TÓM TẮT Trong việc đổi mới PPDH lấy học sinh làm trung tâm thì việc tự học củahọc sinh vô cùng quan trọng, để điều khiển quá trình tự học sao cho có hiệu quảnhất thì việc kiểm tra đánh g
Trang 1MỤC LỤC
Tóm tắt 2
Giới thiệu 4
1 Hiện trạng 4
2 Giải pháp thay thế 5
3 Vấn đề nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu 7
Phương pháp nghiên cứu 8
1 Khách thể nghiên cứu……… 8
2 Thiết kế nghiên cứu……… 8
3 Qui trình nghiên cứu……… 9
4 Đo lường……… 9
Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả 10
Kết luận và khuyến nghị 11
Tài liệu tham khảo 12
Phụ lục 13
Trang 2I TÓM TẮT
Trong việc đổi mới PPDH lấy học sinh làm trung tâm thì việc tự học củahọc sinh vô cùng quan trọng, để điều khiển quá trình tự học sao cho có hiệu quảnhất thì việc kiểm tra đánh giá của giáo viên đòi hỏi phải thật khéo léo, đa dạnggóp phần tích cực làm chuyển biến quá trình tự học của học sinh.Tuy vậy, trong thực tế dạy học hiện nay việc áp dụng phương pháp dạy họchướng dẫn học sinh tự học của giáo viên ở tất cả các môn học nói chung và mônToán nói riêng còn gặp rất nhiều lúng túng và khó khăn Cách học của học sinhvẫn đơn giản là cố gắng hoàn thành hết số bài tập GV giao về nhà (bằng mọi cách
có thể), và học thuộc trong vở ghi đối với các môn học thuộc Đối với giáo viênthì chỉ quen thuộc với cách kiểm tra bài cũ đầu giờ cốt sao cho đủ số lần điểmmiệng Việc kiểm tra định kỳ chỉ đơn giản là thực hiện theo phân phối chươngtrình, trước khi kiểm tra sẽ giới hạn cho học sinh một phần kiến thức
Đa số giáo viên thường quan niệm kiến thức là mục đích của quá trình dạy họcnên chỉ quan tâm đến phương pháp truyền thụ kiến thức của bài đúng với nộidung SGK Một số giáo viên chưa có kỹ năng soạn bài, vẫn áp dụng một cáchDập khuôn, máy móc lối dạy học "truyền thống" chủ yếu giải thích, minh hoạ táihiện, liệt kê kiến thức theo SGK là chính, ít sử dụng câu hỏi tìm tòi, tình huống cóvấn đề… coi nhẹ rèn luyện thao tác tư duy, năng lực thực hành, ít sử dụng cácphương tiện dạy học nhất là các phương tiện trực quan để dạy học và tổ chức chohọc sinh nghiên cứu thảo luận trên cơ sở đó tìm ra kiến thức và con đường đểchiếm lĩnh kiến thức của học sinh.Thực tế, giáo viên thường soạn bài bằng cáchsao chép lại SGK hay từ thiết kế bài giảng, không dám khai thác sâu kiến thức,chưa sát với nội dung chương trình, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức giảiquyết những vấn đề từ nhỏ đến lớn trong thực tế đời sống và sản xuất Khi dạythường nặng về thông báo, không tổ chức hoạt động học tập cho các em, không
dự kiến được các biện pháp hoạt động, không hướng dẫn được phương pháp tựhọc Mặt khác, phương pháp dạy học phổ biến hiện nay vẫn theo "lối mòn", giáoviên truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động lĩnh hội tri thức Thậm chí có giáoviên còn đọc hay ghi phần lớn nội dung lên bảng cho học sinh chép nội dungSGK Việc sử dụng các phương tiện dạy học: phiếu học tập, tranh ảnh, băng hình,bảng phụ… chỉ dùng khi tham gia tiết học tốt, thi giáo viên dạy giỏi hay có đoànthanh tra, kiểm tra đến dự, còn các tiết học thông thường hầu như "dạy chay" Doviệc truyền đạt kiến thức của giáo viên theo lối thụ động nên rèn luyện kỹ năng tựhọc cũng như việc hướng dẫn tự học của giáo viên cho học sinh không được chú
ý làm cho chất lượng giờ dạy đạt kết quả không cao
Khi tiến hành nghiên cứu, tôi đã thực hiện trên lớp 11B4 trường PT Phan
Trang 3thấy tác động có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của học sinh Lớp thựcnghiệm đạt kết quả cao hơn lớp đối chứng
Điểm kiểm tra của lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,02; điểm kiểm tracủa lớp đối chứng là 6,03 là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng Điều đó chứng minh rằng sự thay đổi phương pháp tựhọc đã nâng cao kết quả học tập cho học sinh
Trang 4II GIỚI THIỆU
1 THỰC TRẠNG
Phần lớn học sinh đi học không còn vì sự thích thú muốn tìm hiểu cái mớinữa, chúng đi học chỉ để được gặp gỡ bạn bè, hoặc bị cha mẹ ép buộc Chươngtrình học, sách giáo khoa quá nặng nề, phần lớn đều là lý thuyết, cứng nhắc, thậmchí là gò bó, ép buộc và dối trá Học sinh được học văn như những con vẹt chămchỉ lặp lại lời kẻ nuôi, không chút sáng tạo, còn buộc phải làm khác với những gìmình nghĩ nếu muốn có điểm Chúng học toán, lý, hóa, chẳng làm gì ngoài việc đithi một kì thi duy nhất Dẫu vẫn biết nền giáo dục hiện nay có quá nhiều vấn đềkhiến dư luận xã hội bức xúc, nhưng dù sao cũng vẫn phải sửa, sửa càng nhanhcàng tốt, mà trước hết cần phải hướng cho giới trẻ, tức các em học sinh hiện naybiết làm thế nào cho việc học trở nên thú vị và có ích
Hầu hết các em học sinh đều rất lười học lý thuyết, không có thói quen đọctrước bài mới ở nhà ,không biết hệ thống lại các kiến thức đã học theo chuyên
đề Các em chỉ hoàn thành bài tập thầy cô giáo giao một cách chống đối, thậm chí
có những em không có thói quen học bài ở nhà, đến lớp mới chép bài cho đủ đểgiáo viên kiểm tra Nhiều em học sinh khá - giỏi cũng chưa chịu khó tìm tòi, đọcthêm sách tham khảo, tích lũy thêm kiến thức cho riêng mình
Các tiết học trên lớp thời gian eo hẹp, lượng kiến thức lại nhiều, giáo viên lodạy cho hết bài theo đúng phân phối chương trình Không có đủ thời gian kiểmtra kiến thức của nhiều học sinh hoặc kiểm tra sát sao sự chuẩn bị ở nhà củacác em cũng như không có thời gian hướng dẫn các em hệ thống kiến thức, làmnhững bài tập lớn theo từng chuyên đề
Do điểm đầu vào trường không cao nên trình độ nhận thức chưa tốt, dẫn đếnviệc tự học ở nhà của các em hầu như là không có Mỗi lớp chỉ có khoảng mộtphần ba học sinh trên tổng số học sinh cả lớp là tự học ở nhà Đồng thời các emhọc sinh phải học quá nhiều môn, đi học thêm nhiều, áp lực thi cử lớn nên ít cóthời gian dành cho việc tự học
Tất cả những ý tôi nêu trên đều chỉ có một mong muốn đó là mong mọi ngườixem xét lại việc dạy học của mình để lấy việc tự học trở lại trung tâm trong sựhọc của mỗi học sinh
Trang 5- Kiểm tra vấn đáp trong môn toán có điểm khác với các môn xã hội là khôngkiểm tra học thuộc lòng, nghĩa là nếu một học sinh học thuộc và trả lời trôichảy lí thuyết thì không có nghĩa học sinh đó sẽ làm được bài tập (mà làmđược bài tập thì mới có điểm trong kiểm tra định kỳ ) Như vậy quá trình kiểmtra vấn đáp phải thúc đẩy được học sinh học tập kiến thức để làm được bài tập(chứ không phải là lý thuyết suông), ngược lại nếu học sinh làm được bài tậpthì sẽ trả lời tốt các câu hỏi vấn đáp của giáo viên Để đạt được điều đó câu hỏicủa giáo viên phải tập trung vào các kiến thức kĩ năng như:
+Điều kiện tồn tại của phương trình
+ Các bước giải loại toán
+ Phương pháp chứng minh bài toán
+
Tất nhiên không phải bài nào kiến thức lý thuyết cũng rõ ràng để học sinh cóthể tự học ở nhà, khi đó giáo viên sẽ đưa trước nội dung liên quan tới bài họcmới cho học sinh, tiết sau sẽ kiểm tra vào nội dung đó, như vậy học sinh sẽ tựtìm kiếm nội dung để học tập ở nhà (phát huy tính tích cực chủ động và tạo tiền
đề để bài dạy được thành công)
- Ngoài nội dung câu hỏi thì hình thức kiểm tra cũng là vấn đề đáng quan tâm,
vì một số học sinh khi có điểm miệng sẽ an tâm với việc không bị gọi tên nữadẫn đến chểnh mảng việc học kiến thức lí thuyết Hoặc việc gọi học sinh lênbảng theo thứ tự trong sổ điểm cũng làm cho học sinh biết được để đối phó.Như vậy cách gọi phải ngẫu nhiên nhưng học sinh không biết trước được
- Sau khi kiểm tra đầu giờ giáo viên vẫn nên tiếp tục vấn đáp cho điểm họcsinh ngay trong giờ học để tăng sự tập trung của học sinh, tạo thêm cơ hội chohọc sinh mắc điểm yếu có thể gỡ điểm
Trang 6b) Cho bài tập lớn:
- Với một số Chương ngắn mà chưa có bài kiểm tra định kỳ, để học sinh có cáinhìn tổng quát hệ thống với một lượng kiến thức trong thời gian dài thì cầnphải hướng dẫn học sinh tổng hợp, hệ thống kiến thức và các dạng bài tập.Cách đơn giản là giáo viên đưa ra một hệ thống bài tập đủ lớn, đa dạng phùhợp với học sinh và yêu cầu các em tự phân dạng bài tập để giải, mỗi dạng sẽtrình bầy cách giải của dạng đó sau đó mới giải chi tiết Khi học sinh làm xongthì yêu cầu nộp lại để chấm lấy vào điểm thực hành, hoặc điểm miệng, hoặcđơn giản chỉ là điểm để động viên khích lệ
c) Kiểm tra định kỳ:
- Trước khi kiểm tra giáo viên phải xác định rõ cho học sinh đâu là kiến thứctrọng tâm, đâu là kiến thức mở rộng để học sinh biết cách học, tránh giới hạnquá dài làm cho học sinh không biết học phần nào, dẫn tới lan man Tốt nhất làhướng dẫn làm đề cương cho học sinh
Cách ra đề phải phân loại được học sinh đảm bảo có câu dễ cho học sinh trungbình yếu và câu khó cho học sinh khá và giỏi, việc ra đề quá khó hay quá dễđều không có tác dụng thúc đẩy việc tự học của học sinh
2.2 Hướng dẫn học sinh tự học:
a) Tự học qua sách giáo khoa:
- SGK là nguồn tri thức quan trọng cho học sinh, nó là một hướng dẫn cụ thể
để đạt liều lượng kiến thức cần thiết của môn học, là phương tiện phục vụ đắclực cho học sinh Do đó tự học qua SGK là vô cùng quan trọng để học sinhtham gia vào quá trình nhận thức trên lớp và củng cố khắc sâu ở nhà
- Để học sinh tự nghiên cứu trước SGK ở nhà thì giáo viên không nên chỉ đơngiản là nhắc các em đọc trước bài mới mà cần nêu cụ thể câu hỏi mà khi đọcxong bài mới các em có thể trả lời được Đó là cách giao nhiệm vụ cụ thể giúphọc sinh đọc sách giao khoa có mục tiêu cụ thể rõ ràng
Trang 7những học sinh yếu có thêm 1 tài liệu để đọc lại khi chưa rõ cách giáo viênhướng dẫn
- Đối với những nội dung mà sách giáo khoa đã có chi tiết đầy đủ thì khôngnên ghi lên bảng cho học sinh chép mà cho các em về tự đọc trong SGK, cáchlàm này vừa tiết kiệm thời gian vừa tạo thói quen đọc SGK cho học sinh vàlàm cho bài giảng không bị nhàm chán
b) Tự học qua sách bài tập, sách tham khảo:
- Đối với học sinh trong trường sách bài tập đều có, nên giáo viên phải tậndụng tài liệu này để giúp học sinh tự học hiệu quả Khi cho bài tập nên cho các
ví dụ trong sách bài tập , các ví dụ này đều có hướng dẫn giải và phân dạng,như vậy học sinh sẽ tự học một cách hệ thống ngay từ đầu (nếu chỉ làm bài tậptrong SGK thì việc phân dạng bài tập sẽ khó khăn hơn với học sinh)
- Việc cho bài tập về nhà cũng cho theo thứ tự dạng bài tập của SGK và sáchbài tậpđể học sinh có một lượng bài tập tương tự đủ lớn (các bài này đều có lờigiải chi tiết) để có thể tự mình làm được các bài trong SGK Khi cho bài theocách này sẽ giúp học sinh có một cách học mới là khi gặp khó khăn sẽ tự tìmkiếm một phương án tương tự đã có để giải quyết chứ không thụ động chờ đợiGiáo viên hướng dẫn
c) Tự nghiên cứu:
Giáo viên nên hướng dẫn học sinh làm các bài tập lớn, có kiểm tra đánh giá
để Hs có khả năng tự phân tích tổng hợp
3 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
• Vấn đề nghiên cứu: Nâng cao tính tự học của học sinh có làm tăng thêm
được kết quả học tập cho học sinh hay không?
• Giả thuyết nghiên cứu: Thay đổi phương pháp dạy học kết hợp thay đổi
kiểm tra đánh giá nâng cao kết quả học tập cho học sinh
Trang 8III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Chọn tất cả học sinh 2 lớp 11B3và 11B4 Học sinh hai lớp được chọn tham gianghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về giới tính, nhận thức
Bảng 1 Thông tin học sinh của hai lớp
Số học sinh Dân tộcTổng số Nam Nữ Kinh
- Ý thức về học của của hai lớp: tích cực, năng động và có tinh thần hợp tác
- Kết quả học tập của hai lớp năm học: 2013-2014 tương đương nhau về điểm số
2 Thiết kế:
Chọn tất cả học sinh hai của lớp 11B3, 11B4 của trường PT Phan Đăng Lưu, tiếnhành cho học sinh hai lớp làm bài kiểm tra trước tác động (Lấy từ kết quả kiểmtra chất lượng đầu năm) Kết quả kiểm tra điểm trung bình của hai lớp như sau:
Bảng 2 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra trước tác động
và cách giao việc về nhà
O2
Đối chứng O3 Kiểm tra đánh giá như cũ, giao
bài tâp theo SGK
O4 (TTEST độc lập)
Trang 93 Quy trình nghiên cứu
Chuẩn bị giáo viên và học sinh:
- Lớp đối chứng: Thiết kế bài học ,phương pháp kiểm tra đánh giá như cũ
- Lớp thực nghiệm: +) Hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu bài mới , Ghi lại nhữngkiến thức trọng tâm của bài, ghi lại những điều còn băn khoăn, thắc mắc
+) Khi kiểm tra bài cũ yêu cầu tất cả các học sinh ghi lại ragiấy, giáo viên thu và chấm của 10 học sinh
+) Sau mỗi một chương giáo viên hướng dẫn học sinh cách
hệ thống lại các kiến thức cơ bản, các công thức cần nhớ, các dạng bài tập cơ bản
và phương pháp giải
4 Đo lường và thu thập dữ liệu
Bảng 4 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Lớp đối chứng Lớp thực nghiệm
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ
Ta thấy hai lớp trước tác động tương đương nhau về điểm trung bình, nhưng saukhi tác động kiểm chứng ta thấy chênh lệch điểm trung bình Do đó chênh lệchgiữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng là rất có ý nghĩa, tức
là chênh lệch về điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn điểm trung bìnhcủa lớp đối chứng là không ngẫu nhiên
Biểu đồ
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Trang 10Nhận xét chung
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của lớp thực nghiệm là điểm trung bìnhbằng 7,0, kết quả bài kiểm tra của lớp đối chứng là điểm trung bình bằng 6,0
Độ chênh lệch điểm số của hai nhóm sau khi tác động là O4 O2 1,0
Điều đó cho thấy điểm trung bình của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm có sựkhác nhau lớn Lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng
Hạn chế
Để thực hiện Nghiên cứu Khoa học này, bản thân mỗi giáo viên phải sáng tạo và
áp dụng một cách linh hoạt cho từng bài học cụ thể và thật sự cần thiết
Giáo viên cần có yêu cầu sau:
-Kĩ năng về soạn giáo án điện tử; sử dụng hiệu quả của các phần mềm dạy học;
từ những nhu cầu bài học phải biết tính ưu điểm của mỗi phần mềm mà thiết kếbài giảng hợp lí
-Thay đổi các hình thức kiểm tra đánh giá, giao việc về nhà cho học sinh, thườngxuyên kiểm tra
Trang 11V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Kết luận:
- Dạy học sử dụng phương pháp dạy học kết hợp với một số phần dạy học, thay đổi cách giao việc về nhà, cách kiểm tra đánh giá, cách hướng dẫn học sinh tự học
đã nâng cao kết quả học tập cho học sinh
-Đề tài có tính khoa học và sư phạm rất cao, các số liệu được minh chứng cụ thể
và được xử lý dựa vào các hàm tính toán, khắc phục được các nhược điểm của các sáng kiến kinh nghiệm lâu nay hay làm ở các trường THPT
-Có thể áp dụng vào các trường THPT hiện nay
- Giáo viên cần đầu tư về công nghệ thông tin, khai thác mạng internet, sử dụng
thành thạo các phần mềm dạy học Đổi mới dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm của các đồng nghiệp thông qua website, diễn đàn dạy học
Trang 12vi TµI LIÖU THAM KH¶O
1 Nguyễn Bá Kim (2006) – Phương pháp giảng dạy môn Toán, NXB Đại học Sư
phạm
2 Phương pháp luyện thi Đại học môn toán theo chủ đề lượng giác , NXB Đại
học sư phạm
3 Bộ đề thi đại học môn Toán toán từ năm 2002 đến nay
4 Tạp chí Toán học và tuổi trẻ, NXB Giáo dục.
Trang 13k k
Công thức nhân:
3
3 3 2
sin 2 2sin cos cos 2 cos sin 2cos 1 1 2sin cos3 4cos 3cos
sin 3 3sin 4sin
3tan tan tan 3 =
Trang 14sin sin 2cos sin
Phần 2 PHƯƠNG TRÌNH LƯỢNG GIÁC
Công thức nghiệm của các phương trình lượng giác cơ bản
os 1+cos2x=2m cos2x=2m-1
1-cos2x 1+m os2x=1-mtan
Trang 16Điều kiện : cosx 0;1+tanx 0
(1) 2 sin 1 sinx+cos2x 1 t anx osx
(1) 2sin cosx x c osx- 1-2sin 2x 3sinx 1 0
2sin 1 osx+sinx+2 0 sinx=1 6 2