Trong quá trình sản xuất vật chất con người tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển mình, đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội với tất cả sự
Trang 1MÔN: PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á
ĐỀ TÀI: LÀNG XÃ, CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT Ở VIỆT NAM NHÌN TỪ
PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT CHÂU Á
LỜI DẪN
Phương thức sản xuất Châu Á là một vấn đề khoa học đã được nhiều nhà khoa học thế giới và Việt Nam nghiên cứu Đây không phải là vấn đề mới, thậm chí đã được nói đến rất nhiều lần từ hơn nửa thế kỷ nay Tuy nhiên, lúc nào nó cũng là một vấn đề mới, lúc nào cũng thấy cần phải đặt ra các vấn đề để bàn lại
Và càng bàn luận, thì càng có nhiều vấn đề được hé lộ cũng như có nhiều vấn đề mới được tìm thấy, vì vậy mà càng có những nhận định những ý kiến, quan điểm khác nhau Và cho đến nay, trong giới học giả mácxit trên thế giới vấn chưa có một kiến giải nhất trí nào và thỏa đáng nào cho vấn đề này Như vậy,
vấn đề “Phương thức sản xuất Châu Á” rõ ràng có một tầm quan trọng nhất
định trong công tác nghiên cứu lịch sử của chúng ta Việc nhận thức những đặc điểm của Phương thức sản xuất Châu Á sẽ góp phần làm rõ hơn trong hoạt động nhận thức của các xã hội Châu Á trước khi bị thực dân phương Tây xâm chiếm – nên nó có một ý nghĩa chính trị và khoa học rất lớn Trong phạm vi bài tiểu luận này, nhóm sẽ tập trung nghiên cứu về chế độ sở hữu ruộng đất và công xã nông thôn Việt Nam đối chiếu với Phương thức sản xuất Châu Á và những di sản để lại của nó
Trang 2Chương I : Tổng quan về phương thức sản xuất Châu Á.
1 Khái niệm phương thức sản xuất
Con người và xã hội loài người được hình thành và phát triển trong quá trình sản xuất vật chất Để nói đến lịch sử xã hội, do vậy trước hết là phải đi từ lịch sử của sản xuất vật chất Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, sản xuất của cải vật chất (sản xuất vật chất) là điểm xuất phát để tìm ra các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội
Sản xuất vật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để cải biến các dạng vật chất của tự nhiên thành của cải phục
vụ cho đời sống xã hội Đây là hoạt động nền tảng, cơ bản và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển và tồn tại của xã hội, là cái khác biệt căn bản giữa con người và động vật, là tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại và phát triển của con người Trong quá trình sản xuất vật chất con người tạo ra tư liệu sinh hoạt nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển mình, đồng thời sáng tạo ra toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó Chính trong quá trình này, con người đã từng bước làm biến đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và biến đổi chính bản thân mình
Để giải quyết đúng đắn các vấn đề của đời sống xã hội thì cần phải tìm nguyên nhân cuối cùng của nó từ tình trạng phát triển của nền sản xuất vật chất của xã hội đó mà căn bản là từ trình độ phát triển của phương thức sản xuất của
nó - cái quyết định toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của một xã hội nhất định
Với tính cách là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai
đoạn nhất định của xã hội loài người Tương ứng với mỗi cách thức đó, trong lịch sử xã hội sẽ hình thành nên những tính chất, kết cấu và đặc điểm tương ứng
về mặt lịch sử
Và “phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình phụ thuộc trước hết vào tính chất của chính những tư liệu sinh
Trang 3hoạt mà con người thấy có sẵn và phải tái sản xuất ra” Vì thế, dựa vào phương
thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử, người ta có thể phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, hiểu thời đại lịch sử đó thuộc về hình thái kinh tế - xã hội nào
Đối với sự vận động của lịch sử loài người cũng như sự vận động của mỗi
xã hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi
có tính chất cách mạng Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội… được chuyển sang một chất mới Và sự thay thế hợp quy luật khách quan của các phương thức sản xuất tạo nên quá trình phát triển của các hình thái kinh tế
-xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên
Như vậy, phương thức sản xuất là cách thức mà con người làm ra của
cải vật chất cho xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Theo cách đó, con người có những quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau trong sản xuất; hay
nói cách khác, phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng Hai mặt này
được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, có sự
tác động qua lại lẫn nhau, được C.Mác gọi là quan hệ song trùng của bản thân
sự sản xuất xã hội Trong đó, lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực lượng được
con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất
Nó thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất
ra của cải vật chất
Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ
và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Trong quá trình sản xuất, lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành lực lượng sản xuất
Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất thì con người - người lao động giữ vị trí hàng đầu và quyết định Người lao động cùng với sức lao động (thể lực
và trí lực) thông qua hoạt động lao động tạo nên sức mạnh vật chất tác động vào
tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân và của toàn
xã hội Đồng thời, cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con
người với con người Qua đó, con người đã tự nhân đôi mình lên một cách tích cực, một cách hiện thực, tự khẳng định và thể hiện vai trò của mình trong sự
Trang 4phát triển xã hội, từ đó tạo nên bước chuyển quan trọng của mình là trở thành con người theo đúng nghĩa của nó
Trong lao động, con người không ngừng phát triển năng lực nhận thức và
tư duy của mình, sức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh - cơ bắp vì thế được nhân lên gấp nhiều lần Lao động của con người do đó ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí tuệ Hàm lượng trí tuệ trong lao động, đặc biệt trong điều kiện khoa học - công nghệ phát triển vượt bậc, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đã làm cho con người trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận, giữ vai trò quyết định trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội
Tư liệu lao động là một vật hay toàn bộ những vật mà người lao động dùng để tác động vào đối tượng lao động nhằm sản xuất ra của cải vật chất Tư liệu lao động là một trong những yếu tố giản đơn, cần thiết của quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất Tư liệu lao động bao gồm: Loại truyền dẫn hoạt động lao động của con người tới đối tượng lao động hay còn gọi là công cụ lao động (máy móc, thiết bị ); Loại chứa đựng nguyên, nhiên, vật liệu, nửa thành phẩm, thành phẩm (giỏ, ống, thùng, lọ, vv.); Những điều kiện vật chất tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nhưng cũng chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình sản xuất (nhà xưởng, đường sá, sân phơi, kho tàng )
Trong toàn bộ các thành tố cấu thành tư liệu lao động, công cụ lao động đóng vai trò quan trọng nhất và là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất
Công cụ lao động là khí quan của bộ óc con người, là sức mạnh tri thức đã được vật thể hóa, có tác dụng nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh trí tuệ của
con người Nhờ có công cụ lao động mà người lao động có thể tác động trực tiếp đến đối tượng lao động, chế biến nó trong quá trình sản xuất Công cụ lao động
có vai trò quyết định trong sản xuất Mức độ và trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo khả năng chi phối tự nhiên của con người Từ công cụ bằng
đá thô sơ đến những máy tự động phức tạp nhất hiện nay là con đường phát triển của công cụ lao động mà con người đã thực hiện trong lịch sử sinh tồn của mình Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã gây ra sự biến đối sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Xét đến cùng, nó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến cải xã hội
Trang 5Để tiến hành quá trình sản xuất vật chất, đối tượng lao động là một yếu tố không thể thiếu Đối tượng lao động là toàn bộ những vật mà trong quá trình lao động con người tác động vào bằng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất Đối tượng lao động có hai loại Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất, đá, thủy sản Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông
Các yếu tố của lực lượng sản xuất quan hệ hữu cơ với nhau trong đó người lao động và công cụ lao động là hai yếu tố cơ bản nhất Trên cơ sở sự thống nhất biện chứng giữa các yếu tố cấu thành nên nó, lực lượng sản xuất là kết quả khách quan củahoạt động thực tiễn của con người, được hình thành trong lao động và biến đổi cùng lao động Đồng thời lực lượng sản xuấtbiểu hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên vì nhu cầu của con người, là thước đo quan trọng của sự tiến bộ xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội Đồng thời mỗi bước tiến của sự phân công lao động xã hội lại có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển Lực lượng sản xuất của xã hội phát triển cùng với nó là sự cải tiến không ngừng công cụ lao động,
tư liệu sản xuất mở rông, đối tượng lao động ngày càng đa dạng lại thúc đẩy
phân công lao động phát triển, năng suất lao động xã hội cao, Theo C.Mác:
“Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì
mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” [7,
tr.269]
Điều này cho thấy rằng, việc tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là yêu cầu phát triển khách quan của lực lượng sản xuất, để nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, nâng cao được trình độ kinh tế - kỹ thuật, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền sản xuất xã hội Muốn thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải chú trọng vào xây dựng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con người - nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, áp dụng những thành tựu khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất, cải tiến công
cụ lao động, gắn với đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển nhanh và bền vững
Trang 6Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất; không một quá trình sản xuất hiện thực nào có thể diễn ra nếu thiếu một trong hai nhân tố là người lao động và tư liệu sản xuất Tuy nhiên, chỉ có lực lượng sản xuất vẫn chưa thể diễn ra quá trình sản xuất hiện thực được
bởi “trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể sản xuất nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó” [10,tr.552] Những quan hệ giữa người với người
trong quá trình sản xuất được gọi là quan hệ sản xuất, một mặt khác của phương thức sản xuất
Trong hệ thống các quan hệ xã hội hết sức phức tạp, quan hệ sản xuất hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất, là quan hệ cơ bản của
xã hội, là cơ sở của các quan hệ xã hội khác
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội), bao gồm: các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất; các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động
Trong đó, quan hệ sở hữu là quan hệ cơ bản, xuất phát, trung tâm của các
quan hệ sản xuất; là quan hệ quy định tính chất của quan hệ sản xuất và từ đó quy định luôn đặc trưng của một phương thức sản xuất nhất định Sở hữu được hình thành từ sự chiếm hữu đối tượng để tiến hành sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người Sở hữu biểu hiện mối quan hệ giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tư liệu sản xuất
xã hội trong nền sản xuất xã hội mang tính chỉnh thể
Dựa vào Mác và những người phát triển chủ nghĩa Mác, chúng ta có thể liệt kê ra một số phương thức sản xuất của xã hội loài người trong các giai đọan lịch sử và ở các khu vực khác nhau như sau:
- Phương thức cộng sản nguyên thủy: Xã hội loài ngoài được tổ chức trong
các cấu trúc bộ lạc truyền thống với ít hơn 50 người trên một đơn vị sản xuất, điển hình bởi việc chia sẻ sản xuất và tiêu thụ toàn bộ sản phẩm xã hội Do không có sản phẩm thặng dư nào được sản xuất, nên không có khả năng tồn tại
Trang 7các giai cấp thống trị Do phương thức sản xuất này không có sự phân chia giai cấp, nó được coi là xã hội không giai cấp Các công cụ của thời kỳ đồ đồ đá, các hoạt động săn bắn hái lượm và nông nghiệp thời kỳ đầu là các lực lượng sản xuất chính của phương thức sản xuất này
- Phương thức sản xuất Châu Á: Đây là đóng góp gây tranh cãi của học
thuyết Mác, nguyên thủy được sử dụng để giải thích các công trình xây dựng bằng đào đắp đất lớn tiền nô lệ và tiền phong kiến ở Trung Quốc, Ấn Độ, Ơphơrat và lưu vực sông Nin Phương thức sản xuất Châu Á được coi là hình thức sơ khai của xã hội có giai cấp, trong đó nhóm nhỏ thu được các sản phẩm thặng dư xã hội bằng bạo lực nhắm vào các nhóm cộng đồng định cư hay không định cư trong lãnh thổ đó Sự bóc lột lao động là khai thác lao động cưỡng bức không trả công trong thời kỳ nhàn rỗi mỗi năm (xây những công trình lớn như kim tự tháp Ai Cập, Vạn lý trường thành ) Ngoài ra việc bóc lột lao động cũng
là hình thức việc bòn rút sản phẩm trực tiếp từ các cộng đồng bị bóc lột Dạng
sở hữu chính của phương thức này là chiếm hữu tôn giáo trực tiếp trong các cộng đồng (làng, xóm, thôn, nhóm) đối với tất cả những gì tồn tại trong chúng Tầng lớp cai trị của xã hội này nói chung là tầng lớp quý tộc bán thần quyền, tự cho mình là thần thánh trên trái đất Các lực lượng sản xuất chính của xã hội này bao gồm các nông dân với các kỹ thuật canh tác nông nghiệp nền tảng, các công trình xây dựng lớn và các kho chứa khổng lồ của các sản phẩm dành cho phúc lợi xã hội
- Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ: Nó tương tự như phương thức sản
xuất Châu Á, nhưng khác biệt ở dạng sở hữu là sự chiếm hữu cá nhân trực tiếp những gì thuộc về loài người Ngoài ra tầng lớp thống trị thông thường tránh nới rằng họ là hiện thân của thánh thần mà họ thích nói rằng họ là hậu duệ của thánh thần, hay tìm kiếm các lý lẽ bào chữa khác để bảo vệ quyền cai trị của mình Các xã hội Hy-La cổ đại là các ví dụ điển hình của phương thức sản xuất này Các lực lượng sản xuất của phương thức này bao gồm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), sử dụng tích cực gia súc trong nông nghiệp
Ngoài ra còn có các phương thức sản xuất khác như: phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa
2 Khái niệm và đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á
Trang 82.1 Khái niệm phương thức sản xuất Châu Á.
Khái niệm về phương thức sản xuất Châu Á lần đầu tiên được Mác đưa ra
trong tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” (1859) Đây chính
là kết quả của quá trình nghiên cứu lâu dài của Mác, từ các tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1845 - 1846) đến tác phẩm “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” thì Mác đã phát hiện ra một số đặc điểm của phương thức sản xuất
Châu Á và đã chính thức đưa ra sử dụng khái niệm phương thức sản xuất Châu
Á thay cho khái niệm hình thái Á Châu Sau đó Mác đã đi sâu làm rõ thêm các
đặc điểm đã thấy và phát hiện thêm một số đặc điểm nữa của Phương thức sản xuất Châu Á, bên cạnh đó Mác cũng đã nói tương đối kỹ những vấn đề khác nhau của Châu Á như: hình thái công xã, hình thức sở hữu Châu Á, Châu Á cổ
đại, Châu Á thời Mác v.v Tuy nhiên khái niệm về phương thức sản xuất Châu
Á lại không được Mác giải thích một cách cụ thể, buộc chúng ta phải tìm hiểu.
Tuy nhiên, với khái niệm chung nhất mà Mác đã đưa ra lần đầu tiên vào năm
1859 thì từ đó cho đến hết cuộc đời của mình – trải qua gần 20 năm - Mác đã không sửa đổi gì, điều này chứng tỏ nó có được những căn cứ khoa học thì mới
có thể giữ vững được chỗ đứng của mình như vậy
Mác viết “Về đại thể Có thể coi các phương thức sản xuất Á Châu, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần của hình thái kinh tế - xã hội” 1 Ý kiến phát biểu này của Mác về phương thức sản xuất Châu
Á đó về sau được Mác – Ănghen cụ thể hóa trong nhiều tác phẩm của hai ông
Trong Tư Bản cũng như trong một số bài báo của các vị sáng lập ra chủ nghĩa
Mác, Mác – Ănghen – Lênin đã trình bày nhiều ý kiến về thực chất và đặc điểm của phương thức sản xuất này Và khi nói về Trung Quốc và Ấn Độ, Mác cũng
sử dụng hai thuật ngữ các phương thức sản xuất có trước chủ nghĩa tư bản để
chỉ về sự trì trệ của các quốc gia này Vì vậy chúng ta có thể hiểu được nội dung của phương thức sản xuất Châu Á ở trong lời tựa vừa dẫn, cũng như về sau không bao giờ thấy Mác cung cấp lại cho chúng ta để làm cơ sở cho sự hiểu biết
về phương thức sản xuất Châu Á
2.2 Đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á
Những đặc trưng của phương thức sản xuất Châu Á theo quan niệm của các tác giả kinh điển (Mác và Ănghen):
1 Dẫn theo “Phương thức sản xuất Châu Á là gì?”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 53 (8/1963), tr2.
Trang 9- Chế độ công xã nông thôn với tất cả những sự trì trệ và bảo thủ của nó.
- Nhà nước chuyên chế phương Đông
- Chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất mà đứng đầu là nhà vua và sự chiếm dụng của các công xã
- Sự bóc lột theo kiểu cống nạp
- Sự không tác rời giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp
- Thành thị chậm ra đời và khó phát triển
- Sự tồn tại một cách kiên trì nhất của hình thái Châu Á
- Sản xuất hàng hóa chậm phát triển
- Tô và thuế kết hợp làm một
- Nhân tố về sức mạnh của hiệp tác giản đơn của những người lao độn, dưới sự chỉ huy của nhà nước chuyên chế phương Đông đã tạo nên những công trình xa hoa hay có ích
- Tính độc chuyên của phường hội và sự hình thành các đẳng cấp xã hội
- Sự duy trì các tôn giáo cổ đại và sự thần thánh hóa thiên nhiên
- Cuối cùng là tính trì trệ và tồn tại dai dẳng của phương thức sản xuất Châu Á trong các xã hội phương Đông
Trong phương thức sản xuất Châu Á, chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất là đặc trưng cơ bản nhất Đặc trưng này bao hàm các yếu tố :
Trước hết nhà vua là người có quyền sở hữu tối cao hay sở hữu duy nhất
về ruộng đất Trong thư gửi Ănghen, Mác viết :“Nhà vua là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai của quốc gia” 2 Ở Ấn Độ, dưới vương triều Hồi giáo Đêli có bốn loại sở hữu ruộng đất khác nhau, trong đó hình thức sở hữu Halixơ là sở hữu nhà nước Dưới vương triều Môngô (1256-1707), thời kỳ vua Acơba (1556-1605) nhà nước cho đo đạc lại ruộng đất để định ra mức thu thuế đúng và hợp
lý Ruộng đất công chính là một trong những nguồn thu nhập chủ yếu của nhà
nước Ở Trung Quốc, từ thời cổ đại đã có các chế ruộng đất như công điền, quan điền, vương điền, , cho đến thế kỷ V sau công nguyên có xuất hiện thêm hình thức mới là quân điền tồn tại mãi cho đến thời nhà Thanh Điều này cho thấy
ruộng đất công vẫn là chủ yếu
2 C Mác: Thư gửi Ănghen, ngày 2-6-1853, trích theo C Mác, F Ănghen, V Lênin (1975), “Bàn về các xã hội
tiền tư bản”, Nxb KHXH, Hà Nội, tr47, 48.
Trang 10Như vậy, ta có thể thấy chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất là đặc trưng
cơ bản của phương thức sản xuất Châu Á Bên cạnh đó, trong việc sở hữu ruộng
đất công, công xã là kẻ chiếm dụng đất đai theo kiểu cha truyền con nối Kẻ sử
dụng đất đai là các thành viên công xã và phải thực hiện nghĩa vụ cống nạp (bóc lột lao động thặng dư dưới dạng cống vật) cho chủ sở hữu ruộng đất Trong tác
phẩm Tư bản , Mác cũng viết: “nếu kẻ đối lập với những người sản xuất trực tiếp không phải là những kẻ sở hữu ruộng đất tư nhân, mà là nhà nước như ở Châu Á với tư cách là một kẻ sở hữu ruộng đất đồng thời là vua chúa thì địa tô
và thuế khóa là một hay nói đúng hơn trong trường hợp đó, không có thứ thuế nào khác biệt với hình thái địa tô này.” 3
2.3 Quan điểm của các nhà Mácxit về phương thức sản xuất Châu Á
2.3.1 Quan điểm của Marx về phương thức sản xuất Châu Á
Để đưa ra được khái niệm về phương thức sản xuất châu Á, Marx đã phải trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài Quan điểm của Mác về hình thái kinh tế này cũng được thể hiện qua nhiều công trình mà Ông nghiên cứu và viết ra.
Từ công trình “Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846), Mác đã phát hiện ra rằng “Sự phân công lao động cũng đồng thời là những hình thức khác nhau của sở hữu ” Từ đây Mác đã tìm thấy 3 hình thức sở hữu đầu tiên :
+ Sở hữu công xã và sở hữu Nhà nước + Sở hữu phong kiến (hay sở hữu đẳng cấp) Các hình thức sở hữu đó đều gắn liền với sự xuất hiện của nhà nước Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học”, Mác đã phát hiện ra mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một phương thức sản xuất Mác chỉ rõ : “những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi những phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình” .
Từ cơ sở lý luận trên, Mác đã đi đến khẳng định sự ra đời và kế tiếp lẫn nhau giữa các hình thái kinh tế xã hội từ Công xã nguyên thuỷ -> Chiếm hữu nô lệ -> Phong kiến -> Tư bản chủ nghĩa Mặc dù đã đưa ra được mô hình của các hình thái kinh tế lần lược ra đời và tồn tại trong lịch sử loài người Nhưng cả Mác và sau đó là Enghen khi nghiên cứu về phương Đông thì lại không sắp xếp được mô hình kinh tế - xã hội ở đây vào loại hình thái kinh tế nào của Ông Bởi vì các xã hội đó có những nét đặc thù riêng Đến công trình về “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ (1853)”, Mác và Enghen đã phát hiện ra những nét đặc thù của xã hội phương Đông là “Nhà nước chuyên chế phương Đông – chuyên chế châu Á” và “chế độ công xã nông thôn” Tiếp đến, trong thư gửi cho Enghen, tháng 6-1853, Mác khẳng định : “Nhà vua
là kẻ sở hữu duy nhất tất cả mọi đất đai trong quốc gia”, và “Tình hình không có
3 C Mác, “Tư bản”, tập III, phần II, Nxb Tiến bộ Maxcơva, Nxb Sự thật, 1987, tr402.