rệt theo tuổi tác, vì vậy khám trạng thái tâm thần kinh là một phần rất quan trọng trong khám thần kinh ở người giàNhững biểu hiện ảnh hưởng của tuổi táclên hệ thần kinh có thể ghi nhận
Trang 1Slide 1
Slide 2
lượng từ năm 30-40 tuổi Cho đến khoảng 100 tuổi, trung bình não bộ giảm 233g từ 1391g xuống còn 1161g Tốc độ não giảm trọng lượng rất chậm trong giai đoạn đầu, tăng lên ở tuổi 60-80
NGUYÊN NHÂN giảm khối lượng não:dãn của não thất bên và các rãnh võ não, là hậu quả của sự thoái hóa nơrôn
và thay thế các tế bào thần kinh đệm (?) cụ bà Ruth Frith 100 tuổi ném quả tạ
4 kg bay xa hơn 4m, vượt qua nhiều vậnđộng viên nghiệp dư kém bà hàng chục tuổi, trong cuộc thi World Masters Games, ngày 11/10/2009 tại Sydney, Australia
Trang 2Slide 4 Mất nơrôn ở hệ viền – hải mã, hồi cạnh
hải mã và hồi đai – được quan tâm niều nhất do liên quan đến trí nhớ, khoảng 27% ở tuổi 45 – 95
Các rãnh võ não rộng ra được cho một phần là do giảm kích thước của các nơrôn lớn, chứ không mất đi tế bào Các nơrôn ở chất đen, locus ceruleus, các nhân đáy não trước bị suy giảm số lượng đáng kể
Kỹ thuật chụp MRI não người già nhiềulần liên tiếp theo thời gian có thể dự đoán những người sẽ bị teo não không cân xứng và sa sút trí tuệ về sau Đặc biệt teo hồi hải mã tăng ít hơn 2% một năm ở người già khỏe mạnh so với 4% -8% một năm ở người bị Alzheimer giai đoạn sớm
Tế bào sừng trước tủy đoạn thắt lưngcùng,
Tế bào hạch cảm giác, nhân bèo,
Tế bào Purkinje tỉ lệ mất nơrôn khoảng25% ở tuổi già so với lúc trẻ,
Tỉ lệ mất nơrôn khác nhau
Trang 3Slide 5 Lưu lượng dòng máu não cũng bị ảnh
hưởng ở tuổi già, hầu hết các nghiên cứu cho thấy lưu lượng máu não giảm theo tuổi và tốc độ chuyển hóa não bộ cũng giảm song song
Chất dẫn truyền thần kinh bị giảm theo tuổi:
Acetycholine, norepinephrine vàdopamine
Gama-aminobutyric acid (GABA) ở vỏ não thùy trán
Cơ chế: do sự mất tế bào với tuổi tác.Serotonin và glutamate chưa ghi nhận giảm do tuổi tác ở người
BiỂU hiệncủa điện não đồ
Sự chậm các nhịp alpha
Tăng hoạt động beta,
Giảm tỉ lệ % sóng chậm giấc ngủ
Tăng xuất hiện sóng theta đặc biệt ở thùy thái dương
rệt theo tuổi tác, vì vậy khám trạng thái tâm thần kinh là một phần rất quan trọng trong khám thần kinh ở người giàNhững biểu hiện ảnh hưởng của tuổi táclên hệ thần kinh có thể ghi nhận rõ nhất
từ việc đánh giá các chức năng nhận thức ở người già Trong một nghiên cứucắt ngang khi cuẩn hóa thang điểm trí tuệ Wechsler ở một lượng lớn dân số, các tác giả ghi nhận có sự suy giảm dần các chức năng nhận thức bắt đầu từ tuổi
30 Hơn nữa tất cả các lĩnh vực nhận thức đều bị ảnh hưởng, bao gồm giảm tốc độ của tiến trình nhận thức, khả năng linh hoạt của nhận thức, nhận thứctri giác không gian, trí nhớ làm việc, và duy trì sự chú ý Nhưng thang điểm về
từ ngữ (từ ngữ, vốn thông tin và sự
Trang 4thông hiểu) bị ảnh hưởng do tuổi ít hơn thang điểm về thực hành (vẽ hình khối, đảo ngược các số, sắp đặt tranh, lắp ráp vật thể, thao tác với các biểu tượng số) Tuy nhiên, trong nghiên cứu cắt dọc củaSchaie và cộng sự, những người được theo dõi trong một thời gian dài nhiều năm gần như không ghi nhận suy giảm trong các phần khám từ ngữ cho đến tuổi 60, sau tuổi này chức năng trí tuệ từngữ lời nói suy giảm dần nhưng chậm chạp không quá 5% ở độ tuổi 70 – 80 và
ít hơn 10% ở độ tuổi 80 – 90 Smith và cộng sự trong nghiên cứu nhóm người
từ 55 – 95 tuổi ở Mayo Clinic cũng ghi nhận không có suy giảm đáng kể với tuổi trong trí nhớ từ ngữ lời nói và trongghi nhớ - chú ý
rệt theo tuổi tác, vì vậy khám trạng thái tâm thần kinh là một phần rất quan trọng trong khám thần kinh ở người giàNhững biểu hiện ảnh hưởng của tuổi táclên hệ thần kinh có thể ghi nhận rõ nhất
từ việc đánh giá các chức năng nhận thức ở người già Trong một nghiên cứucắt ngang khi cuẩn hóa thang điểm trí tuệ Wechsler ở một lượng lớn dân số, các tác giả ghi nhận có sự suy giảm dần các chức năng nhận thức bắt đầu từ tuổi
30 Hơn nữa tất cả các lĩnh vực nhận thức đều bị ảnh hưởng, bao gồm giảm tốc độ của tiến trình nhận thức, khả năng linh hoạt của nhận thức, nhận thứctri giác không gian, trí nhớ làm việc, và duy trì sự chú ý Nhưng thang điểm về
từ ngữ (từ ngữ, vốn thông tin và sự thông hiểu) bị ảnh hưởng do tuổi ít hơn thang điểm về thực hành (vẽ hình khối, đảo ngược các số, sắp đặt tranh, lắp ráp vật thể, thao tác với các biểu tượng số) Tuy nhiên, trong nghiên cứu cắt dọc củaSchaie và cộng sự, những người được
Trang 5theo dõi trong một thời gian dài nhiều năm gần như không ghi nhận suy giảm trong các phần khám từ ngữ cho đến tuổi 60, sau tuổi này chức năng trí tuệ từngữ lời nói suy giảm dần nhưng chậm chạp không quá 5% ở độ tuổi 70 – 80 và
ít hơn 10% ở độ tuổi 80 – 90 Smith và cộng sự trong nghiên cứu nhóm người
từ 55 – 95 tuổi ở Mayo Clinic cũng ghi nhận không có suy giảm đáng kể với tuổi trong trí nhớ từ ngữ lời nói và trongghi nhớ - chú ý
Nhìn chung có giảm nhẹ chú ý ở người già, bắt đầu từ năm 60 tuổi và tiến triển chậm chạp Người lớn tuổi có sức khỏe tốt vẫn duy trì được sự chú ý khá ổn định Suy giảm chú ý làm người già dễ đãng trí hơn, đặc biệt với những thông tin ít quan trọng so với những thông tin quan trọng xảy đến cùng lúc
Vì vậy lưu ý khi cần cấp thông tin có tính chất qua trọng cho người già nên đánh dấu vào bảng kê, lặp lại và viết chúng ra giấy
Sự học tập và trí nhớ
Vốn kiến thức tiếp tục phát triển trong suốt cuộc đời và khả năng học tập không suy giảm theo tuổi tác
Trí nhớ cảm giác (sensory memory) – làgiai đoạn đầu tiên của việc hình thành trí nhớ thông qua các giác quan như thị giác, thính giác và xúc giác – không bị ảnh hưởng do tuổi già dù chúng vốn dĩ không ổn định và mất đi nhanh chóng.Trí nhớ ngắn hạn (short-term memory): Hay còn gọi là trí nhớ nguyên phát, hình thành từ sự chuyển tiếp của trí nhớ cảm giác, cũng không suy giảm với tuổitác
Trí nhớ dài hạn (long-term memory): Còn gọi là trí nhớ thứ phát, trí nhớ hình thành và tồn tại nhiều giờ, nhiều ngày
Trang 6và có thể nhiều năm Trí nhớ dái hạn bị suy giảm do tuổi, chủ yếu ở khâu nhớ lại, còn phần ghi nhớ lại được bảo tồn không suy giảm Giảm tạm thời khả năng nhớ lại thường xuất hiện sớm ở tuổi trung niên và nặng dần theo thời gian Quên tên ở người già hầu như luôn nhớ lại được sớm sau một thời khoảng thời gian Nhưng triệu chứng này không giúp dự đoán bất kỳ tình trạng thoái hóa thần kinh nào như bệnh Alzheimer.
Việc mã hóa trí nhớ giúp ít cho việc nhớlại – nhớ, sắp xếp thứ tự và gộp lại – nhưng ít được người già sử dụng Tập luyện khâu này làm tăng khả năng nhớ lại cho trí nhớ dài hạn
Đãng trí thường gặp ở người già hơn người trẻ chủ yếu do việc học
Vì vậy đối với người già khi đưa ra cá chỉ dẫn cần thiết phải đơn giản và trực tiếp, khuyến khích họ tập luyện việc mãhóa trí nhớ để tăng cường trí nhớ
Vốn từ vựng gia tăng và đạt cao nhất ở
độ tuổi 50 – 60, không suy giảm do tuổitác và người già vẫn còn sử dụng các phức hợp ngôn ngữ Tương tự, khả năng
về cú pháp hay khả năng kết hợp từ ngữtheo trình tự có nghĩa không bị suy giảm đơn thuần do tuổi già
Trí thông minh
Đo bởi thang trí tuệ Wechsler cho thấy
bị suy giảm bởi tuổi già, được chia làm hai loại là trí tuệ rắn (Crystallized intelligence) và trí tuệ lỏng (Fluid intelligence) Trí tuệ rắn là khả năng giải quyết vấn đề về thự hành, kiến thứcđạt được từ kinh nghiệm, từ vựng có khuynh hướng ổn định hoặc cải thiện theo tuổi tác cho đến tuổi 70 hoặc hơn nữa, đặc biệt ở người già vẫn còn khỏe mạnh và công việc đòi hỏi cần hoạt
Trang 7động nhận thức Trí tuệ lỏng là khả năng thu được và giải quyết vấn đề với những dữ kiện mới lạ đòi hỏi các mối liên quan phức hợp, chúng giảm nhanh theo tuổi sau tuổi thiếu niên, có thể đo lường bởi những giải pháp để tóm lược vấn đề và thực hành nhanh Ngoài ra người già còn giảm kỹ năng vận động
do đó thời gian hoàn thành một công việc kéo dài hơn so với lúc trẻ tuổi (15)Tóm lại, việc đánh giá trạng thái tâm thần kinh là khâu quan trọng trong việc thăm khám thần kinh ở người già Tầm soát rối loạn nhận thức và trí nhớ ở người lớn tuổi có thể bao gồm cả đo lường về thực hành và thông tin Một sốthang điểm dùng để đánh giá trạng thái tâm thần kinh thường được sử dụng trong thực hành lâm sàng như Mini Mental State Examination (MMSE), Mini-Cog và Montreal Cognitive Assessment Các thang điểm này sẽ so sánh sự suy giảm nhận thức với tiêu chuẩn bình thường ở người già đã được hiệu chỉnh theo tuổi tác và trình độ học vấn
Các hiện tượng suy giảm đơn thuần do tuổi tác ở người già bao gồm: đồng tử nhỏ dần về kích thước, giảm phản xạ ánh sáng và có thể mất phản xạ trong 5% - 19% trường hợp, giảm điều tiết do thủy tinh thể mất độ đàn hồi (tật viễn thị), hội tụ kém, giới hạn nhìn lên trong khi nhìn xuống rất ít bị ảnh hưởng, giảmthích nghi ánh sáng yếu, tăng nhạy cảm ánh sáng chói, giảm phân biệt màu sắc
và chú ý thị trường Các thay đổi này làm người già giảm thị lực, giới hạn thị trường, giảm cảm nhận về độ sâu và chuyển động, cũng như sự chuyển động của bản thân với không gian bên ngoài,
Trang 8từ đó gây giảm khả năng đọc, thăng bằng hay khi lái xe Nhưng sự bù trừ khi mang kính và do hành vi cẩn thận ở người già nên nhìn chung người già vẫnduy trì sự an toàn Ngoài ra còn có thể gặp mất dấu hiệu Bell (nhãn cầu đi lên trên và ra ngoài khi cố gắng nhắm chặt mắt) Giảm thị lực được cho là do suy giảm về giải phẩu và chức năng của cá thụ thể ánh sáng bắt đầu từ sau 20 tuổi
Cơ chế của giảm thị trường vẫn còn chưa rõ
• Các bệnh lý thường gặp ở mắt củangười già như: glôcôm, đục thủy tinh thể, thoái hóa võng mạc, bệnh
lý võng mạc do tiểu đường chồng lên các thay đổi đơn thuần do tuổi tác kể trên
Giảm thị lực được cho là do suy giảm
về giải phẩu và chức năng của cá thụ thể ánh sáng bắt đầu từ sau 20 tuổi Cơ chế của giảm thị trường vẫn còn chưa rõ
• Các bệnh lý thường gặp ở mắt củangười già như: glôcôm, đục thủy tinh thể, thoái hóa võng mạc, bệnh
lý võng mạc do tiểu đường chồng lên các thay đổi đơn thuần do tuổi tác kể trên
Trang 9Slide 12 Giảm thính lực dẫn truyền và thần kinh
xảy ra do tuổi tác, bắt đầu thường ở tuổi
50, chủ yếu ở các âm có tần số cao làm người già khó phân biệt các âm điệu củalời nói Kết quả từ sự suy giảm các tế bào tóc trong cơ quan Cori, teo nhỏ các mạch máu và sự dày lên của màng nền.Hậu quả làm người già khó khăn khi định vị nơi phát âm và hiểu lời nói, thường kèm theo tăng nhạy cảm với các
âm lớn
Các bệnh lý thường gặp chồng lên các thay đổi do tuổi ở người già gây giảm thính lực như: Tắc nghẽn do ráy tai, sỏi
ốc tai, ảnh hưởng dây thần kinh thính giác do độc tố
Chức năng tiền đình cũng có thể bị ảnh hưởng bởi tuổi tác Phạn xạ tiền đình tủy sống giảm, cũng như ảnh hưởng khảnăng nhận biết vị trí của đầu và chuyển động trong không gian Các biểu hiện này có thể thứ phát với sự mất tế bào tóc, sơi thần kinh cùng với mất nơrôn trong nhân tiền đình trong, ngoài và dưới ở thân não
Giảm khứu giác xảy ra với tuổi già có thể do sự thay đổi cấu trúc và chức năngcủa đường hô hấp trên, niêm mạc khứu,
do sự teo ở các nơrôn hành khứu và thay đổi ở thần kinh trung ương Hậu quả làm giảm khả năng phân biệt mùi ở những mức độ khác nhau, giảm khả năng nhận biết mùi và giảm cảm giác thèm ăn Cần lưu ý các bệnh lý gây ảnh hưởng khứu giác ngoài sự tác động của tuổi già như: do thuốc, nhiễm virut, hay chấn thương đầu Cũng hay kết hợp với các bệnh lý gây thay đổi khứu giác như trong bệnh Alzheimer và Parkinson
Trang 10Slide 14 Vị giác
Các nhú vị giác không giảm số lượng, nhưng vài nghiên cứu ghi nhận sự giảm đáp ứng điện sinh lý thần kinh của các nhú vị giác Người già giảm nhận biết vịmặn, vị ngọt vẫn bình thường trong khi tăng cảm nhận vị đắng Số lượng các tuyến và thể tích nước bọt tiết ra bị giảm Các thay đổi làm giảm cảm nhận
và thú vui ăn uống Giảm ngon miệng cũng có thể do kết hợp thêm các bệnh lýthường gặp về răng miệng, răng giả, hútthuốc, uống rượu và các thuốc đang dùng
bộ và vận động là biểu hiện dễ thấy nhất
ở người già, sự nhanh nhẹn linh hoạt bắtđầu giảm dần từ rất sớm khoảng ở tuổi
30, được cho là có liên quan đến sự giảm dần trong điều khiển thần kinh cơ cũng như các thay đổi ở khớp và các cấu trúc khác Giảm chức năng vận động có thể thấy rõ nhất ở vận động viên điền kinh chuyên nghiệp Họ thường kết thúc sự nghiệp ở tuổi trên dưới 35 vì chân của họ mau kiệt sức và không hồi phục tối đa khi tập luyện được nữa làm cho họ không thể chạy nhanh như các các vận động viên trẻ,
Trang 11ngay cả khi sức cơ hai tay và sự phối hợp của tay vẫn bình thường Thay đổi trong tư thế dáng bộ thường gặp ở tuổi già gồm bước đi ngắn lại với chân đế rộng, chậm và ngập ngừng hơn và có khuynh hướng khom lưng, đánh tay ít khi đi, dáng đi thấ điều nhẹ Người già thường không tự tin và bước đi cẩn thậnhơn, có thói quen nắm tay vịn cầu thangkhi đi xuống do sợ bước chệch Các rối loạn này làm ảnh hưởng hoạt động hàngngày như mặc quần áo, ăn uống, đứng dậy khỏi ghế và có thể góp phần gây tànphế ở người già Cơ chế của rối loạn dáng bộ có thể là sự kết hợp của thoái hóa hạch nền – thùy trán, tuy nhiên ở nhiều bệnh nhân không ghi nhận teo thùy trán hay giảm lưu lượng máu não của thùy trán gây rối oạn dáng đi Nhưng thay đổi ở hạch nền liên quan tuổi tác như giảm số lượng thụ thể dopamine D1 ở nhân đuôi và nhân bèo, mất chất dẫn truyền thần kinh dopamine
do tuổi có thể đóng vai trò trong việc dễgây ra các triệu chứng ngoại tháp ở người già Ngoài ra sự thay đổi liên quan tuổi tác ở chất đen gây mất nơrôn sắc tố được coi như nguyên nhân gây ra các rối loạn vận động như chậm vận động, dáng đi Parkinson và mất thăng bằng ở người già, nhưng không đáp ứngvới điều trị L-Dopa hay các trị liệu khác Một số yếu tố khác như hiện tượng cứng cơ học, viêm khớp và mất
mô đàn hồi cũng gây biểu hiện chậm chậm chạp ở người lớn tuổi Chẩn đoán phân biệt những bệnh lý chính gây thay đổi tư thế dáng bộ người già với thay đổi tuổi tác bao gồm: não úng thủy áp lực trung bình – hay gặp gây thay đổi tưthế dáng bộ ở người già, bệnh
Parkinson, liệt trên nhân tiến triển
Trang 12Slide 16 Ảnh hưởng của tuổi tác lên tư thế dáng
bộ và vận động là biểu hiện dễ thấy nhất
ở người già, sự nhanh nhẹn linh hoạt bắtđầu giảm dần từ rất sớm khoảng ở tuổi
30, được cho là có liên quan đến sự giảm dần trong điều khiển thần kinh cơ cũng như các thay đổi ở khớp và các cấu trúc khác Giảm chức năng vận động có thể thấy rõ nhất ở vận động viên điền kinh chuyên nghiệp Họ thường kết thúc sự nghiệp ở tuổi trên dưới 35 vì chân của họ mau kiệt sức và không hồi phục tối đa khi tập luyện được nữa làm cho họ không thể chạy nhanh như các các vận động viên trẻ, ngay cả khi sức cơ hai tay và sự phối hợp của tay vẫn bình thường Thay đổi trong tư thế dáng bộ thường gặp ở tuổi già gồm bước đi ngắn lại với chân đế rộng, chậm và ngập ngừng hơn và có khuynh hướng khom lưng, đánh tay ít khi đi, dáng đi thấ điều nhẹ Người già thường không tự tin và bước đi cẩn thậnhơn, có thói quen nắm tay vịn cầu thangkhi đi xuống do sợ bước chệch Các rối loạn này làm ảnh hưởng hoạt động hàngngày như mặc quần áo, ăn uống, đứng dậy khỏi ghế và có thể góp phần gây tànphế ở người già Cơ chế của rối loạn dáng bộ có thể là sự kết hợp của thoái hóa hạch nền – thùy trán, tuy nhiên ở nhiều bệnh nhân không ghi nhận teo thùy trán hay giảm lưu lượng máu não của thùy trán gây rối oạn dáng đi Những thay đổi ở hạch nền liên quan tuổi tác như giảm số lượng thụ thể dopamine D1 ở nhân đuôi và nhân bèo, mất chất dẫn truyền thần kinh dopamine
do tuổi có thể đóng vai trò trong việc dễgây ra các triệu chứng ngoại tháp ở người già Ngoài ra sự thay đổi liên quan tuổi tác ở chất đen gây mất nơrôn sắc tố được coi như nguyên nhân gây ra các rối loạn vận động như chậm vận động, dáng đi Parkinson và mất thăng bằng ở người già, nhưng không đáp ứng