trình đào tạo bậc thạc sĩ về

nghiên cứu phát triển Chương trình giảng

dạy được thực hiện một phần tại Hà Nội

Chủ đề của Khóa học mùa hè Tam Đảo năm

nay liên quan rất nhiều đến lĩnh vực thuộc

chuyên ngành của tôi Vì tôi nghiên cứu về các chính sách phát triển châu Á và phần lớn các nghiên cứu của tôi đều được thực hiện ở Đông Nam Á, chủ yếu về Indonesia, ngoài ra cũng có nghiên cứu về Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, và Malaysia [1] Do đó, tôi biết khá rõ thực tiễn của khu vực, có lẽ còn kỹ hơn cả hai nước quê hương tôi là Pháp và Thụy Sĩ! Bên cạnh đó, đều đặn nhiều năm nay, tôi cùng với các đồng nghiệp khác của Viện Nghiên cứu Phát triển Genève tham gia giảng dạy về các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng xã hội Tôi hy vọng những nội dung tôi trình bày sẽ

mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới cho vấn

đề cơ bản này

Khi chuẩn bị bài giảng này, tôi cũng có tham vọng trình bày một bài dẫn nhập giới thiệu một bức tranh tổng thể về chủ đề của chúng

ta, nhưng tôi cũng hy vọng những nội dung trong bài giảng của tôi sẽ phục vụ cho việc

[1] Trong tiếng Pháp, tên gọi Malaysia chỉ đất nước bao gồm các đảo nằm rải rác trong vùng biển phía Nam Trung Quốc (…), còn tên gọi Malaisie dùng để chỉ phần quần đảo của nước này (…), De Koninck, R (2005), “L’Asie du Sud-Est”, Armand Colin, Paris.

Trang 2

thảo luận ở phần sau, cũng như cho toàn

bộ các hoạt động trong suốt tuần học tại

Tam Đảo Tôi muốn trình bày thực trạng của

10 nước trong khu vực, so sánh thực tế của

các nước dưới góc nhìn lịch đại vì ngoài tính

đương đại và bối cảnh cụ thể của từng sự

kiện, các quá trình phân biệt xã hội đều đặt

trong lịch sử, văn hóa và trong thời gian dài

Điều này đã được Denys Lombard, một trong

những người thầy của tôi nhắc tới Trong bài

giảng của tôi, tất nhiên không thiếu các số

liệu Nhiệm vụ của nhà nghiên cứu là đo đếm

và định lượng, nhưng như thế chưa đủ, nhà

nghiên cứu còn có nhiệm vụ phải hiểu, có thể

là nhờ vào việc sử dụng số liệu, nhưng cũng

có thể thông qua phân tích định tính Là một

nhà nghiên cứu chính sách, tôi rất coi trọng

cả hai phương pháp tiếp cận này

Sau phần mở đầu giới thiệu lý do tại sao tôi lựa

chọn phân tích vấn đề bất bình đẳng và phân

biệt xã hội trên thế giới, đặc biệt là ở khu vực

Đông Nam Á, phần chính trong bài giảng của

tôi sẽ có ba nội dung lớn Trong phần một,

tôi sẽ giới thiệu các yếu tố thống nhất và đa

dạng của khu vực Đông Nam Á, những yếu tố

này thường là kết quả của một quá trình lịch

sử dài và phức tạp Trong phần hai, tôi sẽ trình

bày ngắn gọn về con đường phát triển của

các nước trong khu vực Ở phần này, tôi sẽ

nhấn mạnh mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh

tế, giảm nghèo và các vấn đề bất bình đẳng

Trong phần cuối, tôi sẽ so sánh các vấn đề bất

bình đẳng ở hai nước: Indonesia và Việt Nam

Đây là hai nước mà tôi đánh giá là có mô hình

điển hình về bất bình đẳng trong khu vực

Phần kết luận trong bài giảng của tôi sẽ dành

để phân tích về những bế tắc của mô hình

phát triển hiện nay và những giải pháp có thể

có để giải quyết những bế tắc đó

Về tầm quan trọng của việc ưu tiên nghiên cứu bất bình đẳng và lý do lựa chọn khu vực Đông nam Á làm khu vực phân tích điển hình

Tại sao một nhà nghiên cứu chuyên về các vấn

đề phát triển lại lựa chọn phân tích các vấn đề

về khác biệt và bất bình đẳng xã hội và ưu tiên nghiên cứu các vấn đề này? Câu trả lời chắc chắn là vì, với những vấn đề môi trường càng ngày càng bức xúc bởi là hậu quả của mô hình phát triển kinh tế hiện nay, vấn đề phân biệt và bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng chắc chắn là yếu tố có vai trò quyết định nhất đối với công bằng xã hội, ổn định chính trị, hòa bình và tương lai của nhân loại Khác biệt và bất bình đẳng xã hội hiện nay đang ngày càng gia tăng ở tất cả các nước trên thế giới từ khi làn sóng toàn cầu hóa dựa trên mô hình tự do mới bắt đầu lan rộng trên toàn hành tinh vào đầu những năm 1980, với « cuộc cách mạng » bảo thủ của Reagan và Thatcher

Từ 30 năm trở lại đây, chúng ta đã thực sự chứng kiến sự quay trở lại của kỷ nguyên bất bình đẳng vốn là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản dã man vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20

Kỷ nguyên này đã kết thúc bằng cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tiếp nối sau đó

là cuộc đại khủng hoảng kinh tế - tài chính năm 1929 và một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai trên quy mô toàn hành tinh với mức độ tàn phá nặng nề hơn Tất cả các yếu

tố này đều có quan hệ qua lại và để lại những hậu quả khủng khiếp Cách nhau một thế kỷ, dường như lịch sử đang lặp lại, và giai đoạn chiến thắng của chủ nghĩa tư bản tài chính

mà chúng ta đang trải qua cũng có thể dẫn tới những hậu quả bi thảm không kém Vì những lý do đó, các nghiên cứu về phát triển cần dành một mức độ ưu tiên nhất định cho

Trang 3

Bảng 1 giới thiệu các kết quả của nghiên

cứu do WIDER – Viện nghiên cứu kinh tế của

trường Đại học LHQ đặt tại Helsinki – thực

hiện Các nghiên cứu của Viện quan tâm rất

nhiều đến các vấn đề bất bình đẳng xã hội

Nghiên cứu này được thực hiện tại 73 nước

trong giai đoạn 1960-1990 Trong số 73 nước

được nghiên cứu, 48 nước có mức chênh

lệch về thu nhập ngày càng gia tăng Các

bất bình đẳng này biến thiên theo hình chữ

« U » ngược, quan sát được tại 29 nước, điều này đi ngược lại với thuyết tân cổ điển của Simon Kuznets Lát nữa, tôi sẽ quay lại điểm này Đúng là các số liệu này đã hơi cũ, nhưng nếu WIDER thực hiện một nghiên cứu tương

tự đối với giai đoạn 1980-2010, tôi chắc chắn rằng sẽ không có nước nào nằm trong nhóm

có sự sụt giảm về bất bình đẳng xã hội

Kết quả nghiên cứu chính của WIDER

Nguồn: Giovanni Andrea Cornia with Sampsa Kiiski (2001)“Trend in Income Distribution in the Post-World War II Period: Evidence and Interpretation”, Wider Discussion Paper N°. 89, UNU/WIDER: Helsinki.

Các nước lấy mẫu trong mỗi nhóm

Tỷ lệ dân số của các nước lấy mẫu

Tỷ lệ dân số thế giới

Tỷ lệ GDP-PPP của các nước lấy mẫu

Tỷ lệ GDP-PPP thế giới

phân tích các hiện tượng khác biệt và bất

bình đẳng xã hội Những phân tích này sẽ

giúp hiểu rõ hơn bản chất của các hiện tượng

khác biệt và bất bình đẳng xã hội, từ đó giúp tìm ra giải pháp kiềm chế và giảm bớt các hiện tượng đó

Trang 4

Bảng 2 phân biệt ba nhóm nước: các nước

phát triển, các nước đang phát triển và các

nước có nền kinh tế chuyển đổi Có thể nhận

thấy là trong số 22 nước có nền kinh tế chuyển

đổi, 21 nước có hiện tượng bất bình đẳng về

thu nhập ngày càng gia tăng Nước duy nhất

không gặp phải tình trạng này lại là nước duy

nhất chưa mở cửa thị trường, đó là Belarus!

Các bạn cũng có thể thấy là phần lớn các

nước nói tiếng Anh công nghiệp hóa, vốn là những nước đầu tiên cưỡi lên con ngựa chiến của làn sóng toàn cầu hóa tân tự do, đều là những nước có hiện tượng bất bình đẳng gia tăng Chỉ có một số nước, như Pháp hay Na

Uy, vào thời điểm đó, vẫn còn là những nước

có bất bình đẳng giảm đi Nhưng hiện nay ở

cả hai nước này, các vấn đề bất bình đẳng lại đang có chiều hướng gia tăng

Những thay đổi trong chênh lệch về thu nhập tại 73 nước giai đoạn 1960 – 1990

B t bình

ng Các n c phát tri n Các n c ang phát tri n Các n c ang chuy n i T ng s

T ng 12: Úc, Canada, an M ch,

Ph n Lan, , Nh t B n, Hà Lan, Niu Dilân, Tây Ban Nha, Th y i n, Anh, M

15: Achentina, Chilê, Trung

Qu c, Colombia, Guatemala, Hong Kong, Mehicô, Pakistan, Panama, Nam Phi, Srilanka, ài Loan, Thái Lan, Venezuela

21: Acmênia, Azerbaijan, Bungari, Crôatia,CH Sec, Estonia, Grudia, Hungari, Kazakhstan, Latvia, Litva, Macedonia, Moldova, Ba Lan, Rumani, Nga, Slovakia, Slovenia, Ukraina, Yugoslavia

48

n nh 3: Áo, B , c 12: Bangladet, Braxin, B

bi n Ngà, CH Dominica, El Salvador, n , Indonexia, Puerto Rico, Senegal, Singapore, Tanzania, Th

Nh K

1: Belarus 16

Gi m 2: Pháp, Na Uy 7: Bahamas, Honduras,

Jamaica, Hàn Qu c, Malaysia, Philippines, Tuynidi

Trang 5

Về điểm này, số liệu của Ngân hàng thế giới

cho thấy tình hình rất đáng báo động So với

tổng mức tiêu dùng chung của thế giới năm

2005, 20% những người nghèo nhất chỉ tiếp

cận được với 1,5% Nhóm mà chúng ta gọi là

« tầng lớp trung bình », tức là 3/5 số những người ở tốp giữa cũng chỉ chiếm 22% tổng mức tiêu dùng chung của toàn thế giới Phần còn lại, 20% những người giàu nhất chiếm tới 3/4 tổng mức tiêu dùng

Tỷ lệ tiêu dùng cá nhân trên thế giới, 2005

Nguồn: World Bank Development indicators 2008.

Chênh lệch về tiêu dùng trên thế giới năm 2005

T l tiêu dùng

cá nhân trên th

gi i (%)

Th p phân v dân s th gi i (VD: 1 = nghèo nh t 10%; 2 = nghèo nh t 11-20%)

Nguồn: World Bank Development indicators 2008

1

2 hình

hình

Trang 6

Biểu đồ này còn phân tích sâu hơn và cho thấy

mức độ chênh lệch trong bất bình đẳng về

tiêu dùng của năm 2005 xét theo đơn vị 1/10

1/10 số người giàu nhất chiếm tới gần 60%

mức tiêu dùng của thế giới, cao hơn 120 lần

so với nhóm 1/10 những người nghèo nhất,

vốn chỉ chiếm 0,5% tổng mức tiêu dùng thế

giới Nếu lấy nhóm 1/10 thứ hai tính từ dưới

lên với mức tiêu thụ chiếm 1%, khoảng cách

chênh lệch vẫn gấp tới 60 lần Vẫn cứ tiếp tục

so sánh như vậy, ta đều có thể thấy khoảng

cách giữa người nghèo và người giàu đang

không ngừng gia tăng trên thế giới Nếu lấy

đơn vị tính là 1/100 hoặc 1/1000, các con số

sẽ còn ấn tượng hơn nữa vì mức độ tập trung

sự giàu có chỉ diễn ra chủ yếu ở đỉnh kim tự

tháp Tất cả những điều trên chứng tỏ rằng

chúng ta hoàn toàn có lý khi phân tích vấn đề

bất bình đẳng xã hội như là một hiện tượng

xã hội có sức tàn phá khủng khiếp nhất trên

quy mô toàn thế giới trong khoảng 30 năm

trở lại đây

Đông Á, đặc biệt là Đông Nam Á là một khu

vực rất thú vị để phân tích vấn đề mà tôi đề

cập đến ở trên Vì những lý do lịch sử, văn hóa

và tôn giáo, bất bình đẳng xã hội luôn được

nhìn nhận ở mức độ khá ôn hòa nếu so với

các khu vực khác trên thế giới, như Nam Mỹ –

Braxin, Colombia, Bolivia – hoặc khu vực phía

Nam châu Phi – Botswana, Namibia, Nam Phi

Nhận định này cũng được khẳng định trong

bản báo cáo nổi tiếng năm 1993 của Ngân

hàng thế giới về cái gọi là “Sự Thần kỳ Đông

Á”, một báo cáo được phân tích và bị chỉ trích

rất nhiều Báo cáo này phân tích 7 nước trong

khu vực là Singapore, Thái Lan, Malaysia và

Indonesia, là bốn nước thuộc khu vực Đông

Nam Á, và ba “con rồng nhỏ” của Đông Á là Hàn Quốc, Đài Loan và Hồng Kông Kết luận chính mà báo cáo này đưa ra là khu vực Đông

Á có đặc điểm chung là “tăng trưởng công bằng” – “Growth with Equity”

Nếu phân tích ở một cấp độ khác, mặc dù có những khác biệt rất lớn, các nước Đông Nam

Á đều có một “nền tảng văn hóa chung” lâu đời – đây là khái niệm mà nhà nghiên cứu phương đông học danh tiếng Paul Mus đã đưa ra trong tác phẩm nổi tiếng của mình

có tên gọi Góc châu Á (L’angle de l’Asie) Trong

công trình này, nhìn chung Paul Mus ca ngợi rất nhiều các giá trị bình đẳng, chia sẻ và bình

dị Theo những nghiên cứu mới nhất của giáo

sư Edison Liu, một nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Hoa hiện đang làm việc tại Singapore, tất cả các dân tộc thuộc khu vực Đông Nam

Á đều có chung một tổ tiên, kể cả các dân tộc được gọi là thiểu số? Tất nhiên Paul Mus chưa nghĩ đến điều này khi ông đề cập đến khái niệm “nền tảng văn hóa chung”, đây là một khái niệm quan trọng trong phân tích các vấn đề về bất bình đẳng Hơn nữa, Đông

Á rộng lớn hơn Đông Nam Á, và bất bình đẳng xã hội nói chung vẫn ở mức ôn hòa

ở hai nước nổi bật của hiện tượng “thần kỳ châu Á” là Hàn Quốc và Đài Loan Tính riêng

ở 10 nước Đông Nam Á, tình hình bất bình đẳng có khác nhau tùy theo các yếu tố lịch sử, văn hóa, chính trị mà chúng ta sẽ phân tích sau đây Điểm chung duy nhất, không tính trình độ xuất phát điểm của mỗi nước, đó là bất bình đẳng luôn có chiều hướng gia tăng

từ khoảng 20 – 30 năm trở lại đây ở hầu hết các nước này

Trang 7

Bảng này cho thấy bất bình đẳng về thu nhập

và tiêu dùng tăng ở các nước thuộc hiện

tượng “Thần kỳ Đông Á” trong các khoảng

thời gian khác nhau tính từ đầu những năm

1970 cho đến giữa những năm 1990 Tôi xin

thêm vào đây hai nước là Trung Quốc và

Việt Nam, hai nước này tham gia vào nhóm

ở khoảng giữa giai đoạn, còn Philippines thì

chưa bao giờ có mặt Vấn đề bất bình đẳng

là vấn đề phức tạp và khó so sánh Thứ nhất

là bởi các nước không có chung các chỉ số:

một số nước sử dụng chỉ số thu nhập, một số

nước khác sử dụng chỉ số tiêu dùng; có nước

lại sử dụng chỉ số tiêu dùng theo đầu người,

nước khác lại tính chỉ số tiêu dùng theo hộ

Mặt khác, các năm được sử dụng làm mốc

tham chiếu cũng không giống nhau Điều

này khiến cho phân tích so sánh khó hơn rất

nhiều Trong bảng này, mỗi nước có một năm

xuất phát và năm kết thúc khác nhau, và hệ

số Gini tương ứng, đây là chỉ số quan trọng

được sử dụng cho phân tích bất bình đẳng

Có thể thấy bất bình đẳng tăng ở 8/10 nước

trong giai đoạn 1970-1995, nhưng có nhiều khác biệt lớn:

- Ở Singapore, Hồng Kông và Philippines, mức độ bất bình đẳng, vốn đã cao lại vẫn còn tiếp tục tăng Nếu chỉ lấy riêng trường hợp điển hình là Singapore, có thể thấy nước này có mức độ bất bình đẳng cao nhất thế giới: hệ số Gini vốn đã rất cao vào năm 1973 (41) lại vẫn tiếp tục tăng mạnh tới tận năm

1989 (49) Với hệ số Gini cao như vậy, đảo quốc nhỏ bé này của khu vực Đông Nam Á được xếp ngang với Braxin về mức độ bất bình đẳng xã hội Braxin vẫn luôn được coi là nước vô địch thế giới về vấn đề này, cho dù

có vẻ như kể từ khi tổng thống Lula da Silva đưa ra các chính sách về tái phân phối, bất bình đẳng ở nước này đã giảm đáng kể

- Với mức xuất phát điểm nói chung khá thấp, bất bình đẳng gần như bùng nổ ở Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Trung Quốc vốn rất bình đẳng trong 30 năm đầu tiên sau khi lập nước, có mức xuất phát điểm thấp hơn

Các nước thuộc hiện tượng “Thần kỳ Đông Á”:

bất bình đẳng gia tăng mạnh, giai đoạn 1970-1995

Các qu c gia “Th n k ông Á” :

b t bình ng v thu nh p gia t ng m nh trong giai o n 1970-1995

Thái Lan, 1975-92 Chi tiêu u ng i 36.4 46.2

Indonesia, 1970-95 Chi tiêu u ng i 34.9 34.2

Trung Qu c, 1985-95 Thu nh p u ng i 29.9 38.8

Philippines, 1985-94 Chi tiêu u ng i 41.0 42.9

Vi t Nam, 1993-2003 Chi tiêu u ng i 35.5 ±40.0

Nguồn: World Bank Database.

Trang 8

30 vào năm 1985, sau đó tăng lên đến mức

40 vào năm 1995 Hiện nay, chỉ số này của

Trung Quốc là 50 Với mức này, Trung Quốc

được xếp vào nhóm các nước bất bình

đẳng nhất trên thế giới Việt Nam cũng có

một quy trình lịch sử tương tự, hiện đang

có hệ số Gini ở mức 40;

- Bất bình đẳng cũng gia tăng ở Đài Loan và

Hàn Quốc, nhưng vì xuất phát điểm thấp

nên nhìn chung bất bình đẳng ở hai nước

này hiện vẫn ở mức tương đối thấp;

- Mức độ bất bình đẳng chỉ giảm ở hai nước

là Malaysia và Indonesia Ở Indonesia, mức

độ xuất phát điểm thấp và hiện nay vẫn ở

mức tương đối thấp Ngược lại, ở Malaysia,

mức độ bất bình đẳng xuất phát điểm rất

cao vào thời điểm nước này giành độc lập,

sau đó giảm nhờ các chính sách tích cực

mà Thủ tướng Mahathir đưa ra để hỗ trợ

cho đại bộ phận người dân nước này Tuy

nhiên, bất bình đẳng ở nước này hiện vẫn ở

mức tương đối cao

Ngoài những bình luận theo thời điểm đã

giới thiệu ở trên, nhìn chung bất bình đẳng

có xu hướng giảm kể từ khi các nước giành

được độc lập cho đến những năm 1980, cho

dù tăng trưởng kinh tế của các nước ở các

mức khác nhau Chỉ đến khi làn sóng toàn

cầu hóa của những năm 1980 bắt đầu lan

sang các nước này và nhấn chìm chúng thì bất bình đẳng mới tăng trở lại Điều này đi ngược lại với thuyết tân cổ điển mà Simon Kuznets đưa ra vào những năm 1950 mà theo đó, bất bình đẳng luôn có xu hướng tự nhiên là tăng trong giai đoạn đầu khi có tăng trưởng kinh tế, sau đó sẽ giảm khi thành quả của tăng trưởng được chia sẻ đồng đều hơn cho tất cả mọi người

Hơn nữa, phần lớn các lý giải đều không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố lịch sử hay văn hóa

mà còn phụ thuộc vào các chính sách phát triển được đưa ra Không phải ngẫu nhiên mà bất bình đẳng gia tăng hay giảm đi Bất bình đẳng tăng hay giảm còn phụ thuộc vào các chính sách công mà các nhà lãnh đạo đưa ra

áp dụng Việc Hàn Quốc đạt được kết quả như

họ có không phải là nhờ vào một điều thần kỳ Bất bình đẳng không phải là định mệnh bắt buộc, nó phụ thuộc một phần vào các chính sách công, về thuế khóa và tái phân phối thu nhập xã hội Có vẻ như trong bài giảng này, tôi đang reo rắc tư tưởng “bi quan về lý trí” và

“lạc quan về ý chí” mà Antonio Gramsci đã đưa ra Phân tích của tôi thực tế là thiên về màu tối hơn, nhưng tôi tin rằng luôn luôn có cách để cải thiện tình hình nhờ vào việc đưa

ra các chính sách phù hợp

Trang 9

Bảng này tập hợp một số chỉ số mới nhất về

những khác biệt trong bất bình đẳng về thu

nhập ở 10 nước Đông Nam Á Năm thực hiện

điều tra và các chỉ số sử dụng là khác nhau

Trong bảng này cũng có sử dụng một chỉ số

lớn khác, thường được sử dụng để tính toán

bất bình đẳng, đó là chỉ số so sánh giữa nhóm

1/5 nghèo nhất (Q1) và nhóm 1/5 giàu nhất

(Q5) Từ so sánh hai nhóm này, ta thấy có nhiều

khác biệt lớn Cụ thể, đối với Malaysia, tương

quan Q1/Q5 cao hơn 12, có nghĩa là nhóm

1/5 những người giàu nhất giàu hơn nhóm

1/5 những người nghèo nhất đến 12  lần

Nếu lấy các nước có mức độ bất bình đẳng

thấp nhất Đông Nam Á, như Indonesia và Việt

Nam, mức chênh lệch giàu nghèo giữa nhóm

1/5 những người giàu nhất và 1/5  những

người nghèo nhất chỉ là 5 lần Kết luận này

cũng được thể hiện trong chỉ số Gini

1.1.1 thống nhất và đa dạng của khu vực Đông nam Á: kết quả của một quá trình lịch sử dài và phức tạpLàm thế nào để lý giải tình hình thực tế cũng như những khác biệt trong khu vực? Tôi thấy không thể làm được điều này nếu không quay lại xem xét trong lịch sử Ngay từ những thế kỷ đầu tiên của lịch sử (theo lịch Thiên chúa), hai làn sóng ảnh hưởng văn hóa ngoại lai lớn đã lan sang Đông Nam Á – khu vực

“góc châu Á - Angle de l’Asie” theo cách gọi của Paul Mus, “nằm giữa Ấn Độ và Trung Hoa” theo cách gọi của Michel Bruneau Làn sóng ảnh hưởng lớn nhất là hiện tượng Ấn hóa, và làn sóng thứ hai là hiện tượng Trung Hoa hóa Làn sóng thứ nhất đều tác động dù ít hay nhiều đến tất cả các nước trong khu vực và

để lại dấu ấn lâu dài, đặc biệt là ở Campuchia

và Indonesia Việt Nam là nước duy nhất chịu ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa, trong khi

đó Philippines gần như nằm ngoài hai quá

10 quốc gia Đông Nam Á: làm rõ những khác biệt trong bất bình đẳng về thu nhập

Myanmar (Bi) n.a n.a n.a n.a n.a

Brunây (Br) n.a n.a n.a n.a n.a

Trang 10

trình tiếp biến văn hóa này Nhấn mạnh điểm

này là rất quan trọng, vì mặc dù Philippines

thuộc về khu vực Đông Nam Á, kể cả về địa

lý và chính trị, nhưng nhiều yếu tố lại khiến

nước này gần hơn với khu vực Nam Mỹ về

lịch sử và văn hóa Điều này là kết quả của

việc nước này không bị chịu ảnh hưởng từ

hai làn sóng văn hóa ngoại lai tiền thực dân,

và là nước duy nhất hướng sang bờ kia của

Thái Bình Dương do liên tiếp nằm dưới sự đô

hộ của Tây Ban Nha và Hoa Kỳ Nếu không

kể trường hợp ngoại lệ của Philippines, rất

nhiều giá trị chung về tôn giáo và triết học

gốc Ấn, là đạo Hindou và nhất là đạo Phật,

hoặc gốc Trung Hoa, chủ yếu là đạo Khổng,

đều thấm đẫm trong các xã hội Đông Nam Á

và để lại một di sản, là một phần nguồn gốc

của “nền tảng văn hóa chung” mà Paul Mus đã

nhắc đến Trong số những giá trị chung đó,

có nhiều yếu tố mang lại một nhân sinh quan

khá bình đẳng về xã hội: ý thức chia sẻ, tính

bình dị và thanh đạm, những phẩm chất mà

ta có thể thấy trong đạo Phật

Nếu nhìn vào lịch sử gần hơn, có thể thấy

đạo Hồi, mặc dù có mặt trong khu vực muộn

hơn rất nhiều – từ thế kỷ 12 – và chủ yếu ảnh

hưởng tới cộng đồng người Mã Lai, cũng

đã chứa đựng nhiều giá trị mà tựu chung

lại đều rất gần với tính khiêm nhường, tình

đoàn kết và lòng từ thiện Nhưng quá trình

đô hộ từ phương Tây đã làm sâu sắc thêm

những khác biệt vốn có Một mặt, một số

vùng trong khu vực bị đô hộ từ rất sớm, ngay

từ cuối thế kỷ 16, như trường hợp quần đảo

Mã Lai, Java hay Luzon, trong khi một số khu

vực khác mãi đến giữa hoặc cuối thế kỷ 19

mới bị đô hộ, như trường hợp của đảo Bali,

đảo phía bắc Sumatra, Campuchia hay Việt

Nam Một số vùng khác lại không thực sự bị

thực dân hóa, như trường hợp của Thái Lan

và các vùng lân cận, phía sâu trong các đảo

lớn hoặc các vùng núi cao Điều quan trọng

là cần phải hiểu rằng thời điểm quần đảo Mã Lai và đảo Java bị đô hộ bởi thực dân phương Tây cách thời điểm mà các vùng khác của khu vực Đông Nam Á bị đô hộ (vào thế kỷ 19, 20) đến gần ba thế kỷ

Mặt khác, tất cả các cường quốc thực dân phương Tây đều tham gia xâu xé khu vực này

Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha là những nước đầu tiên đặt chân lên khu vực vào thế kỷ 16,

17, tiếp theo đó là Hà Lan – người ta thường quên một thực tế là đất nước nhỏ bé này đã

đô hộ một phần rất lớn trên thế giới vào thế kỷ

17 với sự có mặt của mình trên khắp các châu lục –, Anh, Pháp, sau đó là Hoa Kỳ vào thế kỷ

19, và cuối cùng là Nhật Bản với thời gian rất ngắn vào thế kỷ 20 Các dự án, phương pháp, cách thức và kết quả từ các quá trình đô hộ khác nhau giữa các nước hiển nhiên đã làm sâu sắc thêm sự khác biệt và đa dạng vốn

có giữa các nước trong khu vực Đạo Thiên chúa, đi cùng với quá trình thực dân hóa, chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến các vùng chưa bị tác động từ Ấn Độ, Trung Hoa hoặc đạo Hồi, trường hợp điển hình là Philippines – đạo Cơ đốc được những người Tây Ban Nha du nhập vào nước này – và các vùng ngoại vi Đạo Thiên chúa cũng đóng góp thêm một viên

đá vào “nền tảng văn hóa chung” cũng với những giá trị về sự khiêm nhường, tinh thần đoàn kết và lòng nhân đạo Tất nhiên đây là những giá trị nhìn nhận về mặt lý thuyết, còn thực tiễn thì lại rất xa mới được như vậy.Nếu phác họa bằng những nét lớn trong quá trình lịch sử dài và phức tạp của khu vực, có thể thấy, chủ nghĩa quốc gia dân tộc bắt đầu biểu hiện ngay từ đầu thế kỷ 20 đã dẫn tới quá trình giải phóng thuộc địa có đặc điểm khá tương đồng, nhưng tuyên bố độc lập của các nước lại rất khác nhau Sau Thế chiến thứ hai và những dấu ấn đau thương của việc

Trang 11

Nhật Bản xâm lược tác động đến toàn bộ khu

vực, một số nước đã giành được độc lập bằng

đấu tranh vũ trang, như trường hợp của

Indo-nesia hoặc Việt Nam Một số khác giành được

độc lập bằng con đường “hòa bình” hơn, như

Malaysia hoặc Campuchia Tất cả các nước

Đông Nam Á giành được độc lập trong giai

đoạn từ năm 1945 như Indonesia, Việt Nam,

Philippines, Myanmar – đến cuối những năm

1950 hoặc đầu những năm 1960 như

Cam-puchia, Lào, Malaysia, Singapore đều ghi vào

hiến pháp các giá trị giống nhau Có thể tìm

thấy trong đó các nguyên tắc phát triển công

bằng, công bằng xã hội và dân chủ Tuy nhiên

hình thái biểu hiện lại rất đa dạng, như chủ

nghĩa quốc gia dân tộc xã hội của chế độ

Su-karno ở Indonesia, chủ nghĩa xã hội khắc kỷ ở

Myanmar hay đề cao độc lập dân tộc ở Việt

Nam Các yếu tố này chủ yếu nghiêng về các

đặc điểm tương đồng nhiều hơn là đa dạng

Sang thời kỳ hậu thuộc địa, tất cả các nước

Đông Nam Á đều có những biến động

phức tạp và bị ảnh hưởng sâu sắc bởi chiến

tranh lạnh vốn biến khu vực này thành “điểm

nóng” chính của thời kỳ căng thẳng này Một

số nước ngay lập tức đã đứng về phe Tây

phương như Thái Lan, Philippines, Malaysia,

Singapore và áp dụng các chiến lược hiện đại

hóa và phát triển theo kiểu tư bản chủ nghĩa

Nước duy nhất đứng về phe chủ nghĩa xã hội

là Việt Nam Các nước khác ban đầu đã cố gắng đi theo con đường thứ ba là con đường không liên kết – Indonesia, Myanmar, Lào, Campuchia –, sau đó rốt cuộc cũng lại đứng sang phe phương Tây như Indonesia năm 1965 hoặc phe xã hội chủ nghĩa như Campuchia và Lào năm 1975 Nước duy nhất đứng ngoài các khối là Myanmar

Các nước Đông Nam Á tất cả đều lần lượt trở thành thành viên của ASEAN, tổ chức được thành lập năm 1967, trừ Myanmar mới gia nhập những năm gần đây Trong trường hợp Việt Nam, con đường phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

mà nước này lựa chọn đã giúp nước này hội nhập một cách hoàn hảo vào tiến trình toàn cầu hóa tân tự do Quá trình hội nhập vào cơn lốc toàn cầu hóa kinh tế đã kích thích tăng trưởng, dẫn tới những thay đổi sâu sắc

về mặt xã hội, được biểu hiện thông qua việc giảm nghèo đói, nhưng cũng dẫn tới sự gia tăng khoảng cách bất bình đẳng giữa những người được và những người mất từ tiến trình này Kết cục là lịch sử phức tạp của khu vực

đã tạo ra một bức tranh ghép với các mảng màu đa sắc về dân tộc, văn hóa, dân số, tôn giáo và chính trị, nhưng bên cạnh đó cũng vẫn có những yếu tố thống nhất, gắn bó trên phương diện kinh tế, xã hội và chính trị

Trang 12

Bảng này tóm tắt lịch sử phát triển của khu vực

Đông Nam Á Có thể thấy có nhiều sự khác

biệt lớn Chẳng hạn có thể thấy có sự không

đồng nhất lớn trên phương diện kinh tế giữa

các nước trong khu vực Đơn cử trường hợp

của Singapore, nước này có tỷ lệ mở cửa kinh

tế cao hơn 400%, tức là giá trị ngoại thương của nước này cao gấp 4 lần GDP Trong khi đó,

tỷ lệ này ở Indonesia chỉ bằng một nửa mặc

dù nước này có GDP tương đương

Đông Nam Á: tóm tắt những chặng đường lịch sử

ông Nam Á: tóm t t quá trình l ch s

nh h ng

v n hóa ti n thu c a

C ng

qu c cai tr N m tuyên b c l p Gia nh p ASEAN M c m c a kinh t

2004-06

Ch s t do chính tr

2008 (0 n 2) Singapore n.a Anh 1965 1967 407.9 1 Brunei o H i Anh 1984 1984 97.2 0 Malaysia o H i Anh 1957 1967 184.9 1 Thái Lan o Ph t n.a n.a 1967 139.4 2 Philippines o H i

(Mi n Nam)

TBN+M 1946 1967 75.2 2 Indonesia o H i

(sync.) Hà Lan 1945 (49) 1967 52.8 2

Vi t Nam o Kh ng Pháp 1945 (75) 1995 170.6 0 Lào o Ph t Pháp 1953 1997 52.3 0 Campuchia o Ph t Pháp 1953 1999 138.8 1

Myanmar o Ph t Anh 1948 1997 52.8 0

Nguồn: Những tư liệu cá nhân của tác giả, WTO, UNDP.

5 Bảng

Trang 13

Các chỉ số nhân khẩu học cũng cho thấy có

nhiều khác biệt lớn giữa các nước Đông Nam

Á Rất khó, thậm chí có thể nói là không thể so

sánh một nước như Singapore – với diện tích

640 km2, dân số 5 triệu người – với nước láng

giềng là Indonesia – với diện tích 2 triệu km2

và dân số 240 triệu người Giữa hai nước này

nước này đều đã trải qua thời kỳ quá độ về

dân số, tất nhiên ở các thời điểm khác nhau

1.1.2 con đường phát triển của Đông nam Á: tâm điểm là quan hệ giữa tăng trưởng, nghèo đói và bất bình đẳng

Tập trung quan sát các nhóm chỉ số khác nhau về phát triển kinh tế và con người sẽ cho thấy bản chất các mối quan hệ hiện hữu trong các tiến trình phát triển giữa ba phương diện chính là tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và biểu hiện của bất bình đẳng

xã hội Tất các các nước Đông Nam Á tham gia vào sự “Thần kỳ Đông Á” đều bắt đầu tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mình vào những thời điểm khác nhau: Singapore, Thái Lan và Malaysia bắt đầu ngay thời kỳ đầu chiến tranh lạnh và lựa chọn đứng ngay về phe tư bản chủ nghĩa; còn Indonesia bắt đầu vào năm 1967, muộn hơn 20 năm Tiến trình này diễn ra sớm hơn rất nhiều trước khi làn sóng toàn cầu hóa tân tự do bắt đầu diễn ra

Đông Nam Á: Các thông tin cơ bản về dân số

ông Nam Á : thông tin c b n v dân s

Di n tích (km2) Dân s 2010(tri u) T ng dân s 1990-95 (%) T ng dân s 2010-15 (%) Phân b dân c nông thôn / ô

th (%)

Tu i trung v 2010

Ratio dép

Trang 14

trong khu vực và trên thế giới từ đầu những

năm 80 với cuộc “cách mạng” tự do được

Reagan và Thatcher khởi xướng

Các chính sách công về phát triển mà các

nước này áp dụng và theo đuổi trong nhiều

thập kỷ, với việc sử dụng một chính sách bảo

hộ tinh vi, đã giúp họ đảm bảo tăng trưởng

kinh tế ổn định, đạt được kết quả giảm nghèo

ấn tượng nhờ vào việc áp dụng các chính

sách xã hội, nhất là trong các lĩnh vực giáo

dục và y tế Đa số các nước có tỷ trọng nông

nghiệp lớn trong kinh tế trước khi bước vào

con đường phát triển đều đã dành ưu tiên

cho phát triển nông nghiệp, nông thôn hơn

là cho công nghiệp nặng và công nghệ cao

Điều này đã có tác động lớn đến mức sống

của người dân Các nước này có mức xuất

phát điểm về bất bình đẳng rất khác nhau do

lịch sử để lại Bất bình đẳng có xu hướng gia

tăng ở các nước lựa chọn áp dụng ngay từ

đầu mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa như

tại Singapore, Thái Lan và Malaysia, trong khi

chúng tương đối ổn định ở Indonesia vì nước

này áp dụng mô hình tương tự nhưng muộn

hơn 20 năm

Một dữ liệu khác có thể bổ sung để chúng ta

sử dụng tại lớp học chuyên đề Tam Đảo được

rút ra từ luận án “Tình hình đặc điểm bất bình

đẳng tại Việt Nam / Dynamics of Inequality in

Vietnam (1986-2008)” của chị Trần Thu Quỳnh

do tôi hướng dẫn và được bảo vệ tại IHEID

Geneva năm 2010 Trong luận án này, tác giả

đã đưa ra một sự phân biệt thú vị giữa các

bất bình đẳng mang tính cơ cấu, di sản lịch

sử để lại và là kết quả của việc “tái sản xuất”

– khái niệm của Pierre Bourdieu, với các bất

bình đẳng mang tính tình huống, bối cảnh,

do tình hình và sự phát triển kinh tế ở thời

điểm nghiên cứu gây ra, cụ thể là bối cảnh

toàn cầu hóa Singapore, Thái Lan và Malaysia

là những nước mà các bất bình đẳng mang tính cơ cấu không chịu tác động từ quá trình phi thực dân hóa Nhiều hiện tượng bất bình đẳng mới mang tính bối cảnh nảy sinh trên nền tảng những bất bình đẳng mang tính cơ cấu cũ – như tại Singapore Việc các bất bình đẳng xuất hiện chồng lên nhau như vậy đã khiến hệ số Gini của nước này lên đến mức gần bằng 0,5 Như vậy, bất bình đẳng đã gia tăng tại các nước lựa chọn áp dụng ngay từ đầu mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng lại tương đối ổn định ở một nước duy nhất, chính là nước cũng áp dụng mô hình tương tự nhưng muộn hơn 20 năm Khoảng cách này có lẽ lý giải phần nào đó sự ổn định các bất bình đẳng tại Indonesia, và bởi một

lý do nữa là việc đất nước đã trải qua một tiến trình cách mạng, thời kỳ mà các bất bình đẳng mang tính cơ cấu đã bị xóa bỏ một phần lớn, như trường hợp của Việt Nam Do những đặc thù về xã hội và chính trị mà lịch

sử để lại, Philippines, mặc dù đã lựa chọn mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa, lại là nước nằm ngoài sự phát triển năng động của hiện tượng “Thần kỳ Đông Á”

Kể từ đầu tiến trình toàn cầu hóa tân tự do vào những năm 80, tăng trưởng kinh tế tuy vẫn được duy trì nhưng thường bị giảm sút

về tốc độ ở các nước thuộc hiện tượng “Thần

kỳ châu Á” Mặc dù vậy, kết quả giảm nghèo vẫn luôn đạt mức cao ở Thái Lan, Malaysia, In-donesia trong bối cảnh chịu sự tác động lớn của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm

1997 - 1998 Các bất bình đẳng sau đó có

xu hướng tăng ở khắp mọi nơi do tác động của các chính sách tự do hóa kinh tế và cắt giảm trợ cấp xã hội Các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa vào thời điểm đó tham gia vào tiến trình toàn cầu hóa bằng mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” như Việt Nam, Lào, Campuchia cũng có mức

Trang 15

tăng trưởng kinh tế tăng mạnh, tỷ lệ nghèo

đói giảm ấn tượng, nhất là ở Việt Nam Nhưng

ở nước này, bất bình đẳng xã hội cũng gia

tăng một cách nhanh chóng, mặc dù điểm

xuất phát là cực thấp Hai nước Đông Nam Á

nằm ngoài toàn bộ tình hình này là Brunây, nhờ đặc thù là nước quân chủ và dầu mỏ và Myanmar nhờ vào lựa chọn chính trị qua việc

Nguồn: V Ahuja et al, World Bank 1997.

Bây giờ chúng ta sẽ đi sâu hơn vào phân tích

vấn đề về tăng trưởng, nghèo đói và bất bình

đẳng Bảng này cho ta thấy biến thiên về tăng

trưởng kinh tế giai đoạn 1965 – 1995 Trong

vòng 30 năm, GDP đầu người đã tăng mạnh

ở hầu hết các nước trong vùng Mức tăng

GDP bình quân đầu người là 8 lần ở Hàn Quốc

và Singapore, 6 lần ở Đài Loan, 5 lần ở Hồng

Kông, 4 lần ở Indonesia và Malaysia, 3 lần ở

Trung Quốc Duy nhất GDP bình quân đầu

người ở Philippines là dậm chân tại chỗ: chỉ

tăng 1,4 lần Một điểm nữa có thể thấy là nếu

như chia thành ba giai đoạn nhỏ 1965-1980,

1980-1990 và 1990-1995, tăng trưởng kinh tế

đạt mức cao hơn ở giai đoạn đầu và dần dần chững lại ở hai giai đoạn sau Như vậy dường như có thể thấy, quá trình toàn cầu hóa bắt đầu vào đầu những năm 1980 đã không thực

sự kích thích tăng trưởng kinh tế ở các nước

“con rồng” châu Á, nhất là ở Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore Nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này, như nhà kinh tế người Mỹ Dani Rodrik đã chỉ ra rằng toàn cầu hóa đã không tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế; hoặc Mark Weisbrot với bài nghiên cứu nổi tiếng là “The Emperor Has No Growth – tạm dịch Vị Hoàng đế không tăng trưởng” cũng đã thể hiện rõ điều này

7 Bảng

Ngày đăng: 05/12/2016, 15:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1  giới  thiệu  các  kết  quả  của  nghiên - Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á  thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại
ng 1 giới thiệu các kết quả của nghiên (Trang 3)
Bảng 2 phân biệt ba nhóm nước: các nước - Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á  thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại
Bảng 2 phân biệt ba nhóm nước: các nước (Trang 4)
Bảng này cho thấy bất bình đẳng về thu nhập - Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á  thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại
Bảng n ày cho thấy bất bình đẳng về thu nhập (Trang 7)
Bảng này tập hợp một số chỉ số mới nhất về - Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á  thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại
Bảng n ày tập hợp một số chỉ số mới nhất về (Trang 9)
Bảng này tóm tắt lịch sử phát triển của khu vực - Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á  thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại
Bảng n ày tóm tắt lịch sử phát triển của khu vực (Trang 12)
Bảng  này  cho  thấy  mức  giảm  nghèo  ấn - Khác biệt xã hội và bất bình đẳng ở đông nam á  thực trạng dưới góc nhìn đa ngành và lịch đại
ng này cho thấy mức giảm nghèo ấn (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w