sáng kiến kinh nghiệm Một số biện phỏp hướng dẫn học sinh lớp 10 trường PTDTNT-THPT Miền Tõy làm bài văn nghị luận văn học Lời nói đầu Trong chơng trình Ngữ văn THPT, việc học tập phân
Trang 1MỤC LỤC
I Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm .2
II Thời gian thực hiện và triển khai sáng kiến kinh nghiệm 3
Phần thứ hai: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM I Cơ sở lí luận của vấn đề 6
II Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 7
III Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 14
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 20
Phần thứ ba: KẾT LUẬN I Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm đối với công việc thực hiện 32
II Nhận định chung về khả năng áp dụng và khả năng phát triển của SKKN
33
III Những bài học được rút ra từ SKKN 34
IV Những đề xuất với các cấp lãnh đạo để áp dụng SKKN có hiệu quả 34
* Tài liệu tham khảo 35
* Phụ lục 36
* Chú thích: Một số thuật ngữ viết tắt:
1 Trường PTDTNT THPT Miền Tây: Trường phổ thông dân tộc nội trú
Trung học phổ thông Miền Tây
2 GV, HS: Giáo viên, học sinh
3 THCS, THPT: Trung học cơ sở, trung học phổ thông
4 PPDH: Phương pháp dạy học
5 SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm
Trang 2
sáng kiến kinh nghiệm
Một số biện phỏp hướng dẫn học sinh lớp 10 trường PTDTNT-THPT Miền Tõy làm bài văn nghị luận văn học
Lời nói đầu
Trong chơng trình Ngữ văn THPT, việc học tập phân môn Tập làm văn
đối với học sinh dõn tộc là vô cùng khó khăn.
Nghị luận văn học nhằm hình thành, phát triển khả năng lập luận chặt chẽ, trình bày những lí lẽ, dẫn chứng một cách sáng sủa giàu sức thuyết phục khi bày tỏ ý kiến bản thân về một tác phẩm văn học nào đó.
Để viết đợc bài văn hay đòi hỏi học sinh cần phải có kiến thức văn học
và kĩ năng cơ bản khi viết bài Nhng kiến thức và kĩ năng cơ bản đó có từ
đâu ? Đó chính là từ những bài giảng, từ sự hớng dẫn của giáo viên và từ cách cảm thụ của học sinh
Vì vậy qua thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạn trình bày một số kinh nghiệm của bản thân trong việc hớng dẫn học sinh lớp 10 THPT Dõn tộc - Nội trỳ viết bài văn nghị luận văn học
Trang 31 Thực trạng vấn đề:
Nghị luận văn học là một kiểu bài khó so với văn nghị luận nói riêng vàphân môn tập làm văn nói chung Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có nănglực phân tích , đánh giá từ khái quát đến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, vềvăn học, về lịch sử và đặc biệt là kĩ năng trình bày
Nhng đối với học sinh lớp 10 THPT DTNT đặc biệt là học sinh miền núi thì
kĩ năng viết văn của các em còn nhiều hạn chế : Bài viết rời rạc , khô khan,dùng câu dùng từ cha chính xác, bố cục cha rõ ràng , lập luận cha có sức thuyếtphục , vốn từ nghèo nên diễn đạt lủng củng tối nghĩa ,dài dòng, không thoát ý ,mắc nhiều lỗi chính tả
Từ thực trạng trên, tôi vừa giảng dạy vừa đỳc rỳt kinh nghiệm kết hợp với việchọc hỏi bạn bè, đồng nghiệp và mạnh dạn thực hiện sáng kiến kinh nghiệm MỘT SỐ BIỆN PHÁP Hớng dẫn học sinh LỚP 10 TRƯỜNG
PTDTNT-THPT MIỀN TÂY LÀM bài văn nghị luận văn học
2 ý nghĩa của của việc hướng dẫn học sinh lớp 10 làm bài văn nghị luận: 2.1 í nghĩa lớ luận:
Rốn kĩ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh là một bước hiện thựchúa quan điểm đổi mới chương trỡnh giỏo dục phổ thụng, đổi mới chương trỡnh sỏchgiỏo khoa, đổi mới phương phỏp kiểm tra đỏnh giỏ, Đồng thời đảm bảo mục tiờu
chung của giỏo dục “Đào tạo con người Việt Nam phỏt triển toàn diện”.
Với đối tượng học sinh lớp 10 trường Phổ thụng DTNT- THPT Miền Tõy
100 % là người dõn tộc ở vựng sõu, vựng xa, vựng kinh tế xó hội khú khăn (Diện 3),hầu hết cỏc em hiểu biết về cỏc tỏc phẩm văn học rất hạn chế, kỹ năng làm văn yếu.Nờn việc “Rốn kỹ năng làm văn nghị luận văn học” cho cỏc em là rất cần thiết, từ đú
Trang 4giúp các em nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm văn chương, hiểu biết hơn về cáctác phẩm văn học, về đời sống xã hội, hiểu người, hiểu mình, tự tin bước vào họctập, rèn luyện chuẩn bị hành trang cho cuộc sống sau này.
Mặt khác, Hướng dẫn “ kỹ năng làm văn nghị luận văn học” thiết thựcgiúp học sinh chuẩn bị tốt cho tương lai với các kì thi tốt nghiệp trung học phổthông và tuyển sinh vào các trường Đại học, Cao đẳng thuộc khối C, D (Bởitrong đề thi môn Ngữ văn, nghị luận văn học chiếm 5/10 điểm toàn bài)
Rèn kỹ năng làm văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 10 trường Phổthông DTNT- THPT Miền Tây có ý nghĩa thiết thực nâng cao chất lượng giảngdạy môn Ngữ văn, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc phát triển toàn diện
cho tỉnh và đất nước sau này
3 Những yêu cầu về đổi mới phương pháp trong dạy học ngữ văn và chất lượng dạy và học chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả dạy học ngữ văn trong trường DTNT
Tuy nhiên để làm được điều đó, mỗi giáo viên đứng lớp cần xác định được
những mâu thuẫn nảy sinh cần giải quyết
+ Từ cách dạy và học văn ở trường THCS đến cách dạy và học văn ở trườngDTNT là một sự khác biệt: Thầy cô, phương pháp, yêu cầu kiến thức, kĩ năng + Đối tượng học sinh ở những vùng tuyển khác nhau, một số chưa trải qua môitrường nội trú còn chịu sự ảnh hưởng nặng nề về thói quen và lối sống gia đình, địaphương; kinh nghiệm giao tiếp tiếng Việt văn hoá rất hạn chế
+ Viết một bài văn nghị luận văn học đối với học sinh trường PTDTNT Tỉnhquả là một công việc khó khăn bởi trường PTDTNT Tỉnh có đặc thù riêng: 100%học sinh là con em dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế xã hội khó khăn, việc sửdụng tiếng Việt của các em còn nhiều hạn chế (Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai sautiếng mẹ đẻ)
+ Học sinh hiểu biết và cảm nhận tác phẩm văn học đã là khó, nhưng để vậndụng kiến thức văn học vào viết một bài văn nghị luận văn học lại càng khó hơn.Bởi kĩ năng cảm thụ và phân tích tác phẩm văn học của các em rất hạn chế Để
Trang 5giỳp học sinh lớp 10 trường Phổ thụng DTNT làm tốt dạng bài nghị luận vănhọc là một vấn đề đặt ra cho giỏo viờn dạy Ngữ văn lớp 10.
+ Ngời giáo viên cần cung cấp giúp cho học sinh nắm chắc những kiếnthức cơ bản về văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng Từ đóhớng dẫn rèn luyện cho các em kĩ năng từ viết đúng , dần dần hớng tới bài viếthay , có ý tứ sâu sa , lời lẽ ngắn gọn , hàm xúc , bài viết mạch lạc , gợi cảm và
có sức thuyết phục
4 Chớnh vỡ vậy, vấn đề đặt ra cho mỗi giỏo viờn dạy ngữ văn là làm sao cho tất cả cỏc học sinh khối 10 đều viết được và viết hay bài văn nghị luận văn học trong chương trỡnh
Vỡ thế , chỳng tụi cho rằng: bằng sỏng kiến kinh nghiệm - thực nghiệm củamỡnh tại hai lớp 10A & 10B trường PTDTNT-THPT Miền Tõy là một giảiphỏp cần thiết và quan trọng để nõng cao hiệu quả, chất lượng viết văn của họcsinh lớp 10 Đồng thời đõy cũng là cơ sở của việc bàn bạc, thảo luận để đưa ranhững giải phỏp đổi mới phương phỏp dạy học sao cho vừa phự hợp đối
tượng ; vừa nõng cao được chất lượng dạy học mụn làm văn
II Thời gian thực hiện và triển khai sỏng kiến kinh nghiệm:
Từ thỏng 9/2012 đến thỏng 3/2013
Phần thứ hai: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I- Cơ sở lớ luận của vấn đề:
- Việc đổi mới chương trỡnh sỏch giỏo khoa đó đặt trọng tõm vào việc đổi
mới phương phỏp dạy học Đổi mới phương phỏp dạy và học đó được xỏc địnhtrong Nghị quyết trung ương 4 khúa VII (Thỏng 01 năm 1993), Nghị quyết
Trang 6trung ương 2 khóa VIII (Tháng 12 năm 1996) được thể chế hóa trong luật giáodục (2005) được cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là
chỉ thị số 14 (Tháng 4 năm 1999) Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ – BGD&ĐT ngày 05/5/2006 xác định rõ:
“Môn Ngữ văn ở cấp PTTH nhằm giúp học sinh: Có những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại hệ thống về văn học và Tiếng Việt bao gồm: Kiến thức
về các tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một
số tác phẩm, đoạn trích văn học nước ngoài Những hiểu biết về lịch sử văn học
và một số vấn đề lí luận văn học cần thiết (cách tiếp nhận và tạo lập) Hình thành và phát triển các năng lực ngữ văn với yêu cầu cao hơn cấp THCS bao gồm: Năng lực sử dụng Tiếng Việt (thể hiện bốn kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe, nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ, thẩm mĩ, năng lực tự học, năng lực thực hành ứng dụng.
Có tình yêu Tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhên đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị của dân tộc và nhân loại”.
- Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp ở mức độ cao của môn Ngữvăn Tập làm văn được xem như vị trí cốt lõi trong mối tương quan chặt chẽ vớivăn và tiếng Việt Dạy tập làm văn cho học sinh là dạy cách nắm vững vănbản, biết xây dựng các đoạn văn thông thường, rèn các thao tác, cách thức,đường đi trong quá trình tạo lập văn bản.Trọng tâm phần tập làm văn trongmôn Ngữ văn không phải là việc hình thành những kiến thức lí thuyết,mà chủyếu thông qua thực hành luyện tập nhận dạng và đi đến kết luận về các vấn đềliên quan đến việc tạo lập các kiểu văn bản: tự sự, biểu cảm, miêu tả, thuyết
Trang 7minh, nghị luận và hành chớnh cụng vụ, cũng như sự kết hợp cỏc phươngthức biểu đạt này trong từng loại văn bản để phõn tớch, cảm thụ, nhận định,đỏnh giỏ Làm văn giỳp học sinh phỏt triển tư duy ngụn ngữ và năng lực diễnđạt tư tưởng, tỡnh cảm cỏ nhõn.
- Xuất phỏt từ những mục tiờu trờn thỡ việc dạy - học tập làm văn hoàn toànkhụng đơn giản.Làm thế nào để nõng cao hiệu quả giờ dạy Làm thế nào đểrốn luyện kĩ năng tạo lập văn bản - nhất là việc tạo lập một văn bản nghị luận -cho học sinh là cả một quỏ trỡnh, cần phải khụng ngừng nghiờn cứu, tỡm tũi cỏcgiải phỏp
- Tỡm hiểu cỏc văn bản nghị luận, tạo lập văn bản nghị luận đối với HS lớp
10 là mảng kiến thức khú, phức tạp, khụ khan, ớt hấp dẫn Nhưng nếu cỏc embiết cỏch học, cú kĩ năng khỏ thành thạo, cú vốn kiến thức và hiểu biết phongphỳ thỡ việc viết một bài văn nghị luận mạch lạc, khỳc chiết đầy sức thuyếtphục sẽ khụng cũn là quỏ khú và đõu phải là điều khụng thể đối với học sinh!Vậy nờn việc rốn luyện kĩ năng cho học sinh là cần thiết, là quan trọng, đồngthời cũng là trỏch nhiệm, nghĩa vụ của người giỏo viờn dạy văn
- Để giải quyết được những vấn đề đó nờu, chỳng tụi chủ yếu sử dụngphương phỏp luyện tập - thực hành ở hầu hết cỏc tiết học; nhất là tiết làm văn,bồi dưỡng, phụ đạo ngoài giờ học chớnh khoỏ; kết hợp tớch hợp, định hướngrốn kĩ năng tư duy ngụn ngữ lo-gic trong cỏc giờ học văn
II Thực trạng dạy và học phõn mụn làm văn:
1.Vài nét về đối tợng nghiên cứu
Hai lớp 10 do tôi trực tiếp giảng dạy và đứng lớp gồm 62 em thuộc đốitượng học sinh dõn tộc vùng cao cỏc huyện Mự Cang Chải, Trạm Tấu và VănChấn; đa số là học sinh dõn tộc HMụng, Dao, Thỏi, Tày, Do đó việc cảmthụ về văn chơng và kĩ năng viết văn còn rất nhiều hạn chế Hầu hết học sinhrất ngại học môn Ngữ văn nhất là phân môn Tập làm văn Theo các em đây làmôn học " vừa khó , vừa khổ " Bởi vì đa số học sinh có vốn từ quá yếu, quá
Trang 8thiếu , nhiều em còn ngại suy nghĩ, không chịu khó tham khảo sách báo nên để
có một bài văn nội dung phong phú , lập luận chặt chẽ , sắc sảo thì quả là rấtkhó đối với học sinh
2 Thực trạng dạy và học mụn làm văn:
2.1 Tỡnh hỡnh dạy làm văn:
- Nhiều giỏo viờn văn vẫn cú thiờn hướng: chuyờn chỳ vào văn học mà chủ
yếu là giảng văn, cũn tiếng Việt và tập làm văn cú phần bị xem nhẹ, ớt đượcquan tõm để tự giỏc nõng cao trỡnh độ dạy học
* Vớ dụ: Chưa chỳ trọng hướng dẫn và kiểm tra học sinh soạn cỏc tiết làm văn; nhất là cỏc tiết cú cỏc bài tập thực hành rốn kĩ năng làm văn.
- Việc đổi mới nội dung và phương phỏp dạy học tập làm văn so với bộphận văn và tiếngViệt lại chậm hơn, ớt được quan tõm hơn Giỏo viờn phần lớnvẫn ngại và khụng mấy hứng thỳ với những tiết dạy tập làm văn bởi nú khú,khụ, nhiều khi trừu tượng cả với giỏo viờn và học sinh
* Vớ dụ: Cỏc tiết dạy cú ỏp dụng đổi mới phương phỏp dạy học mụn ngữ văn hầu như khụng cú phõn mụn làm văn.
- Tớnh “Tập” trong làm văn cũn cứng nhắc, khuụn đỳc, chưa cú tỏc dụng tớchcực trong việc phỏt triển tớnh cỏch, tư duy riờng của cỏ nhõn học sinh quaviệc ra đề, kiểm tra, đỏnh giỏ cũng như rốn luyện kĩ năng
* Vớ dụ: Trong tiết: Lập dàn ý cho bài văn nghị luận; giỏo viờn chủ yếu dừng ở phần lớ thuyết, cũn phần luyện tập của học sinh hầu như khụng cú hiệu quả Bởi vỡ đa số cỏc em ngại tư duy ngụn ngữ, lười động nóo nờn giỏo viờn lại phải hướng dẫn chi tiết; vỡ thế khi lập dàn ý hoặc dựng đoạn, đa số học sinh theo mẫu mà thầy xõy dựng, rất ớt em sỏng tạo
- Cỏc tiết cú liờn quan đến rốn kĩ năng núi, viết, bài tập thực hành cũn mangtớnh hỡnh thức, chưa thực sự được đầu tư nờn hiệu quả chưa cao Học sinhchưa được rốn luyện một cỏch thớch đỏng cỏc kĩ năng tạo lập văn bản, nhất làkiểu văn bản nghị luận văn học - được coi là quỏ khú với học sinh
Trang 9* Ví dụ: Khi giáo viên giao bài dựng đoạn theo dàn ý đã lập thì đa số học sinh tìm cách chép lại ý bài đọc văn đã phân tích, chứ không độc lập, sáng tạo theo cách viết của mình Học sinh viết theo cảm tính, nghĩ gì viết đấy không cần biết có đúng yêu cầu hay không
Có thể nói phía giáo viên cũng còn có những hạn chế nhất định về nộidung, phương pháp, thời gian đầu tư; về kinh nghiệm để rèn luyện kĩ năng tạolập văn bản cho học sinh ngay từ lớp 10 và cả việc giao bài soạn chưa có sự kếthợp với kiểm tra, đánh giá
2.2 Tình hình học làm văn :
- Với phân môn tập làm văn, học sinh hầu như chưa có ý thức tự giácsoạn bài, chuẩn bị bài ở nhà, phần lớn chỉ hứng thú với những tiết đọc - hiểuvăn bản văn học
* Ví dụ: Do thiếu kiểm tra bài soạn thường xuyên nên nhiều học sinh chỉ soạn bài phần tiếng Việt và văn học; còn phần làm văn hầu như bỏ qua, nếu
có soạn thì cũng chỉ mang tính chất đối phó.
- Các khái niệm như: nghị luận, phân tích, chứng minh, cảm nhận, suynghĩ, luận điểm, luận cứ, lí lẽ…chưa được hiểu một cách thấu đáo và rạch ròi;nên trong quá trình tìm ý, lập dàn ý chủ yếu làm theo thói quen mà quên đi tínhchính xác, khoa học
* Ví dụ: Khi lập dàn ý cho bài viết số 6:
Đ ề bài : Có nhận định cho rằng: " Đại cáo bình Ngô là bản tổng kết cuộc đấu tranh chống giặc Minh vô cùng gian khổ mà rất hào hùng của quân và dân Lam Sơn." Qua bài "Đại cáo bình Ngô", em hãy làm sáng tỏ nhận định đó Nhiều học sinh đã lập dàn ý nhưng không xác định đúng các luận điểm mà thường nhầm lẫn giữa luận đề, luận điểm và luận cứ vì thế khi làm bài thường làm cho tính hệ thống, lo-gíc bị phá vỡ; hoặc bị thiếu ý
- Các bài tập làm văn chủ yếu là những sản phẩm sao chép máy móc hoặc
là những văn bản lủng củng, cảm xúc hời hợt với những câu văn ngô nghê vô
Trang 10nghĩa, chắp vá, què cụt, ít biểu đạt được năng lực ý tưởng, tình cảm của cánhân.
* Ví dụ: Với đề bài : Hãy rút ra bài học lịch sử của cuộc kháng chiến chống giặc Minh trong bài "Đại cáo bình Ngô" , có học sinh đã viết:
" Tác giả đã tố cáo cái ác của giặc Minh bằng những lời và chứng cứ xác đáng Bài học lịch sử "Đại cáo bình Ngô" đề cao tiền đề nhân nghĩa, tư tưởng của dân, đề cao tinh thần, đạo quân nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đã giành được độc lập" ( Bài của em: Mùa A Hào - lớp 10A - khoá học: 2012 - 2015) Một học sinh khác lại viết:
" ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ đặc biệt khẳng định Đại Việt không phải là nô lệ một nước độc lập dân tộc" ( Bài của em: Thào A Vềnh - lớp 10A - khoá học: 2012-2015)
- Bài văn của học sinh chưa kết hợp được cái tình của văn học với cái tinhtuý của tiếng Việt và trí tuệ của làm văn.“Tập làm văn” nhưng thực chất chỉ lànhững giờ “tập chép văn” thậm chí nhiều học sinh còn chép cẩu thả, qua loa,miễn là có bài để nộp
* Ví dụ: Với đề bài (đã dẫn ở trên), có HS viết:
" Đại cáo bình Ngô không đồng thời là tố cáo tội ác của giặc, mà còn sơ khai được cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi đứng đầu mở
ra cuộc đấu tranh chống giặc bằng cách dịu lòng người "mưu phạt tâm công" (Bài làm của em: Hờ A Rùa - lớp 10 A – khoá học: 2012 – 2015) Một học sinh khác lại viết:
" Đại cáo bình Ngô" được Nguyễn Du thừa lệnh Lê Lợi viết khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng Khi cuộc khởi nghĩa giành lại được tổ quốc Nguyễn Du đã thừa lệnh Lê Lợi xây dựng một nền độc lập chính nghĩa Với những hiểu biết tận tuỵ Nguyễn Du đã nhận định đúng đắn: "
( Bài làm của em: Lù A Thênh - lớp 10A – khoá học: 2012-2015)
Trang 11Chính vì thế khi đi coi thi môn ngữ văn, nhiều giáo viên có tâm lí coikhông nghiêm ngặt; bởi nếu coi nghiêm ngặt thì lại sợ ảnh hưởng đến chấtlượng bộ môn vì học sinh ít có khả năng tự làm, tự viết.
Vậy nên để có đựơc những học sinh giỏi văn tự luận, có năng lực đíchthực về văn học và ngôn ngữ quả thật không đơn giản Và đó cũng là điều màngười giáo viên dạy văn như chúng tôi luôn trăn trở, tìm kiếm giải pháp chovấn đề này
2.3 Nguyên nhân của thực trạng:
Từ thực trạng dạy và học môn ngữ văn nói chung và phân môn làm
văn, nhất là viết văn nghị luận văn học nói riêng, chúng tôi tìm ra một số
nguyên nhân của thực trạng như sau:
a Nguyên nhân chủ quan:
a1 Đối tượng học sinh dân tộc vừa yếu vừa thiếu vốn từ văn chương; học
văn là sử dụng ngôn ngữ thứ hai nên rất khó ghi nhớ do không sử dụng thường xuyên
a2 Đa số học sinh dân tộc chưa thích học văn do chưa xác định được giá trị, vai trò của bộ môn
a3 Đa số học sinh dân tộc thích học môn tự nhiên hơn vì nó phù hợp với đặc điểm tư duy cụ thể và lô-gic vốn có
a4 Các em học sinh hiện nay lười tư duy ngôn ngữ hình tượng do sự ảnh hưởng của quá nhiều các kênh thông tin trực tuyến nên thường bị nhiễu , dẫn đến giảm hứng thú khi học văn
Từ những nguyên nhân cơ bản trên, chúng tôi nhận ra hệ quả tất yếu khi họcvăn nói chung và làm văn nghị luận văn học nói riêng là:
<1> Học sinh chưa xác định đầy đủ, chính xác được dạng bài, kiểu bài làm văn nghị luận văn học.
<2> Học sinh chưa biết phân tích làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận trong đề văn nghị luận văn học.
Trang 12* Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ: Học sinh chủ yếu diễn xuôi đoạn thơ.
* Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi: học sinh thường sa
b Nguyên nhân khách quan:
b1 Thực tế nhu cầu học văn trong nhiều nhà trường từ mười năm trở lạiđây bị giảm khá nhiều; việc lựa chọn ngành nghề chủ yếu thiên về các môn tựnhiên
b2 Sự đầu tư của giáo viên chưa đồng bộ, chưa thật chú trọng phân mônlàm văn, nhất là hướng dẫn kĩ năng làm văn nghị luận văn học văn cho học sinhlớp 10
b3 Việc hướng dẫn tự học (đọc-hiểu và soạn các bài nghị luận văn học);cũng như việc phụ đạo, bồi dưỡng cách làm văn nghị luận văn học của giáo viêncòn chưa đúng lúc, chưa kịp thời
b4 Trong quá trình chấm bài, chữa các bài làm về nghị luận văn học, giáoviên còn chưa đầu tư đúng mức để học sinh có kĩ năng phát hiện, chữa lỗi, lậplại dàn ý, viết lại bài nhằm hình thành kĩ năng đích thực
Trang 13ngũ giáo viên ngữ văn có năng lực, trình độ vững vàng trong chuyên môn nghiệp vụ.
- Nhà trường tổ chức hoạt động bồi dưỡng thường xuyờn cụng tỏc chuyờn mụn (đơn vị trường, tổ, cỏ nhõn)
- Thường xuyờn tổ chức việc thăm lớp, dự giờ (trong trường và cỏc trường bạn); đặc biệt là việc dự cỏc giờ dạy thao giảng đổi mới phương phỏp dạy học
- Cơ sở vật chất của nhà trờng tơng đối ổn định
Học sinh thờng xuyên sử dụng tiếng dân tộc trong giao tiếp hàng ngày nên vốn ngôn ngữ phổ thông rất hạn chế , kĩ năng diễn đạt còn yếu
III Cỏc biện phỏp đó tiến hành để giải quyết vấn đề:
Trớc khi thực hiện phơng pháp trên, tôi đã tiến hành kiểm tra tình hình, thực trạng của học sinh bằng bài kiểm tra, khảo sát chất lợng đầu năm, cụ thể kết quả nh sau:
Trang 142 Phơng pháp tiến hành
Từ kinh nghiệm giảng dạy và kết quả cụ thể của những năm học trớc Tôi
nghiên cứu và đa ra phơng pháp hớng dẫn học sinh viết bài văn nghị luận văn học với mong muốn đa chất lợng bộ môn đạt kết quả cao hơn
3 Tổ chức thực hiện:
Để học sinh có kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học yêu cầu ngời giáo viên cần phải truyền thụ đúng , đầy đủ, chính xác để học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về 2 kiểu bài: Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
và Nghị luận về một đoạn thơ , bài thơ
Trên cơ sở đó giáo viên tiếp tục hớng dẫn chi tiết cụ thể hơn cách khai thác chi tiết và phơng thức diễn đạt cho học sinh để bài văn đạt kết quả tốt nhất
3.1- Những kiến thức cơ bản
- Nắm vững kiến thức cơ bản về khái niệm nghị luận văn học nói chung và nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích ) ; Nghị luận về một đoạn thơ ,bài thơ nói riêng
- Biết tìm hiểu đề ,tìm ý
- Biết lập dàn ý cho đề văn từ đại cơng đến chi tiết
- Biết dựng đoạn và liên kết đoạn văn
3.2- Hớng dẫn học sinh viết bài văn hay
Muốn học sinh viết bài văn nghị luận từ đạt yêu cầu đến hay giáo viên cần hớng dẫn học sinh chú ý thoả mãn các điều kiện sau:
a Xác định đúng nội dung yêu cầu của đề:
Đối với kiểu bài nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần
xác định yêu cầu cụ thể của đề bài là loại bài gì? (bàn về nhân vật trong tác
Trang 15phẩm (hoặc đoạn trích) ; Bàn về nội dung của tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) bàn
về nghệ thuật của tác phẩm (hoặc đoạn trích ) hay bàn về đề tài của tác phẩm (hoặc đoạn trích) ? )
Trên cơ sở đó mà tiến hành tiếp nội dung các bớc sau:
- Đối với kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần phải xác định phạm vi đối tợng mà đề yêu cầu (Nghị luận về một bài thơ hay một đoạn
thơ ) Cần xác định đợc đề tài và nội dung của đề bài Hớng nghị luận (do đề quy định hay do ngời viết lựa chọn )
* Vớ dụ: Khi cho học sinh phõn tớch tư tưởng của bài thơ "Mẹ và quả"
( Nguyễn Khoa Điềm) ở phần bài tập lớ luận văn học - Nội dung và hỡnh thức của văn bản văn học, GV cần cho HS khai thỏc kĩ hỡnh ảnh:
" Và chỳng tụi một thứ quả trờn đời
Bảy mươi tuổi mẹ mong chờ được hỏi
Tụi hoảng sợ, ngày bàn tay mẹ mỏi
Mỡnh vẫn cũn một thứ quả non xanh"
Bởi vỡ đú là những cõu cú "sức nặng "tư tưởng của cả bài thơ Tỏc giả đó chuyển từ chuyện lao động trồng cõy ( Khổ thơ 1,2) mong ngày quả ngọt sang núi chuyện "trồng người" (khổ thơ 3) Đú là nỗi băn khoăn, lo lắng khụn nguụi của biết bao người mẹ trờn cừi đời này Hỡnh ảnh "bàn tay mẹ mỏi" tượng trưng cho những nỗ lực cuối cựng của người mẹ trong việc nuụi dạy con cỏi theo đỳng tinh thần "phỳc đức tại mẫu" Hỡnh ảnh " thứ quả non xanh" tượng trưng cho cỏi kết quả chưa trọn vẹn, chưa như ý nguyện mong mỏi của người mẹ, nú cú thể là dấu hiệu thất vọng đang manh nha trong sõu thẳm tõm hồn của người
mẹ khi đó tới hồi "bàn tay mẹ mỏi"; và những người mẹ chỉ cũn biết khúc thầm, cho nước mắt " Rỏ xuống lũng thầm lặng mẹ tụi"! Một khi biết tự vấn lương tõm mỡnh một cỏch nghiờm khắc như vậy cũng chớnh là lỳc người con đó biết sống
cú trỏch nhiệm, để khỏi phụ cụng dưỡng dục của người mẹ.
- Cần hiểu đúng ,đầy đủ nội dung yêu cầu của đề , tránh sai lạc ,xác định
đ-ợc giới hạn phạm vi yêu cầu của đề (chứng minh ,bình luận, giải thích hay phântích ) Để từ đó lựa chọn lí lẽ, dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu cho bài làm
Trang 16* Ví dụ: Với đề bài: " Mở đầu bài Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:
" Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo"
Anh (chị) hiểu hai câu thơ trên như thế nào? Hãy chứng minh rằng tư tưởng đó có mặt xuyên suốt trong bài cáo.
+ GV cần giúp HS xác định đúng yêu cầu của đề: Nghị luận về một vấn đề văn học " Làm rõ tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt trong bài cáo; nghệ thuật viết cáo: ngôn ngữ, giọng điệu
+ Các thao tác nghị luận chủ yếu là: Giải thích, chứng minh kết hợp lập luận phân tích, bình luận.
+ Xác định đúng, đủ các nội dung:
- Giới thiệu được tác giả, tác phẩm, nêu vấn đề nghị luận
- Giải thích hai câu " " => khẳng định tư tưởng nhân nghĩa xuyên suốt bài cáo
" Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chí nhân để thay cường bạo"
* Luận điểm 4: Nhân nghĩa mở ra một kỉ nguyên mới: độc lập, chủ quyền trên lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền thái bình muôn thuở
Trang 17- Nhận xột, đỏnh giỏ chung tư tưởng nhõn nghĩa cú mặt xuyờn suốt bài cỏo
Đú là điều hiển nhiờn, là một chủ trương đỳng đắn
- Nờu ý nghĩa nghệ thuật đặc sắc trong bài cỏo Khẳng định tư tưởng cốt lừi của bài cỏo.
- Khẳng định lại một lần nữa giỏ trị tư tưởng của hai cõu thơ
Từ cỏc luận điểm trờn, tiếp tục hướng dẫn HS tỡm cỏc lớ lẽ, luận chứng cho bài văn ( )
- Đa đối tợng phải bàn bạc (nhân vật , chủ đề , nội dung, nghệ thuật ) gắn câu hỏi tìm ý để có những ý kiến cụ thể (Điều nổi bật nhất ,nét tiêu biểu cụ thể? Chi tiết nào biểu hiện ? ý nghĩa xã hội nh thế nào ? Giá trị tiêu biểu ra sao ? )
* Vớ dụ: Với đề bài trờn thỡ luận điểm 2 cần chọn lọc chi tiết / dẫn chứng nào? Tại sao lại chọn chi tiết / dẫn chứng đú?
Đơn cử như: ( Chọn chi tiết/dẫn chứng: Lũng căm thự giặc của Lờ Lợi – "Hỏ đội trời chung"; "Thề khụng cựng sống" => Thỏi độ dứt khoỏt vỡ mối thự gõy bao tai hoạ của giặc – làm điều trỏi đạo lớ và nhõn nghĩa.)
Hay ở luận điểm 3: phải chọn được cỏc dẫn chứng của bốn trận đỏnh lớn, tiờu biểu để chứng minh cho ý:
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy chớ nhõn để thay cường bạo"
nhằm làm sỏng tỏ: đạo quõn Lam Sơn – đỏnh đõu thắng đú là một đạo quõn nhõn nghĩa.
- Đối với từng đối tợng phải bàn cần có thêm những dạng câu hỏi tìm ý phù hợp
* Vớ dụ: Với đề bài : " Hóy phỏt biểu cảm nhận sõu sắc nhất của mỡnh về bài thơ " Cảnh ngày hố" của Nguyễn Trói."
GV cần hướng dẫn HS cỏch nờu cõu hỏi tỡm ý: