1. Trang chủ
  2. » Tất cả

quan hệ Việt Nam - EU

89 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – EU 1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước Thế giới bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với những thay đổi lớn lao có thể gọi là bư

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ



BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ

Chuyên đề: LỊCH SỬ NGOẠI GIAO VIỆT NAM

Đề Tài: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - EU

GVHD: PGS TS Trần Thị Mai SVTH:

Tống Phương Nhi 1356040054

Nguyễn Huỳnh Minh Sang 1356040067

Lương Phước Thiện 1356040083

Trần Thị Bích Trâm 1356040094

Phùng Thị Ngọc Xuân 1356040113

Nguyễn Thị Kim Mai 1356040171

TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 3 năm 2017

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – EU 5

1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 5

1.2 Giới thiệu về Liên minh Châu Âu (EU) 7

1.3 Cơ sở hình thành quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU 9

CHƯƠNG II: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - EU TỪ 1990 ĐẾN NAY 17

2.1 Hợp tác bước đầu 1990-2000 17

2.2 Hợp tác đi vào chiều sâu 2000-2010 22

2.3 Hợp tác giai đoạn 2010 đến nay 42

2.4 Việt Nam và Liên minh Châu Âu trong mối quan hệ đa phương 50

CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – EU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 52

3.1 Cơ hội trong mối quan hệ Việt Nam EU 52

3.2 Một số khó khăn, thách thức trong quan hệ Việt Nam - EU 66

3.3 Triển vọng trong mối quan hệ Việt Nam EU 69

KẾT LUẬN 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

Trang 3

3

MỞ ĐẦU

Cùng với dòng chảy của lịch sử dân tộc, ngoại giao Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm, bao hưng vong, bỉ thái Lần lại con đường vận động của nền ngoại giao Việt, có lúc chúng ta bắt gặp những mối quan hệ ngoại giao thuận chiều, có lúc lại bắt gặp những mối quan hệ nghịch chiều đầy sóng gió và cũng

có khi tồn tại những mối quan hệ ngoại giao lưỡng tính vừa hợp tác, vừa đối nghịch Có thể nói, ở mỗi thời đoạn khác nhau thì hoàn cảnh lịch sử trong và ngoài nước lại có những đổi thay nhất định Và chính sự thay đổi không ngừng của không gian và thời gian lịch sử ấy đã chi phối trực tiếp để đưa đến sự cải biến trong đường lối, phương thức ngoại giao qua các thời kì lịch sử

Nếu như trước 1991, mâu thuẫn, xung đột giữa hai phe tư bản chủ nghĩa

và xã hội chủ nghĩa bao trùm lên mối quan hệ quốc tế, thì sau khi cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, xu thế hoà bình, hợp tác cùng đối thoại để phát triển lại trở thành xu thế chính yếu trong mọi mối quan hệ, chi phối sâu rộng đến đường lối đối ngoại của mỗi quốc gia, dân tộc Hơn thế, trong nửa cuối thế kỷ XX, đầu thế

kỷ XXI này, chúng ta cũng có dịp được chứng kiến sự phát triển như vũ bão của các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Có thể nói, chính sự phát triển nhanh chóng của những thành tựu công nghệ ấy đã góp phần đắc lực trong quá trình liên kết toàn cầu, kết nối mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới với nhau, bất luận khoảng cách địa lý hay sự khác biệt về thể chế chính trị, đặc trưng tôn giáo, tín ngưỡng…Trong bối cảnh chung đó, một mặt các quốc gia phải chủ động tham gia vào quá trình giao lưu chính trị, kinh tế, văn hóa để cùng phát triển, mặt khác, mỗi nước cũng phải nhận chân rõ rằng: Quá trình toàn cầu hóa có thể làm lộ rõ hơn những khác biệt về nhiều mặt giữa các quốc gia, dân tộc - một trong những căn nguyên dẫn đến các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo

Do vậy mà, hơn lúc nào hết, ngoại giao với tư cách là phương thức hòa bình sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác và tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn tiềm tàng hiện tồn trong quan hệ quốc tế

Là một nước trong cộng đồng thế giới và là một thành viên tích cực của tổ chức khu vực ASEAN, Việt Nam sau ngày giải phóng, đặc biệt từ sau Đổi mới

Trang 4

4

đến nay đã và đang bước đầu khởi động lộ trình hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế Vấn đề đặt ra là, trên đại lộ hội nhập thênh thang ấy, Việt Nam chọn cho mình lối đi và cách đi như thế nào? Hẳn nhiên, ngay khi bước vào công cuộc hội nhập quốc tế, Đảng và nhà nước ta đã phải chọn cho mình một con đường đi sao cho thuận chiều nhất

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước châu Âu đặc biệt là Liên minh Châu Âu (EU) đã trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong giai đoạn thế giới phẳng hiện nay Sự bắt đầu và phát triển của mối quan hệ này

là một trong những nền tảng tốt đẹp cho sự hợp tác lâu dài của các quốc gia châu

Âu cũng như Liên minh châu Âu-EU

Trang 5

5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ NGOẠI GIAO

VIỆT NAM – EU 1.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước

Thế giới bước vào thập kỷ 90 của thế kỷ XX, với những thay đổi lớn lao (có thể gọi là bước ngoặc lịch sử): Đó là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu; Thế giới kết thúc cuộc chiến tranh lạnh với trật tự hai cực đã được ra đời từ sau Thế chiến thứ hai (1945), các nước dù lớn, nhỏ đều có những đều chỉnh chiến lược nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị đất nước phù hợp với xu thế hợp tác và phát triển chung của nhân loại

Trong bối cảnh đó, Việt Nam những năm 1990 vẫn rơi vào tình trạng rất khó khăn:

Thứ nhất, sau 4 năm đổi mới (1986), mặc dù Việt Nam đã được một số

thành tựu nhất định, song đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội sâu sắc Các vấn đề đối nội, đặc biệt là đời sống nhân dân rất gian khổ, khó khăn

Thứ hai, trong quan hệ quốc tế, Việt Nam vẫn rơi vào thế bị bao vây, cô

lập Mỹ vẫn thi hành chính sách bao vây, cấm vận Các nước ASIAN và một số nước khác chưa có quan hệ bình thường hóa đối với Việt Nam

Thứ ba, sự sụp đổ trong mối quan hệ với Trung Quốc Quan hệ giữa hai

nước sau năm 1975 bắt đầu xấu dần đi và chạm đáy với cuộc xâm lược của Trung Quốc năm 1979.Trong suốt 10 năm sau đó, căng thẳng đôi lúc lại bùng phát thành giao tranh dọc biên giới và trên biển

Trung Quốc vẫn thi hành chính sách thù địch đối với chúng ta Trung Quốc cũng đòi hỏi phải ổn định tình hình ở Campuchia Hai bên đã thống nhất những điều khoản ở hội nghị cấp cao Thành Đô (tháng 9 năm 1990) khi quan hệ hai Đảng đã được khôi phục để làm bước để mở đầu cho bình thường hóa hoàn toàn (tháng 11 năm 1991) Tường thuật về hội nghị cấp cao này, tạp chí Kinh tế Biển Đông (FEER) khi đã lưu ý rằng “một số cuộc họp đã được giữ bí mật”, và

dự đoán rằng sự vắng mặt của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch là dấu hiệu cho thấy ông phản đối việc nhân nhượng của Trung Quốc đối với các nước Đông

Trang 6

6

Nam Á và chính quyền Anh ở Hồng Kông, Campuchia chỉ là một phần của vấn đề: họ còn muốn tìm kiếm một giải pháp cho cuộc khủng hoảng tị nạn Người Việt Nam vẫn tiếp tục bỏ đi bỏ nước ra đi việc áp dụng phương thức sang lọc những người di cư kinh tế (tháng 6 năm 1988), hồi hương tự nguyện (tháng 12 năm 1988), và kế hoạch hành động toàn diện quốc tế (tháng 6 năm 1989), cũng không thể ngăn cản được dòng người Trái lại số lượng thuyền nhân vượt biên sang Hồng Kông còn gia tăng và cuối những năm 1980 Vấn đề người tị nạn đã trở thành rào cản chính cho chính sách đối ngoại mở cửa của Việt Nam

Với một số người trong giới lãnh đạo Việt Nam, hội nghị Thành Đô làm tăng thêm cảm giác của họ về tình trạng dễ bị tổn thương trong thế giới hậu chiến tranh lạnh Số khác, mà đi đầu là Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Việt Nam kể từ năm 1991, lại có cuộc khủng hoảng đang diễn ra lúc bây giờ là một cơ hội Với một quân bài đa cực, những người này đã đưa nền Ngoại giao Việt Nam tới một bước ngoặt mới mang tính quyết định Chính sách mới đó được định hình bởi kinh nghiệm bị cô lập sau chiến tranh và Việt Nam vào đây bắt đầu cố gắng tham gia vào một loạt những mối quan hệ đối tác mới

Thứ tư, Liên Xô (đồng minh chiến lược) và các nước XHCN ở Đông Âu

tan rã, Việt Nam mất đi chỗ dựa vững chắc cả về chính trị lẫn kinh tế, thị trường truyền thống của Việt Nam bị thu hẹp, nguồn viện trợ cũng không còn nữa

Tuy nhiên, viện trợ bị cắt vào đúng thời điểm binh lính làm nhiệm vụ ở Campuchia và công nhân làm việc ở các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu trở về quê hương Như vậy, là ngoài di sản của việc tư duy kinh tế yếu kém và những bất cập về tổ chức của nền kinh tế mệnh lệnh Việt Nam còn phải đối mặt thêm với thách thức từ việc tỷ lệ thất nghiệp gia tăng Những sự kiện trên thế giới đã tiếp thêm động lực cho những thay đổi về chính sách đối nội được thông qua năm 1986 Vì vậy, việc Việt Nam phải định hướng lại chính sách ngoại giao của mình là điều không thể tránh khỏi

Trong bối cảnh đó, một mặt Việt Nam đã điều chỉnh chiến lược, mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, hội nhập phát triển với những chủ

Trang 7

7

trương đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, thêm bạn bớt thù, tranh thủ mọi nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý tiên tiến để phát triển đất nước, chủ trương hợp tác bình đẳng, muốn làm bạn với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau, trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình, Mặt khác, do nhận thức rõ ràng khu vực châu Á – Thái Bình Dương là khu vực phát triển kinh tế năng động, có tiềm năng và triển vọng phát triển lớn, hấp dẫn, các nước trong cộng đồng EC đã tích cực mở rộng các hoạt động cả về chính trị, kinh tế với các nước khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam

Hai tầm nhìn lớn gặp nhau, Việt Nam và EC đã gặp mọi khó khăn thách thức, đã cố gắng, quyết tâm cao, bất chấp những cản trở, thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ vào ngày 28/11/1990 Đây là mốc son quan trọng đánh dấu bước chuyển chiến lược trong quan hệ Việt Nam - EC, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về chính trị, kinh tế xã hội… giữa hai bên

1.2 Giới thiệu về Liên minh Châu Âu (EU)

Liên minh Châu Âu, hay còn gọi là Liên hiệp châu Âu (tiếng Anh: European Union), viết tắt là EU, là một liên minh kinh tế chính trị, bao gồm 27 quốc gia thành viên thuộc châu Âu (2008) EU được thành lập bởi Hiệp ước Maastricht vào ngày mùng 1 tháng 11 năm 1993 dựa trên Cộng đồng châu Âu (EC) Trước đó, EU là Cộng đồng kinh tế Châu Âu (European Economic Commuity – EEC), có tiền thân là tổ chức Cộng đồng than thép Châu Âu (ECSC) được thành lập năm 1957 Trải qua những giai đoạn liên kết và từng bước hội nhập về nhiều mặt, EU không những không ngừng tăng cường năng lực cạnh tranh kinh tế bằng một thị trường chung rộng lớn và đồng Euro, mà ngày càng vươn rộng về lãnh thổ sang phía Đông, gây nên một hình thế chính trị

- kinh tế hết sức phức tạp, đặc biệt trong mối quan hệ đầy mâu thuẫn với Nga

EU đã trở thành một trong những trung tâm của thế giới về kinh tế cũng như chính trị, được coi là tổ chức liên kết khu vực lớn nhất và thành công nhất trên thế giới Có rất nhiều cách nhìn khác nhau về nguyên nhân và động lực của

sự mở rộng EU Khi nhìn từ góc độ địa chính trị, mở rộng EU như một xu

Trang 8

Dưới tác động của qua trình toàn cầu hóa, hội nhập xuyên quốc gia, các mối quan tâm về an ninh quốc tế, địa chính trị của Châu Âu và khu vực biên giới

đã trở thành chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm

Là một tổ chức quốc tế, EU hoạt động thông qua một hệ thống chính trị siêu quốc gia và liên chính phủ hỗn hợp Những thể chế chính trị quan trọng của

EU bao gồm: Ủy ban châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu, Hội đồng châu

Âu, Tòa án công lý Liên minh châu Âu và ngân hàng Trung ương châu Âu EU

có nguồn gốc từ Cộng đồng Than Thép châu Âu từ 6 quốc gia thành viên ban đầu vào năm 1951 Từ đó cho đến nay, EU đã lớn mạnh hơn rất nhiều về số lượng cũng như chất lượng thông qua việc tăng cường thẩm quyền của EU

Liên minh Châu Âu là một tổ chức khu vực lớn nhất hiện nay, có sự liên kết khá chặt chẽ, toàn diện và thống nhất được coi là một trong ba “siêu cường”

có vị thế chính trị, có tiềm lực kinh tế, khoa học kỹ thuật ngày càng tăng

EU là sự tổng hợp sức mạnh và tiềm lực của 27 quốc gia thành viên, đảm bảo cho từng quốc gia khi đứng trước các vấn đề về thương mại quốc tế, an ninh quốc tế và những vấn đề khác Chính sách ngoại giao của EU thường thể hiện như một sự kết hợp của sự năng động, khôn khéo và thận trọng

Châu Âu là nơi có vị trí địa – chính trị quan trọng đặc biệt trong bối cảnh quốc tế hiện nay Các nhà phân tích quốc tế vẫn đánh giá rất cao vị trí địa – chiến lược của Châu Âu Họ đều nhấn mạnh rằng vị trí địa lý vẫn có xu hướng quyết định những ưu tiên trước mắt của một quốc gia và sức mạnh quân sự, kinh

tế - chính trị của nó mạnh lên thì lợi ích địa chính trị và ảnh hưởng của nước đó càng lớn

Trang 9

9

1.3 Cơ sở hình thành quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU

Mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu không chỉ đơn thuần là mối quan hệ ngoại giao song phương, mà còn tồn tại mối quan hệ

đa phương Khi muốn tìm hiểu về mối quan hệ này chúng ta cần phải nắm kỹ hai khái niệm song phương và đa phương để đi sâu tìm hiểu kỹ hơn mối quan hệ này, trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra hết sức nhanh chóng như hiện nay

Ngoại giao song phương là hoạt động ngoại giao giữa hai quốc gia, hai đối tác; khác với ngoại giao đa phương là hoạt động giữa ba quốc gia, ba đối tác trở lên

Ngoại giao đa phương: Đó là hình thức ngoại giao ra đời muộn hơn ngoại giao song phương, khi đã có quan hệ đan xen giữa nhiều quốc gia, nhằm mục đích giải quyết những vấn đề chung như chiến tranh, hoà bình, hợp tác và đấu tranh để cùng tồn tại và phát triển Ngày nay, NGĐP có nhiệm vụ điều chỉnh mối quan hệ giữa nhiều chủ thể: quốc gia, tổ chức liên chính phủ quốc tế, tổ chức phi chính phủ, trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hoà bình

và an ninh quốc tế, phát triển và bảo vệ môi trường, chống bệnh tật, đói nghèo

và tội phạm, vv

Mối quan hệ đa phương giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu là mối quan hệ giữa Việt Nam – Liên minh Châu Âu – ASEAN, Việt Nam với các nước thành viên Liên minh Châu âu… Có sự đan xen giữa các lợi ích phức tạp với nhau

Vào năm 2015, EU đã đề xuất nâng cấp quan hệ đối tác với ASEAN EU

đã thông qua một công bố chính sách đưa ra những ý tưởng cụ thể đối với việc đưa quan hệ EU-ASEAN lên một bước phát triển mới bằng việc mang lại một khuôn khổ hợp tác theo lĩnh vực chặt chẽ hơn đồng thời đảm bảo có một trọng tâm hợp tác chính trị sâu sắc hơn Là một đối tác tích cực trong khối ASEAN, Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác giữa hai khu vực cũng như các cơ chế then chốt trong mối quan hệ này: Sáng kiến Thương mại Liên Khu vực EU-ASEAN (TREATI) và Công cụ Ðối thoại Khu vực EU-ASEAN (READI) Hơn nữa, Việt Nam là thành viên sáng lập của

Trang 10

10

Hội Nghị Á-Âu (ASEM) được bắt đầu vào năm 1996 - là một tiến trình đối thoại

và hợp tác phi chính thức, gắn kết 28 quốc gia thành viên EU cùng với Ủy ban Châu Âu, các nước thành viên ASEAN và đặc biệt là cả Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ Đối thoại ASEM nhằm mục đích tăng cường mối quan hệ giữa hai khu vực, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và đối tác bình đẳng thông qua phương tiện như đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế tăng cường, cũng như hợp tác trên các lĩnh xã hội, văn hóa

Từ sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thế giới đã chứng kiến những xu thế mới như quốc tế hóa, khu vực hóa… và đặc biệt là sự ra đời và phát triển của nhiều tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội mới Trong các tổ chức đó, Liên minh Châu Âu được thừa nhận là mô hình liên kết thành công và hoạt động

có hiệu quả nhất Sau gần nửa thế kỷ phát triển, từ Cộng đồng Than, Thép Châu

Âu thành lập năm 1951 với 6 nước thành viên đến nay EU đã trở thành một liên minh kinh tế - chính trị thống nhất, với 27 quốc gia thành viên trải dài từ Đông sang Tây

Với chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế trong đó chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại nổi lên hàng đầu của Đảng ta xác định từ Đại hội Đảng lần VII (06/1991), đã mang lại cho Việt Nam cơ hội mới để mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế thương mại với các cường quốc phát triển và các trung tâm kinh tế trên thế giới trong đó có Liên minh châu Âu Bên cạnh đó, với đường lối chính sách này đã đưa đất nước ta bắt kịp nhịp độ phát triển kinh tế với tốc độ phát triển cao trên thế giới và trong khu vực

EU đã có mối quan hệ truyền thống từ lâu với Việt Nam, hiểu rõ về Việt Nam hơn so với các đối tác khác thì nay trong việc chạy đua nâng cao vị trí kinh

tế cũng như về chính trị vượt lên hẳn so với Mỹ, Nhật thì EU không thể bỏ qua Việt Nam được và luôn coi Việt Nam có vị trí xứng đáng trong chiến lược mở rộng ảnh hưởng cuả EU tại ASEAN và trong khu vực châu Á-TBD thông qua cơ chế hợp tác Á-Âu (ASEM) EU đã tìm thấy ở Việt Nam những ưu thế địa chính

Trang 11

cơ sở hợp tác toàn diện Hiện nay quan hệ Việt Nam và Liên minh châu Âu phát triển theo chiều hướng tốt đẹp EU vừa là thị trường và vừa là bạn hàng lớn của Việt Nam

Sự hợp tác trong quan hệ ngoại giao Việt Nam – EU là hết sức cần thiết nhằm mở rộng thị trường, nhất là dưới của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và giúp các nước tin cậy nhau hơn về chính trị, khắc phục những nghi kị, chia rẽ đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử

Từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU được thiết lập vào tháng 10/1990, Việt Nam đã trở thành một trong những đối tác chính của Liên minh châu Âu tại khu vực Đông Nam Á Đây là sự kiện hết sức quan trọng, đánh dấu bước chuyển biến mới trong quan hệ của EU với Việt NamNam là nước đầu tiên

ở khu vực Đông Nam Á chủ động có chiến lược tổng thể về hợp tác với EU, khẳng định vị thế của EU trong đối ngoại của mình nhằm xây dựng quan hệ Việt Nam - EU thành quan hệ đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu dài, vì hòa bình và phát triển Phạm vi hợp tác song phương trải rộng khắp các lĩnh vực, từ các vấn đề chính trị, đối phó với các thách thức toàn cầu, tới thương mại và phát triển

Mục tiêu chính trong quan hệ của Việt Nam với EU là coi đây là một trong những đối tác hàng đầu, tập trung phát triển quan hệ đối tác trên mọi lĩnh

Trang 12

12

vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, tranh thủ ngoại lực kết hợp với sức mạnh nội tại

để đẩy nhanh quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế chính trị của Việt Nam

Dấu mốc quan trọng - Đại hội Đảng VI năm 1986: biểu hiện đổi mới tư duy - tăng cường hợp tác thay thế cho xung đột Tại Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã xác định chính sách đối ngoại, một trong những nhiệm vụ hàng đầu Đại hội tiếp tục khẳng định là “tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc” đồng thời xác định rõ “mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”

Về phía Cộng đồng Châu Âu EC là việc ký Đạo luật Châu Âu Thống nhất vào tháng 2 năm 1986, còn về phía Việt Nam là việc đại hội Đảng lần thứ 6 tháng 12 năm 1986 đã tiến hành quá trình đổi mới Sự kết thúc của thế giới hai cực sau chiến tranh lạnh đã khiến cả hai bên phải định hướng lại các ưu tiên quốc tế của mình Mối quan hệ này là kết quả tự nhiên của việc điều chỉnh chính sách của hai bên trước những sự thay đổi cả trong nội bộ mỗi bên cũng như trên Bình Diện toàn cầu

Đối với cộng đồng Châu Âu, Đạo luật Châu Âu Thống nhất là một bước tiến nữa trong nỗ lực xây dựng các thiết chế hợp tác chính trị và thị trường chung Châu Âu, mở đường cho hiệp ước Maastricht năm 1992 dẫn tới sự ra đời của Liên minh châu Âu Đây là thời điểm Ủy ban châu Âu thông qua lá cờ của châu Âu, được kéo lên lần đầu tiên ở toàn nhà Berlaymont ở Brussels tháng 5 năm 1986 Dưới thời của chủ tịch Jacques Delors nhiệt huyết và có tầm nhìn xa

đã sử dụng quyền hạn với mới của mình để xây dựng chính sách an ninh và đối ngoại: ở vị trí ngoại giao của cơ quan đối ngoại đã được nâng cấp, và độ bao phủ

về địa lý đã được mở rộng

Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ

Chặng đường thiết lập quan hệ trong những năm qua giữa EU và Việt Nam có thể kể đến các mốc quan trọng sau: năm 1990 Việt Nam và EU chính

Trang 13

13

thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đây là Hiệp định khung đã được hai bên đàm phán từ cuối năm 1993 và ký tắt ngày 31/5/1995 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01-06- 1996, cung cấp cơ sở pháp lý cho quan hệ song phương

Mối quan hệ Việt Nam - EU được xác lập trên cơ sở Hiệp định khung về hợp tác từ năm 1995, đây là bản hiệp định dựa trên mối quan hệ giữa một bên là các nước cung cấp viện trợ phát triển và một bên là nước nhận viện trợ, trong khi đó những bước phát triển mạnh mẽ ở cả Việt Nam và EU đã làm cán cân lợi ích giữa hai bên có sự thay đổi căn bản Để tạo khuôn khổ hợp tác mới nhằm đưa quan hệ hai bên ngày càng đi vào chiều sâu và toàn diện hơn, phù hợp với

xu thế phát triển chung của thế giới cũng như điều kiện và tiềm năng phát triển của mỗi bên Trong cuộc gặp giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và Uỷ viên phụ trách quan hệ đối ngoại của EC Benita Ferrero-Waldner tại Hamburg (Đức), tháng 5/2007, Việt Nam và EU đã thoả thuận tiến hành đàm phán một Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) để thay thế cho Hiệp định Khung 1995 Hiện nay, Việt Nam và EU đang nỗ lực nâng quan

hệ song phương lên một tầm cao mới PCA được coi là khung pháp lý mới, đáp ứng nhu cầu của cả hai phía nhằm tạo điều kiện để mối quan hệ Việt Nam - EU ngày càng mở rộng và phát triển toàn diện hơn

Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam – Liên minh Châu Âu (EU) ngày càng giữ vị trí quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của Việt Nam Kể từ năm 1990, khi Việt Nam và EU thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức, đặc biệt sau khi hai bên ký Hiệp định khung hợp tác, quan hệ kinh tế của Việt Nam với Liên minh Châu Âu phát triển khá nhanh và ổn định Hiện nay EU là một trong những đối tác kinh tế - thương mại quan trọng vào bậc nhất của Việt Nam

Vấn đề Campuchia được giải quyết tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ đối ngoại, ta thiết lập quan hệ ngoại giao với EU Với mong muốn tăng cường

mở rộng quan hệ hợp tác hai bên và sự phát triển có trật tự, công bằng việc buôn bán hàng hóa, triển vọng hợp tác thường xuyên và trong các điều kiện đảm bảo

an toàn cho việc trao đổi hàng hóa

Trang 14

14

Trong tầm nhìn của EU, Việt Nam là thị trường mới mẻ hấp dẫn, dân số đông, lực lượng lao động dồi dào, có học thức, đất nước đang chuyển mình trong quá trình cải cách mở cửa, hội nhập,… Rõ ràng, đối với EU đây là một thị trường đầu tư, một địa chỉ hợp tác đầy hứa hẹn Với sự hiểu biết đó, EU đã cùng với Việt Nam có những bước đi chắc chắn trong quá trình hợp tác

Việt Nam có nền văn hóa phong phú và đa dạng Văn hóa, địa lý và dân

số khiến tương lai của Việt Nam rất hứa hẹn Thêm vào đó, người dân Việt Nam rất giàu khát vọng và năng động, điều này tạo ra một động lực phát triển thực sự cho đất nước

EU luôn coi Việt Nam là một trong những ưu tiên hàng đầu tại Đông Nam

Á về viện trợ phát triển, nơi viện trợ của EU được hoạt động hiệu quả và đúng mục đích, phù hợp với lợi ích của EU

Về phía Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra tín hiệu trước thế giới mong muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng Quốc tế và sẵn sàng hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự thịnh vượng chung của nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước Với EU, Việt Nam đã có những

nổ lực to lớn để đẩy mạnh hợp tác nhiều mặt Việt Nam khắc phục khó khăn, từng bước gạt mọi trở ngại để cho mối quan hệ hai bên ngày có hiệu quả cao

Quan hệ giữa EU và Việt Nam với tư cách Việt Nam là thành viên của ASEAN Vì vậy, Sau khi thiết lập mối quan hệ với Việt Nam, EU đã đẩy nhanh, đẩy mạnh quá trình đầu tư, hợp tác thương mại với nước ta

Về phía Việt Nam, chúng ta có nhiều cố gắng để phát triển mối quan hệ với EU Cụ thể là Việt Nam đã tích cực tham gia vào các hoạt động gặp gỡ giữa các tổ chức

Như vậy, Sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam – EU đã tạo nên môi trường thuận lợi, qua đó, Việt Nam phát triển được sự hợp tác với EU và đẩy mạnh được sự hội nhập của mình với thế giới

Thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU cả 2 nước đề có những lợi ích chung thông qua sự hợp tác hết sức cần thiết nhằm mở rộng thị trường, có một nền kinh tế không cách biệt và từ lâu đã liên hệ mật thiết với nhau Do nền

Trang 15

EU và với các đ ịnh chế của EU EU hiện là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế, thương mại và đầu tư

EU và Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định quan trọng và có ý nghĩa to lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế cũng như tăng cường mối quan hệ hợp tác của hai bên Đó là kết quả của những cố gắng chung của phía Việt Nam, Ủy ban Châu Âu và các nước thành viên EU

Là một Liên minh kinh tế và tiền tệ lớn, một trong ba trung tâm kinh tế lớn của thế giới, EU đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh

tế, thương mại của Việt Nam trong thập kỷ 90, đồng thời có những tác động tích cực của EU đối với phát triển thương mại Việt Nam - EU Cả Việt Nam và EU đều coi nhau là tối tác quan trọng, do đó việc tăng cường thúc đẩy mối quan hệ toàn diện, bình đẳng giữa Việt Nam và EU là một nhu cầu cho việc phát triển mối quan hệ này

Liên minh châu Âu dành một sự quan tâm sâu sắc cho các mối quan hệ với Việt Nam vì vị trí chiến lược, sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và việc Việt Nam cam kết sẵn sàng tham gia vào quá trình mở cửa Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ khả năng sẵn sàng chuyển đổi và thích ứng trong lĩnh vực chính trị và kinh tế

Liên minh châu Âu hỗ trợ cho các nỗ lực này của Việt Nam bằng một chính sách ngoại giao đa chiều nhằm đáp ứng cho những nhu cầu của chính Việt Nam đồng thời đáp ứng các đòi hỏi của tình hình khu vực

Với mục tiêu phát triển mối quan hệ đối tác gắn bó và năng động, EU và Việt Nam đã nhất trí đẩy nhanh việc thực hiện các nội dung chính của Hiệp định

Trang 17

17

CHƯƠNG II: QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - EU TỪ 1990

ĐẾN NAY 2.1 Hợp tác bước đầu 1990-2000

Sau khi hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao (28/11/1990), cả hai phía Việt Nam – đều tỏ rõ thiện chí, quyết tâm cải thiện mối quan hệ tốt đẹp này Hàng loạt chuyến thăm cấp cao với những hiệp định, hợp tác được ký kết về mọi lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục… Tháng 2/1993, Tổng thống Pháp P Mitterand, vị nguyên thủ đầu tiên của phương Tây đến thăm Việt Nam Tiếp theo là các chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Áo

Th Kles, của Thủ tướng Thụy Điển Carl Bild, của Thủ tướng Hà Lan W Kok, của công chúa Anh, của Hoàng tử ké vị Bỉ, của Hoàng tử Kế vị Lucxembour, của Bộ trưởng ngoại giao EU… Trong chuyến thăm Việt Nam, EU đã tiếp tục viện trợ mới, ký kết các Hiệp định hợp tác với Việt Nam, cụ thể là:

Thứ nhất, EC viện trợ tài chính 7 triệu USD đưa lao động Việt Nam tại

Irac trở về Việt Nam vì Irac đang xảy ra cuộc chiến tranh vùng vịnh

Thứ hai, tháng 12 năm 1990, địa diện Ủy ban EC và chính phủ Việt Nam

đã thỏa thuận về chương trình giúp người Việt Nam ra đi bất hợp pháp (đi di tản) được quay trở về Việt Nam tái hòa nhập, trên nguyên tắc hồ hương tự nguyện với 2 nội dung: cho vay tín dụng, đào tạo nghề và xây dựng dự án nhỏ Chương trình được chia là 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: từ tháng 5/1991 đến tháng 3/1992; Giai đoạn 2: từ 4/1992 đến tháng 11/1994

Năm 1995, năm kết thúc thắng lợi Kế hoạch 5 năm (1991-1995) của Việt Nam, một năm, theo đánh giá của nhiều học giả trong và ngoài nước, là móc son lịch sử trong quan hệ ngoại giao của Việt Nam: Việt Nam đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, năm mà Việt Nam đã làm được 3 việc lớn:

1 Ngày 12/7/1995, Việt Nam chính thức thiệt lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ;

2 Ngày 17/7/1995, Việt Nam đã ký Hiệp định Khung hợp tác, thiệt lập các nguyên tác cơ bản nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác ngoại giao kinh tế - thương mại giữa Việt Nam với EU;

Trang 18

thành “quan hệ đối tác toàn diện và bền vững, trên tinh thần ổn định lâu dài và

tin cậy lẫn nhau, vì hòa bình, hợp tác và phát triển phồn vinh trong các thập kỷ của thế kỷ XXI”1

Vào thời điểm mang tính then chốt này, Cộng đồng châu Âu và Việt Nam

đã nhanh chóng hành động - quan hệ đối tác được ký kết vào ngày 22 tháng 10 năm 1990, chưa đầy một năm sau sự sụp đổ của bức tường Béc lin tạp chí FEER đã có bài tường thuật về “những mối quan hệ ngoại giao trực tiếp” mới của Việt Nam với EC Bài báo này cũng Trích lời thủ tướng Đỗ Mười về nguyện vọng gia nhập ASEAN: “Chúng tôi cần nhiều bạn bè hơn để xây dựng đất nước” Tiêu đề của bài báo “Việt Nam bước vào thế giới rộng lớn hơn Hà Nội

nỗ lực để chấm dứt tình trạng bị cô lập quốc tế” có thể nói đã bắt được cái thần thái của thời điểm này

Chủ đề chính của những năm đầu tiên của quan hệ Việt Nam - EU là tham gia vào các hoạt động song phương, nhưng bên cạnh đó còn có việc EU hỗ trợ Việt Nam tham gia vào bối cảnh thế giới

Lịch sử của mối quan hệ đối tác này đã nói lên nhiều điều về những giai đoạn lịch sử gần đây nhất của Việt Nam và cả về những giá trị của Châu Âu Điều này đúng với hoạt động đầu tiên mà hai bên phối hợp thực hiện Vấn đề người tị nạn đã được đưa ra thảo luận tại hội nghị thượng đỉnh của ASEAN vào

1

Phát biểu của Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Dy Niên, Đặc san Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 5 năm 2005,

tr 44

Trang 19

19

tháng 8 năm 1990 mà ở đó EC là một khách mời: Cao ủy của châu Âu lúc đó đã tuyên bố rằng giải quyết sớm vấn đề truyền nhân là một điều kiện (mặc dù từ “lộ trình” không được sử dụng, nhưng mọi người đều ngầm hiểu như vậy) để xây dựng được mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn giữa hai bên

Đây là bối cảnh cho một dự án đầy tham vọng của EC, đó là hỗ trợ người

tị nạn hồi hương và cải thiện đời sống của họ một khi đã quay về Việt Nam Với khoản đầu tư này, cộng đồng Châu Âu nhằm mục tiêu ngăn chặn dòng người tị nạn khỏi Việt Nam mà góp phần giảm nghèo Vì vậy, có thể nói quan hệ Việt Nam - Châu Âu được khởi đầu từ một vấn đề nhân đạo

Một trong số các kiến trúc sư của dự án này cho biết: “Chúng tôi đặt mục tiêu cùng lúc giải quyết hai vấn đề” Endymion Wilkinson lúc đó đang là bộ trưởng bộ phận Đông Nam Á của cộng đồng Châu Âu EC, đã thấy rằng sáng kiến hồi hương người tị nạn là rất có giá trị đối với cả Đông Nam Á và Hồng Kông Việc hồi hương người tị nạn cũng là cơ hội cho Châu Âu, bởi lệnh cấm vận đã cản trở các hoạt động của Mỹ ở Việt Nam Tại Hà Nội chính quyền han nghênh việc giở bỏ rào cản này đối với quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng

Tuy nhiên, nếu việc hồi hương thuyền nhân có thể gây ra những phản đối

từ phía Việt Nam thì công việc này cần được tính toán một cách cẩn thận Như lời ông Wilkinson kể lại, lo ngại này đã nảy sinh khi chủ đề này được bàn thảo Trong một bữa trưa khá trầm lặng với Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, phía EU

đã đưa ra đề xuất: “Chúng tôi có vấn đề, phía các con cũng có vấn đề.Vậy Nếu

có thể giải quyết được vấn đề trong này thì cả hai bên đều sẽ có lợi Ông nghĩ sao?” Nhà ngoại giao Việt Nam hơi nhà người về phía trước và hỏi (bằng tiếng Pháp) “Các ngài có bao nhiêu tiền để đầu tư - trên đầu người?”

Nguyễn Cơ Thạch giải thích vì sao ông nói vậy: “Với Đảng và Chính phủ chúng tôi thì việc đón nhận những người tị nạn này trở về không có vấn đề gì, nhưng với những người dân cùng làm với họ thì có thể lại có đấy Vì vậy nếu muốn dự án này khả thi, các ông sẽ phải bỏ tiền ra để mua những thứ trong làng.” Nhiều năm sau, ông Trần Văn Thình - người đã đứng ra tổ chức bữa trưa này - đã nói: “Ông ấy làm vậy là tốt - một con người rất thực tế” Quan niệm của

Trang 20

20

người con người rất thực tế này sau đó đã trở thành triết lý của dự án, đó phải là được thiết kế sao cho mang lại lợi ích cho cả những người trở về và hững cộng đồng địa phương đón nhận họ

Phối hợp chặt chẽ với Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn Sérgio Vieira

De Mello, ông Wilkinson ước tính chi phí vào khoảng 120 triệu đô la Mỹ: nhiều hơn so với mức EC có thể cung cấp Trong một động thái hiếm có, các nhà tài trợ ngoài châu Âu cũng đã tham gia gây quỹ Dự án nhờ đó đã có tính toàn cầu, được đặt dưới sự điều hành của một ban chỉ đạo có trụ sở ở Geneva Tên gọi của

ủy ban này là chương trình quốc tế của cộng đồng Châu Âu (ECIP) - đã cho thấy

sứ mệnh của nó có tính nhạy cảm về chính trị, bởi qua tên gọi không thấy dấu hiệu nào cho biết sứ mệnh của nó là gì Và ECIP còn có một điểm nữa khác thường, như Wilkinson nhớ lại “Thông thường các chương trình của chúng tôi luôn đòi hỏi phải có vốn đối ứng, nhưng trong trường hợp này phía Việt Nam không có đóng góp đáng kể nào về vốn - họ không muốn đầu tư hoàn tiền vào việc hồi hương thuyền nhân, những người đã bỏ nước ra đi Do hoàn cảnh khốn khó của Việt Nam lúc đó nên mọi người thường nghĩ rằng thôi thì đành nỗ lực hết sức vậy”

Đàm phán bắt đầu trong khoảng thời gian từ năm 1990 - 1993 Wilkinson

đã sang Hà Nội tổng cộng 6 lần Trong những phản hồi đầu tiên, ông ta tỏ ra rất bực dọc “Tôi làm việc với người đồng cấp là cục trưởng cục lãnh sự Bộ Ngoại giao Việt Nam Cuối cùng tôi đành phải vượt cấp mà gặp trực tiếp ông Thứ trưởng ngoại giao và nói với ông ấy rằng: ông quả là có một cậu cục trưởng lãnh

sự có tài ‘dựng nên những bức tường đá’ cậu ta chỉ giỏi nhất là ý sì những gì cậu

ta đã nói với tôi trong cuộc gặp trước, mà lại làm việc đó một cách đầy lịch thiệp

và cuốn hút chứ” Ông thứ trưởng ngoại giao xin lỗi và nói ‘Ở đây bọn tôi cũng đặt cho cậu ta biệt hiệu là “Tường đá” đấy’, rồi ông ấy nhanh chóng bắt tay vào quá trình đàm phán.”

Trong suốt những năm 1990, có 2 nhóm người đã theo dõi sát dự án này Nhóm thứ nhất là những người tị nạn Nguyễn Văn Vinh bình luận: “lúc đầu người tị nạn rất lo sợ Họ không biết mình sẽ bị đối xử thế nào và liệu mình có

Trang 21

21

bị trừng phạt hoặc phân biệt đối xử hay không Điều này hoàn toàn có thể xảy ra trong xã hội Việt Nam đầu những năm 1990 ECIP đã giúp họ làm quen với cuộc sống bình thường và xúc tiến quá trình tái hòa nhập cộng đồng” Công việc của anh Vinh là thuyết phục họ rằng sẽ không có sự trừng phạt nào chờ đợi họ ở quê nhà

Nhóm thứ hai là cộng đồng thế giới Trong một báo cáo năm 1993 có tiêu

đề báo cáo về người di cư và tị nạn Việt Nam ở Hồng Kông (“thuyền nhân”) gửi Hội đồng Nghị viện châu Âu, thư ký trưởng David Atkinson đã đưa ra một nhận định lạc quan nhưng thận trọng: “vấn đề thuyền nhân người Việt đã có hướng giải quyết, nhiều người đã được tái định cư ở nơi khác, nhiều người khác đã hồi hương tự nguyện, và một số ít thì buộc phải hồi hương trong khuôn khổ nhiều thỏa thuận quốc tế khác nhau… những người hồi hương nhận được các khoản

hỗ trợ bằng tiền mặt từ UNHCR, tổ chức có trách nhiệm giám sát sự an toàn của

họ Những người này cũng được tạo điều kiện để họ có công ăn việc làm, được dạy nghề hoặc vay vốn để khởi nghiệp với sự hỗ trợ của một chương trình cộng đồng Châu Âu Không có bằng chứng nào đáng kể về việc những người tị nạn hồi hương bị truy tố hay đe dọa, nhưng Tuy nhiên hội đồng Nghị viện quan ngại rằng họ có thể vẫn bị gây khó dễ ở mức độ nhỏ, và tỷ lệ thất nghiệp nói chung vẫn cao.”

Các nhà báo, các luật sư nhân quyền và giới chính khách Mỹ cũng tỏ ra thận trọng Lisa Jones, người giữ vai trò giám sát các chương trình hồi hương (UNHCR, RAP), nhớ lại quan ngại của họ lúc đó: “làm sao có thể chắc chắn rằng người tị nạn hồi hương không bị truy tố”

Nhưng trong nhiều năm làm công tác giám sát, bà không thấy ai bị truy tố

và rất ít người bị gây khó dễ/ sách nhiễu ở địa phương có những vấn đề về hộ khẩu, nhưng nói chung hộ khẩu ở Việt Nam là một mê cung với tất cả người dân chứ không phải chỉ những người di cư Những người hồi hương phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp nhưng tất cả những người Việt Nam khác cũng vậy Còn

về những trường hợp bị lạm dụng, bà nhớ lại có một hiện tượng thế này: xe khách chở người tị nạn hồi hương từ sân bay về Hải Phòng thường dừng lại ở

Trang 22

Sau 10 năm đầu tiên, mối quan hệ Việt Nam - EU bắt đầu định hình rõ ràng Từ những hợp tác trên bình diện nhân đạo - tức là việc hồi hương người tị nạn - mối quan hệ này đã bắt đầu chuyển sang phát triển nông thôn Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục - tức là hỗ trợ kỹ thuật - đã giúp người Việt Nam cải cách thị trường và hội nhập quốc tế

Những thành công này đã tạo nền tảng cho mối quan hệ Việt Nam - EU trong 10 năm tiếp theo Trong khi đó, Việt Nam vẫn tiếp tục thay đổi nhanh chóng

2.2 Hợp tác đi vào chiều sâu 2000-2010

Năm 2000 Những chiếc thuyền trước đây được người tị nạn trưng dụng giờ trở lại làm thành thuyền đánh cá Những cây cầu đã thay thế phà Làng mạc được điện khí hóa, xem tivi không còn là điều gì quá xa xỉ Đèn giao thông đã bắt đầu xuất hiện ở những ngã tư Và đường cũng bắt đầu tắc, không phải tắc xe đạp mà là xe máy, thậm chí là ô tô Giới tinh hoa thành thị ngày càng giàu có và

tự tin đã bắt đầu định hình rõ rệt Công trình mọc lên khắp nơi, tạo công ăn việc làm cho những người nông thôn di cư ra thành phố

Ở thành phố, máy tính và internet mọc lên như nấm Nhưng cũng thường xuyên nghe thấy tiếng kêu “mất điện” khi màn hình máy tính bỗng tắt ngóm, một dấu hiệu cho thấy các ngành công nghiệp đang phát triển nhanh hơn những nhà cung ứng năng lượng

Vào thời điểm này, một từ xa lạ bỗng xuất hiện trong ngôn ngữ của người bình dân Đó là “hội nhập” Không ai thực sự hiểu nó có nghĩa là gì, nhưng tất

cả đều biết rằng hội nhập là một cái gì đó đến từ quốc tế, và bằng một cách nào

đó, nó mở đầu cho một kỷ nguyên mới hội nhập (trong tiếng Anh là

Trang 23

23

intergration) Trong nhiều năm, Việt Nam đã nỗ lực kết nối lại thành nền kinh tế nội địa hợp tác với các nước ASEAN láng giềng cũng như kết bạn với những nước khác ngoài Châu Á Sự đầu tư này đã bắt đầu mang lại một số kết quả - và thực ra có cả những cái giá phải trả Dựa vào những nỗ lực và sức mạnh được giải phóng qua quá trình Đổi Mới, đất nước này đã bước đầu phát triển thịnh vượng Trong bối cảnh đó, mối quan hệ Việt Nam với EU đã được mở rộng Những lĩnh vực hợp tác mới được bổ sung, còn những lĩnh vực vốn đã trở thành dấu ấn trong 10 năm hợp tác đầu tiên giờ đây đã mang những sắc thái mới

Phát triển con người

Lĩnh vực hợp tác nhân đạo đã thay đổi kinh tế cũ kỹ khép lại Chương trình hồi hương giờ đây giống như một dự án phát triển nông thôn tập trung vào đối tượng người tị nạn trở về Điều này phù hợp với FCA, bởi nó hướng tới

“những bộ phận dân cư nghèo, bao gồm những khu vực tiếp nhận người trở về”

Từ những nền tảng ban đầu đó Các dự án đối tác phát triển đã lan tỏa theo không gian lẫn lĩnh vực, với trọng tâm vẫn là cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế và sinh kế Các mục tiêu tổng quát vẫn là giảm nghèo và cải thiện chất lượng của cuộc sống người dân thường Quỹ tuần hoàn của ECIP là một ví dụ về tính liên tục Sau khi dự án kết thúc, quỹ vẫn ở lại với ngân hàng Nông nghiệp và được tái đầu tư trong một chương trình tín dụng mới dành cho người hồi hương, do RAP điều hành Cuối những năm 1990, tiền mất giá hơn 10 năm trước đó và các khoản vay cũng không dễ chuyển đổi như trước; nhiều người hồi hương là do bắt buộc trong khi những người khác được chuyển vào các trung tâm chăm sóc sau nhiều năm sống trong trại tị nạn; sự hội nhập của họ khó khăn hơn so với chương trình ECIP Tuy nhiên RAP vẫn tiếp tục cung cấp các khoản vay, các dự

án quy mô nhỏ, và đào tạo nghề

Đầu tư và phát triển giờ đây đã chuyển hướng ra khỏi các khu vực ven biển - nơi trước đây có các dự án dành cho người hồi hương - để đến với các vùng nông thôn và thành thị trên tất cả nước Sự mở rộng điều cả địa lý lẫn lĩnh vực có thể nhận thấy rõ trong nhiều dự án,về quy hoạch đô thị (10 triệu Euro từ năm 2003), trẻ em bụi đời (1triệu Euro từ năm 2014), kiểm soát dịch bệnh ở vật

Trang 24

24

nuôi (7 triệu từ năm 1998), quản lý giáo dục (7,5 triệu Euro từ năm 2000, 12 triệu Euro từ năm 2004), chuyên nghiệp hóa truyền hình (200.000 Euro từ năm 2005), phiên dịch cho chính phủ (850.000 Euro từ năm 2002), các hệ thống y tế (23 triệu Euro từ năm 2002), du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội (10 triệu Euro từ năm 2011)

Nhiều dự án hướng tới những khu vực miền núi và dân tộc thiểu số Một chương trình kiểm soát bệnh sốt rét đã được triển khai ở 6 tỉnh miền núi và một

số vùng của Lào và Campuchia (16 triệu Euro từ năm 1997) Với cách tiếp cận theo khu vực để kiểm soát sốt rét, chương trình này được thiết kế dựa trên 2 quan sát sau: Thứ nhất là cả người và muỗi đều có khả năng vượt biên giới, và thứ hai là ngoài các yếu tố về y tế thì còn phải giải quyết cả các vấn đề kinh tế

xã hội Thông qua thúc đẩy hợp tác giữa ba nước và sử dụng kiểm soát sốt rét như là một điểm khởi đầu để phát triển hệ thống y tế của mình, chương trình này

đã góp phần giảm đáng kể tình trạng sốt rét của đầu thế kỷ XXI

Tiếp theo chương trình sốt rét là một dự án phát triển y tế (18,5 triệu Euro

từ năm 2002) ở ba tỉnh miền xuôi nghèo nhất Việt Nam, đó là Thái Bình ở Đồng bằng Bắc Bộ, Bình Thuận và An Giang ở đồng bằng Nam Bộ, nơi cư trú của người thiểu số Chăm và Kh’mer Một dự án y tế quan trọng đã được thực hiện cho các tỉnh miền núi Bắc Bộ và Trung Bộ (18 triệu Euro từ năm 2005)

Các dự án cho miền núi khác bao gồm bảo tồn rừng xã hội và bảo tồn thiên nhiên ở các huyện miền núi của Nghệ An (17 triệu Euro từ năm 1997) và Phát triển nông thôn ở Cao Bằng và Bắc Kạn (19 triệu Euro từ năm 1999) Ngoài ra còn có các dự án phát triển ở Sơn La và Lai Châu (14 triệu Euro từ năm 2000) tập trung vào nông nghiệp, lâm nghiệp, giáo dục và cơ sở hạ tầng, trong đó có xây dựng, cung cấp tiền và trang thiết bị cho các trường học ở địa phương Một kết quả ngoài dự kiến của hợp tác EU tại thời điểm này đó là sự xuất hiện của một nét mới nổi bật trong kiến trúc của làng quê, khi khách qua đường đều có thể dễ dàng nhận ra mỗi tòa nhà ở đây đều được coi như là một

"ngôi trường EU"

Trang 25

25

Nhiệm vụ này được thực hiện bởi cả những người Việt Nam và châu Âu

để đạt được mục tiêu cao nhất của mình, đó là “hỗ trợ và đẩy mạnh quá trình giảm nghèo một cách bền vững”, theo cách nói của EC, trong báo cáo chiến lược Quốc gia dành cho Việt Nam giai đoạn 2002 -2006

Báo cáo chiến lược này nhận xét rằng những mục tiêu của EU đặt như đã nêu trong FCA (1995) và khung chiến lược châu Âu - Á (2011) bổ sung rất tốt cho chính sách của Việt Nam như đã nêu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (SEDS) giai đoạn 2001-2011 tham vọng của SEDS là Việt Nam phải hiện đại hóa, công nghiệp hóa mạnh mẽ xã hội trong thuần nông của mình

Báo cáo chiến lược đã nêu ra hai ưu tiên trong hợp tác Việt Nam – EU Một là phát triển con người thông qua phát triển nông thôn, xây dựng thể chế trong các lĩnh vực y tế và giáo dục, hỗ trợ cho các khu vực miền núi và dân tộc thiểu số Hai là hội nhập của Việt Nam vào kinh tế thế giới thông qua cải cách định hướng thị trường và tham gia vào các cấu trúc kinh tế quốc tế cũng như khu vực

Những định hướng này đã rất rõ ràng trong văn kiện chiến lược năm 1996

có tiêu đề “Hướng tới một đối tác hợp tác toàn diện” do bộ phận phụ trách các vấn đề Việt Nam của EC soạn thảo và được ủy ban chung đầu tiên phê chuẩn.Văn kiện này lưu ý rằng những nỗ lực sẽ tập trung vào hợp tác kinh tế và phát triển trong giai đoạn 1996 và đối thoại “cũng sẽ được mở rộng sang các lĩnh vực khác như thương mại, đầu tư và năng lực quản trị” Báo cáo chiến lược năm 2002 đã nói về các thách thức với một thái độ rất khẩn trương “Việt Nam không cần nhiều thời gian để hiện đại hóa hệ thống kinh tế xã hội của mình trước khi phải cạnh tranh một cách sòng phẳng với các nước khác trong khu vực nơi cải cách được tiến hành hàng mấy chục năm nay.”

Kế hoạch tổng thể (2005)

Giữa thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, Việt Nam đã có một bước tiến mới trên con đường hội nhập của mình Ngày 14 tháng 6 năm 2005 thủ tướng Phan Văn Khải đã công bố “kế hoạch tổng thể cho quan hệ Việt Nam – EU” (qua quyết định 13/2005/ QĐ – TTg) Đi kèm với kế hoạch này là chương trình hành

Trang 26

26

động giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan cụ thể là cả hai đều bao gồm những giai đoạn 2005 - 2010 với định hướng tới năm 2015

Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên công bố kế hoạch của mình

về quan hệ với Liên minh châu Âu (EU) EU là đối tác đầu tiên mà Việt Nam dành cho một chiến lược như vậy Động thái này khẳng định giá trị của mối quan hệ với EU và các quốc gia thành viên đối với Việt Nam cũng như quy mô ngày càng tăng của mối quan hệ đó

Kế hoạch tổng thể mở đầu bằng cách bằng một phác thảo lịch sử hợp tác châu Âu, các thiết chế và sự mở rộng về phạm vi địa lý Nó đánh giá mối quan

hệ đối tác trong thời gian trước trong tương quan với viện trợ phát triển cho ASEAN, thương mại hai chiều và đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) Hai bên vẫn còn nhiều dư địa để tiếp tục hợp tác, được thể hiện qua việc EU vẫn coi Việt Nam “chưa phải là một nền kinh tế thị trường”, việc thực hiện các hạng ngạch

và tăng trưởng chậm; đồng thời môi trường đầu tư không hấp dẫn và thiếu sự phối hợp liên ngành của Việt Nam

Đợt mở rộng năm 2004 được đón nhận, đặc biệt đối với những quốc gia thành viên mới của EU có quan hệ truyền thống với Việt Nam và cộng đồng lớn người Việt Nam đang sinh sống tại bản địa Trong một chuyến thăm tới Solovakia thời gian này ông Võ Văn Kiệt - lúc đó đã nghỉ hưu - đã nói về tinh thần mối quan hệ thay đổi của Việt Nam đối với các nước thành viên mới

“Chúng tôi luôn biết ơn những sự giúp đỡ dành cho Việt Nam trong chiến tranh tình cảm chưa bao giờ thay đổi Nhưng có một thứ đã thay đổi Trước đây chúng

ta gọi nhau là đồng chí, giờ gọi nhau là ngài!” Những lo ngại nêu trong kế hoạch tổng thể về việc EU sẽ chuyển hướng sự viện trợ kinh tế sang cho các quốc gia thành viên mới sớm được giải tỏa; công thức ngoại giao Võ Văn Kiệt đề ra đã

mở trở thành thực tế của mối quan hệ giữa hai bên

Kế hoạch tổng thể đã liệt kê các ưu tiên của Việt Nam gồm tiếp xúc cấp cao, đối thoại chính trị, quan hệ kinh tế, hàng rào thuế quan GSP cho Việt Nam như là một nước thu nhập thấp, và sớm công nhận Việt Nam là một nước có nền

“kinh tế thị trường” Trong kế hoạch, có những hướng dẫn về cách thức hài hòa

Trang 27

Kế hoạch tổng thể rất được hoan nghênh ở Brussels Khi đến thăm Hà Nội năm 2006, cao ủy hướng ngoại và chính sách láng giềng châu Âu Benita Ferrero Waldner nhận xét rằng “Việc trình bày Kế hoạch Tổng thể cho các mối quan hệ tương lai là một dấu hiệu rõ rệt cho thấy tầm quan trọng và sự quan tâm ngày càng cao mà Việt Nam dành cho mối quan hệ với Liên minh châu Âu Chúng ta

sẽ làm làm hết sức mình để hiện thực hóa các mục tiêu của kế hoạch tổng thể, và tôi tin tưởng rằng chúng ta sẽ chứng kiến mối liên hệ hợp tác giữa hai bên được tăng cường và cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong tương lai.”

Tháng 9 năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sang thăm Ủy ban châu

Âu Động thái này rất được chủ tịch José Manuel Barroso hoan nghênh, vì đây

là chuyến thăm ngoại giao nước ngoài đầu tiên của thủ tướng Việt Nam sau khi lên nhậm chức

Nội dung của chuyến thăm này cũng rất đáng được chú ý Sau khi thảo luận về tăng cường các mối quan hệ chính trị trong bối cảnh kế hoạch tổng thể, các nhà lãnh đạo Việt Nam đề xuất đàm phán 1 khuôn khổ mới thay thế cho FCA: điều này trở thành hiện thực năm 2012 với sự ra đời của hiệp định đối tác

và hợp tác Việt Nam – EU Cuộc nói chuyện sau đó đã chuyển sang đàm phán

về việc Việt Nam gia nhập WTO, lúc đó đã trở thành giai đoạn cuối: “chủ tịch Barroso nói ông ấy rất vui khi tuyên bố rằng ngày hôm qua các bên đã đạt được một Hiệp định về tất cả các vấn đề ra phương của WTO mà EU và Việt Nam đều quan tâm”

Một năm sau ông Barroso đã tới Hà Nội Hai chuyến thăm này đã tạo bối cảnh cho giai đoạn tiếp theo trong quan hệ đối tác Việt Nam – EU Các lĩnh vực

Trang 28

28

hợp tác truyền thống được củng cố, đồng thời những bình diện mới cũng đã xuất hiện trong các lĩnh vực như quan hệ thương mại và chính trị

Thương mại Việt Nam - EU

Bình diện thương mại trong quan hệ Việt Nam - EU không phải là điều gì mới mẻ Thương mại trước đó vẫn luôn là một ưu tiên từ sớm: 2 năm sau ngày công bố, các nhà ngoại giao đã ký một Hiệp định về thương mại trong ngành dệt may (1992) Nhưng đó là những ngày ngay sau khi Liên Xô tan rã và trước khi

Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận cũng như công cuộc đổi mới mang lại những thành quả Việt Nam có rất ít quan hệ thương mại với EU, hay nói đúng hơn là với các quốc gia khác Các thỏa thuận thương mại được ký kết nhưng mối quan hệ đối tác những năm đầu chủ yếu là về viện trợ

Thời đó, ở Việt Nam có rất ít các hoạt động thương mại ngay cả trong nước Trước Đổi Mới, nền thương mại quốc doanh thì ố yếu, còn thương mại Tư nhân thì bị coi là bất hợp pháp và phải chịu những quy định bất thường khi thì cho phép, lúc thì cấm đoán Người thành phố thì phải mua khẩu phần viện trợ ở các cửa hàng quốc doanh, trong khi nông dân phải trồng các cánh đồng lúa tư nhân nhỏ để lấy các sinh tồn rồi sau đổi mới, đi lại từ vùng nọ sang vùng kia, từ nông thôn ra thành thị trở nên dễ dàng hơn Hàng hóa lưu thông nhanh chóng

Và khi biên giới phía Bắc mở cửa và thương mại chảy qua Campuchia và Lào, nhập khẩu từ Trung Quốc và Thái Lan cũng đã tìm được đường tới thị trấn và thành phố các thị trường phát triển mạnh

Đối với sinh kế cho người Việt Nam và đối với quan hệ Việt Nam – EU, thương mại ngày nay quan trọng hơn nhiều so với tiền trợ Sự thay đổi ngày này thể hiện thành công của công cuộc Đổi Mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm chỉ đứng sau Trung Quốc và mở ra những triển vọng hứa hẹn về sự thịnh vượng cho người dân Thành công đó là

do người Việt Nam tự tạo ra liên minh châu Âu chỉ đóng góp quỹ hỗ trợ kỹ thuật

và thương mại với các quốc gia thành viên

Giảm nghèo thông qua thúc đẩy thương mại: đây là triết lý của dự án viện trợ dài hạn nhất của Châu Âu có tên là Chương trình hỗ trợ chính sách Thương

Trang 29

29

mại Đa phương (viết tắt tiếng Anh là MUTRAP) MUTRAP đặt mục tiêu giáo Việt Nam cải thiện “điều kiện cho một sự tăng trưởng kinh tế lâu dài và ổn định thông qua việc hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu và trên hết góp phần giảm nghèo” Đây là một dự án viện trợ - vì- thương mại với trọng tâm là tăng cường năng lực thể chế, đặc biệt là cho bộ công thương(MolT) cơ quan thực hiện dự án Ngoài Bộ Công thương, dự án này còn giúp các tổ chức, ban ngành khác của xã hội góp phần nhiều hơn cho việc xâydựng sách thương mại các biện pháp can thiệp này đã đẩy mạnh thương quá trình chuyển đổi của Việt Nam sau một nên kinh tế thị trường song hành cùng Việt Nam trong hội nhập hệ thống thương mại quốc tế, và hỗ trợ Việt Nam vượt qua được những thách thức của hội nhập được triển khai năm 1998

Chương trình này trải qua nhiều giai đoạn MUTRAP I (1998 – 2003, trị giá 3 triệu Euro) giúp Việt Nam chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trường và gia nhập WTO MUTRAP II (2005 – 2008, trị giá 5 triệu Euro) nâng cao khả năng quản lý việc gia nhập và thực hiện cam kết WTO của Việt Nam MUTRAP III (2008 – 2012) trị giá 10 triệu Euro) tiếp tục tập trung vào các cam kết WTO

và sự hội nhập của Việt Nam vào các mạng lưới đa phương, cụ thể là ASEAN Giai đoạn thứ tư (2012 – 2017, trị giá 16 triệu Euro) còn gọi là EU - MUTRAP

do việc thúc đẩy đầu tư và thương mại với Châu Âu, tiếp tục hỗ trợ Việt Nam hội nhập các hệ thống thương mại khu vực và toàn cầu và đàm phán Hiệp định Thương mại tự do (FTA) vớiEU

Công cụ chính của chương trình này là hỗ trợ kỹ thuật cho cán bộ các bộ ngành, những người làm việc trong doanh nghiệp, trường đại học, chính quyền địa phương và xã hội dân sự Các hoạt động của MUTRAP có rất nhiều dạng vẻ, chẳng hạn như các hoạt động ở châu Âu, tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo, tiếp xúc, họp chuyên gia ở Việt Nam và những nơi khác Xây dựng thư viện trực tuyến trên trang web của dự án, đầu tư cho các tài liệu liên quan tới thương mại trong thư viện quốc gia, hoạt động nâng cao nhận thức qua phương tiện truyền thông, biên soạn các báo cáo chính sách và nghiên cứu kỹ thuật, xây dựng hệ

Trang 30

sự phối hợp của các tổ chức quốc tế; 169 cán bộ lãnh đạo tham gia các cuộc đàm phán quốc tế

Để có thể hiểu được ý nghĩa của những hoạt động này, phải xem xét bối cảnh của chúng, đó là thành tựu của Việt Nam trong hội nhập quốc tế hơn một phần tư thế kỷ qua Đã từng có thời là một trong những nước bị cô lập nhất trên thế giới, Việt Nam đã ký quyết tổ chức lại nền kinh tế theo hướng chú trọng thương mại và xuất khẩu Đất nước này đã dâu gia nhập WTO (2007), và với tư cách là một thành viên của ASEAN đã tham gia vào đàm phán FTA với Trung Quốc (2004), Hàn Quốc (2005), Nhật Bản (2008) và Australia - New Zealand (2009) Năm 2010, Việt Nam tham gia và đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP ) và FTA với EU

Tuy rằng MUTRAP không trực tiếp mang lại bất kỳ thành công nào nói trên, nhưng dự án này đã đồng hành cùng Việt Nam qua các giai đoạn với một loạt những sự hỗ trợ quan trọng Ở đây tác giả không có ý định đánh giá các ảnh hưởng tích hợp của những hỗ trợ này – bởi theo báo cáo của MUTRAP, việc đo đạt những tác động là “bất khả thi” Tác giả cũng không định so sánh MUTRAP với chương trình viện trợ - vì - thương mại mà các nhà tài trợ khác đã giúp Việt Nam thay vào đó tôi đưa ra các ví dụ về các hoạt động để minh họa cho việc dự

án đã giúp Việt Nam thực hiện hóa được tầm nhìn hội nhập của mình

Trang 31

31

Một cột mốc nhỏ đã được tạo dựng năm 2013 khi một sản phẩm của Việt Nam, cũng là sản phẩm đầu tiên trong khối ASEAN được EU chứng nhận xuất

xứ được bảo hộ (Protected Designation of Origin – PDO) Nước mắm đóng chai

ở đảo Phú Quốc hiện nay đã được bảo vệ ở EU với PDO mang tên “Phú Quốc” MUTRAP giúp liên doanh các nhà sản xuất thực hiện được các quy định về điều kiện vệ sinh, kiểm soát chất lượng, xuất xứ nguyên liệu,… Dự án cũng giúp liên doanh đăng ký PDO Trong buổi trao chứng chỉ, ông Franz Jessen, Trưởng Phái đoàn EU tại Việt Nam (2011 – 2015) đã gọi đây là “một kết quả rất cụ thể của

sự hợp tác hiệu quả với hệ công việc được chắc chắn bảo vệ ở Hữu đồng nghĩa với việc sản phẩm được bán được giá và điều này sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho các nhà sản xuất Việt Nam.”

Năm 2010, Việt Nam sử dụng cơ chế giải quyết bất đồng của WTO để tiến hành một thủ tục pháp lý chống lại Hoa Kỳ: Việc Mỹ dùng tính cách tính

“bằng 0” để đặt ra cách biên độ phá giá và thuế quan quá cao (trong trường hợp này là với tôm của Việt Nam là vi phạm các quy định của WTO MUTRAP đã

hỗ trợ nỗ lực này của Việt Nam “như là một phần nội dung của công việc thông thường của chương trình nhằm nâng cao năng lực cho chính phủ”, bao gồm đào tạo về chống bán phá giá cho các loại cán bộ lãnh đạo tổ chức tại Hà Nội và Geneva và tiến hành một nghiên cứu chuyên gia Luật thương mại quốc tế

“Nhiều hoạt động của dự án đã góp phần năng lực của chính phủ trong việc có thể tự áp dụng độc lập các quy trình của WTO Vụ việc này đã thành công

Năm 2009, trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, MUTRAP vẫn

tổ chức các khóa tập huấn cho 18 quan chức và các nhà đàm phán cấp cao: hai khóa, mỗi khóa kéo dài 1 tuần, được tổ chức ở Geneva Lý do của hoạt động này (gọi tắt là WTO-2) đã được nêu trong các báo cáo ở các quốc gia phát triển, những người ra quyết định và các nhà đàm phán cấp cao trong lĩnh vực chính sách kinh tế và thương mại đã học hỏi được rất nhiều từ kinh nghiệm của các chuyên gia có tên tuổi Ở Việt Nam cơ chế cố vấn/đào tạo này chưa sẵn có do Việt Nam mới chỉ là thành viên nông trại trên các diễn đàn quốc tế Mục đích của WTO-2 là lấp đầy khoảng trống này thông qua việc cung cấp cho các nhà

Trang 32

để thể hiện sự chấp thuận của đại hội đồng về việc gia nhập WTO của Việt Nam Lúc đó là 5:30 chiều giờ Hà Nội, ngày 7 tháng 11 năm 2006, một khoảnh khắc lịch sử kết thúc hơn 11 năm Việt Nam nỗ lực đàm phán Các đại biểu Việt Nam có mặt không sướng đứng bật dậy ôm nhau đầy xúc động.”

Người đại diện của đoàn Việt Nam là ông Lương Văn Tự, Thứ trưởng Bộ Thương mại, trưởng đoàn đàm phán WTO của Việt Nam kiêm chủ tịch ban chỉ đạo MUTRAP Ông nhớ lại những đào tạo của MUTRAP về quy tắc, chính sách

và thỏa thuận của WTO, về nội dung chính cũng như những hướng dẫn đi kèm với chúng, về an toàn thực phẩm, thuế và cả ngàn vấn đề khác “Thật như một rừng luật”, ông nói: “Trần Văn Thành, đại sứ đầu tiên của EU tại WTO thường đến nói chuyện với chúng tôi Ông ấy giúp tổ chức các phiên thảo luận về WTO

và những tác động của việc trở thành thành viên của WTO”

Một điểm họ thảo luận là những ý nghĩa pháp lý của tư cách thành viên Gia nhập WTO có nghĩa là Việt Nam phải thay đổi nhiều bộ luật của mình Trong thực tế, một lý do tại sao các vòng đàm phán lại mất lâu thời gian đến vậy (1995 – 2006) là bởi vì, theo ông Trần Văn Thành nhớ lại, “Việt Nam phải điều chỉnh để thích ứng với các quy tắc và chấp nhận rằng WTO có quyền giám sát.”

Trang 33

33

Thay đổi luật! “Không dễ chút nào”, ông Lương Văn tự kể lại, “có quá nhiều sự khác biệt giữa lối tư duy, cách nghĩ của hai hệ thống Năm 2006, Quốc hội Việt Nam đã mất rất nhiều thời gian về vấn đề này Thời điểm đó, Việt Nam phải thay đổi hơn 30 luật - đó là lần đầu tiên Việt Nam thay đổi luật theo chính sách mở cửa Sự hỗ trợ của EU trong việc soạn thảo lại luật là vô cùng quan trọng

Quá trình đàm phán lâu dài còn thể hiện qua số lượng các nước tham gia Lương Văn Tự nói: “tôi phải bay khắp thế giới một năm mấy lần - tôi đã dự 16 vòng đa phương và 200 vòng song phương” Phạm vi của nhóm đàm phán đa phương về Việt Nam - 68 nước muốn ký kết thỏa thuận với Việt Nam trong nỗ lực gia nhập WTO - là một dấu hiệu cho thấy thế giới đã dự cảm được tiềm năng kinh tế của Việt Nam Nhưng không phải tất cả các nước đó đều biết nhiều về Việt Nam hoặc ủng hộ nỗ lực gia nhập WTO của Việt Nam ngay lập tức Các nước Nam Mỹ chẳng hạn: năm 2004 đại sứ Việt Nam tại WTO 10 các đại sứ nước này tới bữa tiệc trưa ở một nhà hàng tại Geneva Một người đại diện tại nhóm nói: chúng tôi biết hai điều về Việt Nam - một là các bạn đã có chiến tranh thế kỷ vừa rồi, và hai là cà phê Việt Nam đang tràn ngập thị trường thế giới Chính phủ Việt Nam có bao cấp việc sản xuất cà phê không? Lương Văn Tự giải thích để họ yên tâm, rằng Nhà nước đã khai hoang đất đai, nhưng năng suất của ngành Cà phê là nhờ có điều kiện khí hậu và thổ những thuận lợi của khu vực Tây Nguyên cũng như sự cần cù của người nông dân

Trái lại, Liên minh châu Âu rất nhiệt tình ủng hộ EU là thành viên đầu tiên của nhóm đàm phán đa phương và hoàn tất đàm phán song phương với Việt Nam tháng 10 năm 2004 đối với ông Lương Văn Tự, “sự ủng hộ của EU mang tính thiết yếu, họ kết thúc đàm phán rất nhanh Họ tiếp cận vấn đề rất linh hoạt, chấp nhận một lộ trình từng bước, cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các công ty thời gian để thích nghi Lúc đó EU đã là một liên minh lớn với 10 thành viên mới gia nhập và có tiếng nói quan trọng” Việc EU nhanh chóng kết thúc đã tạo động lực cho các vòng đàm phán: các thành viên khác tin tưởng vào

sự đi đầu của EU, Mỹ hoàn tất năm 2006, và Việt Nam gia nhập 2007 đóng góp

Trang 34

34

của MUTRAP và các dự án tương tự đã được OECD thừa nhận các chuyên gia của OECD cho rằng rất khó đo đạc tác động của mô hình viện trợ vì thương mại đối với thương mại và giảm nghèo ở Việt Nam, nhưng họ nhận thấy có những

“mối liên hệ rõ ràng giữa sự gia nhập WTO của Việt Nam và chương trình nghị

sự của viện trợ -vì- thương mại

Đóng góp này cũng được Việt Nam ghi nhận Các nhà quản lý EU có lần

đã nghĩ tới việc thay đổi tên của dự án Nhưng Eric Tores, đã thuật lại phản ứng của các đối tác Việt Nam: “chớ bao giờ nghĩ tới việc đó MUTRAP là một thương hiệu, thương hiệu của EU Khi người ta nhìn thấy cái tên MUTRAP họ nói ngay rằng “đó là EU” Khi bạn đến một nhà máy hay cơ quan bộ nào đó và nhắc đến tên MUTRAP, lập tức cánh cửa sẽ mở rộng đón chào Đó là bởi vì chương trình này đang hoạt động rất hiệu quả”

Từ thời điểm này, trọng tâm của MUTRAP là hỗ trợ Việt Nam với các cam kết WTO Sau đó đến năm 2012, Việt Nam và EU bắt đầu đàm phán về một Hiệp định Thương mại tự do (FTA) EU-MUTRAP đặt mục tiêu hỗ trợ Việt Nam với các chi tiết của quá trình đàm phán này Liên quan tới việc hoàn tất hiệp định, chủ tịch EC José Manuel Barroso muốn giảm bớt sự kỳ vọng trong chuyến thăm tháng 8 năm 2014 tới Việt Nam nên ông nói: “tôi nghĩ chất lượng quan trọng hơn tốc độ”

Tuy nhiên đến tháng 10 đã có tin đồn về việc Brusseles và Hà Nội sẽ ký kết năm 2015 Ông Phạm Sanh Châu, đại sứ Việt Nam ở Brusseles nhận xét rằng sự kiện này sẽ đánh dấu “những bước ngoặt” trong quan hệ Việt Nam - EU

Nếu hiệp định được ký kết vào dịp kỷ niệm 25, năm Việt Nam có thể là nước ASEAN đầu tiên ký FTA song phương với EU (Vì Singapore cũng có thể

ký năm 2015) Ranieri Sabatucci, trưởng bộ phận Đông Nam Á của cơ quan đối ngoại châu Âu (EEAS), nhận xét rằng điều này có nghĩa các vòng đàm phán diễn ra “nhanh một cách đáng kinh ngạc đối với một đất nước cộng sản, nơi phần lớn của cải vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước Các vòng đàm phán được thúc đẩy với tần suất rất cao, đòi hỏi quyết tâm chính trị to lớn từ phía Việt Nam.”

Trang 35

35

Bình luận về tốc độ đàm phán này Thomas Bo Pesender một doanh nhân trước đây từng là nhà ngoại giao của Đan Mạch tại Hà Nội đã nói: “người Việt nổi tiếng với chiến lược tạm gác các vấn đề nhạy cảm sang một bên để khiến cho mình trở nên hấp dẫn cho tới khi đạt được thỏa thuận thì lại thôi Nhưng có một điều chắc chắn, họ rất muốn mở cửa với nền kinh tế thế giới Và nhiều khả năng là tiếp theo sẽ mở cửa về chính trị sau năm 1989, FTA này có thể là bước đột phá lớn nhất đối với Việt Nam kể từ sau chiến tranh Thậm chí còn lớn hơn

cả việc gia nhập WTO vốn đã là một khuôn khổ rất quan trọng bởi vì một hiệp định đặc thù ngành sẽ có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp hơn về kinh tế

Thương mại EU và FDI, kết quả của thuế quan bằng 0 sẽ là một cú hích lớn đối với Việt Nam Song những quy định là rất phức tạp và phải được thực hiện giai đoạn tiếp theo của MUTRAP rõ ràng sẽ là tư vấn đề “rừng luật” mà bất kỳ nước nào muốn tiếp cận thị trường EU đều phải hiểu

Song Việt Nam cũng có rừng luật riêng của mình và các công ty châu Âu thuộc nhóm những người phải xoay sở, tìm hiểu về những luật đó Nhiều công

ty là thành viên của phòng thương mại Châu Âu (Eurocharm) Ra đời năm 1998, đến giữa những năm 2000 Eurocharm bắt đầu có sứ mệnh mới Xây dựng một

cơ chế để đề xuất những thay đổi trong các chính sách, các quy định, các khuôn khổ, các hướng dẫn và tiêu chuẩn chi phối việc kinh doanh ở Việt Nam

Vậy Làm thế nào để Eurocharm cất lên được tiếng nói này? Phòng thương mại tại thành phố Hồ Chí Minh được cấp giấy phép năm 1998, và Một Văn Phòng chi nhánh tại Hà Nội được mở tại Hà Nội năm 1999 Hồi đó phòng mới chỉ có 60 thành viên: điều này diễn ra ngay sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, các công ty đang tính đến việc rút khỏi Việt Nam, rất ít công ty muốn vào đầu tư Một diễn biến quan trọng là việc thành lập trung tâm thông tin doanh nghiệp Châu Âu, với mục đích cung cấp cho các công ty châu Âu về môi trường kinh doanh ở Việt Nam và các doanh nghiệp Việt Nam những quy định

và thuế quan của châu Âu Các hội thảo đã được tổ chức với sự tham gia của khách mời là các chuyên gia, sau đó thông tin/dữ liệu được dùng phổ biến trong các tỉnh Là dự án do EC tài trợ (2001 – 2003, 1 triệu Euro), EBIC đã giúp nâng

Trang 36

Hoạt động như một liên hiệp, Eurocharm đã có nhiều thành viên hơn, (đến năm 2014 đã có hơn 750 thành viên) và có ảnh hưởng lớn với chính phủ đồng thời, Eurocharm cũng cố gắng để không lập lại chức năng của các phòng thương mại khác Những yếu tố này dẫn tới sự quyết định chuyên môn sâu vào lĩnh vực vận động chính sách, được coi là phù hợp hơn với cách tiếp cận của Châu Âu hơn là với từng Quốc gia thành viên Trong hơn 10 năm qua, công việc vận động chính của chính sách của Eurocharm đã tồn tại dưới một số hình thức, tất cả đều được tiến hành với sự phối hợp của phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI)

Một trong số ví dụ đó là Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - EU ra đời sau chương trình hành động 2005, trong đó có VCCI được giao phụ trách các công việc liên quan tới thúc đẩy thương mại Với sứ mệnh cung cấp (một kênh đối thoại cao hơn cho quá trình thảo luận giữa Việt Nam và EU về những vấn đề thương mại và đầu tư và giúp các doanh nghiệp tư nhân của Châu Âu chia sẻ các cách làm hiệu quả với các doanh nghiệp Việt Nam), sáng kiến chung này của Eurocharm và VCCI đặt mục tiêu thiết lập một “kênh đối thoại giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và chính phủ các nước EU”

Một ví dụ cấp cao của hoạt động do VEUBF tổ chức là một hội thảo về quản trị doanh nghiệp (tháng 7 năm 2008), với việc xuất bản một cuốn sổ tay

Trang 37

37

dành cho các giám đốc Cuốn sổ tay này áp dụng cho các kinh nghiệm của châu

Âu về quản trị doanh nghiệp, vốn được coi là” trọng tâm của kinh doanh tốt” như khẳng định của hai đồng chủ tịch Alain Kany và Nguyễn Hòa Bình trong lời nói đầu, vào các luật của Bộ Tài chính nhằm mục đích tăng cường hình ảnh của Việt Nam như là một điểm đến hấp dẫn với các nhà đầu tư

Khi rùng luật của Việt Nam phát triển, đối thoại Eurocharm rất được coi trọng bởi các cơ quan ban ngành chịu trách nhiệm ban hành và áp dụng luật, và bởi các công ty trong nước cũng như nước ngoài được yêu cầu tuân thủ những luật đó

Sau khi bàn luận về thiết chế - bởi vì khi chúng ta đã nói về rừng luật hay một nghị định đơn lẻ thì có nghĩa là chúng ta nói tới các thiết chế và công cụ đi kèm - thì phải đặt câu hỏi là: đối tượng mà các thiết chế đó kiểm sát hỗ trợ và thúc đẩy sẽ ra sao? Thương mại giữa Việt Nam và EU sẽ ra sao?

Liên minh châu Âu là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam (chỉ sau Trung Quốc), là nhà xuất khẩu lớn thứ 5 sang Việt Nam (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Hồng Kông) và là thị trường nhập khẩu lớn nhất các mặt hàng của Việt Nam (năm 2013), các nước EU đã mua 19% hàng xuất khẩu của Việt Nam với trị giá là 24,4 tỷ đô la Mỹ Thương mại song phương đã tăng từ 4,1 tỷ đô la năm 2000 lên 17,75 tỷ đô la năm 2010, lên 33,6 tỷ đô la năm

2013, trong khi Việt Nam nhập khẩu các sản phẩm công nghệ cao, xe cộ, máy móc, máy bay và dược phẩm và xuất khẩu hàng điện tử, giày dép, quần áo, cà phê, gạo, thủy sản và đồ gỗ Việt Nam là đối tác lớn thứ 5 của EU trong ASEAN

Mọi thứ đã thay đổi rất nhiều kể từ năm 1990 khi thương mại của Việt Nam với thế giới mới chỉ đạt 2,5 tỷ đô la Mỹ giá trị nhập khẩu và 2,4 tỷ đô la giá trị xuất khẩu

Các cột mốc trong quan hệ Việt Nam - EU bao gồm Hiệp định Thương mại dệt may (một trong những thỏa thuận thương mại đầu tiên giữa Việt Nam với một đối tác châu Âu); SCA năm 1995 (quy chế tối huệ quốc), Hiệp định tiếp cận thị trường năm 2004 (giở bỏ hạn ngạch nhập khẩu dệt may);Việc Việt Nam

Trang 38

38

gia nhập WTO; PCA năm 2012 và GSP mới của EU (2014) tạo thuận lợi cho hàng giày dép Việt Nam

Theo cơ chế hiện hành, 35 % hàng hóa của Việt Nam được nhập khẩu vào

EU miễn thuế theo quy chế tối huệ quốc, ngoài ra còn có thêm 10% được đánh thuế bằng 0 theo quy định GSP Các mặt hàng xuất khẩu còn lại của Việt Nam sang EU - giày dép, quần áo, thủy sản - vẫn phải áp dụng thuế quan Thuế quan chống bán phá giá đã được áp đặt trong những năm qua, đặc biệt là đối với xe đạp (2005) và giày dép (2006)

Trong các mặt hàng dệt may xuất khẩu, lợi ích của Việt Nam được hưởng

từ thuế quan GSP bị hạn chế bởi quy định về xuất xứ sản phẩm Theo “yêu cầu chuyển đổi” (‘Double Transformation requirement’ – DTR) các mặt hàng như chỉ, sợi may mặc phải được sản xuất và tại Việt Nam thì mới đủ điều kiện để được coi là “có xuất xứ Việt Nam” Nhưng phần lớn chỉ và sợi được sử dụng ở Việt Nam hiện nay lại là nhập khẩu: việc sản xuất vật liệu tổng hợp hiện đại đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn - chẳng hạn vào các thiết bị do máy tính điều khiển hay vào đào tạo công nhân lành nghề… so với bông Thực tế là giá trị tăng 10% của việc chuyển đổi chỉ - sợi thành hàng may mặc là giá thấp so với giá trị của bản thân nguyên vật liệu

Nhiều nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc Ở Việt Nam nhân công giá rẻ

có nghĩa là biên độ 10% từ việc chuyển đổi sang hàng may mặc tạo ra lợi nhuận đáng kể, đủ khiến nhiều công ty ý thức đầu tư vào sản xuất của họ Tuy nhiên chừng nào nguyên liệu sản xuất còn chưa được sản xuất ngay tại trong nước thì Việt Nam vẫn chỉ là một lối đi cửa sau cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc và châu Âu

Nếu hàng nhập khẩu miễn thuế phải tuân thủ quy DTR theo quy định của FTA, thì một lần nữa lợi ích mà Việt Nam được hưởng từ hiệp định lại bị hạn chế Liệu EU có áp đặt thuế quan với các nhà sản xuất chưa có khả năng thực hiện DTR hay không? Hoặc EU có hỗ trợ phát triển gián tiếp cho Trung Quốc bằng việc gỡ bỏ thuế quan với các sản phẩm sản xuất tại nước này trong khi Việt Nam chỉ có giá trị gia tăng tối thiểu không? câu hỏi này sẽ đặt ra đối với các nhà

Trang 39

39

hoạch định chính sách của châu Âu và các nhà sản xuất Việt Nam ngay từ buổi sáng ngay sau ngày FTA được ký kết

Các chuyến thăm cấp cao

Các chuyến thăm chính thức có ý nghĩa tạo điều kiện để lãnh đạo các nước tiếp xúc chúng cũng là cơ hội để các nhà quan sát đánh giá được chiều sâu quan hệ giữa các nước

Sự kiện lớn đầu tiên trong quan hệ đối tác Việt Nam - EU là chuyến thăm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt với Ủy ban châu Âu năm 1993, một điểm đến trong chuyến công du mang tính đột phá tới các nước châu Âu gồm Bỉ, Pháp, Đức và Vương Quốc Anh Được thực hiện chỉ 4 tháng sau khi tổng thống Pháp Francoin Mitterand đến thăm Hà Nội, chuyến đi này đóng vai trò trung tâm trong chiến lược của Thủ tướng Võ Văn Kiệt nằm thúc đẩy chính sách mở cửa của Việt Nam và tìm kiếm sự ủng hộ đối với việc kêu gọi Mỹ dỡ bỏ cấm vận Một chuyến thăm mang tính biểu tượng về chính trị là chuyến thăm của Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam tới Brussels hồi tháng 3 năm 2014 Ông được Chủ tịch Romano Prodi tiếp đón Nhân dịp này Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã gặp gỡ với quan chức thương mại cao cấp của EC Peter Carl để bàn về việc Việt Nam gia nhập WTO, hiệp định hàng may mặc 2004 ,và các tiêu chí để Việt Nam được coi

là một nền kinh tế thị trường 6 tháng, sau ông Prodi và cao ủy thương mại Pascal Lamy tiếp tục thảo luận về vấn đề này bên lề hội nghị thượng đỉnh ASEM ở Hà Nội

Chuyến thăm 2006 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Brussels đã gửi

đi một tín hiệu mạnh mẽ về vai trò chiến lược của EU với Việt Nam Tháng 11 năm 2007, chủ tịch Barroso đã đáp lại bằng chuyến thăm tới Hà Nội, trong đó ông đã chấp nhận đề xuất của Việt Nam về việc đàm phán một hiệp định hợp tác mới PCA được khởi đầu năm 2010 và ký kết tháng 6 năm 2012 Khuôn khổ mới này đã mở rộng quan hệ đối tác vượt ra ngoài phạm vi của thương mại và hợp tác kinh tế để lan tỏa ra cả những lĩnh vực như môi trường, biến đổi khí hậu, năng lượng, công nghệ ,quản trị du lịch, văn hóa, di cư, quyền con người, an ninh, chống khủng bố, tham nhũng và tội phạm có tổ chức

Trang 40

40

Sau khi ký với ngoại Trưởng Phạm Bình Minh, Phó chủ tịch EC và đại diện cấp cao EU về chính sách đối ngoại và an ninh Catherine Ashton đã kêu gọi hai bên hợp tác chặt chẽ hơn: “EU có niềm tin mạnh mẽ vào thành công của quá trình đổi mới ở Việt Nam EU cam kết xây dựng một mối quan hệ nâng cấp, rộng hơn và đa dạng hơn với Việt Nam, một đối tác sẵn sàng đảm đương những trách nhiệm lớn hơn trên trường quốc tế, một nhân tố trung tâm của ASEAN và một nền kinh tế đặc biệt năng động.”

Về phần mình, phía Việt Nam ghi nhận những quyền hạn và tư cách pháp nhân mới của EU được ghi trong hiệp ước Lisbon và ý nghĩa của hiệp ước này đối với quan hệ đối ngoại của Châu Âu, các chính sách về an ninh và quốc phòng, với sự ra đời của cơ quan đối ngoại châu Âu (2010) Vai trò của phái đoàn EU bây giờ đây bao gồm các nhiệm vụ trước đây vốn được thực hiện bởi chủ tịch luân phiên, đó là đối thoại chính trị và đại diện ngoại giao thay mặt EU Đồng thời Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng công nhận Phái đoàn châu Âu có tư cách một sứ quán

Các cuộc trao đổi khác diễn ra giữa các chuyến thăm mang tính cột mốc này Các nhà lãnh đạo Việt Nam là khách mời của ủy ban Châu Âu gồm có khó thủ tướng Trần Đức Lương (1996), thủ tướng Phan Văn Khải (1998, 2002) Nghị viện châu Âu từng đón tiếp các chủ tịch quốc hội Việt Nam Nông Đức Mạnh (1995) Nguyễn Văn An (2005) và Nguyễn Sinh Hùng (2011), cũng như Phó chủ tịch Tòng Thị Phóng (2010)

Hai chuyến thăm quan trọng tới Việt Nam thời kỳ đầu là của cao ủy EC phụ trách đối ngoại Hans Van de Broek (1994) và phó chủ tịch EC Manuel Marin (1995) Giữa các chuyến thăm này và việc ký PCA, các quan chức EU tới thăm Hà Nội gồm một phái đoàn Nghị viện châu Âu (2010) và quan chức cấp cao EC phụ trách an toàn thực phẩm, sức khỏe công cộng và bảo vệ người tiêu dùng (2004, 2005), ASEM (2004), thương mại (2005, 2010), đối ngoại (2005,

2006, 2009), tự do công dân, Tư pháp và nội vụ (2006) và hợp tác phát triển (2012) trong giai đoạn này các mối quan hệ được củng cố với việc khởi động đối thoại về quyền con người 2003 và hội nghị thượng đỉnh Việt Nam EU (2004)

Ngày đăng: 20/04/2018, 16:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng – Văn hóa Trung ương, vụ tuyên truyền hợp tác quốc tế, Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta
Tác giả: Ban tư tưởng – Văn hóa Trung ương, vụ tuyên truyền hợp tác quốc tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
2. Bùi Huy Khoát, Carlo Filippini, Stefan Hell (2003), Mở rộng EU và các tác động tới Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng EU và các tác động tới Việt Nam
Tác giả: Bùi Huy Khoát, Carlo Filippini, Stefan Hell
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
3. Nguyễn Anh Thư, Andreas Stoffers (2015), Triển vọng đối với Việt Nam và Đức trong bối cảnh hội nhập kinh tế ASEAN và EU, Nxb.Tri Thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng đối với Việt Nam và Đức trong bối cảnh hội nhập kinh tế ASEAN và EU
Tác giả: Nguyễn Anh Thư, Andreas Stoffers
Nhà XB: Nxb. Tri Thức
Năm: 2015
4. GS. Carlo Altomonte, GS. Mario Nava (2004), Kinh tế và chính sách của EU mở rộng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và chính sách của EU mở rộng
Tác giả: GS. Carlo Altomonte, GS. Mario Nava
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Phái đoàn liên minh châu Âu tại Việt Nam (2015), 25 năm hữu nghị và phát triển, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 25 năm hữu nghị và phát triển
Tác giả: Phái đoàn liên minh châu Âu tại Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2015
7. Carlo Filippini, Bùi Duy Khoát, Stefan Hell (2004), Mở rộng EU với các tác động đối với Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng EU với các tác động đối với Việt Nam
Tác giả: Carlo Filippini, Bùi Duy Khoát, Stefan Hell
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
8. Bùi Thanh Sơn, Triển vọng phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam – EU, Tạp chí thông tin đối ngoại số 4 năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam – EU
9. Đào Ngọc Huy (1995), Liên minh Châu Âu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh Châu Âu, NXB Chính trị quốc gia
Tác giả: Đào Ngọc Huy
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia"
Năm: 1995
10. Học Viện Quan Hệ Quốc tế (1995), Liên minh Châu Âu, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh Châu Âu
Tác giả: Học Viện Quan Hệ Quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
11. Nguyễn An Hà, Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu ASEM 10 và vai trò của Việt Nam, Viện nghiên cứu châu Âu năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị thượng đỉnh Á – Âu ASEM 10 và vai trò của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn An Hà
Nhà XB: Viện nghiên cứu châu Âu
Năm: 2014
12. Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn An Hà (2005), Các nước Đông Âu gia nhập Liên minh Châu Âu và những tác động tới Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các nước Đông Âu gia nhập Liên minh Châu Âu và những tác động tới Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Thuấn, Nguyễn An Hà
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005
13. Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam trong hợp tác Á – Âu với trách nhiệm duy trì hòa bình, an ninh, ổn định ở Đông Nam Á và thế giới, Tạp chí thông tin đối ngoại số T11, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong hợp tác Á – Âu với trách nhiệm duy trì hòa bình, an ninh, ổn định ở Đông Nam Á và thế giới
14. Phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, Lịch sử quan hệ Việt Nam Liên minh châu Âu 1990 - 2015, nhà xuất bản Thông Tấn, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử quan hệ Việt Nam Liên minh châu Âu 1990 - 2015
Nhà XB: nhà xuất bản Thông Tấn
15. PGS. TS. Đinh Công Tuấn, Phát triển quan hệ Việt Nam – EU trong giai đoạn 2011-2020, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển quan hệ Việt Nam – EU trong giai đoạn 2011-2020
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
16. PGS. TS. Đinh Công Tuấn, Quan hệ kinh tế Việt Nam – Liên minh châu Âu: thực trạng và triển vọng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế Việt Nam – Liên minh châu Âu: thực trạng và triển vọng
Tác giả: PGS. TS. Đinh Công Tuấn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
17. PGS. TS. Đinh Công Tuấn, Quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU): đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu dài, vì hòa bình và phát triển, Tạp chí nghiên cứu châu Âu - Viện nghiên cứu châu Âu năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU): đối tác bình đẳng, hợp tác toàn diện, lâu dài, vì hòa bình và phát triển
Tác giả: PGS. TS. Đinh Công Tuấn
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu châu Âu - Viện nghiên cứu châu Âu
Năm: 2010
18. ThS. Nguyễn Duy Quang, Vai trò nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh châu Âu đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế số 46 năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Liên minh châu Âu đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam
19. Trần Thị Kim Dung (2001), Quan hệ Việt Nam – Liên minh Châu Âu, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ Việt Nam – Liên minh Châu Âu
Tác giả: Trần Thị Kim Dung
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2001
20. TS. Đinh Công Tuấn, Vài nét về quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU), Viện nghiên cứu châu Âu, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á số 5 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU)
6. PGS. Nguyễn Văn Trình (chủ biên), kinh tế đối ngoại Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2009 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w