1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

sáng kiến kinh nghiệm ngữ văn 2013

12 150 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 198 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để rèn luyện kỹ năng xây dựng luận điểm cho một đề bài cụ thể, trước hết tôi yêu cầu học sinh phân biệt rõ vấn đề nghị luận và luận điểm, luận điểm và luận cứ.. Dành thời gian cho học si

Trang 1

A MỞ ĐẦU.

1.1 lý do chọn đề tài.

Với mong muốn trở thành người giáo viên dạy tốt, tâm huyết với nghề, hoàn thành tốt công tác nhiệm vụ được giao, nhưng làm được vậy thì cần có rất nhiều yếu tố Đó là chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh nghiệm, và lòng say mê yêu nghề yêu trẻ

Vì lý do trên tôi xin phép được trình bày về vấn đề "Rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh THCS"

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Nhằm giúp cho giáo viên giảng dạy đánh giá một cách tích cực đúng đắn, gây hứng thú cho cả người học và người dạy, tìm ra được phương pháp, cách thức giảng dạy phù hợp đối tượng học sinh vùng sâu, vùng xa trong môn học Ngữ văn

1.3 Đối tượng phạm vi.

Chuyên đề này tôi tập chung nghiên cứu qua các bài làm văn nghị luận lớp 8

và lớp 9 Cụ thể:

Ôn tập luận điểm

Luyện tập xây dựng trình bày luận điểm

Đưa yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả vào đoạn văn nghị luận

Với đề tài này, áp dụng cho các giờ dạy tập làm văn nghị luận ở lớp 7, lớp 8, lớp 9 THCS Song đặc biệt chú trọng đối với học sinh lớp 8 và lớp 9, luyện tập cần được nâng cao và hoàn chỉnh trên cơ sở những gì đã học về kiểu bài nghị luận ở bậc THCS

B NỘI DUNG.

I- Mục tiêu, yêu cầu của kiểu bài nghị luận đối với học sinh THCS.

- Nội dung chương trình TLV THCS mang tính chất đồng tâm Kiến thức nâng cao dần và hoàn chỉnh ở lớp 9, trọng tâm là 3 kiểu văn bản chính: văn tự sự, văn thuyết minh, văn nghị luận Về văn bản nghị luận, học sinh nắm được văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời sống xã hội của con người, nó có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trong đời sống xã hội Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội Văn bản nghị luận thực chất là văn bản thuyết lý, văn bản nói lý lẽ nhằm phát biểu các nhận định, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, quan điểm thái độ trước một vấn đề đặt ra Do đó muốn làm văn nghị luận tốt người viết phải có quan điểm chủ kiến rõ ràng biết sử dụng các khái niệm, biết tư duy lô-gic Đồng thời phải biết vận dụng các thao tác, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh Có thể nói đây là kiểu văn bản tương đối khó với học sinh THCS, bởi các em tư duy cụ thể cảm tính, ít năng lực suy luận Chính vì vậy

mà kiểu văn bản này nhằm mục đích rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy kĩ năng nghị luận và tinh thần tự chủ trước một vấn đề của cuộc sống

- Kiểu bài TLV nghị luận THCS chia làm 2 cấp độ Lớp 7 thuộc cấp độ 1: giới thiệu những thao tác chung nhất Giáo viên cần cho các em biết văn nghị luận phải có luận điểm, có lý lẽ, dẫn chứng, có phương pháp lập luận chặt chẽ để nối kết

Trang 2

các luận điểm nhỏ cùng các luận cứ nhằm giải quyết một vấn đề nghị luận cụ thể Cấp độ 2 gồm lớp 8 và lớp 9 ở lớp 8 giáo viên cần chú ý giúp học sinh nắm vữn khái niệm luận điểm, tránh được những sự hiểu lầm mà các em vẫn mắc phải như lẫn lộn luận điểm với vấn đề nghị luận hoặc coi luận điểm là một bộ phận của vấn

đề nghị luận, lẫn lộn luận điểm và luận cứ, giúp học sinh thấy rõ hơn mối quan hệ giữa luận điểm với vấn đề nghị luận và mối quan hệ giữa các luận điểm Đồng thời giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa quan trọng của việc trình bày luận điểm trong bài văn nghị luận bằng các luận cứ Từ đó học sinh biết cách viết đoạn văn trình bày luận điểm, theo cách diễn dịch, quy nạp, biết vận dụng những hiểu biết vào việc tìm và sắp xếp trình bày luận điểm trong bài văn nghị luận có đề tài gần gũi quen thuộc Học sinh sử dụng hình thức lập luận chứng minh, giải thích trong một bài văn nghị luận văn học, nghị luận về vấn đề đạo lý, một vấn đề xã hội Còn chương trình lớp 9, tiếp tục nâng cao hoàn chỉnh cho học sinh về kiểu bài nghị luận

mà các em đã được học ở lớp 7 và lớp 8 Văn nghị luận lớp 9 nhằm mục đích thể hiện tư tưởng quan điểm của người viết bằng phương thức đề xuất luận điểm, vận dụng luận cứ và các phép lập luận Đặc điểm của chương trình là không phân chia các kiểu bài giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng mà hướng người làm bài vào việc nêu ra những suy nghĩ quan điểm của mình trước một sự việc hiện tượng đời sống hay ý kiến về một vấn đề tư tưởng đạo lý, và một vấn đề văn học Các hình thức nghị luận chủ yếu là:

* Nghị luận xã hội: - Nghị luận về 1 sự việc, hiện tượng đời sống

- Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lý

* Nghị luận văn học: - Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích

- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

Các đề bài cụ thể thường là "Suy nghĩ của em về " "Phân tích " "Cảm nhận của em về Suy nghĩ của em về đoạn thơ "

Các hình thức nghị luận trên nhằm khêu gợi ở học sinh đưa ra trình bày suy nghĩ, ý kiến quan điểm về vấn đề nghị luận Riêng về nghị luận văn học ( về nhân vật, đoạn thơ, bài thơ) thì không thể chỉ có suy lý lô gíc mà còn có sự cảm thụ, liên tưởng đồng cảm, có ấn tượng chủ quan do tác phẩm gợi lên Cho nên yêu cầu học sinh trình bày được cảm nhận của mình đối với đoạn thơ bài thơ, nhân vật văn học, nhưng cảm nhận ở đây không phải là biểu cảm mà là nghị luận trên cơ sở cảm thụ

Từ đó, giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn cần nắm chắc nội dung và mục tiêu của chương trình TLV để có thể áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy hiệu quả nhất và làm sao học sinh được rèn những kỹ năng cơ bản một cách thành thạo khi làm các kiểu văn bản

II Các hình thức và biện pháp thực hiện rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận cho học sinh lớp 8.

Để rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận, học sinh trước hết tôi yêu cầu các

em phải nắm chắc lý thuyết sau đó vận dụng vào thực hành, thực hiện đầy đủ bốn bước chung của bài văn nghị luận Và để đạt hiệu quả cao, tôi sử dụng những hình thức và biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận cụ thể như sau:

1 Đề văn nghị luận và kỹ năng tìm hiểu đề.

Trang 3

Trước đây đề văn nghị luận ở chương trình cũ, thường có mệnh lệnh : "Hãy chứng minh " , "Hãy phân tích ", "Hãy giải thích " Cách ra đề như vậy là cần

thiết, song nhiều khi không tránh khỏi hạn chế cách làm của học sinh vào một phương thức một thao tác nghị luận, trong khi trên thực tế học sinh có thể và cần phải sử dụng kết hợp nhiều thao tác để làm bài Hiện nay cách ra đề đa dạng hơn,

mở hơn, tức là chủ yếu đề chỉ nêu vấn đề của bài làm, như vậy học sinh sẽ có cơ hội trình bày ý kiến của mình được mở hơn, không gò bó trong một thao tác làm

bài cụ thể Ví dụ như một số đề bài mở như sau:

- Lối học "tủ" học "vẹt".

- Không thể sống thiếu tình bạn.

- Thời gian là vàng.

- Hình tượng nhân vật chị Dậu trong "Tức nước vỡ bờ” (trích "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố).

- Tình yêu quê hương trong bài "Quê hương" của Tế Hanh

Đọc các đề bài trên, ta thấy ngoài vấn đề nghị luận mà đề bài nêu ra, đề bài

còn cho biết tính chất của đề ra Đề có thể mang tính chất ca ngợi phê phán, tranh

luận, phân tích hoặc khuyên nhủ Mỗi tính chất sẽ quy định cách viết giọng điệu lời văn , thích hợp Do đó, tôi cho học sinh đọc kỹ đề bài, suy nghĩ và xác định chính xác vấn đề và tính chất của vấn đề, tránh lạc đề, xa đề

* Để rèn kĩ năng này, tôicho học sinh bằng các bài tập sau:

* Dạng bài tập 1: Nhận diện đề thông qua so sánh sự khác nhau của các đề bài:

Ví dụ:

Đề 1: Suy nghĩ về truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao

Đề 2: Nhân vật lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là một nông dân nghèo bất hạnh, nhưng có những phẩm chất trong sáng đẹp đẽ Dựa vào tác phẩm "Lão Hạc" em hãy chứng minh nhận xét trên

Đề 3: Về hình tượng nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao

Đề 4: Suy nghĩ về nghệ thuật xây dựng nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao

Bốn đề bài trên đều xoay quanh tác phẩm "Lão Hạc" của Nam Cao Tôi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, tìm ra sự khác nhau về vấn đề nghị luận và hình thức lập luận Tuy nhiên tôi chú ý cho học sinh nắm được trong một bài văn nghị luận người viết thường vận dụng nhiều thao tác nghị luận, kỹ năng giải thích, chứng minh, phân tích, so sánh Và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác kỹ năng đó Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia Nhưng với yêu cầu cụ thể giới hạn của một đề bài cụ thể , tôi yêu cầu các em cần xác định chính xác hình thức lập luận nào là chủ yếu

Từ đó các em có định hướng làm bài đúng với yêu cầu của đề ra và làm nổi bật đặc trưng của từng hình thức lập luận

Ví dụ: + Văn chứng minh : Đặc trưng là hệ thống các dẫn chứng, tiêu biểu toàn diện chính xác phù hợp với vấn đề (kết hợp với lý lẽ)

+ Văn giải thích : Đặc trưng là các lý lẽ giảng giải làm rõ các khía cạnh của vấn đề (có dùng dẫn chứng nhưng ít)

Trang 4

+ Trình bày cảm nhận, suy nghĩ: Đặc trưng của bài viết là nêu ra các ý kiến đánh giá nhận xét, phân tích - bày tỏ thái độ của người viết với vấn đề nghị luận

* Dạng bài tập 2: Rèn luyện kỹ năng cho học sinh nhận biết yêu cầu hình thức lập luận.

Ví dụ: Cho các đề bài sau:

Đề 1: Tinh thần dân tộc, lòng yêu nước nồng nàn là một trong những nội

dung tư tưởng chính của văn học trung đại Việt Nam Dựa vào các văn bản "Chiếu dời đô" của Lý Công Uẩn; "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn và "Nước Đại Việt ta" của Nguyễn Trãi, em hãy chứng minh nội dung trên.

Đề 2: Hình tượng người nông dân trước Cách mạng tháng Tám hiện lên với những phẩm chất vô cùng đẹp đẽ Dựa vào một số tác phẩm đã học ở lớp 8 phần văn học hiện thực 1930- 1945, em hãy làm rõ ý kiến trên

Qua hệ thống câu hỏi tìm hiểu đề, tôi rèn cho các em chỉ ra được hình thức lập luận của 2 đề văn trên đều là chứng minh Yêu cầu này thường được thể hiện ở

các từ ngữ: Chứng minh, làm sáng tỏ hoặc làm rõ, v.v…

Từ đó tôi rèn thói quen cần thiết khi làm bài là phải xác định chính xác hình thức lập luận của đề bài, nhằm giúp các em dùng đúng hình thức lập luận phù hợp với yêu cầu của đề bài

2 Rèn luyện kỹ năng tìm ý xây dựng hệ thống luận điểm, sắp xếp các luận điểm trong bài văn nghị luận.

Như ta đã biết, trong một bài văn nghị luận, luận điểm chính là linh hồn của bài văn Do đó việc xây dựng hệ thống luận điểm sắp xếp các luận điểm rất quan trọng, không thể lướt qua, chiếu lệ

Để rèn luyện kỹ năng xây dựng luận điểm cho một đề bài cụ thể, trước hết tôi yêu cầu học sinh phân biệt rõ vấn đề nghị luận và luận điểm, luận điểm và luận cứ Như trong tài liệu SGV nói rõ " Vấn đề như cái tên của nó cho thấy, lại là một câu hỏi đặt ra trước lí trí con người thúc giục con người phải tìm ra lời giải đáp" Những ý kiến quan điểm chủ trương chủ yếu đưa ra để giải đáp cho câu hỏi, để giúp lý trí thông suốt Đó chính là luận điểm Không có luận điểm đúng, có cơ sở khoa học đáng tin cậy thì không thể làm sáng tỏ được vấn đề Vì vậy, việc tìm được hay không tìm được luận điểm đúng sẽ quyết định việc học sinh có làm được hay không làm đúng được yêu cầu của bài văn nghị luận Như vậy luận điểm không phải là vấn đề, cũng không phải là một khía cạnh của vấn đề Vấn đề có thể

là câu hỏi, luận điểm là sự trả lời Những câu hỏi "Tại sao phải dời đô" trong

"Chiếu dời đô" đó không phải là một luận điểm Luận điểm phải đạt các tiêu chuẩn: Chính xác, rõ ràng phù hợp với yêu cầu để giải quyết vấn đề

Công việc xây dựng hệ thống luận điểm có vai trò quan trọng Nếu các em đã tìm đủ các luận điểm cần thiết, sắp xếp các luận điểm đó thành bố cục hợp lý và biết cách trình bày luận điểm bằng các luận cứ phù hợp làm sáng tỏ luận điểm thì việc viết bài nghị luận không còn là khó khăn nữa

Khi thực hành luyện tập kĩ năng này, tôi lưu ý học sinh là luôn nhớ và nhắc lại lý thuyết cơ bản để tạo thói quen đi từ lý thuyết đến thực hành tránh tuỳ tiện, qua loa đại khái Yêu cầu học sinh chuẩn bị kĩ nội dung trước khi vào luyện tập

Trang 5

như đọc kĩ văn bản văn học, tra cứu tài liệu, chuẩn bị lý lẽ, dẫn chứng, ý kiến quan điểm xung quanh vấn đề

Dành thời gian cho học sinh luyện tập kĩ năng này, tôi sử dụng các bài tập

sau: * Dạng bài tập 1: Tập viết câu chủ đề nêu luận điểm.

Tôi cho một số đoạn văn nghị luận chưa có câu chủ đề, yêu cầu học sinh: Nêu nội dung chính của đoạn văn bằng một câu văn ngắn gọn (câu luận điểm ) chính xác rõ ràng.(câu chủ đề)

* Dạng bài tập 2: Chọn luận điểm trong hệ thống luận điểm đã có sẵn cho phù hợp với vấn đề nghị luận và sau đó sắp xếp các luận điểm theo trình tự hợp

lý Ví dụ: Giải thích câu nói của M.Gooc-ki : "Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến

thức, chỉ có kiến thức mới là con đường sống".

Với đề trên, một bạn đã dự kiến đưa ra hệ thống luận điểm phần thân bài như sau:

a- Sách là sản phẩm có giá trị của loài người, là nguồn kiến thức rộng lớn b- Tác dụng của sách không bị giới hạn bởi thời gian và không gian

c- Đã có những cuốn sách không chỉ là con đường sống cho một người , trăm người, triệu người mà cho cả nhân loại

d- Có nhiều loại sách tốt, xấu

e- Em rất thích đọc sách, đọc sách là một cách học hỏi

g- Ngày nay con người còn tạo ra "đĩa mềm" lưu giữ thu thập mọi dữ liệu về các lĩnh vực

h- Dù ở thời hiện đại, nhiều máy móc tinh xảo, sách vẫn là người bạn bình dị chân thành và giàu trí thức của mỗi chúng ta

y-Vì sao chúng ta phải yêu sách? Chúng ta phải yêu sách như thế nào?

Em có nhất trí dùng tất cả các dự kiến mà bạn đã nêu ra không? Nếu không

em chọn ra và sắp xếp lại cho phù hợp? Vì sao em sắp xếp như thế?

Mục đích của dạng bài tập này là bước đầu nhận biết cách nêu luận điểm và sắp xếp luận điểm phù hợp với vấn đề nghị luận

* Dạng bài tập 3: Xây dựng hệ thống luận điểm, sắp xếp luận điểm.

Ví dụ : Đề bài:

a Hãy tìm những luận điểm chính để chứng minh rằng :

" Rừng mang lại nhiều lợi ích cho cuộc sống con người"

b Hãy tìm các luận điểm cơ bản để chứng minh rằng lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là người nông dân bất hạnh nhưng có nhiều phẩm chất tốt đẹp

Với dạng bài tập này, tôi yêu cầu học sinh tự xây dựng hệ thống luận điểm Tôi hướng dẫn các em làm bài tập này theo từng bước:

+ Bước thứ nhất: Học sinh tìm và xây dựng hệ thống luận điểm

+ Bước thứ hai: Học sinh trình bày hệ thống luận điểm trước lớp

+ Bước thứ ba: Lớp nhận xét đúng, sai và bổ sung thêm ý kiến để các luận điểm vừa đủ, chính xác phù hợp với vấn đề nghị luận

+ Bước thứ tư: Sau khi học sinh đã xây dựng được hệ thống luận điểm, tôi cho học sinh sắp xếp các luận điểm theo trình tự hợp lý Luận điểm trước làm cơ

sở cho luận điểm sau, luận điểm sau mở rộng hơn các luận điểm trước

Trang 6

Mục đích của dạy bài tập này là rèn luyện cho học sinh thói quen thực hiện những thao tác cần thiết xây dựng hệ thống luận điểm, luận cứ khi làm văn nghị luận Các em thực hiện tốt những thao tác này thì bài viết của các em trước hết là

đã đủ ý , đúng yêu yêu cầu nội dung của đề bài ra

3 Rèn luyên kĩ năng trình bày luận điểm:

Để rèn luyên kĩ năng trình bày luận điểm trong bài văn nghị luận, tôi yêu cầu học sinh ghi nhớ một số kiến thức sau:

+ Muốn làm sáng tỏ 1 luận điểm, trước hết cần xác định luận điểm nói về lĩnh vực nào ? Đời sống văn học? Gần hay xa so với cuộc sống quanh ta?

+ Huy động những hiểu biết của người làm văn để tìm ra các luận cứ phù hợp phục vụ cho việc làm sáng rõ luận điểm

+ Sắp xếp các luận cứ theo một trình tự hợp lý và trình bày luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm

+ Khi viết học sinh cần xác định vị trí câu chủ đề để biết đoạn văn trình bày theo kiểu diễn dịch, qui nạp

+ Sử dụng hệ thống từ ngữ lập luận tạo sự liên kết và lý lẽ chặt chẽ giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn văn trong bài văn nghị luận

Ngoài những bài tập luyện tập trong sách giáo khoa, tôiđưa thêm 1 số bài tập:

* Dạng bài tập 1: Sắp xếp các câu văn đã cho sẵn để tạo thành một đoạn văn hoàn chỉnh và hợp lý.

Với dạng bài tập này, tôi đưa ra một số câu văn nghị luận không đúng thứ tự, sau đó yêu cầu học sinh sắp xếp thành đoạn văn hợp lý; rèn luyện cho học sinh bước đầu biết cách trình bày luận điểm từ cách viết cách lập luận của đoạn văn

Ví dụ: Sắp xếp các câu văn dưới đây để tạo thành một đoạn văn hoàn chỉnh

và hợp lý nói về đức tính giản dị của Bác Hồ:

- Câu 1: Những chân lý giản dị mà sâu sắc đó lúc thâm nhập vào quả tim và

bộ óc của hàng triệu con tim đang chờ đợi nó, thì đó là sức mạnh vô địch, đó là chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

- Câu 2: Suy cho cùng, chân lý, những chân lý lớn của nhân dân ta cũng như của thời đại là giản dị: " Không có gì quý hơn độc lập tự do" " Nước Việt Nam là một , dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn; song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

- Câu 3: Giản dị trong đời sống, trong quan hệ với mọi người, trong tác phong Hồ Chủ Tịch rất giản dị trong lời nói và bài viết, vì muốn cho quần chúng nhân dân hiểu, nhớ được, làm được.

Dựa vào nội dung của từng câu văn học sinh xếp theo thứ tự lập luận:Câu3 -2- 1

* Dạng bài tập 2: Sử dụng từ ngữ lập luận trong việc trình bày luận điểm cho một bài văn nghị luân.

Tôi cho một số đoạn văn nghị luận đã lược bỏ đi từ ngữ lập luận, yêu cầu học sinh điền từ ngữ lập luận vào chỗ trống cho hợp lý

Ví dụ: Cho đoạn văn nghị luận sau điền từ ngữ lập luận thích hợp vào chỗ trống

"Kiều không biết mấy lần nhìn trăng cảnh trăng mỗi lần một khác rạo rực yêu đương, gần gũi âu yếm, bát ngát bao la, ám ảnh như lời trách móc, cô đơn, tàn tạ, mong manh Có thể nói thiên nhiên trong

Trang 7

truyện Kiều cũng là một nhân vật , một nhân vật thường vẫn kín đáo, lặng lẽ không mấy khi không có mặt và luôn luôn thắm đượm tình người.”

(Hoài Thanh) Học sinh có thể điền các từ "nhưng","khi"

* Dạng bài tập 3: Tìm luận cứ làm sáng tỏ luận điểm.

Ví dụ: Hãy tìm các luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm sau:

"Lão Hạc là một lão nông chất phác, hiền lành và nhân hậu"

Dựa vào văn bản Lão Hạc của Nam Cao tìm ra các luận cứ và sắp xếp các luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm trên

Với bài tập này, tôi rèn cho học sinh có thao tác thành thạo kĩ năng tìm luận

cứ và sắp xếp luận cứ phù hợp với luận điểm Đây là khâu rất quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng trình bày luận điểm của bài văn nghị luận

* Dạng bài tập 4: Cho câu chủ đề, triển khai câu chủ đề thành đoạn văn nghị luận có lập luận chặt chẽ

Một số bài tập sau:

Ví dụ 1: Cho ý sau làm câu chủ đề của đoạn văn: Truyện ngắn "Chiếc lá cuối cùng" của O Henri đã thể hiện rất cảm động tình yêu thương cao cả giữa những người nghèo khổ

Hãy viết tiếp 5 câu để làm sáng tỏ ý trên, trong đó có sử dụng một số cụm từ

mở đầu câu như:

- Tình yêu thương đã khiến cho

- Đó chẳng phải là

- Đó chính là

Ví dụ 2:

Em hãy phát triển luận điểm trong hệ thống luận điểm đã xây dựng cho đề bài: Chứng minh rằng Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là một người nông dân bất hạnh, nhưng có những phẩm chất trong sạch đẹp đẽ

Ví dụ 3:

Chọn hai luận điểm trong hệ thống luận điểm đã xây dựng trong các bài tập xây dựng hệ thống luận điểm Mỗi luận điểm viết thành một đoạn văn ( diễn dịch hoặc qui nạp) Có sử dụng từ ngữ lập luận chặt chẽ và liên kết đoạn văn phù hợp hoặc viết đoạn văn diễn dịch sau đó chuyển thành đoạn văn qui nạp Từ đó giúp học sinh có kỹ năng trình bày đoạn văn diễn dịch hoặc qui nạp một cách thành thạo

* Dạng bài tập 5: Rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn trình bày luận điểm sử dụng phép lập luận chứng minh, giải thích

Ví dụ: "Sách là người bạn thân thiết của mỗi chúng ta."

a) Em hãy một đoạn văn chứng minh cho đề trên

b) Em hãy một đoạn văn giải thích cho đề trên

Sau khi các em viết hoàn thành 2 đoạn văn , tôi cho học sinh so sánh cách lập luận của hai đoạn văn, để học sinh nắm chắc đặc điểm cơ bản của phép lập luận chứng minh khác với phép lập luận giải thích như thế nào Từ đó các em hình thành các kỹ năng lập luận và áp dụng thành thạo các thao tác lập luận đó vào làm một bài văn nghị luận cụ thể

Trang 8

Với những dạng bài tập trên tôi đã nâng cao dần từng bước khả năng viết văn nghị luận cho các em, tôi yêu cầu các em làm nhiều bài tập này, viết nhiều đoạn văn trình bày luận điểm để các em thành thạo trong việc viết đoạn văn nghị luận Các em có kỹ năng viết đoạn văn, chuyển đoạn bằng từ ngữ, câu nối đoạn Từ hệ thống bài tập này, từng bước từ dễ đến khó tôi đã rèn luyện cho các em các bước cần thiết để làm một bài văn nghị luận hoàn chỉnh

4 Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận:

Bài văn nghị luận không chỉ tác động đến lý trí mà còn tác động vào tình cảm, cảm xúc của người đọc ( người nghe) Do đó văn nghị luận rất cần phải có yếu tố biểu cảm Yếu tố biểu cảm giúp cho bài văn nghị luận tăng thêm sức thuyết phục

Để làm văn nghị luận có sức biểu cảm cao, người làm văn phải thực sự có cảm xúc trước những điều mình nói ( viết) và phải biết diễn tả cảm xúc đó bằng các từ ngữ biểu cảm, câu văn cảm thán Nhưng sự diễn tả cảm xúc cần phải chân thực không được phá vỡ mạch lạc nghị luận, lấn át nghị luận của bài văn Chính vì vậy tôi cho các em hiểu rằng: không phải vì chú ý tạo ra các yếu tố biểu cảm cho bài văn mà quên rằng văn nghị luận ở kiểu bài giữ vai trò chủ yếu, yếu tố biểu cảm chỉ là phụ trợ Vậy cần hết sức tránh không để yếu tố biểu cảm tách rời nghị luận hoặc gây cản trở mạch lạc nghị luận hay lấn át vai trò nghị luận

Với kĩ năng này, tôi yêu cầu các em làm bài tập thực hành viết văn nghị luận

và luôn có ý thức đưa yếu tố biểu cảm vào đoạn văn nghị luận Mỗi luận điểm đan xen yếu tố biểu cảm như thế nào cho vừa đủ và phù hợp

Để rèn luyện kĩ năng này, tôi hướng dẫn các em làm các bài tập trong sách giáo khoa Từ các bài tập trong các văn bản nghị luận chuẩn mực trong chương trình các em học tập cách đưa yếu tố biểu cảm vào bài văn nghị luận và thấy được vai trò tác dụng của các yếu tố biểu cảm đó

Bên cạnh bài tập trong SGK, tôi đưa thêm một số bài tập khác như sau:

* Dạng bài tập 1: Điền vào chỗ trống những từ ngữ cần thiết để đoạn văn nghị luận có sức biểu cảm thuyết phục hơn.

Ví dụ: Đoạn văn:

"Những ngày thơ ấu là một tập hồi kí về tuổi thơ của Nguyên Hồng trong chế độ cũ ở đoạn trích "Trong lòng mẹ" tác giả đã miêu tả một cách những rung động của một tâm hồn trẻ dại" Đó là nỗi nhớ thương yêu quí sâu sắc của bé Hồng với người mẹ của mình."

Tôi đưa ra nhiều đoạn văn tương tự trên tổ chức cho các em trao đổi thảo luận

và cùng nhau thống nhất điền từ ngữ biểu cảm và câu cảm thán vào chỗ trống cho phù hợp để đoạn văn nghị luận trở lên giàu cảm xúc hơn

* Dạng bài tập 2: Cho trước câu chủ đề yêu cầu học sinh phát triển câu chủ đề thành một đoạn văn nghị luận sao cho đoạn văn vừa có lý lẽ chặt chẽ vừa có sức truyền cảm

Mục đích của bài tập này giúp cho học sinh từ những kiến thức thu được ở các văn bản mẫu đã học trong chương trình học tập vận dụng vào việc viết đoạn văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm một cách chính xác, hiệu quả

5 Rèn luyện kỹ năng đưa yếu tố tự sự, miêu tả vào bài văn nghị luận

Trong thực tế đời sống tự sự, miêu tả, biểu cảm là những phương thức biểu đạt khác nhau Tuy nhiên trong bài văn nghị luận người nói ( người viết) cũng có

Trang 9

thể đưa yếu tố tự sự và miêu tả như yếu tố biểu cảm, làm cho bài văn nghị luận tăng hiệu quả diễn đạt lên nhiều lần Hai yếu tố này giúp cho việc trình bày luận điểm luận cứ trong bài văn nghị luận được rõ ràng cụ thể, sinh động hấp dẫn hơn

Và do đó bài văn có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn

Việc đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào bài văn nghị luận phải thực sự xuất phát

từ nhu cầu nghị luận Các yếu tố tự sự và miêu tả đưa vào phải phù hợp với luận điểm, luận cứ, phải phục vụ cho việc làm rõ luận điểm, không phá vỡ sự mạch lạc nghị luận của bài văn

Ngoài bài tập SGK, rèn kĩ năng này , tôi cho các em làm các bài tập sau:

* Dạng bài tập 1:

Tìm yếu tố tự sự và miêu tả trong văn bản nghị luận mẫu mực đã học như :

"Chiếu dời đô" của Lý Công Uẩn, "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn; “Thuế máu” của Nguyễn ái Quốc, hay trong một số văn bản, đoạn văn nghị luận tiêu biểu khác, phân tích ý nghĩa, tác dụng của chúng trong đoạn văn, văn bản Giúp cho các

em nhận biết các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn bản nghị luận, nhận xét cách đưa yếu tố tự sự và miêu tả của người viết, từ đó các em học tập cách đưa yếu tố tự

sự và miêu tả vào bài viết của mình

* Dạng bài tập 2: Tập đưa yếu tố tự sự và miêu tả vào đoạn văn nghị luận.

Ví dụ 1: Hãy thêm những yếu tố miêu tả, tự sự để đoạn văn sau đây trở nên có sức thuyết phục hơn:

"Ngắm trăng là đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam Từ ca dao đến

"Truyện Kiều", trăng vẫn xuất hiện như kẻ tri ân Nhưng con người ta thường chỉ ngắm trăng lúc nhàn nhã Vậy mà, trong những ngày bị giam cầm, Bác Hồ vẫn ngắm trăng và làm thơ".

Tôi yêu cầu học sinh đưa yếu tố miêu tả và tự sự vào đoạn văn trên để cho đoạn văn hấp dẫn sinh động hơn Học sinh trình bày trước lớp, tập thể lớp nhận xét,

bổ sung, sửa chữa nếu có sai sót để thành đoạn văn hoàn chỉnh Sau đó tôi đọc đoạn văn mẫu làm đáp án để cho học sinh tham khảo, đối chiếu với bài viết của mình, từ đó các em sẽ có kĩ năng nghị luận tốt hơn

Ví dụ 2: Với câu chủ đề: "Chị Dậu có tinh thần phản kháng mãnh liệt." Sau

khi đọc đoạn trích "Tức nước vỡ bờ", em hãy viết một đoạn văn triển khai câu chủ

đề trên (Chú ý sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả để lập luận )

Với bài tập này, tôi rèn cho các em kiên trì luyện tập, không nóng vội Được luyện tập viết nhiều đoạn văn nghị luận, giúp các em sử dụng thành thạo kĩ năng xây dựng đoạn văn và luôn có ý thức xây dựng đoạn văn nghị luận kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả tự sự biểu cảm trong bài văn nghị luận

Trên đây là các kỹ năng tôi đã rèn luyện làm văn nghị luận cho học sinh THCS, đặc biệt là ở lớp 8 và lớp 9 Với chuyên đề này, đòi hỏi giáo viên nắm vững nội dung kiến thức và mục tiêu chương trình, đối tượng học sinh để chọn những bài tập luyện tập cụ thể phù hợp và từng bước hình thành, rèn luyện cho các em có được những kỹ năng làm văn nghị luận, phát huy khả năng tư duy, năng lực phát triển và tự thể hiện, luôn chủ động, tự tin trong cuộc sống

Chuyên đề này, tôi đã tiến hành thực hiện áp dụng cho học sinh lớp 8 và lớp

9 Trong các tiết dạy cụ thể: ôn tập luận điểm, Luyện tập xây dựng trình bày luận điểm, Đưa yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả vào đoạn văn nghị luận Với các dạng

Trang 10

bài tập như tôi đã trình bày ở trên Ngoài luyện tập trên lớp, tôi yêu cầu các em luyện tập ở nhà, kiểm tra và sửa chữa rút kinh nghiệm về kiến thức, kĩ năng làm văn nghị luận Với cách dạy như vậy tôi đã tạo được hứng thú học tập cho các em,

đã phát huy được khả năng duy sáng tạo và khả năng diễn đạt trong nói viết của học sinh Thực hiện các hình thức luyện tập này, từ đối tượng học sinh yếu cũng nắm được kỹ năng viết bài, bài viết đủ 3 phần đến đối tượng học sinh trung bình -khá bài viết của các em đã tương đối đủ ý theo yêu cầu của đề bài tránh bị điểm thấp Và thêm vào đó cùng với khả năng diễn đạt, sử dụng từ ngữ, viết câu có hình ảnh…, bài viết của các em chắc chắn sẽ đạt kết quả cao

III - Bài học kinh nghiệm

Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng đề tài này vào việc dạy - học văn nghị luận, tôi thấy đây là hình thức hay và dễ áp dụng đối với học sinh lớp 7, lớp 8 và lớp 9 Để có được kết quả cao khi thực hiện đề tài này bản thân tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

1 Đối với giáo viên:

- Phải yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm, kiên trì và có phương pháp dạy học linh hoạt, có kiến thức sâu rộng về văn học, về các kiểu loại văn bản, về lịch sử, địa

lý về đời sống xã hội

- Biết phối hợp linh hoạt các hình thức luyện tập phù hợp với từng đối tượng học sinh, tạo sự hứng thú học tập

- Trong mỗi tiết dạy, giáo viên nắm chắc yêu cầu cần đạt của bài học để xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng làm văn hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao

2 Đối với học sinh:

+ Các em phải thực sự say mê học môn Ngữ văn Mỗi học sinh luôn có ý thức tự giác làm bài tập rèn luyện kĩ năng giáo viên giao cho và hoàn thành tốt bài tập

+ Học sinh thường xuyên đọc văn bản, một số tác phẩm văn học dùng trong nhà trường, đọc tư liệu, tài liệu tham khảo, tích luỹ kiến thức mọi mặt trong thực tế đời sống xã hội và thường xuyên ghi chép vào sổ tay văn học

+ Trên lớp, học sinh tập trung nghe giảng và có suy nghĩ độc lập, hoạt động tích cực khi giáo viên giao bài tập và hoàn thành bài tập

Vận dụng tốt những bài học kinh nghiệm trên, giáo viên tổ chức các hình thức luyện tập rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận phù hợp thực sự mới đạt hiệu quả cao

C KẾT LUẬN

Một trong những vấn đề đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực học tập của học sinh, tạo điều kiện cho các em được suy nghĩ, tìm tòi khám phá vấn đề Đây là việc làm cần thiết trong sự nghiệp giáo dục hiện nay Với việc rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận, kiểu loại văn bản quan trọng trong chương trình TLV THCS sẽ phát huy tính tích cực chủ động trong học tập, bồi dưỡng cho học sinh năng lực tìm hiểu, giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống tương lai

Ngày đăng: 25/08/2017, 09:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w