Việt Nam tuy đạt được những tiến bộ to lớn trong tăng trưởng kinh tế và cảithiện đời sống nhân dân nhờ quá trình tiến hành cải cách kinh tế, nhưng lại phải đốimặt với bất bình đẳng về th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
======o0o======
Tiểu luận môn: Kinh tế phát triển
Đề tài
Nguyên nhân dẫn đến vấn đề bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Nam hiện nay
Giáo viên hướng dẫn: Ths Vũ Hoàng Nam
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 5
I Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam 5
1 Bất bình đẳng thu nhập chung 5
2 Bất bình đẳng theo nhóm xã hội 7
3 Bất bình đẳng theo dân tộc 8
4 Bất bình đẳng theo vùng 9
5 Bất bình đẳng theo giới 11
II Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam 13
1 Mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực 13
2 Sự phát triển của thương mai quốc tế và quá trình toàn cầu hóa 15
3 Bất bình đẳng thu nhập do quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đô thị hoá 16
4 Bất bình đẳng thu nhập do quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế 17
5 Bất bình đẳng giới trong thu nhập 18
KẾT LUẬN 23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
BẢNG ĐÁNH GIÁ CÁC THÀNH VIÊN 25
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế thế giới, các khái niệm
“tăng trưởng”, “tiến bộ”, “cách mạng công nghệ”, “mức sống cao”, “thời đại thôngtin”… đã trở nên quen thuộc Nhưng bên cạnh đó, “bất bình đẳng” cũng là cụm từkhông hề xa lạ hiện nay Đây là một trong những vấn đề bất cập ở cả các nước pháttriển, đang và chậm phát triển, liên quan đến nhiều lĩnh vực như bất bình đẳng vềchính trị, kinh tế… Tuy chỉ là một khía cạnh nhỏ, bất bình đẳng về thu nhập lại ảnhhưởng lớn đến sự phát triển kinh tế-xã hội Đó là sự chênh lệch về thu nhập giữa các
cá nhân hay nhóm người trong xã hội Mức độ bất bình đẳng về thu nhập cùng vớimức thu nhập bình quân đầu người là yếu tố quyết định tỷ lệ nghèo đói của nước
đó Điều đó kéo theo sự lãng phí nguồn lực; những mâu thuẫn, xung đột xã hội dễnảy sinh; môi trường bị hủy hoại, đặc biệt ở các nước chậm phát triển
Việt Nam tuy đạt được những tiến bộ to lớn trong tăng trưởng kinh tế và cảithiện đời sống nhân dân nhờ quá trình tiến hành cải cách kinh tế, nhưng lại phải đốimặt với bất bình đẳng về thu nhập tăng; vì trong thể chế kinh tế cũ, đại bộ phận dânchúng có mức sống đồng đều thấp Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng: người nghèo vànhiều nhóm bất lợi khác được hưởng lợi ít hơn từ quá trình tăng trưởng cũng như cơchế, chính sách điều tiết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hộivẫn còn nhiều bất cập Không thể lựa chọn một xã hội không tăng trưởng cũng nhưkhông thể lựa chọn một xã hội bất bình đẳng cao Là một nước đi sau và vừa đượcxếp vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình nên tăng trưởng nhanh luôn
là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược và chính sách của Việt Nam Tuy vậy, Chínhphủ Việt Nam nhấn mạnh rằng công bằng xã hội và đảm bảo cho mọi người dânđều có quyền hưởng lợi từ tăng trưởng và phát triển cũng quan trọng không kém.Chính vì thế, việc nghiên cứu về tình trạng này rất quan trọng, không chỉ trong việchướng tới sự bình đẳng trong xã hội mà còn góp phần tìm kiếm các biện pháp đểnâng cao hiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội
Hiện nay đã có một vài nghiên cứu về bất bình đẳng trong thu nhập ở ViệtNam, tuy nhiên vẫn chưa đánh giá được toàn bộ vấn đề trong bối cảnh kinh tế hộinhập và tự do hóa thương mại cũng như chưa đưa ra được đánh giá tổng quan theocác vùng, qui mô, ngành kinh tế Vì vậy, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài:
“Nguyên nhân dẫn đến vấn đề bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở Việt Namhiện nay” với mục tiêu trả lời hai câu hỏi: thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở ViệtNam hiện nay như thế nào? đâu là những kênh và nhân tố ảnh hưởng đến gia tăngbất bình đẳng thu nhập trong thời gian qua?, trong đó đi sâu vào việc phân tích đểtìm ra các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến bất bình đẳng trong thu nhập trong nhữngnăm gần đây-thời kỳ chịu tác động lớn của quá trình hội nhập và toàn cầu hóa.Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: thu nhập của người lao động ở Việt Nam(chia theo vùng, ngành, giới tính), các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương, mức chênhlệch giữa thu nhập của lao động theo các phân nhóm trên Về phạm vi nghiên cứu,
đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng trongthu nhập ở Việt Nam, bao gồm : đặc điểm cá nhân người lao động như giới tính,kinh nghiệm và trình độ nghề nghiệp, khả năng tiếp cận việc làm trong khu vựcchính thức, trình độ giáo dục, nhóm ngành nghề, các yếu tố về vị trí địa lý và thay
Trang 5đổi về chính sách Thời gian nghiên cứu: từ sau đổi mới đến nay Phương pháp sửdụng là tổng hợp và phân tích số liệu mức sống dân cư, lao động và việc làm lấy từcác cuộc điều tra qui mô quốc gia kết hợp số liệu thống kê và các nguồn khác (WB,UNDP,…)
Với đối tượng và phạm vi được xác định như trên, kết cấu của bài tiểu luậnđược gồm hai phần như sau:
I.Thực trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam
II.Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam
Trong phạm vi cho phép hạn hẹp, tiểu luận này chỉ có thể nêu lên các vấn đềđược nghiên cứu, những kết quả khái quát nhất từ việc phân tích, thống kê số liệu;hạn chế tối đa số lượng các bảng, biểu đồ Do giới hạn về kiến thức và phương phápnghiên cứu nên nhóm không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng gópcủa thầy cô và các bạn để tiểu luận được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6Một trong những thước đo bất bình đẳng thu nhập tốt nhất mà các nhà kinh
tế vẫn hay sử dụng trong các nhiên cứu và phân tích là hệ số GINI Hệ số GINI đãlượng hoá một cách tương đối mức độ bất bình đẳng thu nhập ở các quốc gia Dướiđây là bảng hệ số GINI theo thu nhập của Việt Nam trong những năm qua
Bảng 1:Bảng hệ số GINI theo thu nhập của Việt Nam
1999 của nhóm “Công tác về vấn đề Nghèo”, Việt Nam vẫn là một xã hội khá bìnhđẳng, mức độ bình đẳng của Việt Nam tương đương với các nước Nam Á nhưng lạithấp hơn các nước Đông Á
Bảng 2: Hệ số GINI về thu nhập ở một số nước châu Á
Trang 7bình đẳng như vậy có thoả đáng không? Trên thực tế tình trạng bất bình đẳng ở ViệtNam cao hơn so với sự thể hiện qua hệ số GINI (Ohno, 2008).
Xem xét trên bình diện chênh lệch giữa nhóm có thu nhập bình quân đầungười cao nhất và nhóm có thu nhập bình quân thấp nhất:
Bảng 3: Chênh lệch giữa nhóm có thu nhập cao nhất và thấp nhất
Năm
Thu nhập bình quân đầu người một
tháng (Đơn vị:Nghìn đồng) Hệ số chênh lêch giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm
(Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam từ năm 1993 đến 2006)
Qua bảng, ta có thể thấy tình trạng bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối ở ViệtNam khá đáng lo ngại Chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất và nhóm thấp nhấtngày gia tăng qua các năm Hệ số này đến năm 2006 lên tới 8.4, khá cao so với một
số nước trong khu vực: Cam-pu-chia là 4.7 (năm 1999), Lào 5.4, In-đô-nê-xi-a 5.2,Thái Lan 5.7 (năm 2002) Rõ ràng có một sự đánh đổi giữa tăng trưởng và bất bìnhđẳng thu nhập của Việt Nam trong các năm qua Khi tốc độ tăng trưởng kinh tếngày càng nhanh cùng với toàn cầu hoá và sự phát triển mạnh mẽ của khoa họccông nghệ, vấn đề bất bình đẳng ngày càng nghiêm trọng, đòi hỏi cần có các biệnpháp hạn chế sự gia tăng bất lợi này
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, “Kết quả khảo sát mức sống dân cư 2010”)
Bảng trên cho thấy bất bình đẳng theo thu nhập ở khu vực thành thị cao hơnkhu vực nông thôn Điều này có thể giải thích bởi một thực tế là ở những nơi cómức xuất phát điểm thấp, khoảng cách về giàu nghèo thường nhỏ hơn những nơi cómức xuất phát điểm cao hơn Một điều đáng lưu ý là từ năm 2002 đến 2010, trongkhi bất bình đẳng ở khu vực thành thị có xu hướng giảm (0,98 lần), thì ở khu vựcnông thôn lại có xu hướng tăng (1,08 lần)
Biểu đồ 1: Tổng chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng theo nhóm xã hội năm2002-2010
Trang 8Tổng chi tiêu bình quân đầu người 1 tháng (Đơn vị: nghìn đồng, giá năm 2010)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Xét về bất bình đẳng trong chi tiêu, biểu đồ trên cho thấy chênh lệch tổng chitiêu bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng giữa khu vực thành thị và nông thôn có xuhướng giảm trong thời ky 2002-2010 Cụ thể, tỷ lệ giữa tổng chi tiêu bình quân 1nhân khẩu 1 tháng là 2,15 lần (2002), 2,08 lần (2004), 2,02 lần (2006), 2,01 lần(2008) và 1,92 lần (2010)
Bảng 5: Tỷ lệ hộ nghèo theo khu vực (Đơn vị: %)
3 Bất bình đẳng theo dân tộc
Đất nước ta là một nước có rất nhiều dân tộc cùng sinh sống, 64 tỉnh thành là
54 dân tộc anh em Trong số đó đa số là các dân tộc thiểu số, dân tộc Kinh/Hoa lànhóm dân tộc chiếm đông đảo dân cư nhất Trong rất nhiều năm gần đây, Đảng vàNhà nước ta đã có rất nhiều những chính sách hỗ trợ cho đồng bào các dân tộc thiểu
số, tuy nhiên những số liệu thực tế vẫn phản ánh sự tồn tại của chênh lệch về thunhập giữa các dân tộc
Biểu đồ 2: Chi tiêu bình quân đầu người theo dân tộc (Đv: nghìn đồng, giánăm 1993 )
Trang 9(Nguồn: Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2007))
Từ biểu đồ trên ta có thể thấy chênh lệch chi tiêu bình quân đầu người giữanhóm dân tộc Kinh/Hoa và nhóm dân tộc thiểu số ngày càng lớn Năm 1993, chitiêu bình quân đầu người của người Kinh/Hoa chỉ gấp 1,72 lần của người dân tộcthiểu số thì đên năm 2004 con số đó đã tăng lên 2,15 lần Hơn nữa, sự khác nhau vềtốc độ chi tiêu bình quân đầu người của nhóm dân tộc Kinh/Hoa và nhóm dân tộcthiểu số cũng ngày càng tăng Trong thời kì 1993 – 2004, chi tiêu bình quân đầungười của nhóm dân tộc Kinh/Hoa tăng 98% thì đối với nhóm dân tộc thiểu số tốc
độ tăng thấp hơn nhiều, chỉ đạt 58%
Bảng 6: Tỉ lệ nghèo và chênh lệch tỉ lệ nghèo theo dân tộc ( Đơn vị: %)
Bất bình đẳng lớn giữa nguời dân tộc thiểu số và người Kinh/Hoa còn đượcthể hiện ở các chỉ tiêu xã hội Trong thời kì 1993 – 2004, ngoại trừ việc sử dụngđiện, tất cả các chỉ số khác như có sử dụng tivi, xe máy, điện thoại, nước sạch và đạttiêu chuẩn vệ sinh, người dân tộc thiểu số đều có khoảng cách càng xa so với ngườiKinh/Hoa So sánh giữa 2 nhóm khu vực nông thôn/thành thị và người dân tộc thiểusố/người Kinh-Hoa cho thấy sự bất bình đẳng giữa dân tộc thiểu số và người Kinh-Hoa ngày càng lớn hơn bất bình đẳng giữa nông thôn và thành thị Điều này chothấy giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong thời gian tới phải đặt trọng tâm vào khuvực miền núi
4 Bất bình đẳng theo vùng
Mặc dù tất cả các vùng của Việt Nam dều dược hưởng lợi từ tăng trưởng kinh
tế, bất bình đẳng đo lường theo hệ số Gini theo tiêu dùng lại có sự khác nhau theovùng Bất bình đẳng cao nhất ở vùng Đông Nam Bộ, nơi có những trung tâm đo thịlớn và năng động của đất nước như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bà Rịa,Vũng Tàu… Bất bình đẳng đã tăng tương đối ở các vùng như miền núi phía Bắc,
Trang 10đồng bằng sông Hồng, Bắc Tung Bộ và Tây Nguyên Các vùng Nam Trung Bộ vàđồng bằng sông Mekong không có sự thay đổi lớn về bất bình đẳng trong thời gianqua.
0,350,260,320,290,330,310,360,30
0,370,340,360,300,330,360,380,30
0,370,340.360,310,340,360,380,31
(Nguồn: Viện Khoa học xã hội Việt Nam 2007)
Ta thấy ở các vùng có tốc độ tăng chi tiêu bình quân đầu người cao trong thời
kì 1993-2004 là đồng bằng sông Hồng (111%), Đông Bắc Bộ (117%) và Đông Nam
Bộ (133%) Trong khi đó, tốc độ tăng chi tiêu bình quân đầu người ở các vùngĐông Bắc, đồng bằng sông Mekong và Nam Trung Bộ chỉ lần lượt là 52%, 63%,67% Do đó, khoảng cách về chi tiêu bình quân đầu người giữa các vùng phát triển
và các vùng chậm phát triển ngày càng lớn Năm 1993, chi tiêu bình quân đầungười ở vùng đồng bằng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng cao hơnvùng Tây Bắc, lần lượt là 1,91 va 1,37 lần thì đen năm 2004 các con số đó đã lầnlượt tăng lên 2,93 va 1,89 lần
5 Bất bình đẳng theo giới
Một phần tư thế kỷ qua (1986-2012) đã chứng kiến quá trình chuyển đổi kinhtế-xã hội ngoạn mục của Việt Nam, phát triển từ một trong những nước nghèo nhấtthế giới trở thành một nước có thu nhập trung bình Như một hệ quả trực tiếp, vấn
đề bình đẳng giới của nước ta đã có bước chuyển biến to lớn, nhưng vẫn tồn tạinhững chênh lệch quan trọng về giới Thu nhập vốn là một trong những thước đo
Trang 11đánh giá những chênh lệch này khá hiệu quả Mặt khác, vấn đề giới cũng phản ánhmột khía cạnh bất cập trong bất bình đẳng thu nhập hiện nay.
Bất bình đẳng giới về thu nhập đề cập tới mối quan hệ phân phối thu nhập vàgiới Theo đó, sự bất bình đẳng giới trong thu nhậplà phân biệt trong thu nhập đượchưởng của lao động nam và lao động nữ, mặc dù có cùng các đặc tính năng lực vànăng suất lao động như nhau( Rio, C D và các cộng sự, 2006)
Những nghiên cứu, khảo sát tích cực cho thấy: chênh lệch theo thu nhập xéttheo giới tính ở Việt Nam thấp hơn nhiều nước Đông Nam Á khác Thực tế, theonhiều thước đo, thu nhập của phụ nữ đã tăng lên đáng kể Theo WDI của WB, năm
2010, Việt Nam có 73% phụ nữ trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) tham giavào lực lượng lao động, chiếm 49% lực lượng lao động Như vậy, tỷ lệ nữ tham gialao động gần bằng nam giới Đáng chú ý là, tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động tronglĩnh vực dịch vụ (30%) lại cao hơn nam giới (26%)1 Có trên 20% tổng số doanhnghiệp ở Việt Nam do phụ nữ làm chủ, chủ yếu thuộc về khu vực thương mại, dịch
vụ, sản xuất, chế biến nông sản, thủy sản Nhiều tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tếgiỏi không những chỉ làm giàu cho bản thân mà còn đóng góp được nhiều cho xãhội Theo UNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm được 1$ thì nữ giới sẽ kiếmđược 0,69$ (năm 2007) Khi phụ nữ có việc làm, họ sẽ có thu nhập và mang đến sự
tự chủ về kinh tế, sự chia sẻ các quyết định trong gia đình và các cơ hội bình đẳnghơn đối với phụ nữ
Tuy nhiên, khi tìm hiểu các dữ liệu một cách kỹ lưỡng hơn, các vấn đề đặt racho thấy: Việt Nam còn phải vượt qua rất nhiều thách thức trên con đường bìnhđẳng hóa thu nhập giữa lao động nam và nữ Tuy có tỷ lệ tham gia lao động tươngđương nhau, nhưng phụ nữ và nam giới vẫn tập trung vào những ngành nghề khácbiệt nhau
Khoảng cách giới về tiền lương nhìn chung đã giảm từ năm 1990 và ngày nayđang ở mức 65% so với giai đoạn 1992-1993 Theo dữ liệu Khảo sát lực lượng laođộng của WB, trung bình nữ giới được trả lương bằng khoảng 75% so với lươngcủa nam giới (năm 2009)
Bảng 8: Khoảng cách giới về thu nhập trong tháng theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp Khoảng cách giới về thu nhập trong tháng
Lãnh đạo trong mọi lĩnh vực 120,6 84,3
Lao động có kỹ năng trong dịch
vụ cá nhân, bảo đảm an ninh và
bán hàng
Lao động có kỹ năng trong nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Lao động có kỹ năng trong tiểu
thủ công nghiệp và các lao động
chân tay có kỹ năng khác
1 Báo cáo “Bình đẳng giới và Phát triển” (Gender equality and Development) của WB
Trang 12Lao động lắp ráp và vận hành máy
Lao động không có kỹ năng 80,0 75,1
(Nguồn: Điều tra lao động, 2007 và 2009, Khoảng cách giới được tính bằng tỷ lệ
giữa thù lao bình quân của nữ giới trên thù lao bình quân của nam giới)
Bảng số liệu trên cho thấy khoảng cách giới về tiền lương thay đổi đáng kểtheo nghề nghiệp Khoảng cách về lương tháng nhỏ hơn với các nghề nghiệp bậccao – thực tế nữ giới kiếm được nhiều hơn nam giới trong một số lĩnh vực kỹ năngcao, nhưng những người làm nghề đó nhìn chung chiếm một phần rất nhỏ trongtoàn bộ lực lượng lao động Khoảng cách này lớn hơn nhiều với những nghề kém
kỹ năng – nơi tập trung phần lớn lực lượng lao động: 80% lao động không có kỹnăng năm 2007 giảm xuống còn 75 % năm 2009 Tỷ lệ thù lao của nữ so với nam ởcông việc quản trị, quản lý, chuyên môn và dịch vụ cao hơn Tuy nhiên, khoảngcách tiền lương của nữ và nam ở công việc giản đơn có kỹ năng lại thấp hơn ở côngviệc không yêu cầu kỹ năng
Khác biệt về khu vực làm việc cũng ảnh hưởng đến khoảng cách tiền lươngtheo giới Sự đa dạng của các ngành nghề ở đô thị đã đặc biệt hỗ trợ cho sự phâncông lao động theo giới Theo thống kê, ở khu vực nông thôn, có tới 80% công việcthuộc về lĩnh vực nông nghiệp, do đó sự lựa chọn nghề nghiệp là hạn chế, và sựphân biệt giới trong nghề nghiệp không nhiều Ở khu vực đô thị, phụ nữ tập trungrất nhiều vào buôn bán, công nghiệp nhẹ (đặc biệt là dệt may), công sở nhà nước vàdịch vụ xã hội, còn nam giới lại chiếm ưu thế trong các ngành nghề có kỹ năng nhưkhai thác mỏ, cơ khí và chế tạo Những lĩnh vực có ít đại diện của phụ nữ là quản lýhành chính và các lĩnh vực khoa học Thậm chí, cả ở những nghề nơi mà phụ nữchiếm số đông, như công nghiệp dệt may hay giảng dạy tiểu học, nam giới vẫnchiếm một tỷ lệ lớn trong các vị trí lãnh đạo cao hơn
Hơn nữa, tại Việt Nam, phụ nữ chủ yếu làm việc trong khu vực kinh tế tư nhânnên không được hưởng chế độ an sinh xã hội Hơn 50% phụ nữ hiện đang làm côngviệc nội trợ nên không có thu nhập trực tiếp Dữ liệu từ Khảo sát mức sống hộ giađình 2008 cho thấy 44 % nam giới không tham gia vào các công việc nhà trong khi
nữ giới chỉ có 21 % Tỷ lệ nam giới không tham gia công việc gia đình cao, nếu cótham gia thì cũng chỉ một vài giờ, điều này cho thấy sự tồn tại kéo dài của chuẩnmực xã hội coi những công việc gia đình không được trả lương là công việc của nữgiới và hạn chế khả năng của nữ giới trong việc tham gia làm kinh tế, đạt tới cácmức thu nhập cao hơn
II Nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam
1 Mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực
Trong những năm qua, Việt Nam đã lựa chọn mô hình tăng trưởng và thựchiện định hướng phân bổ nguồn lực cho các doanh nghiệp, nghành, dự án sử dụngnhiều vốn, các vùng kinh tế trọng điểm, các doanh nghiệp nhà nước Việc lựa chọn
mô hình tăng trưởng và cơ chế phân bổ nguồn lực như vậy đã tác động mạnh đếnbình đẳng và kéo dài khoảng cách thu nhập
Có mối liên hệ nào giữa tăng trưởng và bất bình đẳng trong thu nhập? Có phảikhuynh hướng tự nhiên là các nước sẽ càng bất bình đẳng khi giàu lên? Và nhữngquy trình kinh tế xã hội nào thúc đẩy sự thay đổi này? Có rất nhiều những nghiên