Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ một số khái niệm về giới, bình đẳng xã hội và bình đẳng giới, từ đó đi sâu vào nguyên dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục ở nước ta hiện na
Trang 1Mục Lục
I Lý do chọn đề tài: 1
II Nội dung 2
1 Đối tượng nghiên cứu: 2
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Phạm vi nghiên cứu: 2
4.Phương pháp nghiên cứu: 2
5 Kết quả nghiên cứu: 2
5.1 Một số khái niệm: 2
5.1.1 Giới: 2
5.1.2 Bình đẳng xã hội: 3
5.1.3 Bình đẳng giới : 3
5.1.4 Bất bình đẳng giới: 3
5.1.5 Giáo dục: 4
5.2 Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục 4
5.2.1 Trên thế giới: 4
5.2.2 Tại Việt Nam: 5
5.3 Một số nguyên nhân của bất bình đẳng giới trong giáo dục: 12
5.4 Những hệ quả của bất bình đẳng trong giáo dục 13
6 Một số giải pháp và kết luận về bất bình đẳng giới 17
6.1 Giải pháp 17
6.2 Kết luận 20
7 Tài liệu tham khảo 21
Trang 2I Lý do chọn đề tài:
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” Bình đẳng giới là một vấn đề rất quan trọng được cả xã hội quan tâm Nếu vấn đề giải phóng phụ nữ và vấn đề cơ bản nhất trong các vấn
đề đấu tranh của phụ nữ thì quyền bình đẳng giữa nam và nữ lại được xem là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đề này Sự bình đẳng nam- nữ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Trong lĩnh vực giáo dục, vấn đề bình đẳng giới càng có ý nghĩa sâu sắc
Giáo dục có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội của con người Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim từng nói: “Giáo dục có chức năng
xã hội hóa cá nhân, giáo dục giúp cho các thế hệ trẻ được chuẩn bị để bước vào cuộc sống xã hội, giáo dục có chức năng củng cố sự đoàn kết xã hội và duy trì trật
tự xã hội
Nghiên cứu bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục là một việc làm cần thiết trong xã hội hiện nay, nhằm mục đích tìm ra các biện pháp nâng cao bình đẳng giới trong giáo dục và trong xã hội Với tư cách là một bộ phận của xã hội, sự nghiệp phát triển giáo dục hiện nay không thể không tính đến vấn đề giới
Chính vì lý do trên chúng tôi chọn đề tài “ Bất bình đẳng giới giữa nam và
nữ trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay”
Chúng tôi xin đi sâu vào nguyên nhân dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới
Trang 3II Nội dung
1 Đối tượng nghiên cứu:
Bất bình đẳng giới giữa nam và nữ trong giáo dục
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Làm rõ một số khái niệm về giới, bình đẳng xã hội và bình đẳng giới, từ đó
đi sâu vào nguyên dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới trong giáo dục ở nước ta hiện nay nhằm đưa ra một số giải pháp góp phần làm giảm tình trạng trên ở Việt Nam
3 Phạm vi nghiên cứu:
Tiểu luận tập trung nghiên cứu về bất bình đẳng nam nữ trong cơ hội,tiếp cận và lợi ích được đến trường của nam và nữ lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam hiện nay
4.Phương pháp nghiên cứu:
Tiểu luận sử dụng phương pháp: nghiên cứu và phân tích tài liệu
5 Kết quả nghiên cứu:
5.1 Một số khái niệm:
5.1.1 Giới:
“Giới (gender): là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ nhìn từ góc độ xã hội, giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể”.(TS Trần Thị Kim Xuyến, tài liệu giảng dạy: “Giới và các vấn đề đô thị”)
Những đặc trưng về giới mang tính xã hội, do xã hội quy định Giới thể hiện các đặc trưng của xã hội của phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng Nó phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, các khu vực, các giai tầng xã hội Các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội về giới hoàn toàn
có thể thay đổi được
Trang 45.1.2 Bình đẳng xã hội:
“Bình đẳng xã hội: là nói tới sự thừa nhận và sự thiết lập các định kiến, các
cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân, các nhóm xã hội” (Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Xã hội học về giới và phát triển, Nxb ĐHQG HN) Trên lý thuyết, bất bình đẳng xã hội có nghĩa là không bằng nhau, không ngang nhau về các khía cạnh cơ bản của đời sống xã hội giữa các cá nhân, các nhóm người Trên thực tế, khái niệm bất bình đẳng xã hội được dùng chủ yếu để chỉ mối tương quan xã hội nào không ngang bằng nhau đến mức gây tổn hại đến quyền và lợi ích của bên yếu thế
5.1.3 Bình đẳng giới :
“Là một cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đang đối diện với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bình đẳng, bảo đảm chống lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực” (TS Trần Thị Kim Xuyến, tài liệu giảng dạy: “Giới và các vấn đề đô thị”)
Trong đó, nam giới và nữ giới được bình đẳng với nhau về:
Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
Các cơ hội tham gia đóng góp và hưởng lợi từ các nguồn lực xã hội và quá trình phát triển
Quyền tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng
Được hưởng thành quả bình đẳng trong mỗi lĩnh vực của xã hội
5.1.4 Bất bình đẳng giới:
Trang 55.1.5 Giáo dục:
là sự dạy bảo chính thức dưới sự hướng dẫn của thầy cô được đào tạo chuyên môn giáo dục chính thức là giáo dục được thực hiện trong nhà trường ở các cấp khác
5.2 Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
5.2.1 Trên thế giới:
Theo một báo cáo của UNICEF, vào tháng 12 năm 2006, nhân dịp kỉ niệm
60 năm ngày thành lập của tổ chức này, việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới
và nâng cao vị thế của phụ nữ sẽ tạo ra một sự tác động sâu sắc và tích cực đến sự sống còn và phát triển của trẻ em Bà Ann M Veneman – Giám đốc điều hành UNICEF phát biểu: “Khi vị thế của người phụ nữ được nâng lên để có một cuộc sống đầy đủ và hữu ích, trẻ em và giáo dục họ sẽ trở nên thịnh vượng” Theo báo cáo này, mặc dù trong những thập kỉ gần đây đã có một số tiến bộ về vị thế của phụ nữ nhưng cuộc sống của hàng triệu “trẻ em gái và phụ nữ vẫn bị đe dọa bởi
sự phân biệt đối xử, việc bị tước quyền và nghèo khổ Hậu quả của sự phân biệt đối xử là trẻ em gái ít có cơ hội được học hơn Ở các nước đang phát triển, gần như 1/100 trẻ em gái đi học ở trường tiểu học sẽ không theo học được hết cấp Trình độ học vấn, theo báo cáo, tương quan đến sự cải thiện về các nguồn lực đầu
tư cho sự sống còn và phát triển của trẻ em
Sự phân biệt giới trong lĩnh vực giáo dục thường diễn ra gay gắt nhất trong nhóm nước nghèo Một nghiên cứu gần đây về tỉ lệ đến trường của các bé gái và
bé trai ở 41 quốc gia đã cho thấy, trong những nước này, sự phân biệt về giới trong tỉ lệ đến trường giữa nhóm nghèo thường lớn hơn giữa những nhóm không nghèo Tuy sự bình đẳng trong giáo dục đã có sự cải thiện rõ rệt trong vòng 30 năm qua ở các nước ngày nay còn phụ thuộc diện thu nhập thấp, nhưng sự chênh lệch về số nam và nữ đến trường ở những nước này vẫn lớn hơn ở các nước có thu nhập trung bình và cao Mặc dù giữa phát triển kinh tế và bình đẳng giới có
Trang 6mối quan hệ nhất định, sự hiện diện của phụ nữ trong thu nhập quốc nội vẫn còn khiêm tốn
5.2.2 Tại Việt Nam:
Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều kiện bình đẳng với nam giới trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Tỷ lệ phụ nữ so với nam giới trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể Chênh lệch về tỷ lệ học sinh nam - nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp ( Báo cáo Quốc gia của Việt Nam, tháng 8 – 2005) đã khẳng định điều này Về cơ bản, Việt Nam có thể đạt được mục tiêu xóa
bỏ cách biệt giới ở các cấp học trước năm 2015 Có bốn loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho người lớn, trong đó có phụ nữ Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều so với trước
Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc biệt là vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành Giáo dục & Đào tạo đã thực hiện tương đối tốt số cơ sở đào tạo lớn vốn có truyền thống nam giới lãnh đạo như Đại học Bách khoa Hà Nội nay đã có nữ giới giữ vị trí Phó hiệu trưởng Nhiều nữ nhà giáo được phong tập và rèn luyện, đạt kết quả xuất sắc Trong các kỳ tuyển sinh vào cao đẳng, đại học nhiều thủ khoa là học sinh nữ Còn trong các kỳ thi tốt nghiệp, nhiều sinh viên nữ nhận bằng cử nhân với thành tích xuất sắc: thủ khoa ,ở bâc đại học và cao học tỉ lệ sinh viên nữ đang có xu hướng tăng dần đều qua các năm 2004-2007 (47,79% ; 48,49% ; 53,32% ), trong đó năm học 2006-2007 tỉ lệ hoc sinh , sinh viên nữ còn cao hơn tỉ lệ học sinh ,sinh viên (53,32% ; 42,68% )
Trang 7Bảng 1 : Tỉ lệ học sinh , sinh viên nữ trong các trường cao đẳng đại học
và phụ nữ dân tộc thiểu số ở các vùng sâu , vùng xa còn nhiều khó khăn và trở ngại so với các e trai và nam giới Vì phụ nữ , trẻ em ở những gia đình nghèo ,ở các vùng dân tộc thiểu số ít được đi học, thường phải bắt đầu làm việc từ khi còn rất ít tuổi, trong khi các trẻ em trai được đến trường hơn So với trẻ em nam, thì trẻ em nữ không được đến trường chịu nặng gấp ba lần : làm việc nhà,vừa lo học tập ở trường,vừa phụ giúp gia đình không được trả công Gánh nặng kinh tế đặt lên vai người phụ nữ từ khi còn nhỏ,vì thời gian lớn giành phụ giúp kinh tế gia
đình nên thời gian giành cho việc học phải giảm xuống Bởi quan niệm phụ nữ
không cần phải học nhiều ,học càng nhiều càng “khó dạy bảo” và hoàn toàn
không cần thiết.Theo quan niệm xã hội,phụ nữ phải chăm lo công việc của gia đình,nội trợ may vá thiêu thùa Bên cạnh đó thì hiện nay tỷ lệ giảng viên theo
ngành học có sự khác biệt không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác vẫn tồn tại sự khác biêt về giới trong đội ngũ giảng viên bậc đại học
Theo khảo sát của ngân hàng Thế Giới năm 1999 cho thấy: nữ giảng viên tập trung với tỷ lệ cao ở các lĩnh vực đào tạo truyền thống, được coi là hợp nữ giới như: y-dược chiếm (40,3%) khoa học xã hội và nhân văn (38,5%) và cao
Trang 8nhất là sư phạm chiếm 51,8% Trong đó,tỷ lệ nữ giảng viên ở các ngành kỹ thuật chỉ có 24,5% và khoa học tự nhiên là 29,7% Ngoài ra,tỷ lệ nữ giảng viên trong các trường cao đẳng chiếm 50,9% cao hơn các giảng viên trong các trường đai học( 41,7%) Đặc biệt tỷ lệ nữ giảng viên trong các trường tỉnh quản lý chiếm tới (52,8%) Tỷ lệ nữ gaingr viên trong các trường đại học lớn,có đào tạo sau bậc đại học là 43,6% Các số liệu trên đây cho thấy tỷ lệ phân bố nữ giảng viên theo lĩnh vực đào tạo và loại hình trường còn thiếu cân đối : Nữ giảng viên còn ít có mặt trong các lĩnh vực khoa hcoj công nghệ “ trọng điểm”,mà chủ yếu tạp trung ở các lĩnh vực được coi là nhẹ nhàng, phù hợp với nữ, nhưng ít được coi trọng và ít thu nhập hơn.Nữ giảng viên tập trung giảng dạy ở các trường cao đẳng nhất là cao đẳng sư phạm của các tỉnh hay đại học có quy mô nhỏ
Số liệu giảng viên ở Đại học Quốc gia Hà Nội cũng phản ánh được một tình trạnh tương tự như bức tranh của toàn quốc về số lượng giảng viên theo các khối ngành:
Trang 9Bảng 2: Tỷ lệ giảng viên nữ theo các ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội
(tính đến 31/12/2015)
stt Tên cơ sở đào tạo
(Trường,khoa,bộ,môn)
Tổng số CB-CNV
Tổng số giảng viên
Giảng viên nữ
Tỷ lệ giảng viên nữ so với nam
1 Trường đại học khoa học
2 Trường đai học khoa học xã
có điều kiện theo học.Bên cạnh đó,sự cố gắng vươn lên của chị em nhằm đáp ứng nhu cầu của công việc và một phần do sức ép của các chính sách như : chuẩn hoá cán bộ,nâng chuyển ngạch lương
Trang 10Tuy nhiên,thực tế tỷ lệ nữ giảng viên có chuyên môn cao còn thấp hơn nhiều
so với giảng viên nam và chưa thự sự tương xứng vói tiềm năng của phụ nữ, đặc biệt ở trình đọ tiến sĩ, tỷ lệ giảng viên nam cao gấp 5 lần giảng viên nữ, cách biệt giới càng gia tăng theo học hàm, với 14,7% nữ giảng viên có học hàm phó giáo
sư và chỉ có 6% học hàm giáo sư Điều này cho thấy khoảng cách giới về trình độ giữa nam giảng viên và nữ giảng viên đại học rất lớn và không dễ thu hẹp ( Xem bảng )
Bảng 3: Học vị và hoc hàm của giảng viên nữ trong các trường đại học năm 2006
( Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo-vụ kế hoạch tài chính, 2006 )
Có thể nói rằng bình đẳng trong giáo dục qua có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển đất nước.Vì vậy có một nhà giáo đã viết : Giáo dục một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ nữ ta được cả một thế hệ Lợi ích trăm năm trồng người chính là xuất phát từ giáo dục
Trang 11Về tồn tại:
Trẻ em gái ít cơ hội được đến trường so với nam giới Nếu tính trung bình cho tất cả các quốc gia đang phát triển, tỷ lệ phụ nữ biết chữ thấp hơn 29% so với nam giới, số năm đến trường trung bình thấp hơn 45% so với nam giới và tỷ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông của nữ thấp hơn tương ứng là 9%, 28% và 49% so với nam
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới Tuy nhiên, theo kết quả điều tra chọn mẫu của Ngân hàng Thế giới, Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2000 (Tấn công nghèo đói, Hà Nội, 1999) Năm 1997 – 1998, tỉ
lệ dân số nữ từ 15 tuổi trở lên chưa đến trường là 13,4%, nhiều hơn hai lần tỉ lệ nam: 5,2% Số năm đi học trung bình của dân số nam từ 6 tuổi trở lên là 6,7 năm, nhiều hơn số năm đi học của nữ: 5,6%
Trang 12Biểu đồ và bảng số liệu:
Số lượng học sinh phổ thông tại thời điểm ngày 31 tháng 12 giai đoạn
2000-2009 phân theo giới tính ( Ngân hàng thế giới, báo cáo phát triển Việt Nam năm
2000 Tấn công nghèo đói, Hà Nội 1999)
Trang 13Tuy nhiên, nhìn vào biểu đồ, ta cũng có thể nhận thấy, từ năm 2000 đến
2009, số nữ đi học cấp III đã tăng lên đáng kể Đây là một dấu hiệu tích cực để đánh giá sự bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục
5.3 Một số nguyên nhân của bất bình đẳng giới trong giáo dục:
Hiện tượng bất bình đẳng tạo ra những hệ quả xã hội to lớn Ảnh hưởng từ quá trình tiếp cận nguồn lực của nam giới và phụ nữ đến sự phát triển của xã hội
là một thực tế đã được chứng minh Vậy nguyên nhân tại sao sự phân biệt đó vẫn
cứ tồn tại dai dẳng? Một số kiểu bất bình đẳng giới còn khó thủ tiêu hơn cả các hiện tượng xấu khác của xã hội? Dưới đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến các quan hệ giới và bất bình đẳng xã hội
Các thể chế xã hội, các chuẩn mực xã hội, tập quán xã hội, quyền hạn, luật lệ
- cũng như các thể chế kinh tế như thị trường… tác động rất lớn đến loại nguồn lực nào mà họ được tiếp cận, hoạt động nào mà giới nào được phép tham gia, giới nào được phép tham gia nền kinh tế - xã hội dưới hình thức nào Chính những thể chế đó đã quy định động cơ khuyến khích hay không khuyến khích các định kiến giới Ngay cả khi chúng không công khai phân biệt thì những thể chế chính thức hay không chính thức đó vẫn thường chịu sự tác động bởi các chuẩn mực xã hội
về những vai trò thích hợp theo giới Có rất nhiều thể chế có những sức người nhất định của nó, khiến rất khó và rất chậm để có thể thay đổi được
Một nguyên nhân nữa là do các quan niệm của gia đình Các định kiến gia đình đã định hình các mối quan hệ giới ngay từ đầu của quá trình xã hội hóa cá nhân và còn truyền tải chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác Có những định kiến giới của cha mẹ biểu hiện như: quan niệm cho rằng các em gái không cần phải học nhiều mà cần phải làm việc nội trợ giúp gia đình
Đời sống kinh tế cũng ảnh hưởng rất nhiều đến bình đẳng giới trong giáo dục Tình trạng đói nghèo của gia đình, trình độ học vấn thấp của cha mẹ, các nghiên cứu xã hội học về giáo dục cho thấy một tỉ lệ bỏ học rất đáng kể của những trẻ em xuất thân từ gia đình nghèo, cha mẹ ít học thậm chí là không biết