Quần thể di tích hóa là một trong bảy di sản văn hóa nhân loại được Unesco công nhận, ngày 2 tháng 8 năm 1994, đích thân phó tổng giám đốc UNESCO, ông Daniel Janicot, đến Huế trao tấm bằng chứng nhận của UNESCO cho Huế có chữ ký của Tổng Giám đốc UNESCO, ông Fédérico Mayor Zaragoza với dòng chữ: Ghi tên vào danh mục công nhận giá trị toàn cầu đặc biệt của một tài sản văn hóa hoặc thiên nhiên để được bảo vệ vì lợi ích nhân loại. Quần thể di tích cố đô Huế là một chứng nhân lịch sử, mang giá trị khoa học lịch sử, khảo cổ học lịch sử.
Trang 1Mục lục
DẪN NHẬP
Trong gần 400 năm (1558 - 1945), Huế đã từng là Thủ phủ của 9 đời chúaNguyễn ở Đàng Trong, là Kinh đô của triều đại Tây Sơn, rồi đến Kinh đô của quốcgia thống nhất dưới 13 triều vua Nguyễn Nói đến Huế, người ta nghĩ ngay đếnnhững thành quách, cung điện vàng son, những đền đài miếu vũ lộng lẫy, nhữnglăng tẩm uy nghiêm, những danh lam cổ tự trầm tư u tịch, những thắng tích thiênnhiên thợ trời khéo tạc
Bên cạnh thành quách cung điện lăng tẩm nguy nga tráng lệ, Huế còn lưu giữnhiều công trình kiến trúc độc đáo gắn liền với chế độ quân chủ nhà Nguyễn, cáchphối trí của các khoảng không gian đã tiến đến đỉnh cao của sự hài hòa trong bố cục.Ngoài ra, Huế còn lưu giữ trong lòng những di sản văn hóa phi vật thể biểu trưngcho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam mà tiêu biểu ở đây chính là quần thể ditích Cố đô Huế - một trong những di sản văn hóa thế giới được UNESSCO côngnhận
Chính vì lý do đó, em đã quyết định thực hiện bài tiểu luận cuối kỳ với đề tài
“Quần thể di tích Cố Đô Huế” trong chuyên đề “Khảo cổ học lịch sử” Vì tầm nhìncũng nhưu khả năng tìm kiếm tài liệu và công tác thực hiện điền dã còn hạn chế nênbài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những sơ sót Mong thầy sẽ có những đóng góp đểbài tiểu luận được hoàn thiện và thành công hơn
Trang 2CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ
1.1. Vài nét về quần thể di tích Cố đô Huế
Về vị trí địa lý, Quần thể di tích Cố đô Huế thuộc Thừa Thiên Huế là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam, phía Bắc giáp Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp Lào, phía Đông là biển Thành phố Huế là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Huế đã từ là cố đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều Tây Sơn, sau nhà Nguyễn Huế cách Hà Nội 660km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080km Thành phố Huế có diện tích tự nhiên khoảng 70 km2
Về địa hình, ở đây có địa hình cấu tạo dạng bậc khá rõ Địa hình dốc dần từ tây sang đông, có rừng núi, gò đồi, đồng bằng, duyên hải, đầm phá và biển Bờ biển của tỉnh dài 120km Thừa Thiên Huế là một trong số ít địa phương có tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú nhất của Việt Nam
Cố đô Huế nằm hai bên bờ sông Hương là nơi tập trung toàn bộ các công trình đã được UNESCO đưa vào danh mục Di sản Văn hóa thế giới
1.2. Quá trình lịch sử
Thành phố Huế nằm ở miền trung Việt Nam, là kinh đô của triều đình phongkiến nhà Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1945, di sản kiến trúc và cảnh quan thiênnhiên của Huế là một minh chứng cho nền văn hoá và kiến trúc đô thị của ViệtNam
Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, năm 1306, Côngchúa Huyền Trân về làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, đổi lấy hai châu Ô và Rí làmsính lễ Năm 1307, vua Trần Anh Tông tiếp thu vùng đất mới và đổi tên là châuThuận và châu Hóa Việc gom hai châu này làm một dưới cái tên phủ Thuận Hóa(chữ Hán: 順順) được thực hiện dưới thời nội thuộc Nhà Minh Đến đời Nhà Hậu Lê,Thuận Hóa là một đơn vị hành chính cấp tỉnh Năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cắthuyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn
Trang 3Quảng Nam Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn, (thế kỷ 17- 18) là vùng đất trảidài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân.
Năm 1626, để chuẩn bị cho việc chống lại quân Trịnh, Chúa Sãi NguyễnPhúc Nguyên dời dinh đến làng Phước Yên (Phúc An) thuộc huyện Quảng Điền,tỉnh Thừa Thiên và đổi Dinh làm Phủ
Năm 1636, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long, thuộchuyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, làm nơi đặt Phủ Năm 1687, Chúa Ngãi NguyễnPhúc Trăn, dời Phủ chúa về làng Phú Xuân (順順), thuộc huyện Hương Trà và năm
1712, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu dời phủ về làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền,Thừa Thiên làm nơi đặt Phủ mới Đến khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát lên cầmquyền năm 1738 thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đếnngày thất thủ về tay quân họ Trịnh
Trong thời kỳ Tây Sơn, Phú Xuân - Huế luôn là một địa bàn chiến lược đượcNguyễn Huệ vô cùng coi trọng và chọn là nơi đóng đại bản doanh
Năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh kéo đại quân từ Gia Định ra giành lại PhúXuân và đến giữa năm 1802 thì xóa sổ vương triều Tây Sơn trên phạm vi cả nước.Vấn đề trước mắt đối với họ Nguyễn là việc định đô Thăng Long truyền thống củacác triều đại Lý, Trần, Lê khi biên cương phía nam Tổ quốc đang từ đèo Ngangchuyển dịch vào đfeo Cù Mông (Bình Định) Dù có lệch tâm chút ít, Thăng Longvẫn đủ khả năng với tới đất phên dậu Thuận – Quảng Từ nửa cuối thế kỷ XVIII với
sự mở mang xứ Đàng Trong của các Chúa Nguyễn, điểm cực nam của đất nước đãvào đến Châu Đốc – Hà Tiên Trong điều kiện thông tin và phương tiện đi lại thuở
đó, Thăng Long thật khó quản lý vùng đất mới này Vả lại miền Trung Đại Việt lúc
đó cũng mới là vùng duyên hải hẹp Nếu có một cuộc nổi dậy ở đây thì rất dễ chiacắt vương quốc ra làm hai phần Phú Xuân vốn là đất căn bản của họ Nguyễn ngóthai thế kỷ lại gần với các lực lượng hậu thuẫn Nam Bộ và nam Trung Bộ hơn ThăngLong phân với hai đầu đất nước
Trang 4Sau một thời gian trăn trở, Nguyễn Phúc Ánh đã quyết định xây dựng Kinh
đô mới trên phủ cũ của cha ông mình: Thủ phủ Phú Xuân
Định đô, lên ngôi vua, chọn niên hiệu và đặt quốc hiệu là những sự kiệntrọng đại đối với vương triều Nguyễn đã diễn ra trên đất Huế từ đầu thế kỷ XIX
“Vào tháng 3 năm Gia Long thứ 3 (Giáp Tý – 1804) Hoàng đế đã thân hành
đi xem xét các địa điểm từ làng Kim Long đến làng Thanh Hà để nới rộng và táithiết Kinh đô Ngài hạ lệnh cho quan giám thành Nguyễn Văn Yến đi cắm cọc ở bênngoài Kinh đô cũ để xác định giới hạn thủ phủ mới của ngài” (Võ Liêm, LaCapitale de Thuận Hóa)1
“Nới rộng” và “bên ngoài”, Thủ phủ Phú Xuân xưa thuộc đất 8 làng của haitổng Phú Xuân – An Ninh, huyện Hương Trà: Phú Xuân, Vjan Xuân, Diễn Phái, ThếLjai, An Vân, An Hòa, An Mỹ, An Bửu
Sự điều chỉnh giữa vị trí, địa thế, quy mô, phương hướng vừa nhân nhượngvừa dung hòa sao cho công năng phù hợp với tư tưởng địa lý Nhờ vậy, Kinh đôHuế có quy mô rộng lớn với chu vi trên 9.900m (nếu cộng cả chu vi Trấn Bình Đài– Mang Cá là 1.1km), vẫn chọn được núi Ngự Bình làm tiền án, Cồn Hến làm “TảThanh Long”, Cồn Dã Viên làm “Hữu Bạch Hổ” và nhất là vừa nhập với sôngHương vừa giữ được hướng nam – đông – nam (coi như nam vậy)
“Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ” là tư tưởng bất di bất dịch của các
vị vua tìm đất định đô Hoàng đế hướng về phía nam để nghe cho rõ lời/lòng thiên
hạ là điều luôn nhớ
Khi chọn Huế làm kinh đô, vua Gia Long đã cho xây dựng dạng kinh đô cótính phòng thủ: xây dựng một loạt tường thành, cung điện, công sở, đồn lũy ở bờbắc sông Hương như Kinh Thành cùng với các phòng, bộ nha viện trong kinh thành,các công trình phòng thủ quân sự dọc bờ nước sông Hương, sông Hộ Thành và cửa
1 Dẫn theo Mai Khắc Ứng, “Huế - Một thời Kinh đô”, Nxb Thuận Hóa – Huế - 2002, tr 38.
Trang 5biển Thuận An Các công trình trên được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thốngcủa Huế, kết hợp với kiểu mẫu bố trí từ Trung Quốc và kỹ thuật quân sự, xây tườngthành theo lối Vauban từ các nước phương Tây đồng thời tuân thủ theo nguyên tắcđịa lý phong thủy phương Đông Việc xây dựng này kéo dài suốt từ triều Gia Longtới triều vua Minh Mạng Việc xây dựng này kéo dài suốt từ 1802 tới tận 1917 vớimột loạt các công trình phục vụ cho công việc triều đình, sinh hoạt, tín ngưỡng giảitrí của vua quan như: Lục Bộ Đường, Nội Các, Thái Y Viện, Đô Sát Viện, KhâmThiên Giám, Thái Miếu, Hưng Miếu, điện Phụng Tiên Ngoài kinh thành còn cócác công trình phục vụ giáo dục như Văn Miếu, Võ Miếu, Quốc Tử Giám, TrườngThi ; ngoại giao như Thượng Bạc Viện và giải trí như Hổ Quyền Cũng trongkhoảng thời gian này, Huế đã tự hình thành cho mình một phong cách xây dựnglăng tẩm riêng theo phong cách triết học có sự chi phối của phong thủy địa lý, kếthợp phong cách nhà vườn Huế với phong cách cung đình Huế như ở các khu lăngtẩm tiêu biểu của vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức và ĐồngKhánh Cũng với sự có mặt của hoàng gia, giai đoạn này hàng loạt các công trìnhphủ đệ được xây dựng mà lúc đỉnh cao có đến 85 phủ.
CHƯƠNG II: QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ DƯỚI GÓC ĐỘ KHẢO CỔ
HỌC LỊCH SỬ
Trang 62.1 Cấu trúc của di tích.
2.1.1 Các di tích ngoài Kinh thành Huế.
Theo tư liệu để lại, bên ngoài Kinh thành Huế có một số công trình kiến trúc lịch sử, văn hóa phục vụ trực tiếp cho các hoạt động của triều đình nhà Nguyễn Đó
là Phu Văn Lâu, tòa Thương Bạc, Trấn Bình Đài (đồn Mang Cá)
• Phu Văn Lâu
Nằm phía trước Kỳ Đài, bên đoạn quốc lộ 1A, chạy qua khu Kinh thành Huế
có một tòa lầu hướng mặt về phía nam, đó là lầu Phu Văn Đây là nơi niêm yết những chiếu thư của nhà vua hay bảng kết quả các cuộc thi Hội, thi Đình Chiếu thưcủa nhà vua về kết quả của cuộc thi được tuyên cáo ở điện Thái Hòa hoặc Ngọ Môn,sau đó cung nghinh ra niêm yết tại lầu Phu Văn
Tòa lầu hai tầng xinh xắn này được xây dựng từ thời vua Gia Long (1819), thay thế ngôi nhà nhỏ có tên Bảng Đình trước đó, ngoài chức năng cáo yết các chiếuthư, chỉ dụ của triều đình, Phu Văn lâu còn là địa điểm tổ chức các cuộc vui mừng thọ của nhà vua Từ năm 1829, vua Minh Mạng cũng chọn Phu Văn lâu để tổ chức nhiều cuộc vui, trong đó có cả cuộc đấu voi – cọp (lúc đó chưa xây dựng hổ quyền)
Trước mặt Phu Văn Lâu, sát bờ sông Hương có đình Nghinh Lương, là nơi nghỉ ngơi, hóng gió, thưởng cảnh của nhiều vị vua triều Nguyễn Năm 1843 vua Thiệu Trị cho dựng một nhà bìa bên phía phải lầu Phu Văn để khắc bài thơ Hương Giang Hiểu Phiếm (buổi sớm bơi thuyền trên sông Hương)
Phu Văn lâu đã bị trận bão năm Thìn (1904) phá sập Sau đó vua Thành Thái cho xây dựng lại như cũ
• Tòa Thương Bạc và Lầu Thương Bạc
Tòa Thương Bạc (nhà liên lạc việc buôn bán) được vua Tự Đức cho xây dựng năm 1875 làm nơi tiếp đón các sứ thần đến làm việc với triều đình, trong đó
có cả đại diện của Pháp Tòa này nằm ở bên ngoài Kinh Thành Hues, nam cửa
Trang 7Thượng Tứ Ngày nay tòa Thương Bạc (một hạng mục thuộc tòa Thương Bạc xưa) dựng sát bờ sông Hương, trước cửa Thượng Tứ.
Lầu Thương Bạc cũng đã từng là bến đò qua lại sông Hương khi chưa có cầu Trường Tiền
• Trấn Bình Đài
Quân thành này đắp bằng đất thời vua Gia Long (1805) có tên là Thái Bình Đài; năm 1836 thời vua Minh Mạng được xây ốp bằng gạch và đổi tên là Trấn Bình Đài Bên trong đài có hai cái hồ nằm châu đầu lại với nhau thành hình chữ “V” giống như hai cái mang cá nên từ xưa đã được gọi là thành “Mang Cá”
Thành Mang Cá có chu vi gần 1km, cao từ 5m đến 5,8m (thấp hơn kinh thành), tường dày 1,3m, mô thành (parapet) rộng từ 13m (trên đỉnh) đến 14,75m (dưới chân) Bên trong được chống đỡ thêm bằng bức tường cao 2,78m Bức tường này bị xẻ 6 chỗ để làm lối đi dẫn lên những nơi đặt súng trên thượng thành Thành Mang Cá chỉ cách Kinh Thành một cái hào và nối với phía bắc Kinh Thành bằng một đường ngầm xuyên qua tường thành và mô thành Con đừng ngầm này chạy băng qua hào bằng một nhịp cầu xây bằng gạch, đá
Thành Mang Cá có hai cửa, cửa thông với Kinh Thành gọi là Thái Bình Mn; của thứ hai xẻ bên hông phía nam và thường gọi là “cửa trệt” (vì thấp và không xây vọng lầu bên trên), cửa này dành cho linh tuần ra vào Sáu mặt thành bên ngoài đều
có một hào bao bọc Vì thế, trước cửa trệt có cây cầu đá dẫn ra con đường chạy từ cầu Thanh Long xuống Bao Vinh
Thành Mang Cá có nhiệm vụ chến gự cảng Bao Vinh, phòng thủ phía đông 0 bắc Kinh Thành Đây là vị trí hiểm yếu thường diễn ra các cuộc tấn công của đối
phương từ phía Biển Đông tiến vào.
2.1.2 Bên trong Kinh thành Huế
Trang 8Kinh thành Huế là một di tích nổi bật nhất trong hệ thống kiến trúc cungđình Kể từ ngày khởi công đển ngày hoàn tất, ròng rã gần 40 năm, nhà Nguyễn đã
để lại cho chúng ta một tài sản vô cùng quý giá Nhìn chung, toàn bộ di tích phảnánh tài năng của nhà kiển trúc, của những nghệ nhân thể kỷ XIX, ghi dấu ấn nhữngbàn tay lao động nhọc nhằn của nhân dân cả nước Xét về bố cục, ba vòng thànhquy định ba khu vực có chức năng khác nhau Hoàng thành giới hạn khu vực sinhhoạt cấp cao của triều đình, trong đó nổi bật lên là Thái Hòa điện và Cần Chánhđiện, mà Ngọ Môn là hỉnh ảnh tiêu biểu của đế quyền, vì “Thánh nhân nam diện nhithính thiên hạ” Tử cấm thành khoanh lại một vùng thâm nghiêm, nơi diễn ra nhữngsinh hoạt “đời thường” của hoàng gia với “tam cung lục viện”, chứa đựng không ítnhững câu chuyện “thâm cung bí sử” Kinh thành có công dụng phòng ngự, và khuvực giữa hai lớp thành này tọa lạc nhiều cơ quan của nhà nước như Lục Bộ đường,Quốc sử quán, Tàng Thư lâu, Tôn Nhân phủ, các nhà học của các hoàng tử thânvương các vườn hoa cây cảnh, các cung điện khác Riêng khu vực Hoàng thành và
Tử cấm thành, các công trình kiến trúc được sắp xếp làm ba tuyến Tuyến giữa theo
Trang 9trục dũng đạo (hay thần đạo) cung điện đều lợp ngói vàng (hoàng lưu ly), tuyến tả
và hữu thì lợp ngói xanh (thanh lưu ly), trong dó tiền tả và tiền hữu gồm các miếuthờ tổ tiên nhà Nguyễn như Thái miếu, Thể miếu, Hưng miếu; hậu tả gồm các cơ sỏgiải trí, văn nghệ như Duyệt Thị đường, Thiệu Phương viên, Dưỡng Tâm điện, ĐiếuNgư đình còn hậu hữu chính là Tử cấm thành
Toàn bộ ba vòng thành tọa lạc trên một diện tích hình gần vuông, mỗi cạnhdài 2.235m theo đường chim bay, chu vi 9.950m, bao phủ một diện tích 520ha, xấp
xỉ 2,20km
2.1.2.1 Phòng thành
Trang 10Phòng Thành là thành vòng ngoài, được xây dựng dưới thời vua Gia Long vàvua Minh Mạng (từ 1805 đến 1832) Phòng Thành ở Huế xây dựng theo nguyên tắcđịa lý phong thủy của phương Đông, thuyết Âm Dương – Ngũ Hành của Dịch học
và kỹ thuật bố phòng quân sự theo kiểu Vauban, kiểu thành kiên cố rất hiệu quảtrong phòng thủ
Thành quay mặt hướng nam, chọn núi Ngự Bình làm tiền án; cồn Hến, cồn
Dã Viên trên sông Hương làm thế “tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” chầu vào trướcmặt Kinh Thành
Thành được đắp bằng đất, hai mặt ngoài và trong có tường gạch làm áochống sụt lở Thành có hình gần vuông, diện tích khoảng 5km2, chu vi gần 10km.Thân thành xây gạch phía ngoài, dày trung bình 21m; cao 6,6m 2, bốn mặt trổ 10cửa vòm, mỗi mặt hai cửa, riêng mặt nam còn thêm hai cửa hai bên Kỳ Đài dànhcho vua và hoàng gia ra vào; bên trên mỗi cửa xây vọng lâu hai tầng, tính từ mặt đấtlên đến đỉnh cao 18m Ớ mặt bắc, Tây Bắc môn thường được gọi là cửa An Hòa, vì
mở ra chỗ làng và chợ An Hòa, cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1831; ChínhBắc môn thường được gọi là cửa Hậu, cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1832,bên ngoài có chiếc cầu đá bắc qua hào xây năm 1824 Ớ mặt tây, cửa Chính Tây xâynăm 1809, vọng lâu xây năm 1829; Tây Nam môn thường gọi là cửa Hữu, cửa xâynăm 1809, vọng lâu xây năm 1829 Ở mặt dông, Đông Bắc môn thường được gọi làcửa Trài hay cửa Kẻ Trài (Leopold Cadière giải thích trài là “mái lợp ngói khôngvữa”), cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1824; Chính Đông môn thưòng đượcgọi là cửa Đông Hoa theo tên phưòng bên ngoài, sau vì kiêng húy nên đổi làm Đông
Ba, cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1824 Ớ mặt nam, cửa Chính Nam thườnggọi là cửa Nhà Đồ (tên của cơ quan đặt ở đấy), cửa xây năm 1809, vọng lâu xâynăm 1829; Quảng Đức môn, thường gọi là cửa Sập (vì bị lũ lụt đổ nát, nay đã được
2 Trung tâm công nghệ thông tin du lịch, “Di sản thế giới ở Việt Nam”, tr 58 – 60.
Trang 11trùng tu), cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1829; Thể Nhân môn, thưòng gọi làcửa Ngăn (vì dành riêng cho vua ra vào, xây tường ngăn không cho nhân dân qua lạibên ngoài), trước tên là Thể Nguyên, cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1829;Đông Nam môn, thường gọi là cửa Thượng Tứ (vì sở Thượng Tứ đóng ngay bênngoài), cửa xây năm 1809, vọng lâu xây năm 1829 Ngoài ra còn có hai cửa lưuthông thủy lộ ở hai đầu sông Ngự Hà là Tây Thành Thủy Quan và Đông ThànhThủy Quan3.
Bao quanh thành và các cách chân thành phía ngoài là vạt đất trống rộng
khoảng 10m, gọi là phòng lộ, có tác dụng giữ chắc móng thành và đề phòng khi sự
cố thành bị sụp thì đất đá được giữ ở đây mà không chặn lấp mất hào thành
Tiếp đến là hào thành, hào thành bao xung quanh thành rộng trung bình 50m,
sâu khoảng 4m, được kè đá ở cả hai bờ, có tác dụng cản bước tiến của địch khi tấncông thành và trồng sen cho đẹp cảnh quan
Tiếp đến là thành gai, một vạt đất trống để tiện quan sát địch và đường kính
đi tuần Chiều rộng của thành gai không đều, thời vua Tự Đức chiều rộng của thành
gai ở mặt trước là 168m, ba mặt kia từ 100m đến 108m Tiếp đến là sông hộ thành,
dài khoảng 11km, khá sâu và rộng, cũng là tuyến thủy ngăn bước tiến công của địch
và là đường giao thông thủy.4 Địa bàn xã Phú Xuân vốn “rộng bằng như bàn tay”,hơi thấp, nên lũ mùa mưa chóng ngập chậm rút; đồng thời, nhu cầu nước dùng hàngngày cũng cấp thiết và không chỉ trông cậy cả vào giếng đào Nguyên xưa, phíathượng lưu có hai con sông con tách ra từ sông Hương: Bạch Yến (chia nướckhoảng giữa hai làng Xước Dũ, Long Hồ, chảy đến làng An Vân thì hết, gọi là sôngCùng), Kim Long (chia nước khoảng phía đông chợ Kim Long, đổ vào lại sôngHương tại Bao Vinh) Năm 1805, bức tường thành đã chắn ngang chúng, nhưng thu
3 Lê Nguyễn Lưu, “Văn hóa Huế xưa , Tập III, Đời sống văn hóa cung đình”, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr 195.
4 Trung tâm công nghệ thông tin du lịch, “Di sản thế giới ở Việt Nam”, tr 60.
Trang 12hút nước cho Tây Hộ Thành hà5 Dần dà, sông Kim Long cạn kiệt và bồi lấp, nhữngđoạn bên trong thành được uốn nắn, đào thêm, dần dần trở thành sông Ngự Hà.Sông Bạch Yên vẫn còn phần ngoài từ Xước Dũ đến Tây Hộ Thành hà Các ao hồkhác rải rác khắp nơi, hỗ trợ cho việc tiêu thông thoát nước
Sông Ngự Hà hoàn tất sau hai đợt đào vào thời Gia Long và thời Minh Mạng,hiện còn hai tẩm bia khắc hai bài văn do chính vua Minh Mạng viết, đều đề ngàymồng 1 tháng Mười năm Minh Mạng thứ 17 (9 - 1 1 - 1936) Bài thứ nhất nhan đề
là Ngự chế Ngự Hà bi kí, đoạn đầu viết (dịch): “Sông này, nguyên trước là một
nhánh của sông Hương Đức Hoàng khảo Cao hoàng đế ta (Gia Long) khắc phục Thần kinh; sau đó lúc xây dựng Kinh thành, tùy theo cái thế của nó mà làm Hoàng thành Nó chảy qua Vũ khố, uốn về Bắc, sang Đông, quay về Nam, rồi lại hướng về Đông ra khỏi Kinh thành, thông với sông Hộ Thành” Bài thư hai nhan đề là Khánh Ninh kiều bi kí, đoạn đầu cũng viết (dịch): “Khoảng năm Gia Long, đào Ngự Hà bắt đầu từ Vũ khố vê phía Đông ra khỏi Kinh thành, thông với sông Hộ Thành, nhưng phía trên không thông Cứ nghĩ rằng sông ấy, công tư đi lại có lợi cho người
ta rất lớn, nếu trên dòng không thông thì đi vê phía Tây không thuận tiện, vả lại, nước không nối tiếp với đầu nguồn thỉ ngưng tụ nhơ bẩn, không thể cung cấp cho quân đội, nhân dân dùng ăn uống Vào tháng Sáu năm Ất Dậu, Minh Mạng thứ 6 (1825), từ chỗ tắc của Ngự Hà về phía Tây, đào một đường ra khỏi Kinh thành, nối với sông Hộ Thành Từ đó, thuyền bè lưu thông, và người ngựa các đường phố lớn cũng cậy nhờ được”.
Trên mặt thành xây pháo đài tức dàn đặt súng đại bác, phân bố mỗi mặt nămcái, kể cả bốn giác bảo bốn góc, tổng cộng 24 cái, kích thước khác nhau và đềuđược đặt tên:
5 Dẫn theo Lê Nguyễn Lưu, Sđd, tr 197.
Trang 131. Mặt Nam có Nam Minh (hay Nam Ninh), Nam Hưng, Nam Thắng, Nam Chánh,Nam Xương, Nam Hanh.
2. Mặt bắc có Bắc Củng, Bắc Hòa, Bắc Thanh, Bắc Trung, Bắc Thuận, Bắc Điện
3. Mặt đông có Đông Thái, Đông Trường, Đông Hòa, Đông Phụ, Đông Vĩnh, ĐôngBình
4. Mặt tây có Tây Thành, Tây Tuy, Tây Tĩnh, Tây Dực, Tây An, Tây Trinh.6
Những pháo đài, giác bảo, pháo nhãn, đồn canh, tường bắn,… này được xâydựng nhằm để canh gác, phòng thủ và ứng phó Kèm với các pháo đài là 455 nhàchứa súng và hai kho thuốc súng (dược khố) được đặt ở phía bắc vọng lâu ChínhĐông môn và bắc Tây Thành Thủy Quan Như vậy, các pháo đài kết hợp với sônghào làm cho kinh thành mang tính chất quân sự; tuy thế, nó vẫn không giúp triềuđình Huế chóng lại được sức tấn công của thực dân Pháp năm 18857
Trong Phòng Thành xây dựng nhiều công trình phục vụ hoạt động của triềuđình, hoàng tộc Trong đó còn có hai vòng thành Một vòng thành có tên là HoàngThành, nơi đặt các cơ quan cao nhất của triều đình nhà Nguyễn; vòng thành trongcùng nhỏ nhất, gọi là Tử Cấm Thành, nơi làm việc sinh hoạt riêng của vua và giađình
Các công trình, hạng mục công trình thuộc quần thể kiến trúc cung đình triềuNguyễn nằm trong Phòng Thành (nhưng ở ngoài Hoàng Thành) là: Kỳ Đài (cột cờ),cửu vị Thần Công (9 khẩu súng thần), Tam Pháp ty (nơi nhận đơn khiếu nại, xétminh oan), Quốc Tử Giám (trường đại học tại Huế), thắng cảnh hồ Tịnh Tâm, đàn
Xã Tắc (nơi nhà vua tế Thổ Thần và Cốc Thần), đình làng Phú Xuân, Ngục Thất(nhà tù), Bảo tàng Cổ vật Huế Trong số đó có một số công trình hiện không còndấu vết như: Ngục Thất, đàn Xã Tắc và Tam Pháp ty
Kỳ đài
6 Mai Khắc Ứng, “Huế - Một thời Kinh đô”, sđd, tr 40.
7 Lê Nguyễn Lưu, Sđd, tr 196.
Trang 14Kỳ đài được xây dựng năm 1807, nằm ở chính giữa mặt trước Kinh Thành,gồm hai phần: đài cờ và cột cờ Đài cờ xây bằng gạch, gồm 3 tầng bởi 3 khối chóp
tứ giác cụt xếp chồng lên nhau với tổng chiều cao là 17,5m Trên mặt đài ngày trước
có đến hai điểm canh và 4 pháo xưởng để bố trí 4 khẩu đại bác
Cột cờ được dựng ở chính giữa trên mặt tầng cao nhất Ngày đầu cột cờ đượclàm bằng gỗ nên phải thay hai lần vào năm 1931 và năm 1846 Năm 1904, cột gỗ lại
bị bão bẻ gãy phải thay bằng ống gàn Đến năm 1948 cột này được đúc bằng bêtông cốt thép với chiều cao 37m như hiện nay
Như vậy, tổng chiều cao từ mặt đất lên đến đỉnh cột cờ là 54,5m
Cửu vị Thần Công
Phía trong Kinh Thành Huế, trước hai bên của Ngọ Môn, gần cửa Ngăn vàcửa Sập, có hai ngôi nhà, trong đó đặt 9 khẩu súng đúc bằng đồng – đó là Cửu vịThần công Một bên đặt 4 khẩu có tên “Tứ thời”: Xuân, Hạ, Thu, Đông và bên kia 5khẩu đặt tên “ngũ hành”: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ
Sau khi đánh bại nghĩa quân Tây Sơn, tháng 2 năm 1803 vua Gia Long chothu gom những vật dụng, vũ khí bằng đồng của nhà Tây Sơn đúc thành 9 khẩu súng
để làm “chứng tích muôn đời” Tháng giêng năm 1804 công việc đúc hoàn thành.Trên các khẩu súng đều được khắc dòng chữ “Thần oai vô địch thượng tướng côngcửu vị” Mỗi khẩu dài 5,1m’ đường kính nòng 225mm; chiều dài giá súng 2,75m;chiều cao giá súng 0,73m; trọng lượng trung bình mỗi giá 900kg Trọng lượng cáckhẩu như sau:
Bốn khẩu “Tứ thời”:
- Xuân, trọng lượng 17.700 cân (tương đương 11.006 kg);
- Hạ, trọng lượng 17.200 cân (tương đương 10.695 kg);
- Thu, trọng lượng 18.400 cân (tương đương 11.441 kg);
Trang 15- Đông, trọng lượng 17.800 cân (tương đương 11.068 kg).
Năm khẩu “Ngũ hành”
- Kim, trọng lượng 17.600 cân (tương đương 10.943 kg);
- Mộc, trọng lượng 17.000 cân (trương đương 10.571 kg);
- Thủy, trọng lượng 17.200 cân (tương đương 10.695 kg);
- Hỏa, trọng lượng 17.200 cân (tương đương 10.695 kg)
- Thổ, trọng lượng 18.800 cân (tương đương 11.689 kg)
Trên thân súng còn chạm khắc nhiều hoa văn, danh hiệu, vị thứ, trọng lượng,cách dùng súng, bài ký về cuộc chiến với Tây Sơn và việc thu đồng đúc súng
Chín khẩu súng này chưa hề dùng trong trận mạc, mà là những khẩu “súngthiêng” bảo vệ kinh thành
Khi mới đúc xong, Cửu vị Thần công được đặt dưới chân Hoàng Thành trướccửa Ngọ Môn Đến đời Khải Định mới dời ra vị trí như ta thấy hiện nay
Trong hồ có hai gò đất trên đó dựng nhà kho chứa thuốc súng Đến nămMinh Mạng thứ 19 (1839) vua đổi tên hồ này là Tịnh Tâm Xung quanh hồ xây bógạch chu vi khoảng hơn 1km; bốn hướng có 4 lối ra vào: Hạ Xuân, Xuân Quang,Thu Nguyệt, Đông Hy Trong hồ có đảo Bồng Lai, Phương Trượng và Dinh Châu
Trang 16Đảo Bồng Lai có vị trí quan trọng nhất ở hồ Tịnh Tâm, vì trên đó có nhiều kiến trúctuyệt mỹ như điện Bồng Doanh, ba gian hai chái, lớp ngói hoàng lưu ly, tòa điệnnày chỉ dành cho nhà vua Quanh hồ trồng liễu rủ, trong hồ thả sen, về mùa hè hoasen nở “như gấm dệt”, hương sen tỏa xa hàng dặm.
Hồ Tịnh Tâm là một thắng cảnh đẹp, niềm tự hào của các vua triều Nguyễn.Vua Minh Mạng đã sáng tác 10 bài thơ vịnh 10 cảnh trong hồ Vua Thiệu Trị coiTịnh Tâm là một trong 20 thắng cảnh ở Huế, bài thơ “Tịnh Hồ Hạ Hứng” của ôngviết về hồ Tịnh Tâm đã được chạm vào bảng đồng
Quốc Tử Giám
Quốc Tử Giám là trường đại học duy nhất của Việt Nam đặt tại kinh đô Huếthời nhà Nguyễn Trường được thành lập năm 1821 dưới thời vua Minh Mạng Bnađầu trường đặt tại làng An Ninh Thượng, phía tây Kinh Thành Năm 1908, triềuđình cho dời trường về trong Đại Nội Tấm bia đặt trước trường Quốc Tử Giám hiệnnay còn lưu một bài thơ của vua Thiệu Trị và 14 bài khác của vua Tự Đức Bia khắcnăm 1854 được dời từ cơ sở cũ là làng An Ninh về
Quốc Tử Giám nằm trên diện tích đất có mỗi bề khoảng 200m, chia thành haikhu nằm hai bên đường Lê Trực (hiện nay) Khu vực chính ở trước có Di Luânđường, khu vực phụ ở sau có Tân Thơ viện (thư viện) Di Luân đường là tòa nhà cổkính, kiến trúc kiểu “trùng thiềm điệp ốc”8 Tấm hoành mang tên “Di Luân Đường”
có hai niên hiệu: Minh Mạng 1829 (năm tạo lập) và Duy Tân 1908 (năm dời về chỗmới) Hầu hết các chi tiết gỗ của tòa nhà đều chạm trổ cầu kỳ, trang trí tranh cổ kèmtheo thơ theo kiểu “nhất thi nhì họa”9
Tại đây có phòng học, cư xá, nhà cho quan Tế Tửu (hiệu trưởng), nhà choquan Tư Nghiệp (Phó hiệu trưởng), nhà dành cho giáo quan (thầy dạy) và nhân viên
ăn ở Hầu hết các công trình này vẫn còn Học viên ở đây gồm , tôn sinh (con cháu
8 Mái chồng lên nhau, nhà nối liền nhau – nhà kép.
9Mỗi bức tranh một bài thơ.
Trang 17nhà vua); ấm sinh (con các quan); học sinh, công sinh (con dân bách tính học giỏi).
Thời gian học kéo dài cả năm chỉ nghỉ vài tuần lễ vào dịp tết, về sau thêm nghỉ ngày
lễ Nội dung chương trình học là Tứ Thư (bốn bộ sách là kinh điển của Nho giáo:Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử); Ngũ Kinh (năm bộ sách là kinh điểncủa nho giáo: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu); Bắc Sử(chủ yếu là bộ Sử Ký của Tư Mã Thiên); Nma Sử (chủ yếu là Đại Việt sử ký toànthư); thơ văn là thơ Đường, Tống; các học thuyết bách gia chư tử…; Bộ luật GiaLong; tập làm thơ, phú, ssooid, chiếu, biểu, văn sách…
Những người học trò lười biếng bị xử phạt: giảm học bổng, đánh bằng roi,đuổi khỏi trường Những người chăm học thì được khen thưởng Không có các kỳthi tấn ích, thi lên lớp, chỉ có những kỳ thi để xét học bổng Học bổng gồm có tiền,gạo, dầu thắp sáng, lễ phục Từ khi có chế độ nội trú thì bỏ lệ phát gạo
Đình Phú Xuân
Đình làng Phú Xuân là công trình văn hóa cổ thuộc địa phận phường TâyLộc ngày nay Thời kỳ vua Gia Long xây dựng Kinh Thành Huế đã trưng dụng hầuhết diện tích đất làng Phú Xuân Đình làng Phú Xuân cũng nằm trong diện tích xâydựng Kinh Thành Người dân thì phải lưu tán khắp nơi Vua Gia Long có chủtrương ân giảm bớt những tổn thất cho dân làng Phú Xuân, nên cho phép họ định cư
ở đâu thì được đặt tên Phú Xuân ở đó, thứ nữa là cho giữ nguyên ngôi đình PhúXuân ở trong thành và triều đình chu cấp tiền cho dân Phú Xuân ở các nơi khi vềcúng tế vào ngày 10/6 âm lịch
Từ đó địa danh Phú Xuân xuất hiện tại nhiều địa phương ở Thừa Thiên,Quảng Trị, Quảng Bình Tại Huế cũng có nhiều làng mang tên Phú Xuân (ở chợCống, Cồn Hến, Kẻ Vạn)
Trang 18Tại khu vực đình này, còn một số di tích thuộc làng Phú Xuân cũ: phía đôngbắc đình có miếu Hội Đồng, Hồ Vuông của ông tiên chỉ Nguyễn Thanh, phía tây có
Tòa điện dùng làm Bảo tàng là tòa nhà bảy gian, hai chái, kiểu trùng thềmđiệp ốc, nguyên là điện Long An trong cung Bảo Định do vua Thiệu Trị xây dựngnăm 1845 để làm chỗ nghỉ ngơi Điện Long An là một công trình kiến trúc nghệthuật vào hàng đẹp nhất ở Huế, với 128 cột, trang trí nội ngoại thất rất phong phú,giàu tính nghệ thuật, trang nhã Trên một số chi tiết gỗ ở đây được khắc chạm hàngchục bài văn, bài thơ, bài châm trong đó nổi bật là hai bài thơ của vua Thiệu Trị,mỗi bài 56 từ làm theo thể hồi văn kiêm liên hoàn, sắp xếp theo hình bát quái, đọc
10 Đồ đồng tráng men
Trang 19thành 64 bài thơ thất ngôn, ngũ ngôn khác nhau Năm 1885, quân Pháp chiếm cungBảo Định làm sở chỉ huy, điện Long An bị triệt hạ, vật hạng xếp vào kho cho đếnnăm 1909, đời Duy Tân chuyển ra chỗ hiện nay (số 3 đương Lê Trực) dựng lại làmTân Thơ Viện và trụ sở của Hội Đô Thành Hiếu Cổ Đến năm 1923, đời vua KhảiĐịnh, dùng làm Bảo tàng Viện Khải Định, nay là Bảo tàng Cổ Vật Huế.
Đàn Xã Tắc
Tháng Ba năm Bính Dần (1806), vua Gia Long cho xây dựng đàn xã Tắc bêntrong Kinh thành, bên phải Hoàng thành, (hiện nay đàn nằm trên đất phường ThuậnHòa), và giao cho Chưởng Hậu quân Phạm Văn Nhân trông coi Đây là nơi tế thầnđất (xã) và thần lúa (tắc)11 xem như biểu tượng của quốc gia Dựa vào Khâm định
Đại Nam hội diên sự lệ và Đại Nam nhất thống chí 12 nhà sử học Phan Thuận An mô
bệ đá để cắm tàn Giữa bốn mặt đều xây bậc thềm bằng đá, mỗi thềm 5 cấp Ở bốnmặt của hai tầng đểu xây lan can bằng gạch, cao 1m có bổ trụ ở các góc và ở từngđoạn Lan can tầng trên quét vôi màu vàng, lan can tầng dưới quét vôi màu đỏ Xa
11 Cũng là Thần Nông Tắc tức Hậu Tắc, vốn tên Khí Theo sư ký’’ ^ Khương Nguyên, vợ của Đế cóc (hay Đế Hiêu) ra chói ngoài đồng, thây vet chân ngưòi to lđn, lòng cảm thấy vui vui bèn dẫm chân minh vào ưóm Khi
về, bà tự nhiên bồn chồn, rồi có thai sinh ra một đứa con trai Cho la điềm không lành, bà bèn đem vất ra ngõ hẻm trâu ngựa đi qua không xeo lên, lại đem vất trên váng lạnh, chim đến xòe cánh ấp ủ Khương Nguyên cho là thần, mói đem về nhà nuôi, đặt cho tên Khí ("khí" là vất bỏ) Thủa be, Khi thích chơi trò trồng cây, cây trồng bao giờ cũng rất tốt Khi trưởng thành, khi thích cày bừa làm ruộng, mùa nào trồng thức ấy các thứ ngũ cốc đêu xanh tươi Dân chúng học làm theo Vua Nghiêu biết tiếng, sai đón về cho giư chức hậu tắc, dạy dân nghề nông trồng lúa tắc nên gọi tên là Tắc Ong co công, được vua phong cho đất Cơ, con cháu lấy họ Cơ, đòi đời giữ chưc ay Ong chính là thủy tổ của nhà Chu vậy.
12 Vì ngày nay, trên thực địa không còn dấu vét gì.
Trang 20xa bên ngoài là vòng tường thành hình chữ nhật xây bằng đá cạnh hường bắc - namdài 162m, cạnh hướng dông - tây dài 202m Tường cao gần l,20m, dày 0,75m Bêntrong vòng tường này người ta trồng các loại cây mù u, thông và xoài Ở mặt bắc,vòng tường trổ ra ba cửa phường môn xây bằng gạch Ở giữa mỗi mặt tường kia chỉtrổ và xây một cửa Ngoài cả bốn mặt của vòng tường đều có con đường rộng 12m.
Ở mặt nam, bên ngoài con đường, còn xây một bức bình phong dài 10m, cao 3,70m,dày 0,85m Ở mặt bắc, bên kia con đường có hồ vuông, mỗi cạnh 57m Hồ dược kèbằng đá, trên bờ xây lan can bằng gạch”13
Toàn bộ miêu tả trên đây chỉ là sách vở, nay đã biến thành khu nhà ở tập thể,còn nguyên vẹn duy nhất là tấm bia bằng đá thanh giữa vạt đất trống, cao l,29m,rộng 0,74m, dày 0,29m khắc ba đại tự “Xã Tắc đàn”, và tàn tích cái hồ, bức bìnhphong Xưa, hàng năm, lễ tế đàn Xã Tắc (và cả đàn Tiên Nông ở phường Hậu Sinh
và Yên Trạch xưa, ngày nay trên địa bàn phường Tây Lộc, gần cung Khánh Ninh vàcung Bảo Định, được dựng vào năm Minh Mạng thứ 9 - 1828, lễ tế vào ngày tổchức cày Tịch điền) được cử hành long trọng vào tháng Hai và tháng Tám âm lịch,cùng với lễ cày Tịch điền tiêu biểu tinh thần trọng nông trong truyền thống của dântộc ta Bây giờ chúng ta còn nhớ câu ca dao:
Trang 212.1.2.2 Hoàng Thành (Đại Nội)
Hoàng Thành là vòng thành nhỏ thứ hai trong Phòng Thành Quần thể cáccông trình kiến trúc trong Hoàng Thành được bức tường thành kiên cố hình chữnhật bao quanh, hai mặt trước và sau dài 622m, hai mặt bên dài 604m Trong Hoàng
Thành (thời vua Minh Mạng theo nguyên tắc “tả nam hữu nữ; tả văn hữu võ; tả
trước hữu sau”, “chính ở giữa, phụ hai bên” Độ cao các công trình được quy định
nghiêm ngặt Theo công năng, có thể chia các công trình trong Hoàng Thành theomột số khu chính, mỗi khu đều có tường bao
Khu vực phòng thủ là hệ thống tường, hào bao quanh Hoàng Thành Tường
Thành cao trên 4m, dày chừng 1m, mũ tường thành có tiết diện hình thang cân Một
Trang 22vạt đất (phòng lộ) rộng hơn 10m ở phía ngoài tường thành rồi đến hào nước baoquanh Thành có 4 cửa ra vào: cửa chính phía Nam là Ngọ Môn, nơi dành cho vuaqua lại và đón tiếp quốc khách, cửa Hiển Nhơn bên tả (phía đông), chửa ChươngĐức bên hữu (phía tây, dành cho phái nữ) và Hòa Bình ở phía sau (hước bắc) Ứngvới mỗi cửa có một cây cầu gọi là Kim Thủy kiều bắc qua hào nước.
Các di tích nằm trong Hoàng Thành được chia thành nhiều khu, mỗi khu gồm
có các công trình:
Khu đại lễ: Ngọ Môn, điện Thái Hòa và sân Đại Triều
Khu thờ cúng: các miếu Triệu, Thái, Hưng, Thế và điện Phụng Tiên.
Khu dành riêng cho Hoàng Thái hậu (mẹ vua), Thái hoàng Thái hậu (bà nội của vua): cung Diên Thọ, cung Trường Sinh.
Khu dành riêng cho nhà vua và gia đình: Tử Cấm Thành.
Trong các nhóm kiến trúc kể trên đã bị cháy, đổ nát nát rất nhiều công trình.Hiện nay còn lại một số công trình hoặc là công trình đã được trùng tu, phục chế
Ngọ Môn
Ngọ Môn là cửa chính phía nam Hoàng Thành, trước điện Thái Hòa, nhìn ra
Kỳ Đài Ngọ Môn là công trình kiến trúc đẹp vào bậc nhất ở Kinh Thành Huế, đượcnhững người thợ kiến trúc, xây dựng vận dụng triệt để thuyết âm dương, ngũ hành
và kinh dịch phương Đông
Công trình này là một tòa lâu đài đồ sộ hình chữ U gồm có 2 phần: phần nềnđài ở dưới được xây vững chắc bằng gạch và đá Thanh (đá ở Thanh Hóa), đá Quảng(đá ở Quảng Nam, Quảng Ngãi), phần trên là lầu bằng gỗ và ngói có công năng nhưmột lễ đài
Phần nền đài có đáy dài 57,77m và cánh 27,06m, cao khoảng 5m Mặt sauxây 2 cầu thang lộ thiên ở hai đầu; có 5 lối đi xuyên qua đài (tượng trưng cho ngũ
Trang 23hành) Của chính giữa là Ngọ Môn, nền lát đá Thanh, cửa sơn màu vàng dành chovua đi; hai bên có Tả Giáp Môn, Hữu Giáp Môn dành cho quan văn, quan võ; haicánh chữ U là hai cửa Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn (còn gọi là cửa quanh) hìnhchữ “L”, dành cho quân lính trong các đoàn ngự đạo ra vào Hoàng Thành.
Phần trên là lầu Ngũ Phụng (ở giữa) và hai dãy Tả Dực lâu và Hữu Dực lâu ở
hai bên, đều 2 tầng Từ trên cao nhìn xuống có 9 nóc lầu (con số cửu trù trong kinh
thư) giáp mái lại với nhau thành một dãy ngang 5 mái, hai dãy dọc mỗi dãy hai mái,giống hình 5 con chim phượng xòe cách châu đầu lại với nhau Chung quanh lầu làhành lang có mái che Lầu Ngũ Phụng có 100 cây cột, đối xứng nhau qua đường
dũng đạo (100 cũng là số tổng của hà đồ và lạc thư Hà đồ là tổng các số từ 1 đến
10 bằng 55; lạc thư là tổng các số từ 1 đến 9 bằng 45 Ý nghĩa của số 100 là âm dương cân bằng).
Mai lầu ở giữa lớp ngói hoàng lưu ly (màu vàng dành cho vua) các lầu khácđều lớp ngói thanh lưu ly Ngói ở đây lợp theo kiểu âm dương Dọc theo bờ nóctrang trí hình đắp hồi ong, lá lật, dơi ngậm kim tiền; trong những ô hộc ở dọc bờ nóctrang trí nhiều bức tranh mai, lan, cúc, trúc bằng sành sứ, màu sắc tươi tắn, hài hòa,chịu được thử thách của mưa gió và thời gian
Tầng lầu dưới để trống, trừ gian giữa có vách đố và cửa kính Đó là nơi vuangự tọa vào những dịp lễ quan trọng Phía sau chỗ vua ngự đặt trống và chuông to.Khi có có nghi lễ thì đánh chuông, gióng trống (hàng ngày trống này cũng được sửdụng vào giờ mở và đóng cửa Kinh Thành)
Tầng lầu trên có vách bằng ván gỗ, là nơi dành riêng cho Hoàng Thái hậu,các bà phi trong cung cấm Tại đây, các bà có thể nhìn ra ngoiaf qua mấy cửa sổhình tròn, hình quạt hay hình cái khánh… các cửa này đều có rèm che, người phíangoài không thể nhìn thấy bên trong
Hai chữ “Ngọ Môn” gắn trên ngách cửa chính ngày xưa được bọc bằng vàngthật Các bộ phận vách, cột, kèo, cửa, lan can đều sơn son thếp vàng rực rỡ Trải qua
Trang 24hai cuộc chiến tranh, Ngọ Môn bị hư hại nhiều và do đó cũng đã nhiều lần được tusửa.
Ngoài công năng ra vào Hoàng Thành, Ngọ Môn còn là nơi nhà vua dự cácbuổi khánh tiết để thần dân chiêm bái, khánh hạ, tổ chức các lễ truyền lô (xướngdanh những người đỗ thi Hội, thi Đình); lễ ban sóc (ban lịch năm mới)…
Hồ Thái Dịch và cầu Trung Đạo
Từ Ngọ Môn tiến vào sân Đại Triều Nghi, đường thẳng chính giữa qua hồThái Dịch còn gọi là cầu Trung Đạo Hồ Thái Dịch nằm hai bên cầu, cầu có lan canchắn đỡ
Hồ Thái Dịch đào năm 1833 (thời vua Minh Mạng) Trong hồ Thái Dịch thảhoa súng, hoa sen Xung quanh hồ trồng những cây đại, nay đã thành cổ thụ, trầmtĩnh soi mình bên mặt nước, tỏa hương thơm ngát quanh năm
Cầu Trung Đạo nối Ngọ Môn với sân Đại Triều Nghi Hai đầu cầu TrungĐjao dựng hai Phường Môn bằng đồng, đúc nổi rồng năm móng (long vân rồng trụ),đường nét sắc sảo, tinh tế Hia trụ bên đối xứng nhau tạo nên sự sinh động, hấp dẫn
Trên một Phường Môn có gắn 4 chữ lớn nổi “Trung hòa vị dục” (trung là gốc thiên
hạ, hòa là đạt đạo của thiên hạ, khi đặt “trung hòa” thì trời đất yên ổn, vạn vật sinh sôi Câu này phù hợp với ý nghĩa của chữ “thái hòa” ở quẻ Càn trong Kinh dịch).
Sau khi qua cầu Trung Đạo và thưởng ngoạn vẻ đẹp của hồ, du khách bướcvào thăm các công trình kiến trúc khác của Hoàng Thành cổ kính
Điện Thái Hòa và sân Đại Triều Nghi
Điện Thái Hòa nằm trên đường xuyên tâm Hoàng Thành và nhìn thẳng raNgọ Môn, được xây dựng năm 1805 đời vua Gia Long, năm 1806 vua Gia Longchính thức tổ chức lễ đăng quang tại đây
Trang 25Năm 1833, vua Minh Mạng xây dựng lại điện Thái Hòa ở vị trí hiện nay trênnền cao 2,35m so với mặt đất; toàn điện dài 44m, rộng 30,5m; chính tịch (nhà sau) 5gian, 2 chái; tiền tịch (nhà trước) 7 gian, 2 chái Kết cấu điện Thái Hòa theo kiểu
“trùng thềm điệp ốc” Nhà trước và nhà sau cùng chung mặt nền, cột sơn son vẽrồng vàng Trên bờ nóc trang trí bằng các mảnh sứ nhiều màu Mái lợp ngói hoànglưu ly Gian chính giữa có treo một bức hoành “Thái Hòa Điện”, phía trong là ngaivàng đặt trên bệ ba cấp Từ trên hoành rủ xuống một cái bửu tán thiếp vàng, thêuhình viên long Trên cao mỗi căn có treo đèn thủy tinh hoặc lồng đèn trang trí thơvăn và hình ảnh cách điệu theo lối “nhất thi nhất họa” Năm 1839 vua Minh Mạngcho sơn son thiếp vàng bộ tuồng gỗ làm tăng thêm phần huy hoàng cho ngôi điệnlịch sử này Năm 1899 vua Thành Thái cho lát gạch hoa theo kiểu Tây phương Năm
1923, vua Khải Định cho lắp hai lớp cửa kính ở phía trước và phía sau (ban đầuđiện Thái Hòa để trống, chỉ có những bức sáo che) Trong điện đặt một số ché và đồgốm cổ Trước sân đặt một hàng đôn bằng đá chạm, trên mỗi đôn có một cái thốnglớn trồng cây cảnh quí Những người thợ xây dựng điện Thái Hòa đã tạo được haichi tiết đặc biệt: mùa hè vào điện sẽ mát, mùa đông ở trong điện ấm hơn; ngồi trênngai vàng ở gian trung tâm vua có thể nghe rõ quần thần trình tấu, vua nói trongđiện các quan ngồi ở các vị trí có thể nghe rõ
Các nghệ nhân xây dựng điện Thái Hòa đã sử dụng tài tình khái niệm “hào”trong “kinh dịch” đông phương, đó là hai con số 9 và 5 (cửu là 9: 9 con rồng; thềmchín bậc; năm: thềm 5 bậc…) Ý nghĩa của hai con số này thuộc quẻ “càn”, ứng vớimạng thiên tử, sánh với đức thánh nhân, thuộc địa vị cao nhất trong xã hội Quẻ càn
trong kinh djch có câu: “Càn nguyên dụng cửu thiên hạ trị dã” (Đạo làm vua nếu
biết dùng hào số 9 thfi bình trị được thiên hạ)
Sân trước điện có tên là Đại Triều Nghi, lát đá Thanh, chia làm hai cấp: trêndành cho các quan văn, quan võ, ấn quan từ hàng Tam phẩm trở lên Chánh Nhấtphẩm Hai bên sân có hai hàng trụ đá đề rõ phẩm trật quy định vị trí cho các quantheo thứ tự gọi là Phẩm Sơn
Trang 26Phẩm sân thấp giáp cầu Trung Đạo và hồ Thái Dịch còn một hàng nữa dànhcho các kỳ cựu hương lão, thích lý đến chầu trong những dịp khánh tiết Hai góc sân
có hai con kỳ lân bằng đồng thiếp vàng để trong hòm kính khung gỗ sơn vàng Haicon kỳ lân này tượng trưng cho sự thái bình, đồng thời là một biểu tượng nhăcsnhowr sự nghiêm minh giữa trốn triều nghi
Điện Thái Hòa là nơi tổ chức những lễ lớn bất thường của triều đình như lễlên ngôi, lễ phong Hoàng Thái tử, lễ tiếp đón sứ thần nước ngoài, lễ vạn thọ14… Mỗitháng có hai lần thiết đại triều ở đây, lễ thường triều tổ hcuwsc ở điện Cần Chánh(phía sau Đại Cung Môn)
Khi tiết triều, vua đội mũ Cửu Long, mặc Hoàng Bào, lưng đeo đai, tay cầmHốt trầm quế, chân đi hia, uy nghi ngồi trên ngai vàng, các quan tứ trụ và nhữnghoàng thân, quốc thích được đứng trên hai bên trong điện, còn toàn bộ các quankhác xếp hàng đứng ở ngoài sân theo phẩm trật Những buổi thiết đại triều thườngđược tổ chức rất sớm, phải hoàn tất trước khi mặt trời lên
Hưng Miếu
Hưng miếu được xây dựng năm 1821 đời vua Minh Mạng, thờ ông bàNguyễn Phúc Luân (1733 – 1765) – thân sinh vua Gia Long Công trình nằm ở phíabắc Thế Miếu, hình dáng giống như Triệu Miếu, nhà sau 3 gian, nhà trước 5 gian,hai đầu đông tây có thêm hai chái, kiến trúc kiểu “trùng thềm điệp ốc”
Trước miếu cũng có nhà kho (phía đông) và nhà bếp (phía tây) Chung quanhHưng Miếu có tường bao bọc Cửa ra bên ngoài ở phía bên trái là Chương Khánh,bên phải là Dục Khánh Mặt tường phía bắc bên trái có cửa Tri Tường, bên phải cócửa Ưng Tường
Thế Miếu
14 Sinh nhật vua
Trang 27Thế Miếu xây dựng năm 1821 vào đời vua Minh Mạng, nằm ở phía tây namHoàng Thành, bên phải điện Thái Hòa, mặt quay về hướng Nam Kiến trúc ThếMiếu theo kiểu “trùng thềm điệp ốc” và “đồng đường, dị thất”15; nhà sau 9 gian, nhàtrước 11 gian; đông tây có hai chái Mái ngày xưa lợp ngói hoàng lưu ly nhưng saunhiều lần tu sửa đã thay bằng ngói thường Trên nóc Thế Miếu có hình bầu rượubằng pháp lam Chiều dài nền Thế Miếu là 54,5m, rộng 27,7m.
Thế Miếu là nơi thờ 10 đời vua Nguyễn Trước năm 1959 chỉ có 7 án thờ sơnson thiếp vàng (một án chính giữa; phải, trái mỗi bên ba án) Án chính giữa thờ vuaGia Long và hai Hoàng hậu (vợ vua) là Thừa Thiên và Thuận Thiên Án thứ nhấtbên trái, thờ vua Minh Mạng và hoàng hậu; án thứ nhì bên trái thờ vua Tự Đức vàhoàng hậu; án thứ nhì bên phải, thờ vua Kiến Phúc; án thứ ba bên trái, thờ vua ĐồngKhánh và hoàng hậu; án thứ ba bên phải, thờ vua Khải Định
Đầu năm 1959, theo yêu cầu của hoàng tộc, nguyện vọng của nhân dân, bàcon trong dòng họ Nguyễn Phước đã tổ chức đưa linh vị ba ông vua có tinh thầnchống Pháp là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân vào thờ Vì thế hiện nay trongThế Miếu có 10 án thờ
Sân Thế Miếu lát gạch Bát Tràng, trừ hàng “thần đạo” chạy dọc ở chính giữalát đá Thanh Quanh sân và hai bên miếu đều xây bồn trồng hoa, cây cảnh quý.Trong số đó đặc biệt có cây tùng, theo lưu truyền được vua Minh Mạng trồng từnăm 1822, khi Thế Miếu vừa xây xong
HIểu Lâm Các
Hiểu Lâm các xây dựng cùng năm với Thế Miếu (1821), nằm ở trước ThếMiếu Ngôi nhà ba tầng 12 mái này có ý nghĩa như một đài kỷ niệm ghi nhớ côngtích của các đại thần có công với triều đình nhà Nguyễn Các quan đại thần được thờ
ở Tả, Hữu, Tùng tự của Hiển Lâm các
15 Cùng nhà, nhều gian
Trang 28Công trình có nền hình chữ nhật (21,05m x 12,8m) Nền cao hơn mặt đất1,53m Hai bậc cấp từ dưới đất dẫn lên nền, một phía trước – hướng nam và mộtphía sau – hướng bắc đều 9 bậc Có hai con rồng phân bậc cấp thành ba lối, lối giữachỉ dành cho vua Công trình có 24 cột gỗ, 4 cột chính tập trung ở giữa chịu lực cả
ba tầng cao 12m; 4 cột phụ và 16 cột quân Cột thấp nhất cao 3m Đường kính cáccột từ 37cm đế 48cm Trên cửa chính giữa treo bức đại tự “Hiển Lâm các” Tầngmột ba gian hai chái, tầng hai có ba gian, tầng ba một gian Cầu thang lên tầng hai
có 9 bậc, cầu thang lên tầng ba cũng 9 bậc Trên nóc tầng ba ở giữa trang trí bầurượu bằng pháp lam màu vàng, chóp bầu rượu có độ cao 16,23m so với mặt đất, đây
là công trình cao nhất trong Hoàng Thành
Đỡ hệ thống mái còn có các con sơn chạm trổ xinh xắn, thanh thoát HiểnLâm các là một trong số ít công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ đjattrình độ cao ở Huế
Cửu Đỉnh
Cửu Đỉnh là chín cái đỉnh đồng lớn nhất Việt Nam đặt cạnh Hiển Lâm các,trước sân Thế Miếu Cửu Đỉnh được đúc thời vua Minh Mạng, từ cuối năm 1835đến đầu năm 1827 thì hoàn thành Chín cái đỉnh có những đặc điểm sau:
Mỗi đỉnh có một tên riêng ứng với miếu hiệu của một vị hoàng đế đã thờtrong Thế Miếu, ví dụ Cao đỉnh dành cho vua Thế tổ Cao Hoàng đế (tức Gia Long);Nhân đỉnh dành cho Thánh tổ Nhân Hoàng đế (tức Minh Mạng), Chương Đỉnh, AnĐỉnh, Nghị Đỉnh, Thuần Đỉnh, Tuyên Đỉnh dành cho các vua kế tiếp là Thiệu Trị,
Tự Đức, Kiến Phước, Đồng Khánh, Khải Định Đến năm 1958 trong Thế Miếu chỉ
có 7 án thờ và tương đương với 7 đỉnh, còn hai đỉnh Dụ và Huyền chưa dùng đến
Thoạt nhìn 9 cái đỉnh có vẻ giống nhau, nhưng thực tế chúng có nhiều điểmkhác nhau Khác nhau về trọng lượng, chiều cao, hình dáng bộ chân, hình dáng bộquai Đặc biệt nhất là 17 hình nổi kèm chữ chú thích xung quanh mỗi đỉnh, tạothành 153 hình NHững hình ảnh đó khái quát toàn cảnh đất nước Việt nam từ Lạng
Trang 29Sơn đến mũi Cà Mau, qui thành các chủ đề: tinh tú, sông núi, biển cả, thuyền bè, xe
cộ, sản vật quí trên rừng, dưới biển… của đất nước đầu thế kỷ XX
Ứng với các án thờ bên trong Thế Miếu, Cửu Đỉnh từ hồi mới đúc đã đượcđặt vào chỗ như ta thấy hiện nay Cao Đỉnh đứng giữa một mình ở hàng trước, cácđỉnh khác đứng thành một hàng ngang ở phía sau theo vị trí cứ một cái bên trái thìđến một cái bên phải đối xứng nhau qua đỉnh trung tâm là Cao Đỉnh tới Nhân,Chương, Anh, Nghị, Thuần, Tuyên, Dũ, Huyền
Cửu Đỉnh là di sản văn hóa nghệ thuật cổ truyền quí hiếm còn lại hầu nhưnguyên vẹn, khẳng định sự trường tồn và ước mong triều đại mãi vững vàng trong
sự nghiệp giữ gìn sự thịnh vượng của đất nước Việt Nam giàu đẹp, thống nhất Cửuđỉnh cũng hàm chứ tri thức uyên bác của tiền nhân
toàn bộ(m)
Chiều caoquai (m)
Độ cao củaChân (m)
Đường kínhmiệng (m)
Trọng lượng(kg)
0,480,420,410,420,410,420,540,430,41
1,050,870,950,940,890,950,930,960,95
1,381,361,351,371,371,361,371,381,41
2.0612.5122.0972.5952.5751.9502.0662.0181.935
Cung Trường Sinh
Cung Trường Sinh do vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1822, vị trí ởtây bắc Hoàng Thành, phía sau cung Diên Thọ Ban đầu cung này có tên là Trường
Trang 30Ninh, đến đời vua Khải Định đổi tên là Trường Sinh Các bà Thái hậu Lệ Thiên Anh(vợ vua Tự Đức) và Từ Minh (vợ vua Dục Đức) là những người đã sống trong cungTrường Ninh lâu nhất.
Cung Trường Sinh nằm trong tường bao kín Ba ngôi nhà trong cung là NgũĐại Đồng Đường ở phía trước, điện Thọ Khương ở giữa và lầu Vạn Phước ở phíasau nối với nhau bằng một hành lang có mái tạo thành hình chữ “Vương” Trướcmặt cung có hồ bán nguyệt, trong hồ là hòn non bộ với núi non, dưới có nước vàcon thuyền thấp thoáng rất nên thơ
Năm 1843, đời vua Thiệu Trị, cung được trùng tu lớn Cuối năm 1907 cung
bị triệt hạ hầu như toàn bộ Ngày nay cung đã được trùng tu
Cung Diên Thọ
Công trình kiến trúc này được xây dựng từ năm 1804, ban đầu có tên làTrường Thọ Vua Minh Mạng đổi là Từ Thọ (1820), vua Tự Đức đổi là Gia Thọ(1848), vua Thành Thái đổi là Ninh Thọ (1901) Diên Thọ là tên cuối cùng do vuaKhải Định đổi năm 1916 Cung Diên Thọ là nơi ở, sinh hoạt của các bà Hoàng TháiHậu (mẹ vua), thái thái hậu (vợ của các vị vua đã băng hà), vị trí về phía bắc điệnPhụng Tiên và phía nam cũng Trường Sinh
Nhóm kiến trúc này nằm trong tường bao, chiều rộng khoảng 100m, dàichừng 150m Mặt tường phía nam có cửa Thọ Chỉ nền lát đá Thanh, trên có lầu; mặtphía bắc có cửa Diễm Dịch; mặt phía tây có cửa Địch Tường; mặt phía đông có cửaThiên Khánh Tại đây có một số hạng mục: Diên THọ cung, điện Thọ Ninh, nơi ởcho các bà mẹ thứ hai của vua; Tạ Trường Du, nơi hóng mát hưởng thú tiêu dao; amPhước Thọ, là nơi thờ thánh, thờ Phật; lầu Tịnh Minh, nguyên à nơi ở và sinh hoạtcủa bà Đoan Huy Hoàng Thái hậu, mẹ vua Bảo Đại Các hạng mục trong cung kếtnối với nhau bằng hệ thống hành lang có mái che Hình trang trí đặc trưng tại cungDiên Thọ là con chim phượng hoàng – biểu tượng của phái nữ
Trang 31Tòa nhà chính cung điện Diên Thọ được xây dựng theo kiểu “trùng thềmđiệp ốc”, 7 gian 2 chái, hai hiên trước và sau Qua cửa Thọ Chỉ tiếp giáp với một cáisân gạch, hai bên sân có Tả, Hữu Tước đường, cuối sân là một dãy tường thấp, đoạntường ở giữa nâng cao thành một bức bình phong, hai bên trái, pphari trổ hai cửaThụy Quang và Trinh Ưng Nội thất hiện còn treo ba chữ đại tự “Diên Thọ cung”sơn son thiếp vàng Trên cao treo đèn lồng chạm trổ tinh xảo, quạt lông màu đenđược ghép bằng lông các loài chim quý Nhìn vào bên trong qua một lớp sáo mỏnglung linh là những chiếc giường lạ mắt bằng gỗ quý được chạm khắc rất tinh xảo.
Cung Diên Thọ là công trình kiến trúc có qui mô lớn còn lại ở trong HoàngThành, tuy rằng không được nguyên vẹn
Cung Trường Sinh
Cung Trường Sinh do vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1822, vị trí ởtây bắc Hoàng Thành, phía sau cung Diên Thọ Ban đầu cung này có tên là TrườngNinh, đến đời vua Khải Định đổi tên là Trường Sinh Các bà Thái hậu Lệ Thiên Anh(vợ vua Tự Đức) và Từ Minh (vợ vua Dục Đức) là những người đã sống trong cungTrường Ninh lâu nhất
Cung Trường Sinh nằm trong tường bao kín Ba ngôi nhà trong cung là NgũĐại Đồng Đường ở phía trước, điện Thọ Khương ở giữa và lầu Vạn Phước ở phíasau nối với nhau bằng một hành lang có mái tạo thành hình chữ “Vương” Trướcmặt cung có hồ bán nguyệt, trong hồ là hòn non bộ với núi non, dưới có nước vàcon thuyền thấp thoáng rất nên thơ
Năm 1843, đời vua Thiệu Trị, cung được trùng tu lớn Cuối năm 1907 cung
bị triệt hạ hầu như toàn bộ Ngày nay cung đã được trùng tu
Điện Phụng Tiên
Trang 32Điện này cũng thờ các vua nhà Nguyễn nhưng chỉ dành cho các bà ở nộicung lui tới vì họ là phụ nữ không được phép vào Thế miếu Trong sân điện Phụng
Tiên có trồng một giống vải rất quý, tương truyền là từ Trung Quốc đưa sanglấy tên là vải Phụng Tiên
Thái Miếu
Thái Miếu là công trình thờ 9 đời vua đời chúa Nguyễn, được xây dựng năm
1804 thời vua Gia Long, ở góc đông nam Hoàng Thành, mặt quay về hướng nam.Công trình chính có hai nếp nhà, nhà sau có 13 gian; nhà trước có 15 gian, hai cháiđông tây Tại đây còn có một số công trình phụ Chung quanh Thái Miếu có tườngbao bọc, thông với bên ngoài bằng cửa Hiển Thừa, cửa Tức Tường, mặt sau có cửaNguyên Chỉ và cửa Trường Hựu
Các chúa Nguyễn kể từ Nguyễn Hoàng được thờ ổ Thái miếu Sách Đại Nam nhất thông chí cho biết miếu “ở phía đông Hoàng Thành, dựng từ năm Gia Long thứ 3 (1804) Thể chế: nhà chính 13 gian, nhà trước 15 gian, có hai chái đông tây; cung đường mà khác thất, cả thảy 9 thất đều đặt thần khám; thất giữa thờ thần khám Gia Dụ Hoàng Đế và hoàng hậu, phía tả và phía hữu đều bôn í hát, (hờ thần khám các hoàng dê và hoàng hậu (thòi chúa), hằng năm 5 kỳ tế vào bốn tháng mạnh và tháng quý đông Phía đông Thái miếu là điện Long Đức, phía nam
là điện Chiêu Kính, ở phía tây đối với điện Chiêu Kính là điện Mục Tư, ba điện ấy hằng năm tế vào ngày kỵ; phía bắc điện Mục Tư là nhà vuông Phía tả tường Thái miếu là cửa Hiển Thừa, phía hữu là cửa Tức Tướng; tường mặt sau, phía tả là cửa Nguyên Chỉ, phía hữu là cửa Trường Hựu; ở trước sân Thái miếu: chính giữa
là gác Tuy Thành, phía tả và phía hữu gác Tuy Thành có tường ngắn, phía tả là cửa Diên Hi, trên có lầu chuông, phía hữu là cửa Quang Hi, trên có lầu trống; ngoài tường ngắn, dựng tả hữu vu, đế thờ phụ các công thần thân huân hồi mới
Trang 33dựng nước Tường phía nam của miếu là cửa Thái miếu” 16
Lời chú nói gác Tuy Thành trước gọi là gác Mục Thanh, được đổi tên từ nămMinh Mạng thứ 10 (1829), điện Long Đức trước gọi là Tả Phương đưòng, điệnChiêu Kính và điện Mục Tư trưổc gọi là Tả Tế sở và Hữu Tế sở, đều đổi tên từnăm Minh Mạng thứ 13 (1832)17
Gian chính giữa đặt thần khám và thần vị hai ông bà Nguyễn Hoàng (ChúaTiên) Hai vên phải, trái mỗi bên có 4 thất thờ tám vị chúa theo thứ tự:
Thất thứ nhất bên trái thờ ông bà Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi);
Thất thứ nhất bên phải thờ ông ba Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng);
Thất thứ nhì bên trái thờ ông bà Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền);
Thất thứ nhì bên phải thờ ông bà Nguyễn Phúc Trăn (Chúa Ngãi);
Thất thứ ba bên trái thờ ông bà Nguyễn Phúc Chu (Chúa Minh);
Thất thứ ba bên phải thờ ông bà Nguyễn Phúc Chú;
Thất thứ tư bên trái thờ ông bà Nguyễn Phúc Khoát (Võ Vương);
Thất thứ tư bên phải thờ ông Nguyễn Phúc Thuần
Các công trình phụ có điện Long Đức, nằm bên trái Thái Miếu là nơi chuẩn
bị lễ vật trong các lần giỗ ỵ vợ chồng chúa Nguyễn Hoàng; điện Chiêu Kinh nơichuẩn bị lễ vật để giỗ kỵ cho người thờ ở những án bên trái; điện Mục Tư, nơichuẩn bị lễ vật để giỗ kỵ cho người thờ 4 án ở bên phải; Phương Đường nơi thờ Thổcông
Thời vua Gia Long còn dựng Tả Vu, thờ bốn vị có công với các chúa Nguyễn
là Tôn Thất Khê, Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Hạo và Tôn Thất Đồng; nhà Hữu Vu thờ
16 Quốc sử quán triều Nguyễn, “Đại Nam nhất thống chí”, bản dịch Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa(tái bản), tập I, 1992, tr 28 – 29.
17 Lê Nguyễn Lưu, Sđd, tr 241.
Trang 34những vị khai quốc công thần như Nguyễn U Kỷ, Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Tiến,Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Kỉnh, Nguyễn Cửu Dật và Nguyễn Cư Trinh.
Triệu Miếu
Triệu Miếu thờ ông bà Nguyễn Kim, thân sinh của chúa Nguyễn Hoàng, tổdòng họ Nguyễn Ban thờ ông bà Nguyễn Kim đặt ở gian giữa
Triệu Miếu nằm phía sau Thái Miếu, được vua Gia Long xây dựng vào năm
1803, kiểu “trùng thềm điệp ốc”; nhà sau 3 gian, nhà trước 5 gian; mặt quay hướngnam Chung quanh miếu có tường bao bọc Công trình này đã bị hư hại nặng, mớiđược trùng tu vào năm 1984
Trong miếu còn có nhà kho (đông) và nhà bếp (tây) đều ba gian hai chái Mặttường phía bắc (sau miếu) trổ hai cửa Tập Khánh (bên trái) và Diễn Khánh (bênphải), mặt tường phía nam chung với tường phía bắc của Thái Miếu; phía trái đốixứng với của của Tập Khánh là cửa Nguyên Chỉ; phía phải đối xứng với cửa DiễnKhánh là cửa Trường Hựu
Trang 352.1.2.3 Tử Cấm Thành
Tử Cấm Thành là vòng thành nhỏ nhất hình chữ nhật nằm trên đường xuyêntâm Hoàng Thành có tường gạch bao quanh, chiều dài (mặt trước và sau) 324m,chiều rộng (hai mặt bên trái và phải) 290m; tường cao 3,72m, dày 0,72m Thông vớiHoàng Thành ở mặt trước chỉ có một cửa Đại Cung; mặt sau là 3 cửa: Tường Loan,Nghi Phụng và Văn Phòng; mặt trái là 4 cửa: Đông An, Cẩm Uyển, Hưng Khánh vàDuyệt Thị; mặt phải là 2 cửa: Gia Tường và Tây An
Trong Tử Cấm Thành ngày xưa có 40 tòa nhà lớn nhỏ, nay hầu như khôngcòn Sau đây là một số công trình chính:
Trang 36Đại Cung Môn: là òa nhà 5 gian có công năng như một cái cổng ở mặt
hướng nam, nơi dành riêng cho vua qua lại, nay không còn
Điện Cần Chánh: nằm đối diện với Đại Cung môn, 7 gian hai chái, là nơi
vua làm việc hàng ngày và thiết thường triều 4 lần trong một tháng Công trình nàyđược xây dựng tinh xảo nhất, đẹp nhất ử Kinh Thành Huế, nay không còn
Tả Vu, Hữu Vu: lài ha ngôi nhà 5 gian hai chái, là nơi các quan ngồi chờ
trước khi lâm triều
Đông Các và Tụ Khuê Thơ viện: nằm phía sau Tả Vu, là hai thư viện lưu giữ
những tài liệu đặc biệt, sách quý của vua, các công trình này không còn
Điện Văn Minh và Võ Hiển: nằm ở hai bên điện Cần Chánh, là nơi vua họp
riêng với các quan văn, quan võ, các công trình này không còn
Điện Càn Thanh: tòa nhà 9 gian 2 chái, nơi ở và sinh hoạt riêng của bà
Hoàng Qúy phi – vợ chính của vua, công trình này không còn
Điện Dưỡng Tâm: nằm ở phía bên trái sân điện Khôn Thái, là nơi vua đến
nghỉ ngơi, thư giãn rảnh rỗi, công trình này không còn
Lục Viện: là 6 viện nằm bên phải điện Khôn Thái: Đoan Chính, Đoan Huy,
Đoan Tường, Đoan Thuận và Đoan Hòa, là nơi ở và snh hoạt của accs bà vợ vua từcấp “Tần” trở xuống, các công trình này không còn
Viện Tịnh Quang: nằm bên trái điện Khôn Thái, nơi xem hát riêng của vua Lầu Kiến Trung: tòa nhà dành riêng cho vua Khải Định, sau là của gia đình
vua Bảo Đại, công trình này không còn
Lầu Ngự Niền Văn Phòng: nằm bên trái lầu Kiến Trung, là nơi làm việc của
các nhân viên văn phòng giúp việc vua, công trình này không còn
Thái Bình lâu và Duyệt Thị Đường: là nơi vua đọc sách, nghỉ ngơi, nghe
hát
Trang 37Vạc đồng
Vạc đồng là những di vật bằng đồng đúc, kích thước khá lớn, đặt trước điệnCần Chánh và một vài nơi trong Kinh Thành Đây là những di vật đúc từ thời chúaNguyễn để kỷ niệm chiến thắng quân Trịnh ở miền Bắc hay quân Chiêm – Lạp ởmiền Nam Vạc đồng còn là những di vật thiêng liêng của các chúa Nguyễn để lạihậu thế giống như các đỉnh đồng đặt trước Thế Miếu Theo tư liệu mô tả thfi trướcđiện Cần Chánh có 2 cái, điện Càn Thành 2 cái; trước sở chỉ huy Đồn Mnag Cá 1cái; lăng Đồng Khánh 1 cái Hầu hết các vạc đồng này được đúc dưới thời chúaNguyễn Phúc Tần (Hiền Vương), thế kỷ XVII
Hia cái vạc hiện có trước sân điện Cần Chánh đúc vào năm 1660 và 1662,mỗi cái có trọng lượng khoảng 2.500 cân (tương đương 1515,5kg) Vạc hình trụ,kiệng loe, trên miệng có 4 quai xoắn hình bán nguyệt, dưới đáy là 6 chân qui Thànhphía ngoài vạc đồng có hai đường gờ chia thân vạc làm ba đoạn Trên mỗi đoạn chiathành những ô chữ nhật Trong mỗi ô đúc nổi hình con thú, hoa lá, họa tiết trang trí
Đó là những tác phẩm tạo hình rất đặ ctruwng của thế kỷ XVII còn lưu lại, nên rất
bộ, nước trong hồ chảy liên tục, cảnh trí rất nên thơ; một số lầu gác như: Tứ Phương
Vô Ngu, Lục Trì Thần Thông, Lục Giác, Trạch Trung, nhà Đức Viên, đình BátPhong
Trang 38Thái Bình Lâu là tòa nhà duy nhất ở Tử Cấm Thành còn khá Nguyên vẹn saungày Pháp trở lại chiếm đóng Huế đầu năm 1947.
Sân khấu hình vuông giữa sàn nhà Bức tường ở cuối sân khấu trổ hai cửacho các diễn viên đi lại (cửa vào ở bên phải, cửa ra ở bên trái) Phía sau bức tường
là một phòng rộng đựng tủ, kệ để chứa các bản tuồng, hia, mão và đạo cụ biểu diễn.Tại vị trí cao nhất trong phòng là một khám thờ hai ông tổ sư của nghề hát bội.Phòng này lại trổ cửa hướng ra sân ở phía đông Tử Cấm Thành (các nghệ nhân ravào bằng lối này) Đối xứng với bức tường qua sân khấu là một đài cao chia làm haibậc Bậc thấp là nơi nhà vua ngồi xem hát Bậc cao nhất sát tường phía tây dành chocác bà hoàng và cung tần mỹ nữ Hai khu vực này được ngăn một lớp sáo trúc thưalàm cho người ngồi bên trong nhìn rõ người ở bên ngoài, nhưng người bên ngoiafkhông nhìn thấy người bên trong Hai bên chỗ vua ngự đặt vài bộ bàn ghế dành chocác vị quốc khách của triều đình
Duyệt Thị Đường là nhà hát cổ nhất còn lại của ngành sân khấu Việt Nam.Một công trình kiến trúc độc đáo thể hiện hài hòa giữa phong cách dân tộc, yên tĩnh,mát mẻ và các yếu tố kỹ thuật khác tạo nên sự thành công cho các buổi diễn phục vụhoàng thân quốc thích trong hơn 100 năm trị vì của các vua triều Nguyễn
Trang 392.1.3.Phủ đệ
Hệ thống phủ đệ của các ông hoàng bà chúa18 và cả quốc thích đại thần làmphong phú thêm di tích và cảnh quan Huế, đáng tiếc phần lớn không bảo tồn đượcđầy đủ nguyên vẹn Như chúng ta đã biết, các hoàng tử, hoàng thân đển tuổi 16 – 18bắt đầu được phong tước, cấp đất lập phủ để “ra ở riêng” rồi cưới vợ (gọi là nạp phủthiếp) Mật độ phủ đệ dày đặc nhất hiện nay là ở các tuyến đường Kim Long(phường Kim Long và xã Hương Long), Thuận An (phường Vỹ Dạ), một số rải rác
ỏ các tuyến đường Phan Đình Phùng, Phan Châu Trinh (phường Phú Nhuận,phường Vĩnh Ninh, phường Phước Vĩnh, phường Trường An), Chi Lăng (cuốiđường, phường Phú Hiệp)
Phủ đệ cũng được quy định chặt chẽ, không phải ai muốn làm thế nào thì làmtheo ý thích của mình Năm 1816, vua Gia Long chuẩn “phàm dựng làm nhà phủhoàng tử, công chúa, thì chính đường 5 gian hai chái, tiền đường 7 gian, chungquanh mái chồng, hợp làm một tòa, lợp ngói âm dương, bốn chung quanh xây baobằng tường gạch, mặt trước mặt sau đều mở một cửa vòm, trong cửa xây bìnhphong” Năm 1822, vua Minh Mạng đổi lại chính đường tiền đường đều 3 gian haichái, và năm 1843, vua Thiệu Trị chuẩn “sau này phàm làm dựng nhà phủ hoàng tửcông hoàng tử, thân công, hoàng đệ, thái trưởng công chúa và công chúa thì giảmbớt một tòa tiền đường, còn nhà chính thì ba gian hai chái, có tường bao bốn chungquanh, trước sau mỏ một cửa vòm, rộng 64 trượng, tường cao 5 thước 5 tấc, còn nhàkhác thì chuẩn y mẫu cũ”19 Vì kinh phí nhà nước cấp, nên mới quy định chặt chẽnhư thế
Sau khi ông hoàng bà chúa qua đời, con cháu cải biến phủ ở thành phủ thờ,cũng như các từ đường quý thích (họ ngoại vua) Lại nữa, qua thời gian, những cuộcdâu bể xảy ra, nhiêu phủ phòng con cháu suy vi, bán đất bán nhà, nhất là thiên tai
18 Nhà của hoàng tử gọi là phủ, nhà của công chúa gọi là đệ Nhà của quốc thích cũng được gọi là phủ.
19 Nội Các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993 , tập 13,tr 150 – 151.
Trang 40dịch họa làm cho cơ sở vật chất đổ nát, hoặc chỉ còn dấu vết, hoặc được dựng lạikhác xưa và khiêm tốn hơn nhiều Trong số đó, đến nay, chỉ có phủ Tuy Lý Vươngđược công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia Sau đây là một số phủ tương đối cònnguyên vẹn, dù đã được sửa chữa, biến dạng phần nào:
- Phủ Huấn Vũ hầu Nguyễn Phúc Thử ở làng Lương Quán, xã Thủy Xuân,thành phố Huế Hầu là con trai thứ chín của chúa Nguyễn Phúc Chu và phu nhânHoàng Thị Duyên, sinh ngày 5 - 12 - 1699, làm quan đến chức Chưởng cơ, mấtngày 1- 7 - 1763, được tặng Chưởng dinh, tước Huấn Vũ hầu, triều Nguyễn truyphong là Tả quân Đô đốc Chưởng phủ sự Phủ của ông được xây dựng vào khoảnggiữa thể kỷ XVIII (có thể là một phủ chúa đã làm sẵn từ trước), lúc đầu là nhàrường, đến năm 1941, gia đình tôn tạo thành cơ ngơi như hiện nay- Khuôn viênkhoảng 450m2, cổng quay về hướng tây nhìn ra bãi bồi sông Hương chỗ khúc quanh
từ hướng nam - bắc chuyển qua tây - đông Có câu đối và biển ngạch, chỉ có lathành mạt trước; mặt sau có bức bình phong long mã đắp hình rồng năm móng, haitrụ và hai voi nhỏ chầu hầu Sân hơi hẹp, xây hai miếu Bà Cô kiểu cổ Tiền đườngtreo biển ngạch đề lạc khoản năm Tân Tỵ, Bảo Đại thứ 16 (1941) Chính đường xâykiểu mới đầu thể kỷ XX, ba gian, bài trí ba án thờ, có một biển hoành đề “Long phi
Kỷ Tỵ” (có lẽ là năm 1749)
- Phủ Định Viễn quận vương ở làng Tây thượng, xã phu Thượng, huyện PhúVang, bên bờ bắc đường Thuận An, của Nguyễn Phúc Bính, con trai thứ sáu của vuaGia Long va bà Tiệp dư Dương Thị Sự Ông sinh ngày 16 tháng Bảy năm Đinh Tỵ(6 - 9 - 1897), vốn tính phóng khoáng, thủa nhỏ ham chơi nhưng lớn lên đổi tính,siêng năng cẩn thận Năm 1817 được phong Định Viễn công và lập phủ riêng; năm
1842 theo vua Thiệu Trị ra Bắc làm lễ thụ phong với nhà Thanh Ông đứng ra lậpchợ Gia Lạc làm hội vui chơi cho nhân dân trong vùng suốt ba ngày Tết, làm thànhmột tục hay Tương truyền để cầu tự, ông bỏ tiền mua vải cho vợ may áo con traiđem bán rẻ tại chợ Dinh, nên có câu ca dao “Chợ Dinh bán áo con trai ” Ông mấtngày 3 tháng Bảy năm Quý Hợi (16 - 8 - 1863) Phần bị mối mọt, phần bị chiến