Mục tiêu:Trao đổi với đồng nghiệp về hình thức, cách thức, biện pháp giảng dạy tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại nằm trong chương trình Ngữ văn THCS hiện hành trước học sinh THCS và nhữn
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn chuyên đề:
Ngữ văn là một trong những môn khoa học mũi nhọn trong nhà trường, có
nhiệm vụ giáo dục và giúp người học “biết cách tư duy” trước những giá trị Chân
– Thiện – Mĩ M Gor-ky – văn hào Nga – đã khẳng định “Văn học là nhân học” Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quá trình đọc – hiểu văn bản hòa nhập công cuộc đổi mới giáo dục, bước kịp thời đại? Bằng cách nào, biện pháp nào để quá trình dạy của thầy đạt được mục tiêu và hiệu quả cao nhất? Làm thế nào để khởi động, phát động tâm hồn, ý chí, sự hứng thú của học sinh trong quá trình học? …
Đó là một câu hỏi xuất từ thực tiễn dạy học Ngữ văn trong nhà trường THCS nói chung và dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại nói riêng Như chúng ta đều biết, đặc trưng của dạy học Văn là dạy học theo tư duy hình tượng – cảm xúc – thẩm mĩ Bên cạnh đó, việc dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại vừa phải tiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng bộ môn, vừa phải mang bản chất xã hội, bản chất giai cấp Hai mặt này gắn liền khăng khít với nhau, thâm nhập vào nhau Nếu không chú ý đúng mức thì việc dạy học văn học rất dễ thiên về nội dung tư tưởng, chính trị một cách gò bó, cứng nhắc, hoặc thiên về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ một cách phiến diện, trống rỗng Giữ vững thế thăng bằng trong đọc – hiểu tác phẩm truyện là bản lĩnh sư phạm, là nghiệp vụ sư phạm của người giáo
viên Nói về vấn đề này, giáo sư Lê Trí Viễn đã khẳng định: “Giảng văn rõ ràng là
khó Nói như vậy để nêu ra một sự thật Không phải nhằm hù doạ, càng không phải để làm ngã lòng.” Bởi thế, quá trình dạy học Văn đã và đang khiến đông đảo
đội ngũ giáo viên Ngữ văn THCS phải băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi con đường tiếp cận tác phẩm văn học để làm sao có thể ngày càng phát huy mạnh mẽ hiệu quả giáo dục phong phú của nó, góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục đích giáo dục trong giai đoạn hiện nay
Mỗi tác phẩm văn học đều tồn tại dưới một hình thức nhất định và có liên quan khăng khít đến nội dung chủ đề Việc đọc – hiểu hiệu quả một tác phẩm đòi hỏi phải có phương pháp, cách phân tích phù hợp với nó Để góp phần trao đổi và phần nào tháo gỡ mối băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi bấy lâu của đồng nghiệp, chúng
tôi mạnh dạn viết chuyên đề: Giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại
Đây là vấn đề hết sức phức tạp về mặt lý luận văn học cũng như về mặt lý luận dạy học nhưng chỉ được nghiên cứu trong thời gian có hạn và trong phạm vi chưa thật rộng rãi nên đề tài này chắc chắn sẽ có nhiều thiếu sót Chính vì thế, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của đồng nghiệp gần xa để đề tài này được hoàn thiện hơn, có ý nghĩa hơn trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học
II Mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên đề:
Trang 21 Mục tiêu:
Trao đổi với đồng nghiệp về hình thức, cách thức, biện pháp giảng dạy tác
phẩm truyện Việt Nam hiện đại (nằm trong chương trình Ngữ văn THCS hiện
hành) trước học sinh THCS và những yêu cầu của đổi mới giáo dục.
Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng đọc – hiểu văn bản truyện Việt Nam hiện đại Đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều
đã học vào cuộc sống
Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu văn học và những tình cảm tốt đẹp có giá trị truyền thống của dân tộc và nhân loại
2 Nhiệm vụ:
Giới thiệu một số kiến thức cơ bản (vị trí, đặc điểm, chức năng, ) của tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THCS hiện hành
Giới thiệu phương pháp dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại, có kết hợp minh họa một số tác phẩm tiêu biểu trong chương trình
III Đối tượng nghiên cứu:
Giáo án Ngữ văn THCS và các giờ dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại ở trên lớp của giáo viên
IV Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Giáo án Ngữ văn THCS và các giờ dạy học tác phẩm truyện Việt Nam hiện
đại ở trên lớp của giáo viên trong các đợt đi thanh tra chuyên môn hằng năm (theo
Quyết định của Phòng GD&ĐT M’đrắk) và của đồng nghiệp trong Cụm chuyên
môn số 1 (thành lập theo Quyết định của Phòng GD&ĐT M’đrắk, ngày 01 tháng
12 năm 2012).
V Phương pháp nghiên cứu:
Với chuyên đề này, tôi sử dụng nhóm năm phương pháp chính như sau:
1 Phương pháp khảo sát và phân loại
2 Phương pháp điều tra
3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
4 Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
5 Phương pháp thực nghiệm (dạy trên lớp)
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận:
1 Nhận thức về vị trí của tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại trong chương trình Ngữ văn THCS:
Trong chương trình Ngữ văn THCS, bên cạnh những tác phẩm kí, truyện kí, tiểu thuyết, văn nghị luận, truyện trung đại và truyện nước ngoài thì số lượng tác
phẩm truyện Việt Nam hiện đại chiếm một số lượng rất phong phú và xuyên suốt
một thời gian dài Tác phẩm truyện có thời gian sáng tác sớm nhất (viết 1918) được
đưa vào chương trình là “Sống chết mặc bay” (Phạm Duy Tốn) ở lớp 7 Tác phẩm
có thời gian sáng tác gần đây nhất (1985) được đưa vào chương trình là “Bến quê”
(Nguyễn Minh Châu) ở lớp 9 Sự sắp xếp ấy đã gián tiếp khẳng định vị trí rất quan trọng của tác phẩm truyện trong chương trình, nhất là ở đầu và cuối cấp Bảng
thống kê (theo phân phối chương trình Ngữ văn THCS hiện hành) sau đây đã
chứng minh điều đó:
1
6
Bài học đường đời đầu tiên (Trích chương I “Dế Mèn phiêu lưu kí”)
2 Sông nước Cà Mau (Trích “Đất
rừng phương Nam”)
3 Vượt thác (Trích chương XI
“Quê nôi”)
4 Bức tranh của em gái tôi (Trích
“Con dế ma”)
5
7
6 Những trò lố hay Va-ren và Phan
Bội Châu
8
9
11 Lặng lẽ Sa Pa (Trích “Giữa trong
xanh”)
2 Nhận thức về vai trò của chương trình tác phẩm truyện:
Như chúng ta đã biết chương trình Ngữ văn THCS được cấu tạo theo nguyên
tắc đồng tâm, trên cơ sở lấy 06 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận,
Trang 4thuyết minh, điều hành làm trục đồng quy với một sự tiếp nối, kế thừa và phát
triển nâng cao rất lôgíc và hợp lí Vì thế, nhóm tác phẩm truyện Việt Nam hiện đại được phân bố từ lớp 6 đến lớp 9 không đi chệch nguyên tắc đó
Nhóm tác phẩm truyện nói trên không chỉ giúp học sinh có những hiểu biết
cụ thể về quê hương, đất nước, con người Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ đầu thế kỉ XX cho đến sau năm 1975, đặc biệt là đất nước và con người trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ mà còn qua đó tự rèn luyện
và bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp sẵn có và chưa có: sự đồng cảm trước số phận khổ đau, bất hạnh của con người; biết lên án cái xấu, cái ác; lòng yêu quê hương, đất nước; tinh thần trách nhiệm trong cuộc sống; biết trân trọng những giá trị bình dị mà đẹp đẽ của gia đình, của quê hương; …
Không chỉ có vai trò giáo dục tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ, nhóm tác phẩm trong chương trình còn giúp học sinh vận dụng kiến thức trong quá trình đọc – hiểu văn bản (chủ đề, nhân vật, sự việc, lời kể, …) vào quá trình thực hành tạo lập các văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, …vv
3 Nhận thức về đặc trưng của tác phẩm truyện:
Truyện là một thể tài văn học dùng lối kể chuyện để phản ánh hiện thực và biểu hiện tâm tư con người Chính vì thế, trong một tác phẩm truyện luôn có ba đăc trưng cơ bản sau đây có mối quan hệ khăng khít với nhau:
Một là tình tiết (hay còn gọi là cốt truyện) Tình tiết là những sự việc đang
xảy ra, đang diễn biến, có sự tham gia của những con người với những hành động, ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách, … của họ trong mối quan hệ với hoàn cảnh thiên nhiên, hoàn cảnh xã hội và trong mối quan hệ lẫn nhau Tình tiết làm cho những sự việc những sự việc ngẫu nhiên hằng ngày kết tinh, ngưng đọng thành truyện Tình tiết của truyện có khi đơn tuyến, có khi đa tuyến, có khi một chiều, có khi nhiều chiều Vì thế, dù biến hoá trăm màu nghìn vẻ, tình tiết luôn tồn tại trong truyện
Hai là nhân vật Đối tượng của truyện là con người với cuộc đời bên trong
và cuộc đời bên ngoài của họ cho nên trung tâm của tình tiết, của tuyện là nhân vật
Dù ở trạng thái này hay trạng thái khác, sự tồn tại và hoạt động của nhân vật giữa
hệ thống các sự việc, các biến cố của cốt truyện là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực
Ba là lời kể (hay còn gọi là ngôn ngữ nghệ thuật) Lời kể của tác giả hay
người kể chuyện như là cái nền ngôn ngữ trên đó dệt nên hình tượng của tác phẩm
tự sự đồng thời cũng là nơi bộc lộc tư tưởng, tình cảm, cá tính, phong cách của nhà văn
4 Nhận thức về nguyên tắc giảng dạy tác phẩm truyện:
Trang 5Ngoài những nguyên tắc chung, trong quá trình dạy học tác phẩm văn chương, cả thầy và trò cần chú ý đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, bảo đảm mối liên hệ với lịch sử phát sinh và hoàn cảnh môi trường tiếp nhận Bởi bất kì tác phẩm văn học nào cũng được viết trong một hoàn cảnh
lịch sử xã hội nhất định (có khi là hoàn cảnh lịch sử cá nhân) cho nên cần tìm hiểu
để hiểu đúng, hiểu đủ, hiểu sâu về tác phẩm Tác phẩm văn học tuy được viết trong một hoàn cảnh nhất định nhưng lại được tiếp nhận ở những hoàn cảnh, những thời đại khác nhau Mỗi thời đại lại có tư tưởng chính trị riêng, có quan điểm thẩm mĩ riêng nên nhìn tác phẩm thông qua lăng kính của thời đại
Hai là, bảo đảm tính chỉnh thể của tác phẩm Tác phẩm văn học là một tổng thể liên kết các yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau nhằm tạo nên một nội dung ý nghĩa nhất định, theo ý đồ của nhà văn Để đảm bảo chỉnh thể, trước hết là đảm bảo tính chỉnh thể của từng bộ phận Bởi vì mỗi bộ phận là một chỉnh thể nhỏ Ghép nhiều chỉnh thể bộ phận sẽ tạo thành một chỉnh thể tổng thể
Ba là, đảm bảo đặc trưng thể loại tác phẩm Mỗi thể loại văn học (tự sự, trữ
tình, nghị luận, …) đều có các biện pháp riêng để thể hiện chủ đề, tư tưởng tác
phẩm Vì vậy, quá trình đọc – hiểu văn bản sẽ khác nhau theo từng thể loại khác nhau
5 Nhận thức về phương pháp giảng dạy tác phẩm truyện:
Có thể khẳng định rằng, phương pháp dạy tác phẩm văn chương rất đa dạng Mỗi đối tượng dạy học có những phương pháp phù hợp khác nhau Bởi phương pháp tốt nhất là phương pháp phù hợp nhất, hiệu quả nhất Tuy nhiên, xét quá trình đọc - hiểu tác phẩm truyện thì có hai phương pháp cơ bản sau đây:
Một là, đọc – hiểu theo phương pháp giảng – bình Đây là phương pháp được kế thừa truyền thống dạy văn, bình văn của dân tộc ta đã được cải tiến: giảng bình kết hợp với các thao tác gợi mở để học sinh vừa lĩnh hội, vừa chủ động tích cực nhận thức
Hai là, đọc – hiểu theo phương pháp gợi mở Đây là phương pháp quan trọng nhất, phổ biến nhất trong dạy học văn hiện đại Phương pháp này phát huy tối đa năng lực tự nhận thức của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Phương pháp này gồm hai thao tác: hệ thông thao tác gợi mở và hệ thống thao tác giảng bình Trong đó, hệ thống thao tác gợi mở là chủ đạo, hệ thống thao tác giảng bình đóng vai trò hỗ trợ
Ngoài ra, người giáo văn phải là nhà khoa học sư phạm, người nghệ
sĩ chuyên nghiệp trên bục giảng Quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu, tiếp nhận
giá trị của tác phẩm, giáo viên phải biết định định hướng cho HS tìm hiểu, phân tích tác phẩm; khuyến khích các em tinh thần phản biện, tìm tòi, phát hiện những
Trang 6cái đẹp, cái hay (và cả cái khiếm khuyết) của tác phẩm; sử dụng linh hoạt các hình thức dạy học: khi thì phát vấn; lúc thì phân tích, tổng hợp; khi thì diễn giảng; khi còn tạo ra những “khoảng lặng nghệ thuật” để học trò thẩm thấu tác phẩm; dáng
vẻ, khuôn mặt, giọng điệu và các sắc thái tình cảm trong lời giảng; chữ viết bảng
và lối trình bày bảng của giáo viên
II Thực trạng:
1 Thuận lợi, khó khăn:
a Thuận lợi:
Đội ngũ giáo viên Ngữ văn THCS đều được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn
(đại học); được tham gia các lớp tập huấn về đổi mới phương pháp giảng dạy do
Phòng và Sở GD tổ chức; đa số giáo viên có tâm huyết, có trách nhiệm với nghề;
có ý thức chủ động, tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn
Về phía học sinh, đa số các em đều chịu khó học tập Vẫn còn học sinh thích học văn, mê văn; vẫn có những bài viết hay, vẫn có học sinh giỏi văn nhưng không thật sự nhiều của học sinh
b Khó khăn:
Việc thực hiện đổi mới phương pháp ở một bộ phận không nhỏ giáo viên còn mang tính chất hình thức, đối phó (!?) Một số giáo viên vẫn giữ thói quen dạy học theo kiểu đọc – chép và nhồi nhét, vì áp lực: Sợ “cháy” giáo án! Bên cạnh đó cũng
có giáo viên đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy!
Về phía học sinh, tồn tại lớn nhất là thói quen học thụ động, thiếu sáng tạo.
Lên lớp chỉ thích nghe và chép rồi tái hiện máy móc bằng những ý vay mượn, bằng
những lời có sẵn Bên cạnh đó là không biết tự học Một thực tế đáng buồn là học
sinh ngày nay rất lười Về nhà không chịu đọc tác phẩm, không chịu soạn bài, nếu
có thì cũng là chép tài liệu mà không hiểu điều gì! Đặc biệt là tình trạng học sinh
thiếu hứng thú, đam mê học văn Có thể nói hiện nay có rất ít học chịu khó đọc
sách để thấy được cái hay, cái đẹp của văn chương, biết rung động trước những câu văn hay, tác phẩm văn học hay Vì thê vốn từ nghèo nàn, từ ngữ tối nghĩa, dung tục, câu văn và đoạn văn khô cứng, sai hoặc lẫn lộn kiến thức đang diễn ra ngày một phổ biến
2 Các nguyên nhân, yếu tố tác động:
Thực trạng đáng buồn nói trên do nhiều nguyên nhân, yêu tố tác động, nhưng tựu chung có hai nguyên nhân cơ bản sau đây:
Trang 7Một là, xã hội chưa thực sự coi trọng môn Văn Phải nói rằng mặt trái của sự phát triển khoa học công nghệ đã tác động đến tâm lý của học sinh và cả phụ huynh Các em đã sai lầm khi cho rằng chỉ cần biết đọc, biết nói là ổn chứ học văn
có yếu thì cũng không sao, quan trọng là học các môn khoa học tự nhiên – những môn học thời thượng – để sau này dễ học việc, dễ tìm việc Mặt khác là có nhiều em chịu khó đầu tư học văn, đi thi đậu khối C, nhưng học xong rồi loanh quanh, vất vả chạy đi tìm việc cả mấy năm trời cũng không được Chính vì thế mà ngày càng hiếm học sinh thích học văn và đương nhiên là chất lượng môn văn không cao
Hai là, phụ huynh học sinh không tha thiết với việc học văn của con em mình Thực tế cho thấy đại đa số phụ huynh sẵn sàng đầu tư cho con học và học thêm các môn: Toán , Lý, Hóa, Anh văn, … Nghe nói đến học văn thì chắt lưỡi, bỉu môi rằng học văn thì sau này chẳng làm được gì (?!)
Bai là, nội dung chương trình có một số bài còn nặng nề, khó hiểu, xa lạ với học sinh Thực tế mà nói rằng nội dung, chương trình còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành nên học sinh ít có cơ hội rèn luyện nhuần nhuyễn các kĩ năng văn chương
Đã thế nội dung ở nhiều tác phẩm văn học không còn phù hợp với cuộc sống hiện đại,
xa lạ, khó hiểu và và gây nhàm chán cho học sinh Thứ nữa là phương pháp dạy của người thầy còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt và áp đặt khiến cho bài dạy khô khan, nhàm chán đã vô tình thui chột lòng đam mê, sự hứng thú học tập của học sinh
III MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN:
Giải pháp 1: Giáo viên cần phải xác định được các chặng trong quá trình giảng dạy một tác phẩm văn học.
a Mục tiêu của giải pháp này là chỉ ra và định hình được các chặng có tính
nguyên tắc trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học: đọc – hiểu – vận dụng
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:
Khi dạy học văn chương nói chung, dạy học tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam nói riêng, một trong những “phần cứng” có tính nguyên tắc buộc giáo viên phải tuân thủ:
Một là, ĐỌC Đây là chặng mà giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm văn học bằng cảm tính.
Hai là, HIỂU (gợi mở và giảng - bình) Đây là chặng mà giáo viên hướng dẫn học sinh thâm nhập tác phẩm văn học bằng lý tính.
Ba là, VẬN DỤNG Đây là chặng mà giáo viên tổ chức học sinh vừa củng
cố kiến thức, vừa rèn luyện các năng lực cảm thụ văn học
Giải pháp 2: Giáo viên cần phải định hình cho học sinh trình tự chung, dàn ý đại cương của quá trình đọc – hiểu tác phẩm văn học hiện đại.
Trang 8a Mục tiêu của giải pháp này là chỉ ra và tuân thủ trình tự chung, dàn ý đại
cương trong quá trình giảng dạy tác phẩm văn học: tác giả – tác phẩm – tổng kết – luyện tập, vận dụng
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:
Một là, sơ lược về tác giả: tên, tuổi, bút danh, quê quán, sự nghiệp văn học
và phong cách nghệ thuật
Hai là, sơ lược về tác phẩm: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, thể loại và phương thức biểu đạt, nhân vật, bố cục, tóm tắt truyện, đại ý
Ba là, phân tích tác phẩm: tình tiết (cốt truyện), nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm (lời kể)
Bốn là, tổng kết: giá trị nội dung và nghệ thuật
Năm là, luyện tập: học sinh vận dụng kiến thức đã đọc – hiểu để rèn luyện năng lực cảm thụ văn chương
*** Kinh nghiệm cho thấy, đây là một việc làm thiết thực của người giáo viên Ngữ văn giúp cho học sinh biết chủ động tự học và sáng tạo Tuy nhiên, trình
tự trên cần được vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong đọc – hiểu tác phẩm
Giải pháp 3: Trong quá trình đọc – hiểu tác phẩm truyện, giáo viên cần vận dụng linh hoạt phương pháp gợi mở, giảng bình để hướng dẫn và phát huy tính tích cực của học sinh trong việc tìm hiểu nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ nghệ thuật của truyện.
a Mục tiêu của giải pháp này là xác định và sử dụng hệ thống phương
pháp đặc thù để tổ chức, hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh giá trị tư tưởng tình cảm
và những thành công nghệ thuật của một tác phẩm văn học cụ thể: tình tiết – nhân vật – nghệ thuật
b Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp:
Như chúng ta đã biết, hình tượng nghệ thuật của truyện mang nội dung
hiện thực và nội dung tư tưởng, đồng thời được cấu tạo nhuần nhuyễn, hữu cơ qua
ba yếu tố: tình tiết (cốt truyện) – nhân vật – lời kể (ngôn ngữ nghệ thuật) Vì thế,
để học sinh cảm thụ đầy đủ và sâu sắc giá trị nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ
thuật của tác phẩm truyện, giáo viên không thể không tổ chức, hướng dẫn học sinh
tìm hiểu ba yếu tố nói trên, cụ thể như sau:
Một là, trong tác phẩm truyện, nội dung chủ yếu của kết cấu tác phẩm chính
là sự phát triển của tình tiết Để có thể phân tích được sự phát triển của tình tiết trong một tác phẩm truyện, ngay ở chặng hướng dẫn học sinh tìm hiểu tác phẩm
văn học bằng cảm tính, giáo viên cần tổ chức cho học sinh tìm hiểu và phân tích
bố cục của tác phẩm để bước đầu nắm vững cấu tạo của văn bản và hình tượng
Trang 9tác phẩm Sự phân tích kết cấu của truyện nên hướng vào việc tìm ra được các chặng phát triển của tình tiết, từ đó nắm được cấu tạo của hình tượng tác phẩm Vì
thế, khi phân tích kết cấu đại cương của một truyện thường là sự lược thuật cốt truyện một cách có phương pháp, không sợ sa vào lối “nhại” lại một cách nhạt nhẽo nội dung của tác phẩm, đồng thời tạo điều kiện cho bước phân tích nhân vật.
Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu tác phẩm “Sống chết mặc
bay” (Phạm Duy Tốn) trong chương trình Ngữ văn 7, giáo viên cần chú ý hướng
dẫn học sinh làm rõ ba chặng phát triển của tình tiết trong tác phẩm Ban đầu,
tác giả miêu tả cảnh hàng trăm ngàn dân phu đội mưa, đội gió, bì bõm dưới bùn, xao xác gọi nhau đắp, cừ, để bảo vệ con đê từ chiều đến gần một giờ đêm trong
âm thanh tiếng trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi
Đối lập với cảnh hộ đê là cảnh nhân vật quan phụ mẫu ở trong một ngôi đình cao ráo, vững chãi, đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng và người hầu đi lại rộn
ràng; quan phụ mẫu đi hộ đê mang theo những vật dụng sang trọng (tráp đồi mồi,
trầu vàng, đồng hồ vàng, …) cùng đồ ăn thức uống quý hiếm (yến sào); ngài ngồi
chễm chện cho người hầu phục vụ (gãi, quạt, điếu đóm) và đánh bài ăn tiền Ngôn ngữ của quan khi gắt gỏng, hách dịch (Có ăn không thì bốc chứ!), lúc vui sướng (Đây rồi! … Thế chứ lại! Ù! Thông tôm, chi chi nảy! …Điếu, mày!), khi có người liều mạng vào báo đê vỡ thì quan lại quát mắng, dọa dẫm (Mặc kệ! Đê vỡ rồi thì
ông cắt cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! )
Cuối cùng, trong niềm vui quan thắng ván bài ù là cảnh đê vỡ, dân trôi Người chết không có chỗ chôn, kẻ sống không có chỗ ở
Hai là, phải nói rằng từ trước đến nay, trong việc giảng dạy tác phẩm truyện,
không phải chúng ta chưa hề biết lấy việc phân tích nhân vật Tuy nhiên, trong việc phân tích nhân vật, một số giáo viên thường tách tời, cô lập nhân vật với tình tiết, chưa thật sự chú trọng lấy việc phân tích tình tiết để chuẩn bị cho việc phân tích nhân vật Vì vậy, sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự phát triển của tình tiết,
giáo viên cần giúp học sinh cảm thụ sâu sắc và đánh giá được đúng đắn các nhân
vật trong truyện Trong tác phẩm văn học, nhân vật là nơi tập trung biểu hiện tư
tưởng, tình cảm của tác phẩm và tác giả Vì thê, nhân vật trong tác phẩm không là hình tượng những con người đang sống, suy nghĩ, cảm xúc, hành động trong những môi trường, hoàn cảnh, tình huống, những con người có quá trình, có vận mệnh, có khi có cả bản sắc, có tính cách
Chẳng hạn, khi hướng dẫn học sinh đọc – hiểu nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao, chương trình Ngữ văn 8, sau khi phân tích sơ qua bố cục tác phẩm, ta đặt ngay vấn đề phân tích nhân vật lão Hạc thì sự phân tích
đó chưa được chuẩn bị Vì học sinh chưa cảm thụ được đầy đủ các mặt hành động,
Trang 10ngôn ngữ, cũng như mọi tình tiết khác về nhân vật Nhưng nếu sau khi đã tiến hành phân tích tình tiết của văn bản một cách kĩ lưỡng, học sinh đã theo dõi được diễn biến tâm trạng, hành động của nhân vật lão Hạc trước và sau khi con trai lão phẫn chí đi đồn điền cao su thì lúc ấy sự phân tích, bình giá về nhân vật lão Hạc đã trở nên thuận lợi, dễ dàng, vì học sinh đã nắm được những tư liệu cần thiết để có “ý kiến” về nhân vật
Về mặt phương pháp, yêu cầu chủ yếu đối với sự phân tích nhân vật là phải
đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ riêng biệt đến khái quát Phân tích nhân vật phải là
sự phân tích hình tượng Muốn vậy, trong khi phân tích cần lưu ý cho học sinh lưu
ý đến các chi tiết miêu tả, tự sự, nhận xét về nhân vật trong văn bản Những chi tiết
này có khi được bộc lộ rõ ràng, nhưng thường rât tế nhị, kín đáo ẩn trong lời văn
mà học sinh đọc qua thường ít khi chú ý Chẳng hạn, ta sẽ không thể hiểu đầy đủ
và sâu sắc về nhân vật bé Thu (truyện ngắn “Chiếc lược ngà” – Nguyễn Quang
Sáng) nếu không lưu ý đến các chi tiết miêu tả diện mạo của bé Thu trong lời kể của bác Ba – bạn chiến đấu của anh Sáu – trong buổi chia tay anh Sáu lên đường:
“Vẻ mặt của nó có cái gì hơi khác, nó không bướng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu, cái vẻ buồn trên gương mặt ngây thơ của con bé trông rất dễ thương Với đôi mi uốn cong, và như không bao giờ chớp, đôi mắt nó như to hơn, cái nhìn của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa.” (Ngữ văn 9, trang 197) Qua sự miêu tả đó, bước đầu ta nhận thấy
được cá tính sâu sắc cùng lòng yêu cha sâu sắc và mãnh liệt đến nhường nào ẩn trong sự ngây thơ của một đứa trẻ vv
Bên cạnh đó, trong khi phân tích nhân vật, GV cũng cần chú ý hướng dẫn
HS phát hiện và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, sắp xếp theo trình tự hợp lý nhằm
làm sáng tỏ tính cách nhân vật Lưu ý đến các chi tiết miêu tả, tự sự, nhận xét về
nhân vật chưa phải đã là phân tích nhân vật Trong một tác phẩm truyện, những chi tiết về một nhân vật có rất nhiều và tầm quan trọng của chúng trong việc bộc lộ tính cách của nhân vật cũng có những mức độ khác nhau Cần lựa chọn và phát hiện những chi tiết tiêu biểu, có ý nghĩa nhất, có tác dụng làm sáng tỏ khía cạnh này hay khía cạnh khác của tính cách nhân vật Vì thế, để có một nhận thức và đánh giá đúng đắn, sâu sắc về nhân vật thì cần thông qua các mặt: chân dung, lai lịch, lời nói, hành động, tâm trạng, v.v Ví như, khi phân tích tính cách nhân vật
anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long) trong
chương trình Ngữ văn 9, ta có thể phân tích nhân vật này qua các điểm chính sau đây:
- Chân dung và lai lịch: Chàng trai hai mươi bảy tuổi, tầm vóc bé nhỏ, quê ở Lào
Cai, sống một mình và làm việc khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh núi cao hai ngàn sáu trăm mét Anh được người ta gọi là “người cô độc nhất thế gian và rất
“thèm” người”