1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHỨNG MINH NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI LÀ SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI.

18 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 39,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử loài người trải qua bốn thời kỳ lớn: cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại. Sự ra đời và phát triển của thời kì sau là quá trình gối đầu các vấn đề của thời kỳ trước đó, nói đúng hơn đó là sự kế thừa và phát triển các vấn đề của thời kỳ trước. Thời kì trung đại kế thừa tiền đề của thời kì cổ đại, cận đại là giai đoạn kế tục và phát triển các tiền đề được tạo ra ở thời kì trung đại, và đến thời kì hiện đại cũng như vậy, đó là bước tiếp nhận những thành tựu của cận đại và phát triển những vấn đề cận đại ở một mức độ cao hơn. Các vấn đề đó, bao gồm: tư sản và chủ nghĩa tư bản, vô sản và chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, học thuyết Mác... Bài làm xin được trình bày sự kế thừa và phát triển của hiện đại qua các vấn đề nêu dưới góc nhìn lịch sử thông qua việc đối chiếu, so sánh các vấn đề trên hệ quy chiếu lịch đại lẫn đồng đại.

Trang 1

MÔN: LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI ĐỀ: CHỨNG MINH NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA LỊCH SỬ THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI LÀ SỰ KẾ THỪA VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ THẾ

GIỚI CẬN ĐẠI.

Trang 2

BÀI LÀM Lịch sử loài người trải qua bốn thời kỳ lớn: cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại Sự ra đời và phát triển của thời kì sau là quá trình gối đầu các vấn đề của thời

kỳ trước đó, nói đúng hơn đó là sự kế thừa và phát triển các vấn đề của thời kỳ trước Thời kì trung đại kế thừa tiền đề của thời kì cổ đại, cận đại là giai đoạn kế tục và phát triển các tiền đề được tạo ra ở thời kì trung đại, và đến thời kì hiện đại cũng như vậy, đó là bước tiếp nhận những thành tựu của cận đại và phát triển những vấn đề cận đại ở một mức độ cao hơn Các vấn đề đó, bao gồm: tư sản và chủ nghĩa tư bản, vô sản và chủ nghĩa xã hội, phong trào giải phóng dân tộc, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, học thuyết Mác

Bài làm xin được trình bày sự kế thừa và phát triển của hiện đại qua các vấn

đề nêu dưới góc nhìn lịch sử thông qua việc đối chiếu, so sánh các vấn đề trên hệ quy chiếu lịch đại lẫn đồng đại:

Đầu tiên, giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản.

Như đã biết, Cách mạng tư sản Anh năm 1640 đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản Từ đó đến nay nó trải qua các giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh (từ khi ra đời đến năm 1870) diễn ra trong thời kì cận đại.

Cuộc cách mạng tư sản Anh tấn công vào thành trì cũ chế độ cũ để xây dựng chế độ mới, lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, mở đường cho sức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển Từ sau cuộc cách mạng tư sản Anh, một loạt các cuộc cách mạng tư sản, đấu tranh giành độc lập, quyền làm chủ của giai cấp tư sản diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới, như cuộc chiến tranh cách mạng ở Bắc Mỹ cuối thế kỉ 18, cách mạng tư sản Pháp (1789), CMTS Hy Lạp

Trong khi phong trào cách mạng tư sản không ngừng tiếp diễn thì kinh tế tư bản chủ nghĩa đã có những bước tiến quan trọng Anh vươn lên chiếm vị trí hàng đầu thế giới trong nền kinh tế, tiếp sau đó là nước Pháp Nền kinh tế của các nước

tư bản có sự phát triển một cách vượt bậc Trong giai đoạn này chủ nghĩa tư bản phát triển theo hướng tự do canh tranh Giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do (hay rộng hơn là chủ nghĩa tự do kinh tế) gắn với sự ra đời của các nhà nước dân chủ (hay dân chủ tư sản) và sự phát triển của chủ nghĩa tự do, bao gồm tự do kinh tế Chủ nghĩa tư bản thời kỳ này phát triển mạnh, thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật

và tăng năng suất lao động, đã biến nhiều quốc gia trở thành các cường quốc kinh

tế, tuy nhiên gây ra sự phân hóa xã hội sâu sắc, kể cả bóc lột nhân công thường thấy Các tư tưởng cải tạo chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa xã hội phát triển Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, nhà nước từ chỗ hầu như không can thiệp kinh tế, thì lại

Trang 3

can thiệp mạnh mẽ vào cơ chế thị trường, điều chỉnh thu nhập, sau đó là một quá trình quốc hữu hóa lớn diễn ra ở một số nước

Giai đoạn thứ hai, giai đọan chủ nghĩa đế quốc phát triển mạn mẽ và sau sắc nhất (từ 1870 đến 1945), diễn ra vào cuối thời kì cận đại đầu thời kì hiện đại của lịch sự thế giới Trong đó, chủ nghĩa tư bản từ những nền tảng được xây dựng

thời kì cận đại phát triển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền Giai đoạn độc quyền là

sự kế tục trực tiếp giai đoạn tự do cạnh tranh trong cùng một phương thức sản xuất TBCN Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến độ nhất định thì xuất hiện các tổ chức độc quyền Lúc đầu tư bản độc quyền chỉ có trong một số ngành, một

số lĩnh vực của nền kinh tế Hơn nữa, sức mạnh kinh tế của các tổ chức độc quyền cũng chưa thật lớn Tuy nhiên, sau này, sức mạnh của các tổ chức độc quyền đã được nhân lên nhanh chóng và từng bước chiếm địa vị chi phối trong toàn nền kinh

tế Chủ nghĩa tư bản bước sang giai đoạn phát triển mới - chủ nghĩa tư bản độc quyền Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản độc quyền là một nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản trong

đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế Nếu trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, sự phân hóa giữa các nhà tư bản chưa thực sự sâu sắc nên quy luật thống trị của thời kỳ này là quy luật lợi nhuận bình quân, còn trong chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật thống trị là quy luật lợi nhuận độc quyền Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của chủ nghĩa tư bản Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư

Sự hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền do sự sáp nhập các doanh nghiệp tạo nên các tập đoàn kinh tế gần như không chịu sự cạnh tranh mang tính tự nhiên cũng là một đặc điểm trong giai đoạn thứ ba này Thời kỳ này, theo nhận định của Lênin, chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa đế quốc, đẩy một dân tộc này đánh một dân tộc khác Các giai đoạn phát triển thăng trầm của chủ nghĩa tư bản từ năm

1918 đến năm 1939 và sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, giai đoạn cuối gắn liền với sự phát triển cao của chủ nghĩa tư bản ở thời kì hiện đại (chủ nghĩa tư bản hiện đại) với những đặc điểm nổi bật của nó.

Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, sự can thiệp vào nhà nước vào kinh tế và quá trình quốc hữu hóa lại đẩy lên một tầm cao hơn, cho dù vẫn tồn tại kinh tế thị trường và đa thành phần kinh tế ở “các nước tư bản” phát triển

Từ thập niên 1980 lại một xu hướng khác, là quá trình tư hữu hóa và cắt giảm an sinh xã hội do sự khủng hoảng nền kinh tế Sự hồi sinh của chủ nghĩa tư

Trang 4

bản mở đầu bởi các nhà bảo thủ mới như Reagan ở Mỹ và Thatcher ở Anh, lan rộng ra phần lớn thế giới Tuy nhiên có một trào lưu khác như tại Mỹ la tinh, quá trình quốc hữu hóa lại diễn ra tại một số nước Cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây

đã ra tăng sự can thiệp của Nhà nước vào các lĩnh vực kinh tế ở một số nước, nhưng cơ bản không có một quá trình quốc hữu hóa ồ ạt nào diễn ra

Nhìn chung bức tranh của chủ nghĩa tư bản hiện đại có thể là một quá trình đan xen nhau giữa tư hữu hóa (“tư bản hóa”) hay quốc hữu hóa (“xã hội hóa”, “Nhà nước hóa”) ở các quốc gia, mà nguyên nhân từ sự lên cầm quyền của các lực lượng cánh

tả, bao gồm cả những người tự do cánh tả, hay các lực lượng cánh hữu hay cánh tả thiên hữu nhưng các đặc điểm cơ bản của nó là tự do kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường “mạnh được yếu thua” - quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản từ khởi nguồn nguyên thủy thì luôn tồn tại trừ một số quốc gia trong một số giai đoạn

Hiện nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã có những bước phát triển chưa từng thấy về kinh tế và khoa học – kĩ thuật, đời sống vật chất và tinh thần của con người được nâng cao vượt bậc, nhưng trong lòng của chủ nghĩa tư bản hiện đại, vẫn chứa đựng những mâu thuẫn không thể khắc phục được (sự cạnh trạnh gay gắt giữa các nước tư bản, sự chêch lệch giàu và nghèo quá lớn, xã hội bất công, tội ác và và bạo lực )

 Thứ hai, vấn đề giai cấp vô sản – công nhân và chủ nghĩa xã hội.

Giai cấp công nhân ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản Bị áp bức bóc lột tàn khốc, công nhân đứng lên, đấu tranh vì quyền lợi của giai cấp mình Những phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong nững năm 30 – 40 của thế kỉ XIX chứng tỏ rằng giai cấp công nhân đã bước lên vũ đài chính trị với tư thế của một giai cấp độc lập Nhưng vì chưa có tổ chức vững mạnh, và không được tranh bị bằng lí luận khoa học, công nhân chưa thể dành được thắng lợi các trào lưu xã hội không tưởng không thể đáp ứng yêu cầu của giai cấp công nhân tron cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản

Hoạt động cũng như các phong trào đấu tranh của cộng sản và công nhân quốc tế trưởng thành và phát triển được đánh giấu bởi sự hình thành và phát triển của tổ chức quốc tế cộng sản, trải dài từ thời kì cạn đại cho tới thời hiện đại

Đầu tiên, sự thành lập của Hội Liên hiệp Lao động quốc tế (gọi tắt là Quốc tế

I), Quốc tế I là tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp công nhân, được thành lập trên cơ sở chủ nghĩa xã hội khoa học Quốc tế được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị là cơ sở cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội của giai cấp công nhân Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh các loại, Quốc tế I đã khởi thảo những vấn đề cương lĩnh về chiến lược và sách lược của chính đảng, góp phần làm cho phong trào công

Trang 5

nhân có bước chuyển biến mới, tiến tới thành lập những tổ chức công nhân có tính chất quần chúng Quốc tế I, dưới sự lãnh đạo của Mác và Ăngghen đã đào tạo được nhiều cán bộ trở thành người tổ chức và lãnh đạo những chính đảng vô sản đầu tiên của phong trào công nhân quốc tế Quốc tế I đã đấu tranh chống lại những trào lưu

xã hội chủ nghĩa sai trái, chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập chính đảng công nhân trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học Cùng với việc thành lập các chính đảng vô sản độc lập, chủ nghĩa Mác ngày càng được truyền bá rộng rãi vào phong trào công nhân Đến đầu những năm 70 của thế kỉ XIX, bước vào giai đoạn mới được đánh dấu bằng những cuộc cách mạng vô sản năm 1871 ở Pháp và sự thành lập của công xã Pari, nhà nước vô sản đầu tiên của giai cấp công nhân thế giới Có thể nói rằng Công xã là con đẻ tinh thần của Quốc tế I

Sau sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp tư bản sau năm 1870 đã làm cho giai cấp vô sản các nước tăng nhanh về số lượng và chất lượng Giai cấp công nhân

ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nga phát triển nhanh chóng Đội ngũ công nhân các nước này đã tăng nhanh và cuộc đấu tranh bắt đầu với những quy mô lớn có ý nghĩa lịch

sử trong phong trào công nhân quốc tế

Sau khi công xã Pari thất bại, Quốc tế I cũng giải tán, phong trào công nhân bắt đầu thời kì mới tập hợp lực lượng, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản

Mác – Ăngghen với uy tín lớn lao vẫn tiếp tục lãnh đạo phong trào công nhân quốc tế, chuẩn bị về mặt tổ chức và lí luận cho giai cấp công nhân Phong trào công nhân quốc tê so với thời kì trước công xã đã phát triển rộng rãi hơn, hoạt động trên phạm vi lớn hơn ở nhiều nước Ở một số nước châu Âu và châu Mỹ thành lập đảng công nhân, đảng xã hội hay các nhóm có khuynh hướng tiến bộ cách mạng của giai cấp công nhân: đảng Xã hội dân chủ Đức (1869), các đảng công nhân ở Hà Lan (1870), Pháp (1879), Mỹ (1876) Sự ra đời của các chính đảng công nhân dù còn nhiều mặt hạn chế, cũng đã đánh dấu việc lớn lên của phong trào công nhân các nước

Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân thế giới phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX do ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác Dẫn đến sự ra đời của tổ chức Quốc tế cộng sản hai Đánh dấu và sự trưởng thành về mặt tổ chức cũng như lí luận của giai cấp công nhân, mà những người đứng đầu là Mác và Ăngghen

Đại hội Pari năm 1889 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt Nó khôi phục quốc tế của phong trào công nhân, tiếp tục sự nghiệp đấu tranh cho thắng lợi của chủ nghĩa Mác Sau đại hội Pari, phong trào công nhân châu Âu đạt được những thành tích đáng kể dưới ảnh hưởng của Quốc tế II Năm 1890, chính quyền phản dộng Đức

Trang 6

buộc phải xóa “đạo luật đặc biệt” và trong cuộc tuyển cử, giai cấp công nhân Đức

đã giành được thắng lợi lớn 1/5/1890, nhiều thành phố châu Âu, công nhân biểu dương lực lượng rầm rộ thu hút hàng vạn chục người tham gia Phong trào công nhân ở Anh, ở Pháp phát triển mạnh mẽ

Sự ra đời và phát triển của Quốc tế cộng sản thứ hai ảnh hương đến cao trào đấu tranh của công nhân Nga, mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Mười (1917)

Giai cấp vô sản Nga xuất hiện và lớn mạnh nhanh chóng Từ đầu những năm

40 của thế kỉ XIX, giai cấp công nhân Nga đã có hàng triệu người riêng công nhân

cơ khí 1,5 triệu Phong trào công nhân dưới ảnh hưởng của những người mácxít và

tổ chức của họ phát triển Năm 1883, nhóm Giải phóng lao động do Plêkhanốp ra

đời, đây là nhóm mác xít đầu tiên ở Nga Năm 1895, Lê nin hợp nhất các tổ chức

mác xít của công nhân ở Pê téc bua thành Hội liên hiệp đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân mầm móng đầu tiên của một chính đảng vô sản.

Tại Đại hội II của Đảng Công nhân xã hội Nga (7 – 1903) ở Luân Đôn đã thành lập Đảng, thông qua cương lĩnh của Đảng và khẳng định nhiệm vụ chủ yếu của Đảng là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, đánh đổ chính quyền của bọn tư bản, thành lập chuyên chính vô sản Đồng thời, Đảng đã đề ra nhiệm vụ trước mắt là đánh đổ chế độ Nga hoàng, thành lập nước cộng hòa, thi hành những cải cách dân chủ, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân Ở Đại hội đại biểu lần III đề ra khẩu hiệu của cách mạng là thành lập nước cộng hòa dân chủ, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân, thực hiện ngày làm 8 giờ Những điều này cho thấy phong trào công nhân Nga được xây dựng, củng cố về tổ chức, dần trang bị về mặt

lý luận khoa học

Trong bài “Quốc tế thứ ba và địa vị của nó trong lịch sử” vào tháng 4 -1919, Lênin đã vạch rõ Quốc tế cộng sản là người thừa kế và người kế tục sự nghiệp Quốc tế thứ nhất: “Ý nghĩa lịch sử của Quốc tế thứ ba đối với toàn thế giới là đã bắt đầu đem thực hiện cái khẩu hiệu vĩ đại nhất của phong trào công nhân, tức là

khẩu hiệu quy định bởi khái niệm: chuyên chính vô sản”.

Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đánh dấu thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với chủ nghĩa cơ hội, xét lại; góp phần đẩy nhanh sự hình thành các Đảng Cộng sản ở nhiều nước; Quốc tế Cộng sản đã có công lao to lớn trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cộng sản và công nhân trên thế giới, là trung tâm đoàn kết các đảng cách mạng chân chính trên thế giới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng nhân loại khỏi áp bức của chủ nghĩa đế quốc

Trang 7

Đỉnh cao của phong trào cách mạng vô sản thế giới là thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Mười, mà ở đó do giai cấp vô sản – công nhân cầm quyền lãnh đạo cách mạng, có tổ chức chính đảng là Đảng cộng sản Nga Cách mạng tháng Mười Nga đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước chỉ

ra cho họ con đuocngừ đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Ngay sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười , một cao trào cách mạng vô sản đã dấy lên sôi nổi ở châu Âu trong những năm 1818 – 1923, làm chấn động dữ dội nền thống trị của giai cấp tư sản độc quyền ở nhiều nước Một loạt các đảng của giai cấp công nhân ra đời ở các nước thuộc địa và nữa thuộc địa ở giai đoạn sắp tới “Đảng cộng sản”

Giai đoạn phát triển cao của phong trào cộng sản quốc tế bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến giữa những năm 70 Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của phong trào cộng sản quốc tế Cuối giai đoạn này, Đảng Cộng sản

đã hoạt động ở hơn 90 nước trên thế giới với hơn 175 triệu đảng viên (trong dó, 15 Đảng cộng sản cầm quyền ở 15 nước xã hội chủ nghĩa với gần 70 triệu đảng viên

28 Đảng Cộng sản ở các nước tư bản phát triển gồm 3,5 triệu đảng viên) Thành

tựu lớn nhất của phong trào cộng sản quốc tế là sự ra đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, làm thay đổi bộ mặt hành tinh thế giới chúng ta.Từ những năm

1944 – 1945 đến 1949, một loạt nước dân chủ nhân dân ở châu Âu và châu Á xuất hiện, cùng với Liên Xô - nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - hình thành

hệ thống XHCN thế giới Từ đây, thế giới chia làm hai phe, hai cực đối địch nhau Cuộc đấu tranh giữa hai hệ thống ảnh hưởng to lớn, có tính quyết định đến lịch sử phát triển chính trị thế giới Sự ra đời và phát triển của hệ thống XHCN thế giới với 1/4 diện tích trái đất và gần l/3 dân số nhân loại với những tiềm lực và thành tựu to lớn trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kĩ thuật sau chiến tranh là nhân tố quan trọng, có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển tiến bộ của thế giới trong suốt mấy thập niên giữa thế kỉ XX

Sự hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là sự kế tiếp và

là kết quả đấu tranh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế kéo dài hàng thế kỉ Từ giữa thế kỉ XIX, khi mới ra đời phong trào cộng sản và công nhân quốc

tế, chủ nghĩa xã hội mới chỉ được coi như một ''bóng ma ám ảnh châu Âu'' Phải trải qua hơn nửa thế kỉ đấu tranh, tích lũy và chuẩn bị (chuẩn bị lí luận cách mạng, chuẩn bị tổ chức và lực lượng cách mạng, diễn tập qua Công xã Pari 1871 và cách mạng dân chủ tư sản Nga 1905-1907,…) đến năm 1917, chủ nghĩa xã hội mới thắng lợi đầu tiên ở một nước (Liên Xô) Phải trải qua không biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ và hi sinh xương máu, phải đánh bại tất cả các cuộc tấn công của các lực lượng thù địch (tiêu biểu là cuộc bao vây, can thiệp quân sự của 14 nước tư bản những năm 1918-1920 và đặc biệt là cuộc tấn công xâm lược của phát xít Hitle

Trang 8

những năm 1941-1945), mới bảo vệ được nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới và tạo điều kiện cho chủ nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới Như thế, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới là “con đẻ chủ yếu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế” và phong trào giải phóng dân tộc

Như vậy, phong trào cộng sản quốc tế chuyển từ một tổ chức quốc tế tập trung thống nhất cao, có kỉ luật chặt chẽ nghiêm ngặt trước đây sang một phong trào chính trị quốc tế của các Đảng Cộng sàn tương đối độc lập, tự chủ, quan hệ với nhau bằng tình đoàn kết giai cấp có tính quốc tế, với những nguyên tắc tư tưởng và chiến lược chung Từ năm 1947 đến 1956, hình thức trao đổi kinh nghiệm

và thống nhất các hoạt động của một số Đảng Cộng sản (chủ yếu là châu Âu) là Hội nghị thông tin của các đại biểu các đảng này, gọi tắt làCục Thông tin quốc tế (Cục Thông tin cộng sản) Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các Đảng Cộng sản

và công nhân đã tổ chức được nhiều Hội nghị quốc tế để trao đổi ý kiến, thảo luận, đánh giá các vấn đề lớn của thời đại như chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản, phong trào độc lập dân tộc, phong trào công nhân quốc tế và đề ra phương hướng, nhiêm

vụ của phong trào, của các đảng ở các khu vực, những vấn đề lí luân, chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản quốc tế Đó là các hội nghị quốc tế của các Đảng Cộng sản và công nhân thế giới những năm 1957, 1960 và 1969 ở Matxcơva với sự tham gia của đa số các Đảng Cộng sản trên thế giới, sau đó là hội nghị các Đảng Cộng sản châu Âu năm 1976

Thứ ba, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.

Về phong trào giải phóng dân tộc.

Sự phát triển và thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc của các nước châu Á, Phi, Mỹ latinh trong thời kì hiện đại: bước phát triển mới của cách mạng giải phóng dân tộc sau Cách mạng tháng Mười (1918 – 1945); thắng lợi của của cách mạng giải phóng dân tộc và sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa

đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai; công cuộc xây dựng đất nước của dân tộc

Á, Phi , Mỹ latinh sau khi giành lại được độc lập dân tộc Thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc là một trong những biến chuyển to lớn làm thay đổi căn bản tình hình thế giới và bộ mặt xã hội loài người

Trong suốt cả thời kỳ từ năm 1871 đến năm 1904, trình độ và quy mô của phong trào công nhân ở các nước thuộc địa và các nước phụ thuộc rất khác nhau Song,

dù có những sự khác nhau đáng kể, phong trào công nhân ở các nước ấy vẫn có nét chung là tiến chậm hơn nhiều so với phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển nhất lúc bấy giờ về trình độ tổ chức, về việc thu hút công nhân vào các cuộc đấu tranh giai cấp, về trình độ giác ngộ giai cấp, về việc nắm vững các

Trang 9

hình thức và phương pháp chống ách áp bức và bóc lột trong các lĩnh vực kinh tế,

xã hội và chính trị

Sở dĩ phong trào công nhân tiến chậm là do toàn bộ các nhân tố, trước hết là

do trình độ phát triển kinh tế thấp và kể cả về xã hội Vào cuối thế kỷ XIX, các nước Á, Phi, Mỹ La Tinh bị cuốn hút vào quỹ đạo của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới, điều này gắn liền với việc chủ nghĩa tư bản trước độc quyền phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, và các nước phát triển chuyển sang tăng cường xuất khẩu

tư bản vào các nước thuộc địa và nữa thuộc đại Ở tất cả các nước này, sự phát triển tư bản chủ nghĩa đã được đẩy nhanh Tuy nhiên, điều đó đã diễn ra trong những điều kiện rất đặc biệt, khác với những điều kiện ở châu Âu Nhân tố kìm hãm, một mặt là chế độ bóc lột thực dân, mặt khác là sự trói buộc của các hình thức kinh tế cổ truyền

Sự thống trị của nước ngoài kết hợp với sự bền vững của các thể chế phong kiến trong các nền kinh tế và trong đời sống xã hội đã gây nên những khó khăn to lớn cho giai cấp vô sản đang hình thành trên con đường đi tới chổ tự quyết về mặt giai cấp, tới chổ thành lập cách tổ chức của mình và phát triển cuộc đấu tranh thắng lợi các quyền kinh tế và chính trị của mình

Mức độ bóc lột nặng nề không thể tưởng được, tiền công chết đói tại một số công xưởng tư bản chủ nghĩa, mối liên hệ chặt chẽ giữa công nhân với nông thôn các nước này, tất cả điều đó đã quyết định của tâm lý tiểu tư sản, cũng như lối sống và nếp suy nghĩ cổ truyền của họ Sự phục tùng chính quyền đã giáo dục trong nhân dân suốt hàng thế kỷ và ý thức nhẫn nhục trước bọn thực dân cũng đã gây rất nhiều khó khăn cho quần chúng tích cực tham gia đấu tranh chính trị

Quá trình phong trào vô sản chính mùi ở các nước thuộc địa và các nước phụ thuộc đang diễn ra nhanh chóng hơn do ảnh hưởng của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân phương Tây lúc đó đã một chặn đường phát triển dài Hàng vạn người, cái gọi là công nhân thừa di cư từ chính quốc sang các nước Á, Phi, Mỹ latinh đã trở thành những người trực tiếp truyền bá ảnh hưởng cách mạng hóa phương Tây Điều đó đã góp phần phát triển các hình thức hiện đại của phong trào vô sản có tổ chức ở các nước phụ thuộc, đặc biệt là ở lục địa Mỹ latinh

Một nhân tố quan trọng nữa là phong trào giải phóng dân tộc, mà trong phong trào đó đã nổ ra cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản Á, Phi, Mỹ latinh đang hình thành và chưa ý thức được rằng mình là một giai cấp Phong trào giải phóng dân tộc đã lôi cuốn giai cấp vô sản vào cuộc đấu tranh chính trị, là trường học của giai cấp vô sản để làm quen với tính tổ chức, là trường học giáo dục ý chí kiên quyết và phương pháp đấu tranh rõ rệt Ngoài ra còn giúp cho giai cấp vô sản nhận thấy được sức mạnh to lớn của mình, đoàn kết với các nhóm chính trị khác trong

xã hội, nhưng cùng chí hướng để cùng nhau đấu tranh giải phóng dân tộc Đồng thời, vì vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thường nằm trong

Trang 10

tay các tầng lớp xã hội thuộc giai cấp tư sản, nên cuộc tham gia đấu tranh đó đã che giấu tính đặc thù của lợi ích giai cấp vô sản và nhiệm vụ đặc biệt của nó

Nét tiêu biểu là trong trạng thái phôi thai, cuộc đấu tranh của công nhân làm thuê ở các nước thuộc địa và các nước phụ thuộc đã bắt đầu biểu hiện nhiều nét vốn có của phong trào vô sản ở các nước tư bản phát triển Trước hết là các cuộc bãi công

tự phát, chưa có tổ chức tuy vậy cũng đã bộc lộ xu hướng của giai cấp công nhân muốn đoàn kết lực lượng của mình Chính vậy trong các cuộc bãi công và các cuộc đấu tranh khác, mà giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc đã tiến những bước đầu tiên nhằm thống nhất và thành lập các tổ chức của mình

Sau thế chiến thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước Á, Phi, Mỹ Latinh

Hầu hết các quốc gia ở những khu vực này đã giành được độc lập dân tộc, làm tan rã hệ thống thuộc điạ cuả chủ nghĩa thực dân

Ở châu Á.

Phong trào giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ngay sau Thế chiến thứ hai, dẫn đến sự ra đời của hàng loạt quốc gia độc lập

Ở Trung Quốc: cuộc nội chiến Cách mạng 1946-1949 đã lật đổ nền thống

trị cuả tập đoàn Tưởng Giới Thạch, thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (1/10/1949), đưa nhân dân Trung Quốc vào thời kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghiã xã hội

Ở Ấn Độ: sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc đã buộc đã buộc

thực dân Anh phải thay đổi hình thức cai trị 26/1/1950, Ấn Độ tuyên bố độc lập, nước Cộng hoà Ấn Độ ra đời

Ở Triều Tiên: sau Thế chiến thứ 2, Triều Tiên tạm thời chia làm 2 miền

quân quản (quân đội Liên Xô đóng quân ở miền Bắc vĩ tuyến 38°, quân đội Mỹ đóng quân ở Nam vĩ tuyến 38°)

+ Ở Bắc Triều Tiên: nhân dân Triều Tiên đã xây dựng chính quyền nhân dân, thực hiện các cải cách dân chủ

+ 9/1948, nước Cộng hoà dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời tiến hành xây dựng chủ nghiã xã hội, đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục, giao thông vận tải

+ Ở Nam Triều Tiên, 5/1948, Mỹ lập ra chính phủ Lý Thừa Vãn, thành lập nước Đại Hàn Dân Quốc (Hàn Quốc)

+ Gần đây, Hàn Quốc đã trở thành nước công nghiệp mới (NIC) với nền nông nghiệp, giao thông và giáo dục hiện đại

Ngày đăng: 05/12/2017, 21:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w