Từ ưu thế đó, thời Nguyễn đã vận dụng có hiệu quả chất liệu sơn truyền thống trong kiến trúc cung đình mỹ thuật và chúng được bao phủ và tô điểm lộng lẫy trên các đồ sơn, cấu kiện và nhữ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Đỗ Xuân Phú
SƠN TRUYỀN THỐNG TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ
QUẦN THỂ DI TÍCH CỐ ĐÔ HUẾ
Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN QUỐC HÙNG
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Công trình nghiên cứu luận án của NCS, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Nguyễn Quốc Hùng, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với sự góp ý nhiệt tình của các nhà khoa học, các nhà quản lý
Luận án tiến sĩ: Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể di tích cố đô Huế là do NCS viết và chưa công bố
Các trích dẫn, số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có xuất
xứ rõ ràng
NCS xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận án
Đỗ Xuân Phú
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN 4
MỞ ĐẦU…… ……… ……… … … 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SƠN TRUYỀN THỐNG TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ QTDTCĐH 15
1.1 Khái niệm sơn truyền thống và một số thuật ngữ 15
1.2 Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn… 19
1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 42
Tiểu kết chương 1 54
Chương 2 NHỮNG GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ CỦA SƠN TRUYỀN THỐNG TRONG QTDTCĐH 56
2.1 Hiệu quả trang trí trong các đề tài mỹ thuật 56
2.2 Giá trị tạo hình nghệ thuật trang trí trên sơn truyền thống 67
2.3 Tính biểu đạt của sơn truyền thống 91
2.4 Giá trị bền vững của chất liệu kết dính 97
2.5 Hội tụ và lan tỏa của sơn truyền thống trong đời sống VHXH 99
Tiểu kết chương 2 ….……… … …… … 103
Chương 3 BÀN LUẬN VỀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA SƠN TRUYỀN THỐNG CÓ TÍNH KHOA HỌC TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ QTDTCĐH…… ………… 105
3.1 Cơ sở khoa học chứng minh sơn truyền thống 106
3.2 Vị trí của sơn truyền thống trong dòng chảy 115
3.3 Vai trò quan trọng của mỗi loại sơn 128
3.4 Một vài biện luận về tính mới của luận án 138
Tiểu kết chương 3 ……… …… 141
KẾT LUẬN……….… ……… ……… 144
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… … 152
PHỤ LỤC………… ……… 164
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
B.A.V.H : Bulletin des Amis du Vieux Huế
(Những người bạn cố đô Huế)
KĐĐNHĐSL : Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ
NCS : Nghiên cứu sinh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 1 Thống kê các họa tiết trang trí bằng sơn truyền thống 31
Bảng 2 Thống kê số lượng của các hiện vật trong nội và ngoại thất kiến trúc gỗ được trang trí bằng sơn truyền thống 31
Bảng 3 Họa tiết trang trí trên 11 ô hộc tại án thờ Thế Miếu 64
Bảng 4 Họa tiết trang trí trên 11 ô hộc tại án thờ Hưng Miếu (mặt tiền) 64
Bảng 5 Họa tiết trang trí trên 13 ô hộc tại án thờ Hưng Miếu (mặt hậu) 65
Bảng 6 Thành phần và tính chất của bột màu 82
Bảng 7 Vị trí sơn truyền thống ngoài Kinh thành (NKT) và kiểu thức trang trí .119
Bảng 8 Vị trí sơn truyền thống trong Kinh thành (TKT) và kiểu thức trang trí .120
Bảng 9 Vị trí sơn truyền thống trong Hoàng thành (THT) và kiểu thức trang trí 121
Bảng 10 Vị trí sơn truyền thống trong Tử Cấm Thành (TCT) và Kiểu thức trang trí……… …… 121
Bảng 11 Tóm tắt quy trình các lớp sơn trên nền gỗ trong DTCĐH 136
Bảng 12 Tóm tắt các lớp thí son, thếp vàng lá và phủ hoàng kim trên kiểu thức trang trí tại di tích cố đô Huế 137
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sơn truyền thống trong kiến trúc thời Nguyễn phản ánh sâu sắc tính thẩm mỹ của cung đình Chúng không chỉ mang trong mình những giá trị to lớn về lịch sử, nghệ thuật mà còn chứa đựng cả văn hóa tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian , chúng còn ảnh hưởng bởi tư tưởng chính thống của nho giáo và hòa đồng với Lão giáo, Phật giáo Đó chính là đặc trưng của văn hóa nghệ thuật thời Nguyễn, sơn truyền thống đã tạo nên bản sắc riêng về giá trị thẩm mỹ, có tính khái quát cao bởi màu sắc và tượng trưng của những kiểu thức trang trí có ý nghĩa sâu sắc, lắng đọng Điều đó có được là do các chúa Nguyễn đã quy tụ những danh nhân kiệt xuất trong lĩnh vực mỹ thuật của cả nước về Thuận Hóa (Huế), tạo nên những công trình kiến trúc cung đình đậm tính sơn với những tác phẩm tuyệt tác Đánh dấu bước phát triển của mỹ thuật cung đình và góp phần hình thành nên phong cách mỹ thuật riêng của thời Nguyễn Ngày nay sơn truyền thống và kiểu thức trang trí vẫn còn được lưu truyền, giữ gìn và trao truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác trong tương lai, chúng đã trở thành điểm nhấn mạnh mẽ và không thể thiếu đối với đời sống con người xưa và nay
Có thể khẳng định rằng, triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) đã để lại cho chúng ta một khối di sản đồ sộ về kiến trúc có sử dụng chất liệu sơn cổ truyền như đồ dùng sinh hoạt, đồ tế tự son thếp và những kiểu thức trang trí
Ở đây, vai trò quan trọng của sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí chúng đã góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc và mang ý nghĩa nhân văn về Chân - Thiện - Mỹ rõ nét Sơn truyền thống trong kiến trúc cố đô Huế có những sắc màu cổ kính, huyền ảo, ấm cúng và điểm xuyết những họa tiết, hoa văn trang trí làm nổi bật chủ đề được truyền tài từ dân gian của một thời kỳ vàng son tráng lệ
Trang 7Chất liệu sơn truyền thống Việt Nam vốn được coi là kho báu giúp cho công tác bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa có giá trị thẩm mỹ Tạo điều kiện cho các làng nghề sơn phát triển trong mạch chảy văn hóa sơn khắp mọi miền
tổ quốc Từ ưu thế đó, thời Nguyễn đã vận dụng có hiệu quả chất liệu sơn truyền thống trong kiến trúc cung đình mỹ thuật và chúng được bao phủ và tô điểm lộng lẫy trên các đồ sơn, cấu kiện và những kiểu thức trang trí bằng đôi bàn tay khéo léo, đôi mắt thẩm mỹ và có tính sáng tạo của các nghệ nhân, người thợ sơn đã sáng tác ra những sản phẩm đồ sơn trang trọng phục vụ cung đình Chất liệu sơn đã trở thành mạch sống kết nối giữa cái tâm hồn, cái đẹp của những kiểu thức trang trí làm phong phú, đa dạng chính thể triều đình, chúng đã góp phần tăng thêm giá trị thẩm mỹ, giá trị dân gian và mang đậm tôn giáo tín ngưỡng với đầy đủ ngôn ngữ biểu đạt của sơn truyền thống
Thực tế cho thấy, sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí tại Quần thể di tích cố đô Huế (QTDTCĐH) được các nghệ nhân sử dụng với mục đích làm đẹp cung điện và trang nghiêm nơi thờ cúng gia tiên Sự xuất hiện của cặp màu vàng - đỏ, đen - đỏ, vàng bạc trên các kiểu thức trang trí và cặp màu xanh, lục trên đường viền hoặc các ô hộc của sơn truyền thống đã làm tăng thêm vẻ đẹp lộng lẫy và tính trang nghiêm nơi thờ cúng của chúa Nguyễn Các tác phẩm mỹ thuật có sử dụng sơn truyền thống chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn, nhưng vẫn cho thấy sự lớn mạnh, hùng hậu trong các cung, điện, lăng tẩm Bên cạnh đó, so sánh với những tác phẩm khác được thể hiện bằng chất liệu sành sứ, pháp lam, tranh kính màu, đồ gốm, đồ đồng, đồ đá, mành tre, xà cừ, gạch lát nền, tường bao và ngói màu các loại để tăng thêm giá trị cuar sơn truyền thống Bản thân giữa chúng có nhiệm vụ mục đích bổ sung cho nhau, làm phong phú các chất liệu với nhau và tồn tại trong chuỗi di sản của cung đình mỹ thuật triều Nguyễn một thời vàng son Đề tài nghiên cứu về
Trang 8lý thuyết và thực tiễn, góp phần thiết thực trong sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung, nói riêng nghề sơn và du lịch tại QTDTCĐH
Nghiên cứu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí trên các cấu kiện, ô hộc để tìm thấy những tinh hoa, phẩm chất cao quý Mang ý nghĩa tôn vinh giá trị thẩm mỹ của sơn và các họa tiết, ngoài ra biết được những tồn tại, hạn chế để đề xuất các giải pháp bảo tồn Trong nghiên cứu về sơn cổ truyền mới thấy hết được giá trị “văn hóa sơn” ở thời Nguyễn có tầm quan trọng trong xu thế phát triển của thời đại Bản thân chúng góp phần bảo tồn các giá trị thẩm mỹ vốn có của cha ông ta để lại, đồng thời nhìn nhận, đề suất các giải pháp nhằm tôn tạo những di sản đang có nguy cơ bị mai một dần bởi nhiều yếu tố khách quan
Đây là tính cấp thiết khi nghiên cứu đề tài này, những khái niệm và thuật ngữ được đề cập là mục đích khẳng định để có cơ sở lý luận của luận án Nghiên cứu vị trí, vai trò, đặc trưng của sơn truyền thống và tinh hoa nghệ thuật trang trí để làm chúng bật lên so với các chất liệu khác cùng thời Như vậy, có thể khẳng định sơn truyền thống có vai trò khá quan trọng trong nghệ thuật tạo hình ở QTDTCĐH, nhưng chưa có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đã trình bày trên, do vậy
nghiên cứu sinh chọn đề tài Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể di tích cố đô Huế để thực hiện luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận
Trang 9- Luận án hướng đến xác lập những căn cứ khoa học và thực tiễn của sơn truyền thống để làm sáng tỏ giá trị thẩm mỹ kiến trúc, hiện vật và những kiểu thức trang trí được thăng hoa trong DTCĐH
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài sơn truyền thống trong DTCĐH của thời Nguyễn để lại
- Tìm hiểu diện mạo của sơn truyền thống trong tiến trình lịch sử của dân tộc về nguồn gốc, xuất xứ và kỹ thuật chế tác sơn của QTDTCĐH
- Nhận diện sự hài hòa giữa các tác phẩm mỹ thuật làm bằng sơn truyền thống và các tác phẩm của một số chất liệu khác trong nghệ thuật trang trí DTCĐH
- Tìm ra những minh chứng khẳng định giá trị mỹ thuật của các tác phẩm có sử dụng sơn truyền thống
- Xác định những giá trị thẩm mỹ của những kiểu thức trang trí có đặc điểm tạo hình dân gian, như các bộ đề tài Tứ linh, Tứ thời, bát bửu, án thờ,
và đặc biệt hình tượng rồng trên các hàng cột ở điện Thái Hòa chúng được biểu hiện bởi chất liệu sơn truyền thống
- Đánh giá, phân tích và khẳng định giá trị của sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí dưới thời Nguyễn và làm sáng tỏ những cái đạt được và chưa được của công tác sơn
- Góp thêm tiếng nói có luận cứ khoa học trong việc khẳng định giá trị của chất liệu sơn truyền thống và nghệ thuật trang trí Nhằm bảo tồn và phát huy các tác phẩm mỹ thuật có sử dụng sơn truyền thống trên cơ sở giữ gìn, kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống vốn có làm thăng hoa cung đình mỹ thuật thời Nguyễn trong dòng chảy mỹ thuật dân tộc nước nhà
Trang 103 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí di tích cố đô Huế, như những kỹ thuật chế tác, kỹ thuật
khắc chạm họa tiết trang trí điêu luyện, kỹ thuật dát vàng, bạc lá tinh tế
Nghiên cứu đặc trưng của chất liệu sơn truyền thống (sơn cổ truyền, sơn mỹ nghệ, sơn ta, sơn thếp, sơn quang, sơn phủ hoàng kim ), có nhu cầu thẩm mỹ (làm đẹp) các công trình kiến trúc gỗ như trên các kiểu thức trang trí của các hiện vật, đồ sơn, đồ sinh hoạt của các bà hoàng, quan lại và trên các cấu kiện, hàng cột, án thờ, ô hộc tại cung điện, đền đài, lăng tẩm, khẳng định thêm giá trị sơn truyền thống Nghiên cứu đặc trưng kiểu thức trang trí của DTCĐH để làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật tạo hình, các họa tiết mang đậm tính dân gian, gần gũi, thân thiện với thiên nhiên cả nước, đã hội tụ bản sắc dân tộc trên nghệ thuật trang trí Nghiên cứu sơn truyền thống góp phần nhận diện dấu ấn riêng cũng như sự phong phú đa dạng của mỹ thuật cung đình thời Nguyễn trong dòng chảy của Mỹ thuật dân tộc
Tuy nhiên, để làm rõ diện mạo và sự đóng góp của sơn truyền thống trong QTDTCĐH, luận án mở rộng tìm hiểu sơn truyền thống trong tỉnh Thừa Thiên Huế và đặc biệt so sánh giữa sơn truyền thống ở Hưng Miếu - DTCĐH với Văn Miếu - Quốc Tử giám ở Hà Nội mục đích tìm ra sự khác biệt giữa màu sơn giũa chúng với nhau, mục đích để phân tích và làm sáng tỏ đề tài nghiên cứu của luận án và phân tích so sánh giữa các công trình sơn cùng thời Nguyễn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu chất liệu sơn truyền thống trên các công trình kiến trúc có tính dân tộc tiêu biểu như điện Thái Hoà, Thế Miếu, Hưng Miếu, Hiển Lâm Các và lăng Tự Đức
Trang 11- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu, tìm hiểu sơn truyền thống thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, với các dấu mốc thời gian cụ thể gắn với việc trang trí các họa tiết trên kiến trúc cung đình biến đổi theo thời gian
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Để trả lời cho giả thuyết, NCS có thể nêu ra một số câu hỏi nghiên cứu, nhằm mục đích làm sáng tỏ đề tài có tính khoa học hơn Vì sao sơn truyền thống được ưa chuộng trong trang trí kiến trúc ở nước ta? Có bao nhiêu loại sơn truyền thống trong trang trí mỹ thuật cung đình Huế? Sơn truyền thống thường được sử dụng cho mục đích trang trí ngoài ra còn mục đích gì? Chất liệu của nó có bền chặt hay không? Những vật liệu gì phù hợp cho đề tài trang trí gắn kết sơn truyền thống? Các tác phẩm mỹ thuật sử dụng sơn truyền thống ở Huế với tư cách là kinh đô có khác gì với các địa phương khác? Tỷ lệ các kiến trúc, hiện vật được trang trí bằng sơn truyền thống so với các thể loại
và chất liệu khác ở Huế? Đội ngũ nghệ nhân thực hiện các sản phẩm thô, phác thảo (thợ mộc) và nghệ nhân sơn son thếp vàng? Hiện tượng sơn bị uốn cong
và bong tróc ra từng mảng? Lớp phủ trên có dát bạc bị phai nhạt để lại những mảng màu vàng và bạc chen kẻ lốm đốm? Tại sao không thếp vàng lá thay cho bạc lá? và tại sao phải trộn bột đá với đất phù sa trong các lớp hom? v.v
Từ đây các câu hỏi sẽ được trả lời thông qua các kết quả nghiên cứu phải đạt được là:
- Cho thấy rõ, sơn truyền thống góp phần tô đẹp kiến trúc và hiện vật
đồ sơn tại DTCĐH, hay nói cách khác sơn truyền thống có vai trò rất quan trọng trong nghệ thuật trang trí, bởi bề mặt của nền sơn được phủ lên một lớp sơn son và thếp vàng rực rỡ trong cung đình mỹ thuật thời Nguyễn
Trang 12- Sơn truyền thống đem lại giá trị thẩm mỹ và thăng hoa cho các họa tiết trang trí trong QTDTCĐH
- Bằng lý luận và lịch sử mỹ thuật đề tài được khẳng định và làm sáng
tỏ một số công trình đạt kết quả, bên cạnh một số bị hư hỏng của sơn truyền thống trong QTDTCĐH
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trong thực tiễn, tại các di tích lịch sử và DTCĐH có một nền tảng chung sử dụng chất liệu sơn truyền thống, nhưng chưa hẳn mỗi di tích đã có được sự thống nhất cao về kỹ thuật chế tác sơn, các công đoạn bó, hom, thí
mà mỗi nơi có kỹ thuật riêng tùy thuộc vào kinh nghiệm của người thợ sơn và nghệ nhân thời xưa cho đến bây giờ Vì vậy, nguyên nhân do đâu Làm thế nào để có thêm những căn cứ để xác lập, đánh giá và thẩm định chất lượng và quy trình chuẩn về sơn truyền thống? Vấn đề đặt ra là có thể tìm thêm những
cơ sở khoa học nào để đánh giá đúng hơn về giá trị bền vững của chất liệu, tránh sự ảnh hưởng không tốt từ nhiều phía như sơn sống có pha thêm dầu hỏa, sơn kém chất lượng trong thời gian thu hoạch v.v
NCS thấy rằng, trong quá trình hình thành phát triển những di sản văn hóa dân tộc Sơn truyền thống trong DTCĐH là một chất liệu mang tính trang trí rõ nét và đặc biệt, chứng tỏ khả năng dung hợp, khả năng tiếp biến văn hóa trong sự giao lưu với các nước lân bang thời bấy giờ Sơn và kiểu thức trang trí có sức sống mãnh liệt và chứa đựng khả năng tạo hình vô tận thông qua trí
óc và đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, họ tạo nên những giá trị đặc sắc trong mỗi họa tiết, hoa văn trang trí đậm bản sắc dân tộc và có giá trị nhân văn trong mỗi tâm hồn và trí tuệ của con người Việt Nam
Giả thuyết khoa học mà NCS đặt ra là: Trong quá trình thực hiện những
tác phẩm mỹ thuật thời Nguyễn nếu như không có chất liệu sơn truyền thống? Thử hỏi những công trình kiến trúc muốn làm đẹp và có tính bền vững thì sử
Trang 13dụng chất liệu gì để thay thế? Nên yếu tố quyết định để tạo ra sự bền vững và sản phẩm đẹp đó chính là mủ sơn, trải qua quá trình tinh luyện để trở thành sơn chín, sơn cánh gián, sơn quang, sơn phủ hoàng kim chúng đại diện sơn truyền thống để nói lên tiếng nói chung trong các di tích lịch sử và DTCĐH Hầu hết, sơn truyền thống được sử dụng để trang trí các kiến trúc, các hiện vật tại QTDTCĐH, những công trình vàng son rực rỡ hòa chung với những tác phẩm mỹ thuật của các chất liệu khác nhằm bổ sung và làm sang trọng mỹ thuật cung đình thời Nguyễn thời bấy giờ
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của nghiên cứu là so sánh, đối chiếu, đối sánh, liên
hệ, liên tưởng các hiện tượng sơn và kiểu thức trang trí cung đình mỹ thuật thời Nguyễn Ngoài ra NCS còn sử dụng những phương pháp khác ở mức độ nhất định trong luận án như
để tìm ra những điểm khác biệt giữa chúng về sơn phủ hoàng kim
5.2 Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Luận án sử dụng phương pháp liên ngành chính là phương pháp tiếp cận đa chiều các ngành khoa học khác nhau như Văn hóa, Sử học, Mỹ học, Dân tộc học và Nghệ thuật học…, nhằm tìm hiểu và khai thác các đối tượng cần nghiên cứu, bao gồm các kỹ thuật và thao tác sơn truyền thống cũng như nghệ thuật trang trí và lịch sử của nghề sơn
Trang 145.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu cho phép người nghiên cứu nhìn nhận vấn đề một cách chỉnh thể, từ đó rút ra những kết luận, những tổng kết, đánh giá về các vấn đề của chất liệu sơn truyền thống trong DTCĐH
5.4 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin
Phương pháp thu thập, xử lý thông tin, điền dã tại QTDTCĐH đối với chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí bằng quan sát ghi chép, đọc tư liệu, phiếu phỏng vấn người thợ sơn, các nhà quản lý phục vụ nghiên cứu và xử lý nguồn thông tin bằng phân tích tổng hợp
6 Những đóng góp mới của đề tài
Trên cơ sở học hỏi và kế thừa những kết quả nghiên cứu và lý luận của những đề tài trước đó, đề tài của NCS bước đầu tổng hợp, hệ thống và bổ sung trên cơ sở lý luận về sơn truyền thống thời Nguyễn NCS nhận thấy đề
tài Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí Quần thể Di tích cố đô Huế,
chưa có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Đây là cơ sở để đóng góp tính mới về lý thuyết có tính khoa học của đề tài, một hướng nghiên cứu cần thiết đối với chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật nói riêng và ngành Mỹ thuật nói chung
Ngoài ra, đề tài tập trung phân tích và tìm ra cái thẩm mỹ (cái đẹp) của mỗi công trình Sơn truyền thống đem lại giá trị thẩm mỹ của những kiểu thức trang trí trong DTCĐH
Nhận diện những tác phẩm mỹ thuật tạo hình có giá trị biểu cảm chất liệu sơn truyền thống rực rỡ bởi sắc màu đỏ, vàng và được xem đây cũng là tính mới trong luận án Đồng thời đề tài còn hướng đến phân tích cụ thể các tác phẩm nghệ thuật trang trí, đồ sơn bằng sơn truyền thống trên các biểu bảng
Trang 15Phân tích sự hài hòa giữa các tác phẩm mỹ thuật có sử dụng sơn truyền thống và các tác phẩm mỹ thuật thuộc các chất liệu khác tạo nên sự đa dạng
và phong phú mỹ thuật cung đình Huế
Và sưu tập, dẫn chứng những tư liệu quý hiếm của thời Nguyễn để có
cơ sở lý luận về sơn truyền thống, đó cũng là tính mới trong luận án
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu (10 trang), Kết luận (7 trang), Tài liệu tham khảo (12 trang) và Phụ lục (35 trang), nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận, tổng quan tình hình nghiên cứu về sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí QTDTCĐH (41 trang)
Chương 2 Những giá trị tiêu biểu nghệ thuật trang trí của sơn truyền thống trong QTDTCĐH (49 trang)
Chương 3 Bàn luận về những giá trị của sơn truyền thống có tính khoa học trong nghệ thuật trang trí QTDTCĐH (39 trang)
Trang 161.1.1 Khái niệm sơn truyền thống
Khi nói về sơn truyền thống trong các di tích lịch sử nói chung và nói riêng QTDTCĐH, chúng ta thử hỏi có biết bao nhiêu con người đã thấu hiểu đầy đủ về kỹ thuật và tên gọi của nó? Thật sự, mỗi khi chúng ta quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu về chất liệu sơn truyền thống mới thấy được giá trị thẩm mỹ của nó Thời Nguyễn, nhận biết sơn truyền thống trong mỗi công trình kiến trúc có vị trí vai trò rất quan trọng, nên đã sử dụng nó phủ khắp cung đình Chất liệu sơn truyền thống còn có tên gọi khác là sơn cổ truyền, sơn mỹ nghệ hay sơn ta Trong thực tế, thường nhật con người thường gọi là “sơn ta” nhiều hơn cụm từ sơn truyền thống, sơn mỹ nghệ vì tính chất của nó mang tính địa phương nhiều hơn, mặt khác để chỉ rõ sự khác biệt giữa sơn Tây, sơn Tàu, sơn Nhật và theo cách gọi dân gian ấy nhằm để phân biệt với sơn công nghiệp
hiện đại ngày nay
Những vết tích đầu tiên về sơn truyền thống ở Việt Nam đã được khai quật hàng trăm năm trước công nguyên Thời Đinh (930-950) đã biết sử dụng sơn truyền thống để sơn lên chiếc ghe thuyền vượt sông trong thời kỳ chiến tranh, không chỉ vậy nó còn được trang trí đồ sơn, hoành phi, ngai kiệu, án thờ và những kiến trúc cung điện nguy nga lộng lẫy Đứng trước những ưu điểm nổi bật đó nên sơn truyền thống là chất xúc tác cho con người thời bấy giờ phải trăn trở đón nhận và ứng dụng nó trong di tích thời Nguyễn
Sơn cổ truyền một lần nữa khẳng định sự khác biệt giữa sơn cổ truyền Việt Nam với các loại sơn khác như sơn Nam Vang của Campuchia, sơn
Trang 17Nhật, sơn Trung Quốc (Tàu) hoặc sơn hạt điều trong nước Thuật ngữ sơn truyền thống (sơn mỹ nghệ, sơn cổ truyền) được viết trên văn bản và sách vở, còn trong giao tiếp của người dân địa phương thường gọi là sơn ta, chúng vừa ngắn gọn, dễ hiểu Hơn nữa cụm từ “sơn ta” đã thấm sâu vào tâm hồn và ký
ức của mỗi người dân miền Bắc nói chung và nói riêng ở tỉnh Phú Thọ, nhất
là đối với sinh viên các trường Mỹ thuật có chương trình đào tạo chất liệu sơn truyền thống, cũng như đối với các nhà quản lý, nghệ nhân, người thợ trong công tác bảo tồn các di tích lịch sử Việt Nam và Quần thể di tích cố đô Huế
Vậy khái niệm sơn truyền thống, là chất liệu chuyên dụng trong các di tích văn hóa lịch sử Việt Nam Một chất liệu được chiết suất từ mủ cây sơn để tinh chế và trở thành các loại sơn quý hiếm làm đẹp di tích và bằng những kỹ thuật theo lối cổ truyền đã để lại cho di tích những dấu ấn sắc son về sơn thếp trong lòng của mỗi người thợ, quản lý và dân địa phương Ngày nay, sơn truyền thống (sơn cổ truyền ) trong đời sống thường nhật và trong các tác phẩm mỹ thuật có tên gọi khác đó là sơn mài Việt Nam
1.1.2 Một số thuật ngữ sơn truyền thống sử dụng trong DTCĐH
Thời Nguyễn, những thuật ngữ sơn truyền thống chỉ định rõ nét những nghề nghiệp tương ứng như Kim tượng ty (Ty thợ thếp vàng), Ngân tượng ty (Ty thợ thếp bạc) có nghĩa là chuyên thếp vàng, bạc lá trên các họa tiết trang trí; Tất tượng cục (Cục thợ làm nghề sơn thếp) chuyên sơn sửa và làm mới công trình kiến trúc có sơn son thếp vàng trên các kiểu thức; Họa tượng ty (Ty thợ vẽ) vẽ các họa tiết lên trên nền gỗ và nền sơn truyền thống, Mộc tượng ty (Ty thợ mộc), Long tú tượng ty (Ty thợ thêu rồng), Nề tượng cục (Cục thợ nề), Pháp lam tượng cục (cục thợ làm pháp lam)
Như đã trình bày, khái niệm sơn truyền thống và các tượng cục mở đầu cho việc nhận diện chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí, bởi những quy trình về kỹ thuật sơn đem lại những thủ thuật, thủ pháp biểu hiện
Trang 18trên các đồ vật, cấu kiện gỗ, ván tường hay cột trụ tạo thành những đồ sơn
có giá trị thẩm mỹ nhất định Sơn truyền thống khá phức tạp về mặt kỹ thuật, nên những thuật ngữ và khái niệm mang tính nghề nghiệp đặc thù Chúng có liên quan trực tiếp đến quy trình sơn truyền thống, sơn cổ truyền, son thếp, sơn quang bóng và nền cốt gỗ (vóc), hom bó, sơn son thếp bạc hay vàng, mài phẳng, khắc nét, lớp màu, chồng các lớp hom, lớp thí sơn Sơn ta, sơn chín rất cần thiết đối với DTCĐH nên NCS hệ thống một số thuật ngữ thường dùng trong quá trình thao tác của nghề sơn truyền thống ở DTCĐH cụ thể như sau:
- Cốt gỗ là nguyên liệu chính trong việc tạo tác thành nền mộc như các kiểu thức trang trí, những cấu kiện, hàng cột, ô hộc, ván tường, cơi trầu, án thờ, khánh thờ và kiệu võng
- Phất vải (phủ vải) trên nền gỗ của các sản phẩm, mục đích tránh sự co giản và tạo nền bám vững chắc cho lớp bó sơn, hom sơn
- Bó sơn là trát lên nền mặt gỗ có phủ vải hoặc không phủ vải một lớp sơn gồm sơn sống trộn với đất phù sa và mạt cưa
- Hom là công đoạn sử dụng sơn sống trộn với đất phù sa để hom lên những đồ sơn như câu đối, án thờ, khánh thờ, kiệu võng, long sàng để nơi mát mẻ và tránh ở vị trí khô nóng làm rạn nứt mặt hom
- Lót sơn là lót lên mặt hom nhiều lớp sơn sống làm nền
- Mài sơn là mài các lớp sơn (mài bó, hom, lót sơn, thí sơn) cho phẳng phiu bằng đá mài hoặc giấy ráp (giấy nhám)
- Thí sơn cũng như chồng lớp sơn, lớp màu lên trên nền vóc hoặc trên các họa tiết trang trí Hòa trộn màu son (đỏ) với sơn chín tô phủ lên bề mặt các kiểu thức, đồ sơn, hàng cột
- Vóc sơn có nghĩa là cốt gỗ được xử lý qua các công đoạn từ bó sơn đến thí son gọi là vóc
Trang 19- Sơn cầm, tô quét mỏng một lớp sơn cầm trên nền vóc có họa tiết để dát (thếp) vàng hay bạc lá
- Sơn thếp, thếp (dát) vàng bạc chính là sử dụng kim loại quý của nghề kim hoàn được người thợ dát mỏng Chúng được thếp lên các họa tiết trang trí hoặc đường viền, đường diềm của họa tiết trong và ngoài ô hộc
- Sơn quang (dầu) là nước sơn được phủ nhiều lần lên các cấu kiện gỗ
có hoặc không có kiểu thức trang trí Chúng tạo sản phẩm có độ bóng như công trình kiến trúc cung Diên Thọ và điện Long An
- Sơn phủ hoàng kim, loại sơn phủ trên bề mặt của vàng, bạc lá và trên nền màu son (đỏ)
- Sơn sống là một loại mủ sơn được chiết xuất từ cây sơn Phú Thọ
- Sơn cánh gián (sơn chín) được khuấy chín bởi sơn sống loại tốt (sơn giọi nhất) với nhựa thông để trộn với màu son (đỏ) tô phủ mặt nền và họa tiết trang trí trong QTDTCĐH
- Sơn then được tinh chế từ sơn sống trộn với bột sắt, tô phủ lên mảng tường, cột kèo có các họa tiết trang trí
- Sơn son thếp vàng có nghĩa kết hợp hai công đoạn sơn son nền và dát vàng hoặc bạc lá phủ hoàng kim
- Sơn ta (sơn mỹ nghệ, sơn cổ truyền, sơn truyền thống) chính là sơn sống, những cụm từ đó được sử dụng chung trong nghề sơn
- Sơn hạt điều, sơn Nhật được tinh luyện theo công nghệ hiện đại, ưu điểm nhanh khô, không bị lở loét da thịt người của thợ sơn; nhược điểm nhanh chóng bong tróc thành từng mảng, vì vậy trong DTCĐH không nên sử dụng hai loại sơn này
- Sơn mật dầu là lớp mật loãng, có màu nâu sẫm, nổi trên mặt sơn, rất khó khô và có khi không khô, công dụng pha chế và che chở các lớp sơn bên dưới như sơn giọi nhất, nhì, thịt
Trang 20- Dầu đồng là một loại dầu có sắc đỏ, như dầu nhựa thông
- Ngân châu có nghĩa là chất thuốc màu sắc đỏ, lấy lưu hoàng và thủy ngân chế thành, được hiểu như màu son (đỏ) ngày nay
- Thổ phấn châu, trong Hán Việt dịch thuật chữ thổ có nghĩa là đất (đất thó), còn từ phấn như phàm vật gì tán nhỏ gọi là phấn, châu là sắc đỏ Được hiểu là đất mịn có màu nâu đỏ (bột chu) để trộn với sơn sống và hom bó
- Phấn châu, Phấn có nghĩa là vật nghiền ra rất nhỏ gọi là phấn và châu
là sắc đỏ
- Khắc nét là dùng các loại đục bạt, vũm, tách có nhiều kích cỡ, sử dụng linh hoạt trong khắc chạm nông sâu họa tiết trang trí
- Vẽ nét chính là sử dụng bút lông có kích cỡ nhỏ, người thợ vẽ nét theo mẫu lên nền sơn son hoặc nền gỗ bằng chất liệu sơn then, sơn cầm; cụ thể từng chi tiết của họa tiết để sơn son thếp vàng, còn đối với vẽ nét chạm khắc sử dụng bút chì để vẽ nét thành họa tiết
1.2 Sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn
1.2.1 Khái quát về chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí di tích cố đô Huế
Thời Nguyễn tinh tế chọn Huế làm thủ phủ (1802-1945), kế thừa và phát triển mạnh mẽ những tinh hoa của các thời kỳ trước đó, nhất là thời Lý
So sánh với kiến trúc di tích của cả nước thì tuổi đời mỹ thuật cung đình thời Nguyễn còn non trẻ, chỉ có 143 năm hình thành xây dựng kinh thành, nhưng cũng vừa đủ để góp thêm tiếng nói của các chất liệu khác mà trong đó chất liệu sơn truyền thống và nghệ thuật trang trí nổi bật nhất Sơn truyền thống đóng vai trò chủ đạo trong kiến trúc DTCĐH, bởi giá trị nhân văn của nó biểu hiện rõ nét trên các kiểu thức trang trí Chúng vẫn còn gắn bó với các nhân chứng sống đó là “các kiểu thức trang trí” và “chất liệu sơn truyền thống ” được định hình cụ thể trong QTDTCĐH ngày nay
Trang 21Thuận Hóa (Huế) là nơi hội tụ các bậc tài năng, trí tuệ của cả nước Cùng với kiến trúc, điêu khắc, sơn cổ truyền hiện hữu khắp nơi, từ cung điện, đền miếu, đền đài lăng tẩm của vua chúa cho đến các đình, chùa, nhà thờ họ đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy Các vật dụng sinh hoạt từ trong cung đình cho đến dân gian như các gia đình quyền quý với những đồ sơn quen thuộc như hoành phi, câu đối, đáp, hộp, kiệu võng, án thư, sạp tủ đều được sơn cổ truyền tô điểm trang trọng, uy nghi Sơn cổ truyền Huế được sinh hoạt theo từng cụm gia đình, họ hàng theo kiểu cha truyền con nối như một số ngành nghề thủ công khác
Có thể nói cái nôi của nghề sơn truyền thống Huế tập trung ở các làng như Địa Linh, Triều Sơn, Tiên Nộn ở tỉnh Thừa Thiên Huế Trong đó làng Tiên Nộn - xã Phú Mậu - huyện Phú Vang cách thành phố Huế khoảng 10 km
về hướng Đông - Bắc, được xem là làng nghề sơn cổ truyền tại xứ Huế Vào thời vua Khải Định đã trưng dụng cụ Nguyễn Đức Bùi vào cung đình phục chế sơn son thếp vàng Trong kỹ thuật chế tác từ sơn sống làm ra sơn cánh gián để điều chế ra các màu, các loại sơn thì người thợ sơn đánh sơn rất vất
vả, công lao của họ được đền đáp bằng những công trình sơn truyền thống biểu hiện rõ nét trên những kiểu thức trang trí
Ngoài những kiến trúc có sử dụng chất liệu sơn truyền thống như Ngọ Môn, điện Thái Hoà và Thế Miếu… Thời Nguyễn, còn cho xây dựng nhà hát Duyệt Thị Ðường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Ðường, Minh Khiêm Ðường ở Khiêm Lăng, thành lập Thanh Bình Thư được sơn son thếp vàng lộng lẫy và kiểu thức trang trí phù hợp với chức năng diễn xuất của diễn viên tuồng dưới thời vua Minh Mạng Thành lập Ban Hiệu Thư dưới thời vua Tự Ðức chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng, những cơ sở được tô vẽ trang trí họa tiết bằng sơn truyền thống giàu tính dân tộc và được
Trang 22coi như toàn bộ công trình là một “khối thống nhất sơn” mạnh mẽ, đặc trưng
và sánh với các chất liệu khác cùng thời
Các công trình kiến trúc cung đình dưới thời Nguyễn theo lối dàn trải, không cao theo hướng vút lên bầu trời so với một số kiến trúc ở miền Bắc, nhưng kiến trúc thời Nguyễn có kiểu thức trang trí được phủ lớp sơn truyền thống độc đáo và nổi bật, bắt mắt nên tác giả Phan Thuận An trong bài viết
Kiến trúc cố đô Huế khẳng định “…Với vật liệu chính là gỗ, các cung điện
làm theo kiểu nhà kép, gọi là trùng lương trùng thiềm Trang trí nội ngoại thất đều rất phong phú bằng hình ảnh và thư văn chen kẽ nhau theo lối nhất thi
nhất họa Chạm trổ tỉ mỉ, công phu, tinh tế” [2, tr.37] Cho thấy, thời Nguyễn
đã chú tâm đến kiến trúc cung đình bằng nghệ thuật tạo hình độc đáo trong các chất liệu như khảm sành sứ, tranh gương, đúc đồng, đặc biệt chất liệu sơn truyền thống mà nổi trội hình chạm khắc cầu kỳ, chúng tôn vinh vẻ đẹp tạo hình lẫn nhau Ở đây mảng sơn truyền thống có mặt hầu hết ở nội và ngoại thất cung điện, xử lý thành thạo các thao tác, công đoạn trong phần kỹ thuật một cách có tính chủ động trong bộ tứ linh, tứ thời độc tôn Nghệ thuật trang trí với những kiểu thức được biểu hiện bằng sắc đỏ, vàng lộng lẫy, chúng sắc sảo, sinh động về đường nét; phải công nhận sự tìm tòi, sáng tạo tài hoa của các nghệ nhân thời bấy giờ Những kiểu thức ấy có sự tác động trở lại với đời sống mỹ thuật trong sự tiếp nhận thuộc tính tạo hình ở cung đình mỹ thuật
triều Nguyễn Tác giả Gia Bảo trong bài viết Những ý tưởng sáng tạo trong
hội họa đã trình bày “Hiếm thấy một chất liệu tạo hình khác có sự giao hòa
giữa cung đình mang đặc trưng như vậy” [6] Chính yếu tố về các dấu tích của
sơn truyền thống trong ở các đình, chùa, làng xã có tính tương đồng Điều đó phản ánh sự giao thoa giữa nghệ thuật dân gian và cung đình tạo ra một mạch thống nhất mạnh mẽ trong chất liệu sơn truyền thống
Trang 23Mỹ thuật thời Nguyễn, chú trọng đến sơn truyền thống với các họa tiết khắc chạm đã để lại những báu vật có giá trị thẩm mỹ của những tác phẩm nghệ thuật mang phong cách truyền thống, như hình tượng rồng, phượng, bát bửu, chữ viết trên các ô hộc Nghệ thuật cung đình hòa quyện cùng nhau tồn tại và phát triển, là điểm nhấn làm tôn lên các họa tiết trang trí Giai đoạn đầu phát triển trên cơ sở kế thừa mỹ thuật thời Lê, hình tượng rồng với họa tiết uốn lượn quen thuộc Thời Minh Mạng là giai đoạn hưng thịnh, nhà vua tiến hành cải cách hành chính, xác lập vương quyền, cải cách phong tục, phát triển kinh tế Trong quá trình phát triển ấy nhà Nguyễn đã biết tiếp thu có chọn lọc nền nghệ thuật Trung Quốc và phương Tây điển hình như kiến trúc lăng Khải Định
Họa tiết trang trí trên nền gỗ có sơn truyền thống ở di tích cố đô Huế, đòi hỏi có nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu đó Thời Nguyễn, hình thức tuyển dụng nhân công theo quy chế bắt buộc và có tính thường xuyên còn gọi
là thợ giản, thợ kén, thợ chọn mà tác giả Nguyễn Sĩ Giác nhận định “Phàm các thợ, hàng năm cứ tháng 12, liệu số lượng người cần dùng là bao nhiêu, dự định trước tâu xin gọi vào kinh; đến tháng giêng năm sau đòi vào kinh làm việc Nhưng trước đó phải tự cho các tỉnh có thợ, chiếu số thợ mà gọi, rồi tâu lên… đến tháng 7 trở về sau, sẽ liệu theo công việc nhiều hay ít, châm chước
giảm bớt số thợ cho về nguyên quán” [42, tr.569] Và trong Bộ sử Đại Nam
thập lục chính biên, Quốc sử quán thời Nguyễn tập VII có trình bày về thợ thủ
công của nhiều nghề và ghi nhận chính sách trưng tập của triều đình “Ai được triệu về Kinh công tác thì do Bộ Công lập danh sách tâu lên để miễn trừ thuế thân”
Trong Nội các triều Nguyễn, tập sách Khâm định Đại Nam hội điển sự
lệ (KĐĐNHĐSL) tập XV, có đoạn viết Lệ làm đồ sơn cho biết:
Trang 24Minh Mạng năm thứ 13 (1832), chuẩn y lời tâu rằng: Sơn son phủ ngoài, cứ mỗi lạng ngân châu pha với sơn sống, dầu đồng mỗi thứ 4 đồng cân 8 phân và sơn mặt dầu 2 đồng cân 4 phân; phủ ngoài mà bằng sơn sống trộn với phấn châu quét hai lượt xong, thì pha bằng 3 lạng 2 đồng cân sơn sống Sơn đỏ phủ ngoài, cứ 4 lạng ngân châu thì 3 lạng sơn sống, 8 lạng sơn mặt dầu và 2 lạng dầu thông; lót trong mà bằng sơn sống trộn với thổ phấn châu quét 2 lượt xong, thì pha bằng 2 cân 4 lạng 8 đồng cân sơn sống Sơn then phủ ngoài, cứ mỗi 2 lạng sơn sống thì 8 lạng sơn mặt dầu, 2 lạng dầu thông Còn như những chỗ hà hố, tuỳ theo sâu nông, liệu số sơn sống pha với mạt cưa mà trét, thì không ở lệ này [79, tr.94]
Những tư liệu quý hiếm trên đã chứng minh sơn truyền thống dưới thời Nguyễn có quy trình pha trộn rõ ràng Để hiểu rõ hơn về những thuật ngữ trong đoạn trích trên NCS giải thích về ngân châu, phấn châu, thổ phấn châu như sau ngân châu và phấn châu hiểu là một loại son đỏ (ngân châu = sắc đỏ, phấn châu = bột mịn màu đỏ) trộn với sơn sống có nghĩa là sơn cánh gián (sơn chín), nên tác giả Đào Duy Anh trong sách Hán - Việt từ điển có dịch nghĩa “Châu” chất thuốc màu đỏ, lấy lưu hoàng và thủy ngân chế thành [4, tr.498] Thổ phấn châu có nghĩa là một loại bột đất đỏ mịn trộn với sơn sống
để hom, lót
Qua quá trình tìm hiểu, sưu tập những tư liệu trong bộ KĐĐNHĐSL còn được lưu giữ ở thư viện tỉnh Thừa Thiên Huế quả thật khá mong manh về sơn truyền thống và kỹ thuật chạm khắc, vẽ nét họa tiết Tài liệu được trình bày ngắn gọn và tập trung ghi chép về số lượng và trọng lượng sơn Không thấy tài liệu ghi rõ kỹ thuật khuấy sơn, làm đồ sơn, sơn phủ ngoài và kỹ thuật khắc chạm nông sâu họa tiết Điều này rất hạn chế đối với những tác giả nghiên cứu và đối với NCS trong việc minh chứng tài liệu của đề tài luận án
Trang 25Nghệ thuật cung đình thời Nguyễn là tinh hoa, sáng tạo của thời đại, đại diện của dòng văn hóa phong kiến thời bấy giờ Dù có ảnh hưởng văn hóa phương Bắc, Nho giáo đậm nét, ảnh hưởng Chămpa, nhưng những ảnh hưởng
đó đã được Việt hóa bằng các họa tiết trang trí mang yếu tố văn hóa dân gian
và tạo nên vẻ đẹp bình dị, mộc mạc và sâu sắc của nền Mỹ thuật dân tộc Chính yếu tố đó QTDTCĐH đã được Uỷ ban Di sản Văn hóa thế giới (UNESCO) công nhận vào danh sách Di sản thế giới vào ngày 11 tháng
12 năm 1993 Kể từ đây, DTCĐH nâng tầm văn hóa lịch sử và trở thành những giá trị mới, thắm đượm màu sắc cổ kính của sơn son thếp vàng rực rỡ trong nghệ thuật trang trí cùng với chất liệu khác giàu tính biểu cảm trang trí
Trang trí Mỹ thuật của thời Lê - Trịnh hưng thịnh đã làm cơ sở cho chất liệu sơn truyền thống trong nghệ thuật trang trí cung đình thời Nguyễn phát triển mạnh mẽ trong các đề tài hoa lá, chim thú Mỗi đơn nguyên họa tiết trang trí được người thợ chắt lọc và đơn giản chủ đề, nhưng khúc chiết từng chi tiết của mỗi họa tiết, ưu điểm của họ chuyển tải những thảo mộc, chim thú
ở thiên nhiên thành chủ đề có sức thuyết phục trong nghệ thuật tạo hình trang trí Mỹ thuật cung đình thời Nguyễn phát triển từ cuối thế kỷ XIX cho đến ngày nay, trải qua những thăng trầm của lịch sử nhưng chất liệu sơn trong nghệ thuật trang trí vẫn tồn tại bởi sắc màu vàng, son rực rỡ Chúng tạo nên những dấu ấn theo thời gian của bao đời nay, trong chất liệu pháp lam, thêu thùa, đúc đồng, khảm sành sứ có giá trị văn hóa tâm linh trong đời sống cung đình và chúng đã trở thành chất liệu không thể thiếu trong QTDTCĐH với việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể của mỹ thuật cung đình thời Nguyễn
Vua Gia Long chọn Huế làm kinh đô đã chú trọng đến trang trí nội và ngoại thất cung điện trên nền gỗ bằng kỹ thuật sơn truyền thống, cùng với công việc đục đẽo, chạm trổ tỉ mỉ các họa tiết long - lân - quy - phượng, mai -lan - cúc - trúc, chữ viết và bát bửu sắc sảo, biểu hiện sự điêu luyện và công
Trang 26phu của người thợ trên các nét vẽ, hình khối, bố cục và màu sắc tạo điểm nhấn riêng biệt Một số công trình sơn thếp trong di tích cố đô Huế còn được lưu giữ từ những năm 1802 đến nay, số khác do điều kiện khách quan đã hư hỏng theo thời gian, có những công trình được khôi phục mới hoàn toàn, còn một số khác sơn sửa nhiều lần Chính yếu tố này đã làm hạn chế việc nghiên cứu và khẳng định giá trị gốc của sơn truyền thống, từ đó việc quản lý, bảo tồn các lớp sơn của chất liệu sơn truyền thống gặp khó khăn nhất định
Những tư liệu có nguồn gốc của chất liệu sơn đáng tin cậy được trưng dụng trong luận án, tuy có một số tư liệu còn hạn chế nói về giá cả, mua nộp sơn trong nghiên cứu nhưng NCS vẫn mong muốn truyền tải để làm sáng tỏ
đề tài sơn truyền thống Trong tư liệu nội các triều Nguyễn có tập sách Khâm
định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL) tập XV, quyển 244-262: “ Ở thời
Minh Mạng năm thứ 10 (1829) trong lệ sơn, Bắc Thành mua nộp sơn sống mỗi bát đồng công giá 1 quan; dầu phủ mặt mỗi bát giá 4 quan; sơn sống mỗi bát giá 1 quan 6 tiền Năm thứ 15 (1834), Gia Định mua nộp sơn sống mỗi cân giá 1 quan 2 tiền ” [79, tr.508] Tài liệu này cho biết lệ sơn được thu mua từ các huyện thành khắp cả nước về kinh thành, mỗi nơi có giá sơn khác nhau với số lượng khá nhiều, chứng tỏ nhu cầu sử dụng sơn sống rất lớn trong công việc tu sửa tại di tích của thời Nguyễn
Thời Nguyễn, lệ làm đồ sơn trong thời kỳ vua Minh Mạng năm thứ 13 (1832) thật sự rõ ràng và cần thiết, công việc sơn son phủ ngoài làm đẹp các cấu kiện gỗ và họa tiết trang trí, nên nhà vua khẳng định “Sơn son phủ ngoài,
cứ mỗi lạng ngân châu pha với sơn sống, dầu đồng mỗi thứ 4 đồng cân 8 phân
và sơn mật dầu 2 đồng cân 4 phân” [79, tr.94] ở đây cho biết giá cả sơn rõ ràng mạch lạc, cứ chiếu theo lệ để chi trả công bằng công sức người thợ hoặc giá cả trong buôn bán phù hợp NCS cho rằng ở cụm từ “mỗi lạng ngân châu pha với sơn sống, dầu đồng” được làm sáng tỏ như sau, ngân châu có sắc tố
Trang 27màu đỏ có nghĩa như màu son (đỏ) ngày nay, pha trộn với sơn sống có nghĩa pha trộn với sơn chín (sơn cánh gián ), còn từ dầu đồng có nghĩa là chất phụ gia của sơn sống Sau khi đánh (khuấy) sơn sống trộn dầu đồng (được hiểu nghĩa dầu bóng, nhựa thông, tùng hương) vào sẽ trở thành sơn chín Như vậy, chiếu theo tài liệu thời Nguyễn chúng ta nhận biết được sơn sống ở đây phải hiểu là sơn chín (sơn cánh gián) trộn với ngân châu tức là màu son để sơn phủ bên ngoài làm đẹp nền để tô vẽ họa tiết trang trí
Nguyên liệu vàng lá, bạc lá có chức năng bổ sung sự khiếm khuyết của màu bằng sắc sáng rực rỡ của nó, cũng là phương tiện diễn đạt vẻ đẹp bên ngoài trên các họa tiết trang trí Ở thời Nguyễn, thếp vàng bạc là nguyên tố được đánh giá sang trọng, quý phái trong cung điện, vàng bạc chứng minh thêm một tư liệu quý hiếm trong công việc thếp phủ ở di tích thời Nguyễn Tư liệu cho biết lệ thếp phủ vàng bạc ở mức chi trả, không bàn luận đến kỹ thuật thếp?; khi trang thếp xong thực chi hết bao nhiêu ở công sở Nội tạo thì làm sổ khai tiêu, ở công sở Vũ khố thì làm đơn khấu trừ, chưa có định lệ, cho đến thời vua Thiệu Trị năm thứ 4 (1844), chuẩn y “ từ nay… cần thếp hoặc phủ vàng, bạc, nếu ở công sở Vũ khố thì do hội đồng 4 nha ở Vũ khố; nếu ở công
sở Nội tạo thì do hội đồng 4 nha ở Nội vụ…” [79, tr.95]
Việc sơn phủ ngoài, lệ sơn hay thếp phủ vàng bạc dưới thời Nguyễn, cần có người thợ chuyên trách nghề sơn truyền thống, người thợ sơn nòng cốt tạo ra những tác phẩm theo quan điểm và ý niệm của vua Ông ban sắc lệnh trả công người thợ hằng tháng và kết hợp giữa tiền với gạo, tài liệu trong KĐĐNHĐSL tập XV, tiêu đề Lại dịch và Công tượng vua Thiệu Trị năm thứ
2 (1842), bàn định: “….thợ sơn, từ tháng giêng đến tháng 6 mỗi tháng mỗi người 1 quan, gạo 1 phương, từ tháng 7 về sau đến hết năm mỗi người mỗi tháng 5 tiền, gạo 1 phương” và “thợ vẽ hiện số dương làm việc từ tháng giêng đến tháng 12 mỗi người mỗi tháng tiền 1 quan, gạo 1 phương, thợ khéo giỏi
Trang 28thì 1 quan 5 tiền, thợ khéo vừa thì 1 quan, thợ kém thì 5 tiền” [79, tr.174], công trình này cho biết về việc triều đình có chính sách đãi ngộ đối với các phường thợ nói chung, có cả thợ sơn và thợ vẽ nhằm trả công lao xứng đáng đúng theo mức quy định một cách rõ ràng, công bằng
Ông Tôn Thất Sa xuất thân trong gia đình Hoàng tộc, ông hiểu giá trị của di sản nghệ thuật của cha ông hơn bao giờ hết, ông ý thức tầm quan trọng
và trách nhiệm đó nên ông miệt mài vẽ lại những cung điện, lăng tẩm, chùa chiền, cổng thành, phong cảnh và chú trọng những kiểu thức trang trí long lân quy phượng, áo mão của vua và các ông hoàng bà chúa ở trong tập sách B.A.V.H và tập L'Art à Hué còn nguyên gốc được lưu giữ tại Thư viện Trường Đại học Nghệ thuật, Đại học Huế Những họa tiết trang trí, tranh vẽ của ông còn lưu truyền cho đến ngày nay, đó là cơ sở bảo tồn các giá trị nghệ thuật trang trí trong DTCĐH
Đặc trưng của mỹ thuật cung đình thời Nguyễn là phô diễn những kiểu thức trang trí rực rỡ sắc màu bởi sơn truyền thống Yếu tố thẩm mỹ trong trang trí là nhu cầu thiết yếu của vua chúa mong mỏi làm đẹp cung điện, lầu gác, hàng cột, đồ sơn và các cấu kiện gắn liền với họa tiết hoa văn trang trí… cho đến các lăng tẩm được chạm khắc, tô son thếp vàng bao phủ cả nội ngoại thất Đặc biệt họa tiết rồng, phượng là điểm nhấn cùng với hình tượng rùa và lân để trở thành bộ tứ linh đầy đủ yếu tố tâm linh, ngoài ra các họa tiết hoa mai, lan, cúc, trúc… cùng với những báu vật bầu rượu, túi thơ, thanh kiếm, cuốn thư, đồng tiền…được hợp thành từng bộ gọi là tứ quý, bát bửu và chúng
có ý nghĩa chúc tụng các thành quả cao quý của Nho giáo
PGS Chu Quang Trứ trong nghiên cứu về Văn hóa mỹ thuật Huế đã
bàn luận đánh giá công trình Thế Miếu như sau “ Chiếc án thờ thếp vàng choáng rực với những ô hộc nhô ra các hình trang trí tinh xảo, mỗi hình là một tác phẩm điêu khắc” [117, tr.78] Qủa thật như vậy, những án thờ là kiệt
Trang 29tác của những tác phẩm khắc chạm, mỗi đơn nguyên họa tiết đầy sự sáng tạo
có ưu điểm không trùng lặp nhau Và những án thờ còn có nhiều ô hộc thơ văn sắp xếp đan chen phong cảnh, bát bửu với hai sắc màu đỏ vàng rực rỡ Trên những liên ba đố bản đồ sộ về kiểu thức, toàn bộ khung gỗ nội thất của điện được sơn son và làm nền cho họa tiết trang trí rực sáng Những án thờ tuy nhỏ bé so với không gian Thế Miếu, nhưng toát lên khí phách và linh hồn của các vị vua gửi gắm vào những họa tiết trang trí điển hình rồng và phượng như một tác phẩm nghệ thuật của Hoàng tộc
PGS.HS Vĩnh Phối trong nghiên cứu Những kiểu thức trang trí Huế
nhận định “Kiểu thức trang trí Huế rất phong phú và đa dạng…Những kiểu thức truyền thống, công thức mẫu mực, chúng ta thường gặp được trang trí khắp nơi Nổi bật nhất là bộ tứ linh, là những kiểu thức tượng trưng thiên liêng mang tính đặc trưng của mảng trang trí Huế” [83, tr.116] Thời Nguyễn hình tượng rồng đứng đầu trong bộ tứ linh được vua chọn làm biểu tượng về quyền uy và sức mạnh của mình được biểu hiện trên ngai vàng, thân cột, kiệu võng, Hoàng bào và long sàng Hình tượng phượng được trình bày độc lập trên chiếc áo của Hoàng hậu, lồng ghép trên các họa tiết trang trí ở các dạng ô hộc của đồ sơn hoặc trên những tấm bia đá Bộ tứ thời (mai, lan, cúc, trúc) thuần túy hóa thân trên những kiểu thức ở các ô hộc là điểm nhấn bắt mắt cùng với chất liệu sơn truyền thống Rõ nét nhất ở điện Ngưng Hy sơn truyền thống biểu đạt trong tác phẩm có cảnh sinh hoạt của 24 đồ bản (24 câu chuyện) vẽ về điển tích “Nhị thập tứ hiếu” được làm bằng sơn khắc độc nhất
vô nhị của sơn truyền thống, lột tả được tính độc đáo của chất liệu sơn, nên
tác giả Phan thuận An trong bài viết Kiến trúc cố đô Huế đã nhấn mạnh “Điện
Ngưng Hy đã bảo lưu được nền, chất liệu sơn mài truyền thống của dân tộc”
[2, tr.129]
Trang 30Nghệ thuật trang trí QTDTCĐH, cho chúng ta nhận biết được hệ thống trang trí kiến trúc có quy mô rộng lớn của một thời kỳ Những đề tài có kiểu thức trang trí được phô diễn bởi kỹ thuật sơn và chạm khắc, chúng được làm
từ gỗ mộc mềm dễ dàng cho việc chế tác thành những hình dạng khối mảng, tạo thành những họa tiết khúc chiết và tỉ mỉ Những họa tiết ấy có một mối liên kết chặt chẽ giữa ý tưởng của người thợ cưa xẻ, thợ mộc, thợ chạm, thợ tiện và thợ sơn son thếp vàng Tuy cùng một đối tượng phục vụ nhưng mỗi nghề thủ công hoạt động một cách độc lập, trong đó kỹ thuật đục đẽo, chạm khắc và thợ vẽ đều xử lý bằng ngôn ngữ tạo hình họa tiết trên chất liệu gỗ mềm đó Bộ công đã duyệt các đề án kiến trúc của triều đình, người thợ cưa
xẻ gỗ theo ván và khối đúng yêu cầu, còn việc tạo hình họa tiết trang trí phụ thuộc vào chủ nhân thợ vẽ, thợ chạm trổ sẽ bao quát từ tạo hình cho đến đục đẽo kiểu thức trang trí và cuối cùng chuyển sang thợ sơn Sơn truyền thống tô
vẽ, sơn phủ trên cấu kiện gỗ hay những kiểu thức trang trí được xem như hoàn tất công việc được giao Với tinh thần yêu nước, lòng hăng say nghề nghiệp những người thợ đã đem hết khả năng tư duy, mong muốn có vẻ đẹp lộng lẫy cho cung điện, lăng tẩm Ngày nay, các thế hệ con cháu chúng ta được thụ hưởng một di sản văn hoá khá đồ sộ về quy mô, về các loại hình, nên bổn phận chúng ta có nhiệm vụ bảo tồn các vật thể ấy
Phải nói rằng trong QTDTCĐH đối tượng thợ mộc, thợ điêu khắc và thợ sơn là một bộ phận khăng khít, không thể tách rời nhau Họ hành nghề theo quy tắc tập trung dưới sự quản lý của triều đình nhà Nguyễn Mỗi người thợ có công cụ biểu đạt nghề nghiệp riêng, yếu tố thành công của họ bằng cả tâm nghề, sự khéo léo trên đôi bàn tay, có cả phần kỹ xảo và tài năng riêng biệt của mỗi cá nhân, cộng thêm yếu tố giàu kinh nghiệm, thành thạo nghề và
cả sự khổ luyện Suy cho cùng, trình độ của mỗi người thợ là sự phối hợp chuẩn mực giữa cảm quan thẩm mỹ và trí tuệ, kết hợp đôi bàn tay vàng điêu
Trang 31luyện cùng với những cây cọ vẽ và những chiếc đục chuyển động thoăn thoắt trên mỗi mẫu thức trang trí ấy
Trong QTDTCĐH, nghệ thuật trang trí khá phong phú và đa dạng của mỗi thể loại Chúa Nguyễn chú trọng tâm linh, tín ngưỡng và đã cho xây dựng một ngôi chùa nhỏ trong Hoàng thành đó là Phước Thọ Am (Khương Ninh Các) ở phía Tây Bắc của cung Diên Thọ, vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831) Đây là công trình để các thái hậu, hoàng hậu và cung phi thường đến tụng kinh, giữ tâm thanh tịnh, cầu nguyện an lành Nơi đây thờ tự Thần, Phật, Quan Công và 10 vị Thập điện Minh Vương có họa tiết trang trí rồng, vân mây và lửa bằng chất liệu sơn truyền thống; Thánh Mẫu Thiên Y A Na thờ phía mặt sau, được tô phủ lớp sơn truyền thống màu đỏ của yếm và áo bên ngoài màu lục đậm có khắc chìm họa tiết vân mây, phượng; 2 tượng Tổ của nghề hát bội tô sơn truyền thống Hình tượng ngựa cũng làm bằng sơn truyền thống với các họa tiết rồng mặt ngang, sóng nước, đồi núi và kết hợp tua Ba hình tượng nữ của Ban Hội đồng được tô vẽ sơn truyền thống, trong đó hình tượng 3 bà có lối trang phục màu khác nhau: bà ở chính giữa là màu đỏ, bên
tả màu lục đậm, bên hữu màu vàng, họ có chung một điểm giống nhau đó là
mô tả hình tượng phượng ở chính giữa thân áo và tay áo , vẽ những vầng mây xung quanh áo cùng với sóng nước và đồi núi dưới thân đủ màu sắc, còn
ba chiếc mũ, 3 đôi hia cũng được sơn truyền thống hài hòa chung
Thời Nguyễn đã đạt được những thành tựu to lớn về sơn truyền thống trên các họa tiết trang trí, chúng có mặt khắp nơi trong QTDTCĐH Đây là thế mạnh của thời Nguyễn đã chứng minh những sản phẩm trên các ô hộc, đồ sơn, di vật và được đánh giá là mạch chảy mỹ thuật cung đình trong suốt thời gian trị vì Để giải quyết câu hỏi NCS đặt ra là tỷ lệ các kiến trúc, hiện vật được trang trí bằng sơn truyền thống so với các thể loại và chất liệu khác ở Huế? NCS chứng minh những đồ sơn, hiện vật và đặc biệt họa tiết trang trí
Trang 32như bát bửu, chữ viết, hoa lá, hình tượng rồng/rồng hóa chỉ có ở điện Thài Hòa, còn ở Hưng và Thế Miếu như điện Thái Hòa và bổ sung lân, quy, phượng ở nội và ngoại thất trong QTDTCĐH đã có số lượng kiểu thức trang trí bằng sơn truyền thống nhiều so với các chất liệu khác cùng thời và theo bảng thống kê dưới đây cho thấy công trình điện Thái Hòa, Hưng Miếu và Thế Miếu chiếm tỷ lệ họa tiết trang trí cùng với sơn truyền thống phổ biến, còn các cấu kiện có sơn phủ khá dày đặc nên NCS không thống kê trong các biểu bảng này và có thể để nghiên cứu nó về sau
Bảng 1 Thống kê các họa tiết trang trí bằng sơn truyền thống
Tên các họa tiết Điện Thái Hòa Hưng Miếu Thế Miếu
3 Tứ linh
Hưng Miếu
Hiển Lâm Các
Phước Thọ
Am (Khương Ninh Các)
Điện Long
An
1 Nội thất
Trang 34mô tả thiên văn, tinh tú, cỏ cây, hoa lá chim muông và phong cảnh đất nước bằng kỹ thuật đắp nổi Tất cả chúng được đánh giá là một tác phẩm toàn cảnh, tôn vinh nghệ thuật trang trí và làm phong phú cho sơn truyền thống trỗi dậy trong các kiểu thức trang trí NCS thống kê trong QTDTCĐH có đến 52 công trình, nhưng trong đó có hơn 29 công trình kiến trúc cung đình được làm bằng sơn truyền thống và nghệ thuật trang trí chiếm tỷ trọng khá đồ sộ so với các chất liệu khác
Trong tập sách Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự
lệ (tập V) có ghi chép việc trả công cho người thợ “…Thợ sơn, thợ đắp tượng
từ tháng giêng đến tháng 6 mỗi tháng mỗi người tiền 1 quan, gạo 1 phương và
từ tháng 7 về sau đến hết năm mỗi người mỗi tháng tiền 5 tiền, gạo 1 phương” [80, tr.174] Tác giả Trần Quốc Vượng (chủ biên), Đỗ Thị Hảo trong bài
nghiên cứu đã khẳng định “Có con người là có thủ công” [123, tr.9] Vì vậy,
dưới thời Nguyễn việc quản lý, tuyển dụng, trông coi người thợ sơn được đặt lên hàng đầu, thời Nguyễn thành lập và tổ chức các tượng cục (tượng cục là một bộ phận thợ hay nơi làm việc của thợ) trong triều chính hết sức cấp bách,
Trang 35vì vậy tác giả Phan Huy Lê trong bài viết Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
cho rằng “… các chúa Nguyễn đã tập hợp người thợ theo từng nghề được gọi
là tượng cục, ứng với mỗi nghề thì gọi là ty hay đội ” [64, tr.141] Bắt nguồn
từ đó, tượng cục được coi như là một tổ chức của thợ thủ công để tập hợp thợ, hay nói cách khác tượng cục là một tổ chức thợ theo từng chuyên môn như Mộc tượng ty (Ty thợ mộc), Long tú tượng ty (Ty thợ thêu rồng), Kim tượng
ty (Ty thợ thếp vàng), Họa tượng ty (Ty thợ vẽ), Nề tượng cục (Cục thờ nề), Tất họa tượng cục (Cục thợ vẽ sơn) Những Ty, Cục có nhiệm vụ điều hành các công việc được giao và sớm hoàn thành để dâng báo công trạng với vua, thành tích ấy được khẳng định trên các công trình kiến trúc sơn son thếp vàng
có giá trị về mặt niên đại lịch sử
Thời Gia Long, chức năng của tượng cục rất cần thiết Năm 1791 có đến 62 tượng cục, thời Minh Mạng cho thiết lập một số tượng cục mới như pháp lam, đúc vàng bạc và cho đổi các đội thợ ở kinh đô thành tượng cục thợ
vẽ kể từ năm 1823 Từ đó công việc người thợ vẽ họa tiết trang trí, khắc chạm, thợ sơn, tu sửa từ công đoạn thô đến lớp sơn thếp của công trình sơn truyền thống trong di tích cố đô Huế diễn biến theo chu kỳ thời gian Tác giả
Phạm Văn Kính trong bài Vài nét về thủ công nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XIX, có trình bày “…Tổng cộng tất cả có khoảng 100 cục thợ tức là khoảng
100 loại thợ làm việc trong các quan xưởng” [61, tr.64]; HS Phạm Đức
Cường nghiên cứu Kỹ thuật Sơn mài có đoạn “Các thợ giỏi được các triều
đình phong kiến lúc bấy giờ thu nạp vào cung điện nhà vua để phục vụ” [28, tr.9] Họ là những người thợ thủ công khắp mọi miền đất nước không ngại khó khi được Bộ công thời Nguyễn thu nhận về làm thợ sơn, họ có tay nghề điêu luyện được đúc kết từ ông cha truyền lại và được các làng nghề đánh giá bậc thầy, họ ra sức đóng góp công lao, trí tuệ vào công trình sơn truyền thống trong di tích cố đô Huế Và theo PGS Đặng Quý Khoa trong bài nghiên cứu
Trang 36Hãy giữ lấy cội nguồn cảm xúc thẩm mỹ đã khẳng định “Những sáng tạo của
các nghệ nhân mang sức sống hồn nhiên của mọi miền đất nước” [57, tr.168]
Trong nghiên cứu cho thấy vua Gia Long, Minh Mạng có cùng tâm nguyện, hoài bão và có chí hướng xây dựng giang sơn kinh thành, bằng nội lực và vật lực phục vụ cho triều đình Vua chú trọng quy tụ nhân tài của cả nước và không phân biệt người giàu hay nghèo trong công việc sơn sửa đồ
sơn, bởi vậy trong tập sách Đại Nam thực lục chính biên có đoạn viết về lời
thỉnh cầu của vua “Hiền tài là đồ dùng của nhà nước, cho nên ngoài khoa mục
ra phải nhờ có cử tri Trẫm mới nối ngôi, mưu toan gắng gỏi, rất muốn trong triều có nhiều người giỏi, ngoài nội không sót người hiền, để tô điểm, mưu toan vang lừng đức hoá Vậy ra lệnh cho các quan đề cử một, hai người có đức hiền lành, ngay thẳng và có văn học, không kể nhà sang hay hèn, đều kê tên tâu lên” [96, tr.49]
Câu hỏi NCS đặt ra về đội ngũ nghệ nhân thực hiện các sản phẩm thô, phác thảo (thợ mộc) và nghệ nhân sơn son thếp vàng? Đã được giải đáp ở đây cho biết sự thành công của thời Nguyễn, đã quy tụ những người thợ giỏi,
có tài năng, có trí tuệ về cống hiến Một đội ngũ khá hùng hậu được trưng dụng không những giỏi mà còn có tâm huyết với nghề sơn trong vai trò làm ra những sản phẩm thô, những đồ sơn, cấu kiện, sơn son thếp vàng phục vụ cung đình Vai trò của họ luôn được xã hội và vua chúa trọng vọng ở mỗi vị trí cụ thể trong từng phường, làng nghề và di tích lịch sử Họ được đánh giá có tay nghề cao so với những người có tay nghề bình thường, bởi họ đã đem lại những giá trị văn hoá, thẩm mỹ trong chất liệu sơn truyền thống làm nên những điều kỳ diệu trong di tích, tưởng rằng hiệu quả của nó không đạt theo mong muốn thời bấy giờ, nhưng thực tiễn cho thấy nghệ thuật trang trí có sử dụng sơn truyền thống ngoài sự mong đợi và kết quả đạt mỹ mãn Dưới thời
Lê, người ta cho rằng trong triều đình nếu thiếu một trong hai yếu tố về sơn
Trang 37truyền thống và thợ sơn thì công trình chất liệu sơn truyền thống được xem như có xác mà không hồn Khẳng định điều đó là sự tôn vinh công lao của
những người thợ, nên trên tấm bia đá Thuỷ tạo đình bi (1686) ở làng Thổ Hà,
Vân Hà, Việt Yên (Hà Bắc) có khắc “Việc tiền công tòa Long môn (tiền công trả cho thợ làm sơn) sơn son, thếp vàng là 200 quan bằng tiền công thợ mộc làm cả ngôi đình” [10]
Yếu tố nghệ thuật dân gian được thể hiện trong cung đình thời Nguyễn bắt nguồn từ tình yêu dân tộc, yêu đất nước với vẻ đẹp nên thơ, lối tạo hình truyền cảm kết hợp với chất liệu truyền thống ấm cúng và trang nghiêm Nó mang hơi thở gần gũi đời sống chân chất của người dân và đặt trọn tình cảm sâu đậm trong kiểu thức trang trí Nghệ nhân luôn đặt niềm tin vào sự sáng tạo ra các mẫu thức trang trí theo thông tục, dễ gần gũi và coi trọng công sức lao động nghệ thuật của những người thợ thủ công Đánh giá về điều này
GS.TS Trương Quốc Bình nghiên cứu Về công cuộc bảo vệ và phát huy quần
thể di tích lịch sử và văn hoá Cố đô Huế, có nhận xét “ Với tình cảm sáng
tạo và chiều sâu tâm thức đậm nét, các nghệ nhân luôn giữ lại yếu tố tích cực
đã từng phát triển rực rỡ trong dân gian” [16, tr.12] và tác giả Trần Lâm Biền khi nghiên cứu Huế, Mỹ thuật Nguyễn, Những cái riêng đã đánh giá “Đến
Huế, tôi được áp sát những biểu hiện đúng là cung đình nhưng không hoàn
toàn gián cách với nền mỹ thuật dưới triều Nguyễn” [11, tr.177]
1.2.2 Vai trò của sơn truyền thống trong các công trình kiến trúc tiêu biểu di tích thời Nguyễn
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho triển khai quy họach tổng thể và xây dựng hệ thống các công trình kiến trúc cung đình thời Nguyễn tại Phú Xuân, phần lớn kiến trúc xây dựng theo đường trục Dũng Đạo, hướng Nam tiến Phong thủy của kinh đô Phú Xuân có dòng sông Hương với thượng nguồn nước chảy ra biển cả, phía Nam có núi Ngự Bình, phía Đông có biển,
Trang 38phía Tây có dãy núi Trường Sơn che chắn thuận lợi cho việc quốc thái dân an Trong đó vua chú tâm vai trò của sơn truyền thống có chức năng làm đẹp cho vương quyền, mặt khác mô tả các họa tiết trang trí đặc sắc Mỹ thuật thời Nguyễn giữ được nét riêng, tính độc đáo về kiến trúc và chất liệu sơn truyền
thống đã được tác giả Trần Lâm Biền khẳng định trong nghiên cứu Huế, Mỹ
thuật Nguyễn, Những cái riêng đã cho rằng “…Cung điện và lăng tẩm của
Huế vẫn có cái riêng của chúng Cái riêng ấy của Huế phải chăng chính là chất cung đình trong Mỹ thuật Nguyễn” [11, tr.177]
Dưới thời Nguyễn, vai trò của chất liệu sơn truyền thống không thua kém với các chất liệu khác, thậm chí nó còn lấn lướt cả không gian triều đình Nguyễn, biểu hiện như một nét riêng và thế mạnh về sơn, nghệ thuật trang trí
mà chỉ có giai đoạn này mới có được của cung đình mỹ thuật Nguyễn Sơn truyền thống đã góp phần làm tăng thêm giá trị thẩm mỹ về nội dung cũng như hình thức ở một số công trình tiêu biểu, nổi bật dưới đây:
1.2.2.1 Ngọ Môn (1833)
Ngọ Môn (Nam Khuyết Đài) là cửa ngõ phía nam của Hoàng thành thời Nguyễn, nên việc tô son thếp vàng là điều kiện tất yếu Kiến trúc Ngọ có đến 100 hàng cột, trong đó có 48 trụ cột vươn cao nối trực tiếp đến tầng trên
là lầu Ngũ Phượng, tượng trưng vua cha (trời), biểu tượng về sức mạnh của người cha trời truyền sinh khí cho người mẹ là đất và không gian ở giữa dân gian Người thợ sơn, thợ vẽ làm đẹp Ngọ Môn bằng những tư duy, tình cảm dân tộc được thể hiện trên họa tiết trang trí với chất liệu sơn truyền thống Họ gia công tỉ mỉ các lớp sơn để có những hàng cột được tô điểm sắc son, không
vẽ họa tiết trên các hàng cột, người thợ chỉ vẽ họa tiết rồng hóa cúc và phủ sơn son thếp vàng ở các vì kèo, cấu kiện gỗ Theo tác giả Trần Lâm Biền
trong nghiên cứu Vài cảm nhận qua một lần tới Huế, Huế di sản và cuộc sống khẳng định “…Ngọ Môn rất khác Thiên An Môn về nhiều mặt…, vẫn không
Trang 39hoàn toàn chế ngự được mạch mỹ cảm dân tộc vốn thấm nhuần con mắt và bàn tay của người thợ thi công” [13, tr.187] Ngọ Môn được trùng tu lại nhiều lần và mới gần đây vào năm 2013, TTBTDTCĐH tiếp tục bảo tồn toàn bộ kiến trúc của Ngọ Môn và đến năm 2016 cơ bản đã hoàn thành phần kiến trúc
gỗ, còn kỹ thuật sơn truyền thống trên ván tường, hàng cột và một số kiểu thức trang trí ở các đầu hồi đang trong giai đoạn thi công đến năm 2017 vẫn chưa hoàn thành
1.2.2.2 Điện Thái Hoà (1805)
Điện Thái Hoà là công trình nghệ thuật trang trí quan trọng bậc nhất của cung điện, toạ lạc sau Ngọ Môn, Điện là nơi vua thiết triều, bàn luận và trông coi việc đại sự với các cận thần Nội thất của Điện được trang trí Ngai vàng và bửu tán bằng sơn truyền thống và kiểu thức trang trí hình tượng rồng Ngai vàng là nơi vua yết triều được đặt trọng tâm chính giữa, tay cầm, thân ghế của ngai vàng được các nghệ nhân tài hoa chạm khắc rất tinh xảo những họa tiết vân mây và hình tượng rồng Đặc trưng của Bửu tán là một hệ thống rèm được chạm lộng cầu kỳ, tinh tế với hình tượng rồng đan xen vân mây uốn khúc hoặc rồng chầu Hổ phù (con Qùy), cùng với đường diềm có kết hợp tua rất khéo léo, đặc biệt các họa tiết ở đây được dát vàng lá thuần tuý không phủ hoàng kim và không tô son, tôn vẻ đẹp trang nghiêm ở chốn cung đình PGS
HS Vĩnh Phối trong nghiên cứu Những kiểu thức trang trí Huế đã trình bày
“ Bản chất hòa sắc vàng son rực rỡ trong không gian trầm tối được bài trí gợi nên không khí tưởng niệm trang nghiêm ở điện Thái Hoà - Ngai vàng, trên là bửu tán là trọng tâm nơi tôn nghiêm dành cho các vị Hoàng đế ” [83,
tr.124]
Phần bên dưới bệ đỡ của Ngai vàng, tạo thành một khối hình vuông vững chắc được sắp đặt ở dạng bậc cấp, càng lên cao nhỏ dần và xung quanh chạm khắc các hình tượng rồng công phu, tỉ mỉ, cầu kỳ Chiếc ghế của vua
Trang 40được tạo hình khá hoàn hảo, hai tay cầm và thân ghế được chạm hình tượng rồng sắc sảo với sơn truyền thống lộng lẫy
Những hàng cột là điểm nhấn không thể thiếu trong Điện, cùng với những bức liên ba trên nóc điện, toàn bộ được nghệ nhân thực hiện họa tiết và thơ văn đan xen nhau trong các dạng ô hộc với sơn truyền thống Trong nội thất những hàng cột có ý niệm sâu sắc, biểu tượng của tầng trên truyền sức mạnh xuống đất mẹ hoa sen ở cuối chân cột Ý nghĩa của hình tượng rồng là sức mạnh của vua là Nhân đại diện cho dân chúng, hình tượng rồng uốn khúc uyển chuyển bao quanh các trụ cột cùng với họa tiết vân mây, tinh tú, lửa, sóng nước được sơn son thếp vàng làm cho cung điện thêm uy nghi, trang nghiêm và tráng lệ Sơn truyền thống trên những hàng cột ở đây được làm thành hai giai đoạn, giai đoạn thứ nhất người thợ sơn làm nền cốt chắc chắn, phẳng bóng và giai đoạn thứ hai thợ sơn tô vẽ họa tiết trang trí Điện Thái Hòa là ngôi điện có quy mô rộng lớn về sơn truyền thống, mặc dù Điện đã được tu sửa nhiều lần dưới thời Gia Long, Minh Mạng, Khải Định nhưng tổng thể của hệ thống kiến trúc cũng như kiểu thức trang trí với sơn truyền thống luôn được phát huy và bảo tồn
1.2.2.3 Thế Miếu, Hưng Miếu
- Thế Miếu (1821 - 1822)
Sau khi vua Gia Long băng hà, vua Minh Mạng cho xây dựng Thế Miếu (Thế Tổ Miếu) thờ cúng vua Gia Long Tuy nhiên, vua Minh Mạng không chỉ đặt ra mục đích như vậy mà ý đồ sẽ sử dụng để thờ các vua Nguyễn sau khi băng hà cho đến ngày nay Thế Miếu toạ lạc ở hướng Tây sau Hiển Lâm Các Thế Miếu là một công trình kiến trúc khá bề thế, có giá trị thẩm mỹ sơn rõ nét hơn so với các công trình Thái Miếu, Triệu Miếu Nội thất trong các hàng liên ba trên nóc điện được chạm trổ các kiểu thức trang trí bắt mắt với các đề tài trang trí gần gũi với dân gian Những hàng cột, bức tường, cấu