Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa.Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phốtruyền thống của người Việt và nh
Trang 1Mục lục
Trang 2Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống
ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo Phần lớn những ngôi nhà ở đây lànhững kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theonhững trục phố nhỏ hẹp Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiếntrúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàncủa đô thị Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa.Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phốtruyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp Bêncạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền vănhóa phi vật thể đa dạng và phong phú Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ vớinhững phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫnđang được bảo tồn và phát triển Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc vàlối sống đô thị
Quá trình giao lưu kinh tế – văn hóa, đặc biệt trong mấy trăm năm là một thươngcảng quốc tế (từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) đã tạo cho Hội An có được hầu hết các loạihình kiến trúc cổ của Việt Nam, hội tụ được các yếu tố nghệ thuật dân tộc truyền thống
Trang 3làm phong phú thêm bằng những tố chất thích hợp của nghệ thuật nước ngoài Quần thểkiến trúc có sự kết hợp hài hòa giữa không gian, bố cục kiến trúc và sự đan quyện tài tínhgiữa các phong cách kiến trúc Việt – Hoa – Nhật – Phương Tây Điều đặc biệt cho đếnnay, đô thị cổ Hội An vẫn là môi trường sinh sống của hàng ngàn người, đã trở thành mộtbảo tàng sống về kiến trúc, về lối sống đô thị Hơn nữa, quần thể kiến trúc di tích cổ vẫnđược bảo tồn gần như nguyên vẹn trong một môi trường sinh thái nhân văn: sông – nước– biển đảo; làng quê – làng nghề truyền thống… Chúng đều được bảo tồn hết sức hoànhảo Chính vì thế, Hội An được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giớivào 12/1999 với hai tiêu chí: Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nềnvăn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế và Hội An là điển hình tiêu biểu
về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo
Thật may mắn cho nhân dân Hội An hôm nay là các lớp tiền nhân đã sáng tạo, đểlại một di sản văn hóa vô giá – đó là quần thể di tích kiến trúc khu phố cổ cùng với nhữnggiá trị văn hóa phi vật thể độc đáo Những ngôi nhà phố, những hội quán, những đềnmiến, cầu, từ đường… đan xen nhau tồn tại trong khu phố cổ Mỗi di tích mang nhữngđược trưng riêng nhưng đồng thời cũng mang những đặc trưng chung của kiến trúc phố
cổ Những ngôi nhà gỗ thổi hồn riêng vào phố hội! Mỗi di tích là một tác phẩm nghệthuật, vừa đặc sắc về kiến trúc, vừa độc đáo về mĩ thuật Đến phố cổ để trở về với khônggian đô thị những thế kỷ trước
Thiên nhiên cũng ban tặng cho nhân dân Hội An một môi trường sinh thái: Sôngnước – biển – đảo với nhiều điểm kỳ thú, hấp dẫn Chính vì thế, dựa vào những tiềmnăng này mà du lịch Hội An được xác định là du lịch văn hóa, du lịch môi trường sinhthái gắn với nghỉ dưỡng, giải trí, hội nghị, hội thảo Định hướng chiến lược mà các nhàQuản lý Bảo tồn di tích Hội An đặt ra, nhất là trong thời ký hội nhập quốc tế là: “Bảo tồn
di sản vững chắc và phát huy du lịch bền vững” Nghĩa là: Vừa bảo tồn tối đa các yếu tốnguyên gốc trong văn hóa truyền thống, gắn với bảo tồn môi trường sinh thái – nhân văn,đồng thời giữ gìn môi trường xã hội, gắn với sinh hoạt văn hóa truyền thống; vừa đápứng tối ưu các nhu cầu dân sinh của cư dân đương đại, vừa phát huy giá trị di sản văn hóa
Trang 4vật thể và phi vật thể để vừa phục vụ, phát triển du lịch, cải thiện, nâng cao đời sống củanhân dân, vừa bảo vệ và ngày càng làm giàu thêm cho nền văn hóa địa phương, dân tộc.Giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa trách nhiệm bảo tồn di sản với lợi ích mang lại từviệc khai thác, phát huy giá trị của nó thông qua du lịch – dịch vụ; xem “văn hóa là độnglực, mục tiêu” cho sự phát triển của kinh tế du lịch và ngược lại phát triển du lịch phảinhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế bền vững, nâng cao đời sống của nhân dân, hơn nữaphải nhằm mục tiêu bảo tồn di sản văn hóa Để hiểu thêm về di sản văn hóa thế giới nàychúng ta hay điểm qua một số nt về lịch sử hình thnh, một số di tích tiêu biểu của di sảnvăn hóa này và hiện trạng, nguyên tắc và mục tiêu bảo tồn khu phố cổ này.
Trang 5CHƯƠNG I: ĐÔI NÉT VỀ KHU DI TÍCH PHỐ CỔ HỘI AN
1.1. Tên gọi, vị trí địa lý và cảnh quan di tích
1.1.1. Tên gọi
Tên gọi Hội An ngày nay được hình thành từ rất lâu trong lịch sử, nhưng thật khó
có thể xác định chính xác thời điểm ra đời của nó Theo tác giả Dương Văn An trongcuốn sách Ô Châu cận lục, vào năm 1553, huyện Điện Bàn có 66 xã, trong đó có các xã
Hoài Phô, Cẩm Phô, Lai Nghi, nhưng chưa thấy cái tên Hội An được ghi lại Dưới thời
Lê, tấm bản đồ do đại thần Đỗ Bá vẽ in trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ có ghi lần đầu tiên các địa danh Hội An phố, Hội An đàm, Hội An kiều Trên tấm bia Phổ Đà Linh Sơn Trung
Phật tại động Hoa Nghiêm, Ngũ Hành Sơn ghi tên những người góp tiền xây dựng chùa,tên làng Hội An được nhắc tới ba lần Thời chúa Nguyễn Phúc Lan, làng MinhHương được thành lập bên cạnh làng Hội An đã có trước đó Căn cứ vào văn bản củadinh trấn Quảng Nam thời Minh Mạng gửi trưởng bang Hoa kiều, Hội An phố gồm 6làng: Hội An, Minh Hương, Cổ Trai, Đông An, Diêm Hộ, Hoa Phô Nhà nghiên cứungười Pháp Albert Sallet cho rằng làng Hội An là làng quan trọng nhất trong năm làng tạonên quần cư Hội An cổ, gồm Hội An, Cẩm Phô, Phong Niên, Minh Hương và An Thọ
Người phương Tây xưa kia gọi Hội An bằng cái tên Faifo Xuất xứ của cái tên này
ngày nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết Trong cuốn Từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre deRhodes in tại Roma năm 1651, chữ Hoài phô được định nghĩa: một làng trong
xứ Cochinchine mà người Nhật ở và gọi là Faifo Một giả thuyết phổ biến cho
rằng Faifo xuất phát từ tên Hội An phố, cái tên sử sách và địa chí Trung, Việt đều nhắc
tới Theo một thuyết khác, sông Thu Bồn trước kia có tên là sông Hoài, nên Hội An cònđược gọi là Hoài Phố, sau Hoài Phố biến thành Phai Phố, từ đó xuất hiện cái
tên Faifo Trong những thư từ, ghi chép của những giáo sĩ, học giả phương Tây, những cái tên Faifo, Faifoo, Fayfoo, Faiso, Facfo từng xuất hiện nhiều lần Alexandre de
Rhodes trong bản đồ An Nam gồm Đàng Trong và Đàng Ngoài ấn hành năm 1651 có ghi
Trang 6rõ tên Haifo Về sau, trên bản đồ chính thức của chính quyền Đông Dương, người Pháp
đều sử dụng tên Faifo để chỉ Hội An.
1.1.2. Vị trí địa lý
Hội An là thành phố du lịch với những con đường nhỏ, nếp nhà cổ kính vẫn đứngvững chãi qua nhiều thế kỷ Hội An năm trên con đường di sản miền Trung, cách thànhphố Đà Nẵng khoảng 28km về hướng Đông Nam và cách thành phố Tam Kỳ (tỉnh lị củaQuảng Nam) khoảng 50km về hướng Tây Bắc
Khu phố cổ Hội An ở về phía Nam thị xã Hội An, dài khoảng 2 km, rộng chừng 1
km, cách thành phố Đà Nẵng trên dưới 30 km về phía Đông Nam Không gian đó rơi vàotọa độ 108015’ – 108052’ Đông và 17052’ - 17063’ vĩ Bắc
Khu phố cổ Hội An gồm các phố chạy dọc sông Hội An là : La Rue Japonaise (nayđổi thành phố Trần Phú), Rue Cantonaire (nay là phố Nguyễn Thái Học), đường BạchĐằng, Rue Minh Hương (nay là một phần phố Phan Chu Trinh), Rue Khải Định (nay làphố Nguyễn Thị Minh Khai Và một số dây phố cắt ngang các đường phố nói trên NhưPlace du Marché (nay là phố Trần Quý Cáp), Rue Hội An (nay là phố Lê Lợi) và phố NhịTrưng Khu phố cổ năm ven sông Hội An, cách Cửa Đại gần 5 km
1.1.3. Điều kiện thiên nhiên và khí hậu
Lịch sử hình thành tạo vùng đất Hội An khá phức tạp Quá trình đó gắn với các đợtbiển tiến, biển lùi, quá trình bồi tụ của sông, biển Theo kết quả nghiên cứu địa chất khuvực, đô thị cổ Hội An hiện nay được xây dựng trên bề mặt tích tụ có nguồn gốc biển (5-7m) và tích tụ nông biển (4-6m) vào thời kỳ biển tiến Holoccene trung, cách đây 6000 –
4000 năm, lúc mức nước đạt cực đại từ bốn 4m đến 5m Còn phần phía với bề mặt tích tụ2-4m được hình thành muộn hơn, vào giai đoạn biển lùi cách đây 4000 – 2000 năm Đầucông nguyên, đợt biển tiến đợt cực đại + 2m làm cho cửa sông Thu Bồn trở thành mộtvùng biển Sau đó nước biển rút về về cơ bản địa hình khu vực Hội An được hình thành
Trang 7Sự tác động tự nhiên của biển và sông, một phần của con người, từ đầu Côngnguyên đến nay làm cho cửa sông Thu Bồn phát triển nhanh chóng theo phương hướngdeta lắp đầy, hình thành các cồn cát với đồng lầy, cửa sông Thu Bồn đổ ra biển qua haicửa: Một ở phía Bắc Cửu Khâu và một ở phía Nam Đến cuối thế kỷ XVIII, cửa Khâu bịlấp, ép dòng nước chảy tập trung vào cửa phaias Nam khiến đường sông luôn thay đổi,
bị lấp dần Khoảng thé kỷ XIX sự bồi đắp đắp đó gây sự khó khăn cho tầu thuyền đi lạihoặc neo đổ trên sông, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của Hội An, không thuận lợi nhưtrước nữa1
Một số kết quả nghiên cứu gần đây cho hay , Hội An mang tính chất một thànhphố sông, với đặc điểm vừa hội nhân vừa hội thủy, vừa cận thị vừa cận giang2 Sông ThuBồn chảy qua Hội An theo hướng Bắc – Nam đã có sự đổi dòng Sông Hội An , dòngchính nay ở khu vực đô thị Hội An xưa vốn là dòng chính của sông Thu Bồn đổ nước vàoCửa Đại dân ở đây đặt cho nó cái tên sông trước (của Hội An) Đợt khảo sát năm 1989
do Khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội thực hiện đã nhận ra sông sau của Hội
An Co thể nhận dang sông này khi nối từng đoạn sông còn lại với Đầm Thanh Hà, nhữngchân ruộng trũng “Dọc gốm” Cẩm Hà, những dụm cát từ Cẩm Hà đến Câm Châ Lại cóthể xem khu phố cổ Hội An như một “Tứ giác nước””mà đáy của nó là Thượng Chùa Cầu– Hạ Âm Bổn”3
Cũng nằm ở vị trí ven sông giáp biển như vậy, nên Hội An không khỏi bị tác độngmạnh từ hai mùa gió trong một năm Tiếp theo đó là sự thay đổi dòng chảy, lượng mưa,mức sóng và dao động mực nước biển cũng trở thành những tác nhân tạo nên tính đadạng khắc nghiệt ở một vùng khí hậu
1 Vũ Văn Phái và Đặng Văn Đào, Đặc điểm địa mạo khu vực Hội An và lân cận (vùng cửa sông Thu
Bồn) Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, 1991, tr 94 – 95
2 Trần Quốc Vượng, Vị thế Địa - Lịch sử và bản sắc gắn Địa – văn hóa của Hội An, Đô thị cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, 1991, tr 51 – 61.
3 Vũ Đức Minh, Dòng “sông trong” ở Hội An, những phát hiện mới, 1989, tr 180 – 181
Trang 8Tại Hội An, gió mùa Đông Bắc, kéo dài từ tháng 11 năm trước đên tháng 4 nămsau Gió có hướng Bắc, Đông Bắc là chủ yếu Tốc độ gió cao hơn các vùng khác, đạt cựcđại tới 15-25m/s Mùa hề gió chuyển hướng Đông và Đông Nam thường đẫn đến bão và
áp thấp nhiệt đới vào cuối tháng 10 tức dùng mùa hè mức gió nhiều khi đạt lên đến tốc
sự bốc dỡ, vận chuyển, trao đổi cũng như cất giữ hàng hóa Khi mùa mưa bão đến vàotháng 7, tháng 8 việc buôn bán tạm thời ngưng nghỉ để chuản bị vho mùa xuân năm sau
Một yếu tố địa lý nữa cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động và diện mạo đôthị thương cảng, vì vùng thượng nguồn sông Thu Bồn nằm lọt vào một trong nhữngtrung tâm mưa lớn ở nước ta, tâm mưa được xác định ở Trà Mi thành thử lượng nướcsông Thu Bồn rất lớn và lớn nhất ở miền Trung Việt Nam Hằng năm, sông Thu Bồn đổ
ra biển gần 80km3 nước, lượng nước trên tập trung tới 80 – 90% vào các tháng 9 – 12 Docửa sông Thu Bồn hẹp, lượng nước lớn lại dồn đạp vào một thời gian ngắn nên vùng Hội
An thường hay lũ lụt ảnh hưởng của điều kiện địa lý và khí hậu địa phương, cộng vớihoạt động kinh tế trở thành đòi hỏi tất yếu kiến trúc dựa trên địa dư Hội An phải có mộtầng hoặc gác xếp phía trên
Về phía cạnh địa lý tự nhiên, Hội an nằm lọt giữa vùng đồng bằng duyên hải phủđầy cồn cát phía năm Đà Nẵng Sau những còn cát này tồn tại đầm lầy và Đài nguyên, vếttích của vùng biển cũ Sông thường chảy song song với đường bờ biển, hợp thành mạng
4 Vũ Văn Phái và Đặng Văn Đào, Đặc điểm địa mạo khu vực Hội An và lân cận (vùng cửa sông Thu Bồn) Đô thị
cổ Hội An, Nxb Khoa học xã hội, 1991, tr 87 – 97
Trang 9lưới đường giao thông nội địa quan trọng Sử dụng hệ thống sông ngòi tự nhiên đó người
ta có thể đi thuyền từ Đà Nằng đến Quảng Nam theo các sông Vĩnh Điện, sông Hội An,sông Thu Bồn, rồi sông Trường Giang
Cửu Hội An gần như nằm giữa tiêp điểm trên đường cong lồi của khúc miền Trungnơi giao thoa hứng gí mùa: Tháng 7 – gió mùa Đông Bắc, tháng 8 – gió mùa Tây Nam
Bờ biển Hội An là một bờ biển bồi tụ Những đồi cát chắn ngoài cửu biển tạo nên vũngvịnh Địa hình đó vô hình chung tạo điều kiên thuận lợi cho những tàu thuyền quốc tế đếnneo đậu
Lùi xa vào đất liền, cách Hội An không đầy 10km, xuất hiện dẫy núi Ngũ HànhSơn (gồm 5 ngọn núi đá vôi) – những ngọn núi đá vôi cuối cùng của dãy Trường Sơn.Đávôi đã biens thành đá hoa Một dải đồi đất cao 200 – 600m, vốn gốc hù sa cổ, bên trên,cây mọc thành vùng cây gỗ và cây ăn quả, có thể thuở xưa nơi đây được coi như một địabàn cung cấp đá hoa, gỗ quí cho người thợ xưa dựng nên những công trình kiến trúc tạothành khu phố cổ Hội An
Một đặc trưng khác có thể xem như một thế mạnh tiềm tàng của phố cổ Hội An.Thế mạnh đó được tạo ên từ hệ thống đất đai bao quanh thị xã Hội An khá màu mỡ Cộngthêm vào đó ở Hội An hình thành một mngj lưới sông tương đối phát triển, bảo đảm nướccho canh tác lúa, trồng các cây lương thực khác Vùng đồi núi phủ đầy cây ăn trái, câycông nghiệp Trên các hải đảo lại nhiều yến sào Biển với thềm lục địa khá sâu phong phúhải sản, tôm cá
Nhìn chung, điều kiện địa lý tự nhiên Hội An khá thuận lợi cho tiến trình hìnhthành phát triển đô thị thương cảng thời Trung Cổ nhờ vào hệ thống sông, vị trí sát biểnvới hai mùa gió rõ rệt Tuy nhiên chỉ vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi chưa đủ mà cần cónhững điều kiện địa lý nhân văn và hoàn cảnh lịch sử tốt nhất mới có thể xuất hiện mọt
đô thị
Hội An – một quần thể di tích lịch sử - văn hóa hình thành và phát triển trong mộtmôi trường địa lý – kinh tế mang đặc điểm độc đáo, phức tạp
Trang 10Về mặt văn hóa – lịch sử, Hội An từng được nhiều lớp cư đân sớm muộn khácnhau chọn làm địa bàn cư trú: cư dân văn hóa Sa Huỳnh thuộc thời địa đồng thau và sắtsớm, sau đó cư dân Chàm, sang thế kỷ XIV dân Đại Việt tiếp cư, rồi sự cộng cư củanhững lớp người khác nhau từ cội nguồn, nhân chủng, đặc điểm truyền thống văn hóanhư: người Việt, người Nhật và người Hoa trên mảnh đất này
Quá trình cộng cư thông qua hoạt động kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp đặc biệtqua trao đổi thương nghiệp tạo ra những mối giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân
ỏ đây với nhau, giữa họ với các vùng khác của Việt Nam đồng thời giữa Việt Nam vớicác nước khác trong khu vực Đông Nam Á
Chính những yếu tố “hội nhân” đó đã tạo cho khu phố cổ Hội An một diện mạokiên trúc đa dạng và phong phú mang dấu dấn từ nhiều phong cách văn hóa lhacs nhau,ảnh hưởng những đặc thù của một kiến trúc đô thị thương cảng độc đáo Nếu không kểđến một giá trị quần thể di tích kiến trúc phong phú, đa dạng lại được bảo tồn khá nguyênvẹn ở nước ta
1.2. Dân cư
1.3. Sự hình thành và phát triển của Hội An trong lịch sử
Hội An là một vùng đất có lịch sử lâu đời Đây là nơi ghi dấu của nền văn hóa SaHuỳnh phân bố suốt từ trung lưu sông Thu Bồn đến Hạ Lưu Các nhà nghiên cứu chorằng tiếp sau nền văn hóa Sa Huỳnh là nền văn hóa Chăm pa Vương quốc Chăm pa sauđến thế kỷ XVI vẫn nắm giữ một số uy quyền còn lại ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận ởmiền Trung Nam Bộ ngày nay, cho đến nửa đầu thế kỷ XIX thuộc về Việt Nam
1.3.1. Thời kỳ tiền Hội An Văn hóa Sa Huỳnh
Văn hóa Sa Huỳnh có cùng thời kỳ với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ Việt Nam, nóđược hưng thịnh hàng trăm năm trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ hai sau Côngnguyên Đó là văn hóa trồng lúa và thời kỳ tiền kim khí Di chỉ văn hóa đầu tiên của văn
Trang 11hóa Sa Huỳnh là phố Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi đã bị cát vùi lấp được các nhà khảo cổ họcPháp phát hiện Năm 1937, Madeleine Colani chính thức xác nhận đây là một nền vănhóa Đặc trưng của văn hóa này tì thấy trong những ngôi mộ chum có chôm kèm những
đồ kim khí, vật trang trí bằng mã não, hạt ngộc thủy tinh, khuyên tai có mấu và khuyêntai hình thú Ngoài ra đôi khi còn thấy có cả tiền cổ Trung Quốc Đặc trưng của đồ gốm lànhững hoa văn trang trí lượn sóng Đặc biệt khuyên tai có mấu và khuyên tai hình đầu thúcũng được khai quật bờ phía Tây Philippin, Trung Bọ Thái Lan, phía Bắc Bán đảo Malai,điều này chứng tỏ rằng khoảng trước và sau Công nguyên, ở vùng biển Đông Nam Á đãdiễn r những hoạt động giao lưu nhộn nhịp
Kết quả điều tra, thám sát khai quật khảo cổ học những năm gần đây cho phép coiHội An nằm trong địa bàn của cư dân văn hóa Sa Huỳnh, cách đây vài ba nghìn năm Vếttích Sa Huỳnh đã được tìm thấy ở các địa điểm An Bang, Thanh Chiêm (Cẩm Hà), QuýHòa (Hòa Vang), Cồn Chăn (Duy Xuyên), Điện Ngọc(Điện Bàn), Hậu Xá Dựa vào kếtquả khảo sát thì ven bờ sông chảy phía Bắc sông Thu Bồn thuộc địa phẩn xã Cẩm Hà ,ngay từ thời văn hóa Sa Suỳnh rất cs thể tồn tại những bến sông – tụ điểm giao lưu buonbán, văn hóa Nhiều khả năng Hội An đống vai trò là cảng thị từ thế kỷ II, thế kỷ I trướcCông nguyên và thế kỷ I, II sau Công nguyên
Chỉ riêng trong khu thị xã Hội An đã hát hiện hơn 50 địa điểm là di tích của vănhóa Sa Huỳnh, phần lớn tập tring ở những cồn cát ven sông Thu Bồn cũ Số di tích đóthuộc hậu kỳ văn hóa Sa Huỳnh khoảng trước và sau Công nguyên Một đặc điểm củakhu vực này không có di tích thuộc thời kỳ đầu và giữa Trước đây, Đại học Quốc gia HàNội kết hợp với Bản tàng tỉnh Quảng Nam và Trung tâm quản lý di tích Hội Anđã tiếnhành khai quật di chỉ Hồ Xá phát hiện nhiều mộ chum cổ kèm theo đó cải táng phongphú
Văn hóa Chămpa
Tiếp sau văn hóa Sa Huỳnh từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ 15 một dải miền Trung ViệtNam nằm dưới sự thống trị của vương quốc Chămpa Vương quốc Chăm pa là đất nước
Trang 12của dân tộc Chăm thuộc hệ Áustronosia Di tich đặc tưng của văn hóa Chăm pa là nhómđiện thờ cửa đạo Hindu phan bố suốt từ Trung đến Nam Bộ Một trong những trung tâmnày nằm trong lưu vực sông Thu Bồn Tai đây đã được xây dựng một thủ phủ mang tínhchính trị (Trà Kiệu, Simhapura) và ở Thượng nguồn đã xây dựng một Trung tâm mangtính tôn giáo là Mỹ Sơn (khoảng thế kỷ 13) Từ đó, có thể suy đoán rằng khu vực Hội Anhện nay đã từng là một trung tâm kinh tế dưới thì Chawmpa Tuy nhiên, Lâm Ấp phốđược ghi trong tư liệu của Trung Quốc có vị trí cụ thể ở đâu thì vẫn chưa rõ Khu vưc nàytrong tiếng Chăm gọi là khu vực Aramavati ở Lâm Ấp phố đã từn diễn ra các hoạt độngbuôn bán sầm uất giữa người Chăm với người nước ngoài Khoảng giữa thế kỷ thứ 9,thương gia Arabu đã ghi lại cái tên Sindoru – Furato trong truyền thuyết về Indochin làđảo Cù Lao Chàm ở Hội An như sau: “CHỉ là một hồi đảo nàm giữa biển nước sâu”.Như vậy, thời kỳ này những thương gia Arabu đã phát hiện ra vùng đất Hội An Từ thế kỷ
14, vương quốc Chăm pa dần dần bị lấn chiếm bởi đại Việt tàn xuống phía Nam Sau mộtvài lần chiến tranh, năm 1471, thủ phủ cuối cùng của Vương quốc Chăm pa ở Bầu Giáhiện nay ở Bình Định bị nhà Lê chiếm Vùng đất Hội An bắt đầu trở thành lãnh thổ củaĐại Việt tù thời điểm đó, nhưng về sau Hội An mới phát triển thành như khu phố thươngmại
Hội An được hình thành dựa trên sư kế thừa cảng của người Chăm và người Việtbắt đầu đến vùng đất này từ thé kỷ 15, đây là bước chuẩn bị trực tiếp cho việc hình thànhHội An
Những cuộc khảo sát khảo cổ học tại Hội An còn láy lên từ lòng đất chùa Âm Bổnthuộc phường Sơn Phong số lượng khá lớn gốm sứ thời Minh, Thanh (Trung Quốc) Trênmột số đó, gốm sứ ghi ro những chữ Hán “Phiến Ngọc Chân táng” “Đại Minh”, hoặcniên hiệu “Vĩnh Lạc”, “Tuyên Đức”, “Khai Hóa” Cùng phát hiện gốm sứ Trung Quốc lạithấy cả gốm sứ Việt Nam thuộc niên đại Lê, Nguyễn Đặc biệt hơn nữa, đoàn khảo sátNhật được tiền đồng Trung Quốc, niên đại khoảng thế kỷ XIII – XIV
Trang 13Bên cạnh những vết tích văn hóa Trung Hoa và Đại Việt Lòng đất Hội An là nơilưu giư những vết tích kiens trúc nghệ thuật Chăm khá đậm nét Những di tích và di vậtcủa văn hóa Chăm pa xung quanh Hội An gồm có di tích Điện thờ Chăm pa ở cửa sôngThu Bồn và tượng thần (voi) ở Đại Chiêm Ngoài ra trên đảo Cù Lao Chàm đã khai quậtđược những mảnh gốm men xanh Islam và những mảnh sứ sản xuất ở Việt Châu, TrungQuốc có niên đại có khoảng trước sau thế kỷ thứ 9 Tại lưu vực sông Thu Bồn cũng tìmthấy những mảnh sứ xanh, sứ trắng đời Tống Trung Quốc Đây đã từng là nơi giao lưugiữa Đông và Tây quan trọng được phản ánh qua các di vật khai quật Ngoài ra còn cómột số giếng cổ xây dựng theo cách thức của người Chăm cũng có thể chỉ ra các mối liên
hệ với thời kỳ vương quốc Chăm pa
Ở đây, hiện tồn tại một bộ phận đá liền khối, nguyên vẹn, cao 10cm, mặt lớn hìnhvuông mỗi cạnh dài 69 cm, mặt trên bằng phẳng có gờ xung quanh Niên đại khoảng thế
kỷ thế kỷ X – XI Tại An Rang, Cảm Hà phát hiện một số tác phẩm điêu khắc Chăm,trong đó có tượng voi, tưởng Vũ Công Thiên Tiên Gandhara trong phong cách Khương
Mỹ, niên đại đầu thế kỷ IX Quanh địa phận xã Điện Phương lại thấy ba mảnh vỡ từ mộtđài thờ Chăm thuộc phong cách Trà Kiệu sớm Niên đại thế kỷ VII Khu vực xã CẩmThành phát hiện tượng Nam Thần, loại nửa tròn tựa lưng vào cái bệ mang phong cách TràKiệu muộn, niên đại nửa thế kỷ X Đó đây trên đất Hội An không thiếu mảnh vỡ rải rác
từ các pho tượng cũng như di tích giếng Chăm Những chứng tích trên cho phép đi đếnmột nhận xét khái quát: người Chăm đã từng là chủ nhân khá sớm trên mảnh đất Hội An
1.3.2. Thời kỳ Hội An Văn hóa Đại Việt
Hội An ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ 16, thời kỳ Việt Nam nằm dưới sự trị vìcủa nhà Lê Vào năm 1527, Mạc Đăng Dung giành ngôi nhà Lê, vùng Đông Kinh thuộcquyền cai quản của nhà Mạc Năm 1533, Nguyễn Kim nhân danh nhà Lê tập hợp binh sĩchống lại nhà Mạc Sau khi Nguyễn Kim chết năm, người con rể Trịnh Kiểm nắm giữquyền hành, dòng họ Nguyễn Kim bị lấn át Năm 1558, người con thứ của Nguyễn Kim
Trang 14là Nguyễn Hoàng cùng gia quyến và một số binh lính lui về cố thủ ở vùng Thuận Hóa và
từ sau năm 1570, Nguyễn Hoàng tiếp tục nắm quyền trấn thủ Quảng Nam. Cùng với contrai là Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Hoàng xây dựng thành lũy, ra sức phát triển kinh
tế Đàng Trong, mở rộng giao thương buôn bán với nước ngoài và Hội An trở thànhthương cảng quốc tế sầm uất bậc nhất khu vực Đông Nam Á thời kỳ đó
Thế kỷ 17, trong khi vẫn tiếp tục cuộc chiến với chúa Trịnh ở miền Bắc, chúaNguyễn không ngừng khai phá miền Nam, lấn chiếm lãnh thổ của người Chăm Trênnhững vùng đất do chúa Nguyễn cai quản, có những khu phố nước ngoài hình thành dựatrên một số luật lệ nhằm bảo hộ cho các hoạt động thương mại của người ngoại quốc Vào năm 1567, triều đình nhà Minh của Trung Quốc từ bỏ chủ trương bế quan tỏa cảng,cho thuyền buôn vượt biển giao thương với các quốc gia vùng Đông Nam Á, nhưng vẫncấm xuất khẩu một số nguyên liệu quan trọng sang Nhật Bản Điều này đã bắt buộc Mạcphủ Toyotomi rồi Mạc phủ Tokugawa cấp phép cho các thuyền buôn Châu Ấn sang mởrộng quan hệ thông thương với Đông Nam Á và mua lại hàng hóa Trung Quốc từ cácquốc gia đó Những con tàu Châu Ấn bắt đầu xuất dương từ năm 1604 dưới thời Mặc phủTokugawa, cho tới năm 1635, khi chính sách đóng cửa được ban bố, đã có ít nhất 356 contàu Châu Ấn ra đời Nơi thuyền Châu Ấn đi qua nhiều nhất chính là cảng Hội An Trongvòng 30 năm, 75 con tàu Châu Ấn đã cập cảng nơi đây, so với 37 con tàu cập bến ĐôngKinh, khu vực do chúa Trịnh cai trị Các thương nhân người Nhật khi đó tới bán những
đồ đồng, tiền đồng, sắt, đồ gia dụng và mua lại đường, tơ lụa, trầm hương Khoảng năm
1617, phố Nhật Bản ở Hội An được hình thành và phát triển cực thịnh trong đầu thế kỷ
17 Qua bức họa Giao Chỉ quốc mậu dịch độ hải đồ của Chaya Shinroku, có thể thấy khuphố người Nhật với những công trình kết cấu gỗ hai, ba tầng Thuyền trưởng người HàLan Delft Haven ghi lại năm 1651, Hội An khi đó có khoảng 60 căn nhà của người Nhậtnơi dọc bờ sông, nhà cửa xây bằng đá để tránh hỏa hoạn, nằm sát vách nhau Nhưngkhoảng thời gian tiếp sau, do chính sách bế quan của Mạc phủ Tokugawa cũng nhữngchính sách đàn áp người Nhật Công giáo của chúa Nguyễn, khu phố Nhật ở Hội An dần
Trang 15bị lu mờ Mặc dù vẫn còn một số nhỏ người Nhật định cư lại đây nhưng người Hoa dầnthay thế vai trò của người Nhật trong việc buôn bán
Khác với người Nhật, những người Hoa biết đến Hội An từ rất sớm, ngày từ thờivùng đất này còn thuộc về vương quốc Chăm Pa Đến thời kỳ người Việt thay thế ngườiChăm, những thương nhân Trung Hoa vẫn tiếp tục tới buôn bán vì các tỉnh miền Nam củaTrung Quốc rất cần các mặt hàng muối, vàng, quế Mặc dù vậy, trong suốt thời kỳ tiềnHội An, người Hoa chỉ tới buôn bán rồi trở về, không ở lại định cư, lập phố xá Phải sauloạn Minh Thanh xảy ra khoảng giữa thế kỷ 17, đặc biệt sau khi nhà Minh bị thất thủ, rấtnhiều người Hoa di cư tới Trung Bộ Việt Nam và xây dựng nên nhiều cộng đồng MinhHương Xã Tại Hội An, người Hoa tới lưu trú ngày một nhiều và thế chân người Nhậtnắm quyền buôn bán Cảng thị Hội An khi đó là nơi tập trung nhiều nhất hàng hóa ngoạiquốc Khu phố dọc bờ sông, được gọi khu Đại Đường, kéo dài 3, 4 dặm Các cửa hànghai bên phố không khi nào rảnh rỗi Dân cư ở đây phần lớn là người Phúc Kiến, mọingười ăn vận theo trang phục của nhà Minh Nhiều người Trung Quốc tới định cư đểbuôn bán đã kết hôn với những phụ nữ bản địa Bên cạnh những người Hoa nhập quốctịch Việt Nam, nhiều người Hoa khác vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc mà người Việt
thường gọi là Khách trú Năm 1695, sứ giả người Anh Thomas Bowyear của Công tyĐông Ấn Anh đến đàm phán với chúa Nguyễn về việc xây dựng một khu cư trú tại Hội
An Việc thương thảo tuy không thành, nhưng cũng đã để lại một ghi chép: “Khu phốFaifo này có một con đường nằm sát với sông Hai bên đường có khoảng 100 ngôi nhàxây dựng san sát nhau Ngoại trừ khoảng bốn năm ngôi nhà là của người Nhật còn lạitoàn bộ là của người Hoa Trước kia, người Nhật đã từng là cư dân chủ yếu của khu phốnày và là chủ nhân phần lớn của các hoạt động thông thương ở bến cảng Hội An Bâygiờ, vai trò thương nghiệp chính đã chuyển sang cho người Hoa So với thời kỳ trước thìkhông được sầm uất, nhưng hàng năm ít nhất cũng có từ 10 đến 12 tàu của các nước NhậtBản, Quảng Đông, Xiêm, Campuchia, Manila, và có cả tàu của Indonesia cũng đến cảngthị này.”
Trang 16Thế kỷ 18, khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn diễn ra ở miền Nam, chúa Trịnh đánhchiếm Quảng Nam dinh năm 1775, cảng thị Hội An rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc.[23] Sau khi chiếm được Hội An, quân Trịnh đã triệt phá những nhà cửa thuộc khu vựcthương mại, chỉ để lại các công trình tín ngưỡng. Nhiều nhân vật quan trọng của dòng họNguyễn cùng những thương gia người Hoa giàu có đã di cư vào miền Nam, mang theocủa cải và lập nghiệp tại Sài Gòn - Chợ Lớn, để lại một Hội An điêu tàn, đổ nát Năm
1778, một người Anh Charles Chapman đi qua đây sau thời Tây Sơn đã ghi lại: "Khi tớiHội An, thành phố lớn này chẳng còn lại là bao những khu phố được quy hoạch quy củvới những ngôi nhà xây bằng gạch, đường lát đá mà chỉ thấy một cảnh hoang tàn làm cho
ta cảm thấy xót xa Trời ơi, những công trình ấy bây giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức màthôi" Khoảng 5 năm sau, cảng thị Hội An mới dần dần hồi sinh, hoạt động thương mạiđược phục hồi nhưng không được như trước Người Việt cùng người Hoa cùng xây lạithành phố từ những đống đổ nát cũ, những ngôi nhà mới mọc lên theo kiến trúc của họ và
vô tình, dấu vết của khu phố Nhật Bản đã bị xóa đi mãi mãi
Thế kỷ 19, cửa sông Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con sông Cổ Cò cũng bịphù sa bồi lấp, khiến các thuyền lớn không còn ghé được cảng Hội An Bên cạnh đó, triềuđình nhà Nguyễn cũng thực hiện chính sách đóng cửa, hạn chế quan hệ với nước ngoài,đặc biệt các quốc gia phương Tây Từ đó, Hội An dần suy thoái, mất đi vị thế cảng thịquốc tế quan trọng Mặc dù vậy, với vai trò một trung tâm thương nghiệp lớn, thành phốvẫn được phát triển, những con đường mới về phía Nam dòng sông được xây dựng và cáckhu phố được mở rộng thêm Năm Minh Mạng thứ 5, nhà vua có qua Hội An, nhận thấynơi đây không còn sầm uất như xưa, nhưng vẫn hưng thịnh hơn các thị trấn khác củangười Việt Năm 1888, khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, nhiều người Hoa tới
đó để bỏ vốn lập các cơ sở vận tải, thương mại, một số khác tiếp tục duy trì hoạt độngkinh doanh ở cả Hội An và Đà Nẵng Nhưng do giao thông đường thủy ngày càng trở nênkhó khăn, cùng với chính sách phát triển Đà Nẵng của người Pháp, hoạt động thươngnghiệp ở Hội An dần bị đình trệ Mặc dù vậy, phần lớn các kiến trúc nhà ở trong khu phố
cổ, các hội quán còn lại đến ngày nay đều có hình dáng được tạo nên từ giai đoạn này
Trang 17Đầu thế kỷ 20, tuy mất đi vai trò cảng thị quan trọng, hoạt động buôn bán ở Hội
An chưa khi nào chấm dứt và nơi đây vẫn là thị xã, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam Khitỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được thành lập vào năm 1976, thành phố Đà Nẵng trởthành tỉnh lỵ của tỉnh mới, Hội An rơi vào một thời kỳ bị quên lãng.Chính nhờ sự thayđổi vai trò trong lịch sử, cộng với nhiều yếu tố khác nên Hội An đã may mắn tránh được
sự biến dạng của quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ở Việt Nam trong thế kỷ 20 Từ thập niên
1980, Hội An bắt đầu nhận được sự chú ý của các học giả Việt Nam, Nhật Bản và phươngTây Tại kỳ họp lần thứ 23 từ 29 tháng 11 đến 4 tháng 12 năm 1999 ở Marrakech, Tổchức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc đã ghi tên Hội An vào danh sáchcác di sản thế giới Đô thị cổ Hội An dần phồn vinh trở lại nhờ những hoạt động du lịch
1.4 Hệ thống các di tích, kiến trúc hiện nay
Mặc dù phần lớn các ngôi nhà phố của Hội An ngày nay được hình thành vào thời
kỳ thuộc địa, nhưng trong khu phố cổ vẫn gìn giữ được nhiều di tích phản ánh các giaiđoạn lịch sử hình thành, hưng hịnh và suy tàn của đô thị Các loại hình kiến trúc từ thế kỷ
16 đến đầu thế kỷ 18 thường mang chức năng có bản, bị tác động bởi nền kinh tế, yếu tốcảng thị của Hội An khi đó Tiêu biểu cho giai đoạn này là những bến thuyền, giếngnước, chùa chiền, đền miếu, cầu, mộ, những nhà thờ tộc và các thương điếm Từ thế kỷ
18, Hội An không còn vị trí thương cảng bậc nhất nữa Thời kỳ này xuất hiện phổ biếnnhững văn miếu, văn chỉ, đình, nhà thờ và đặc biệt là các hội quán Qua sự phân bố, quy
mô, hình thức, chức năng của các công trình kiến trúc, có thể thấy sự chuyển đổi của Hội
An trong giai đoạn này Thời kỳ Pháp thuộc, cũng như nhiều đô thị khác của Việt Nam,Hội An chịu ảnh hưởng sâu đậm của kiến trúc Pháp Những ngôi nhà mang phong cáchthuộc địa xuất hiện nhiều và tập trung trên một tuyến phố Sự đan xen phong cách kiếntrúc Pháp giữa những ngôi nhà cổ truyến thống là hệ quả của một lối sống phương Tây đãxuất hiện trong đời sống của cư dân Hội An.Các công trình thời kỳ này giữ được vẻ hàihòa trong ngôn ngữ kiến trúc, mềm dẻo trong trang trí, phù hợp với không gian đô thị,mang lại cho Hội An một dáng vẻ mới.Theo thống kê tháng 12 năm 2000, Di sản thế giớiHội An có 1360 di tích gồm 1068 nhà cổ, 11 giếng nước cổ, 38 nhà thờ tộc, 19 ngôi chùa,
Trang 1843 miếu thờ thần, 23 đình, 44 mộ cổ loại đặc biệt và 1 cây cầu Khoảng hơn 1100 di tíchtrong số này nằm trong khu vực đô thị cổ.
- Chùa, đền, miếu
Hội An từng là một trung tâm của Phật giáo sớm của Đàng Trong với đa số cácngôi chùa theo dòng Tiểu thừa Nhiều ngôi chùa ở đây có niên đại khởi dựng khá sớm,nhưng hầu hết kiến trúc gốc đã bị thay đổi, thậm chí mai một qua những biến thiên củalịch sử và những lần trùng tu Ngôi chùa sớm nhất được biết đến là chùa Chúc Thánh,tương truyền có gốc gác từ năm 1454, nằm cách trung tâm khu phố cổ khoảng 2 km vềphía Bắc Nơi đây vẫn lưu giữ nhiều di vật, tượng thờ, bia ký liên quan đến quá trình dunhập và phát triển của Phật giáo ở Đàng Trong.Ngoại ô khu phố cổ còn nhiều ngôi chùakhác như Phước Lâm, Vạn Đức, Kim Bửu, Viên Giác mang niên đại muộn hơn Giaiđoạn đầu thế kỷ 20 cũng là thời kỳ ra đời của nhiều ngôi chùa mới, nổi bật trong số này làchùa Long Tuyền hoàn thành vào năm 1909 Bên cạnh những ngôi chùa tách khỏi làngxóm, nằm ven những dòng chảy cổ, ở Hội An còn có các ngôi chùa làng gắn với nhữngquần cư như một thành phần hữu cơ của tổng thể làng xóm Điều này phản ánh giới tuhành gắn bó với thế tục và chứng tỏ Minh Hương Xã ở đây đã có một thiết chế văn hóasinh hoạt cộng đồng khá mạnh Trong khu phố cổ, Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Hội Annguyên trước đây là ngôi chùa thờ Phật bà Quan Âm do người Việt và người MinhHương khởi dựng vào khoảng thế kỷ 17
Các công trình đền miếu ở Hội An mang chức năng chính là nơi thờ cúng các vịtiên hiền có công sáng lập phố, hội và Minh Hương Xã Loại hình kiến trúc này thường
có hình thức đơn giản, nằm ngay trong làng xóm, bố cục mặt bằng 1 x 3 gian tường gạchchịu lửa, mái ngói âm dương với ban thờ được đặt ở gian chính giữa Tiêu biểu nhất choloại hình kiến trúc này chính là miếu Quan Công, còn được gọi là Chùa Ông, nằm trongtrung tâm khu phố cổ, số 24 đường Trần Phú Công trình được người Minh Hương vàngười Việt khởi dựng vào năm 1653, thờ Quan Công, vị tướng thời Tam Quốc, biểutượng của trung hiếu, tiết nghĩa Tuy đã qua nhiều lần trùng tu, miếu Quan Công vẫn
Trang 19không mất đi dáng vẻ ban đầu.Toàn bộ miếu bao gồm nhiều nếp nhà với các mái lợpbằng ngói ống men màu xanh lục, kết cấu gồm ba phần: tiền sảnh, sân trời và hậu sảnh Ởphần tiền sảnh, công trình nổi bật với màu sơn đỏ, những trang trí cầu kỳ, mái ngói vữngtrãi và hai cánh cửa chính lớn chạm nổi đôi rồng màu xanh đang uốn mình trong mây.Hai bên, sát với tường là chiếc chuông đồng nặng trên nửa tấn và chiếc trống lớn đặt trêngiá gỗ do vua Bảo Đại ban tặng Tiếp đó đến phần sân trời, khoảng trống lộ thiên trangchí các hòn non bộ, tạo cho miếu vẻ sáng sủa, thoáng mát Hai bên sân trời là hai nếp nhàdọc Đông, Tây Một bia gắn vào tường nhà Đông ghi lại lần trùng tu miếu đầu tiên vàonăm 1753 Chính điện nằm ở hậu sảnh, nếp nhà sau cùng, là nơi đặt hương án thờ QuanCông Tượng Quan Công cao gần 3 mét, mặt đỏ, mắt phượng, râu dài, mặc áo bào màuxanh lục, tọa trên mình con ngựa bạch đang quỳ Hai bên là tượng Quan Bình và ChâuThương, hai người con nuôi, cũng là hai võ quan trung thành của Quan Công Trước đây,miếu Quan Công là trung tâm tín ngưỡng của các thương gia Hội An, nơi chứng giám,tạo niềm tin cho các thương gia trong những cuộc giao kèo thương mại Ngày nay, vàongày 13 tháng 1 và 24 tháng 6 âm lịch hàng năm, lễ hội Chùa Ông được tổ chức thu hútrất đông tín đồ và dân chúng tới dự.
- Nhà thờ tộc
Tại Hội An, cũng như nhiều địa phương khác của Việt Nam, các dòng họ đều cónơi thờ cúng tổ tiên, được gọi là miếu tộc hay nhà thờ họ Đây là một dạng kiến trúc nhà
ở đặc biệt, của những dòng họ lớn có công lập làng dựng phố từ thời kỳ sơ khai của Hội
An và truyền lại cho con cháu làm nơi thờ tự tổ tiên Những dòng họ nhỏ, nhà thờ họ kếthợp với nhà ở của vị trưởng họ có nguồn gốc từ Trung Hoa Hậu duệ về sau có tráchnhiệm hương khói và tu sửa kiến trúc tùy theo tình trạng ngôi nhà Phần lớn các nhà thờ
họ tập trung ở khoảng giữa hai đường Phan Chu Trinh và Lê Lợi, một số ít rải rác trênđường Nguyễn Thị Minh Khai hay nằm ngay sau những ngôi nhà phố trên đường TrầnPhú Các nhà thờ tộc có niên đại sớm nhất hầu hết của người Hoa kiều, vào đầu thế kỷ
17, số có niên đại thế kỷ 18 chỉ chiếm một phần nhỏ Khác với những nhà thờ tộc ở thônquê, nhà thờ họ ở Hội An thường mang phong cách đô thị Vì là nơi thờ tự nên nhà thờ
Trang 20tộc được xây dựng theo dạng khuôn viên, có bố cục và kết cấu chặt chẽ, bao gồm cả sânvườn, cổng, tường rào, nhà phụ Nhiều nhà thờ họ ở đây có quy mô và kiến trúc rất đẹp,như nhà thờ tộc Trần, nhà thờ tộc Trương, nhà thờ tộc Nguyễn hay nhà thờ Tiền hiềnMinh Hương.
Nhà thờ tộc Trần nằm ở số 21 đường Lê Lợi, được xây dựng vào đầu thế kỷ 19.Cũng giống như các nhà tộc khác ở Hội An, nhà thờ tọa sâu trong một khuôn viên rộngkhoảng 1500 m², tường cao bao quanh, sân trước trồng cây cảnh, hoa, cây ăn quả Ngôinhà có kiến trúc chịu ảnh hưởng từ Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, dựng từ gỗ quý,
3 gian 2 nếp, mái dốc lợp ngói âm dương Không gian trong nhà được chia làm hai phần,phần chính để thờ cúng, phần phụ là nơi ở của vị trưởng tộc và tiếp khách.Gian thờ cúng
có ba cửa ra vào, trong đó cửa bên phải dành cho nữ, bên trái dành cho nam, cửa chính ởgiữa dành cho những người cao tuổi có vai vế trong họ và chỉ mở vào dịp lễ tết Trên bànthờ, các hộp nhỏ đựng di vật và tiểu sử những người họ Trần xếp theo vai vế trong dòngtộc Trong ngày lễ hay giỗ kỵ, vị trưởng tộc sẽ mở những hộp gỗ này để tưởng nhớ đếnngười quá cố Phía sau ngôi từ đường có một vạt đất cao dùng để chôn nhữngnúm nhau của các thành viên trong tộc khi sinh ra Cũng trên vạt đất này, phía sau còntrồng một cây khế, tượng trưng cho sự gắn bó với quê hương đất tổ của các thế hệ concháu trong họ
- Hội quán
Một trong những đặc tính nổi trội của người Hoa là bất cứ nơi cư trú nào của họ ởngoại quốc đều có các hội quán, sản phẩm sinh hoạt cộng đồng dựa trên cơ sở nhữngngười đồng hương Tại Hội An ngày nay vẫn tồn tại 5 hội quán tương ứng với 5 bộ phậndân cư Hoa kiều lớn ở đây: Phúc Kiến, Trung Hoa, Triều Châu, Quỳnh Phủ và QuảngĐông Các hội quán này có quy mô khá lớn, đều nằm trên trục phố Trần Phú và thốngnhất hướng chính ra sông Thu Bồn.[71] Về hình thức, các hội quán ở Hội An được xâydựng theo một nguyên mẫu các hội quán vẫn thường gặp ở những đô thị cổ khác Đó làmột tổng thể bao gồm: cổng lớn phía trước, tiếp đến một khoảng sân rộng có trang trí cây
Trang 21cảnh, non bộ và hai nhà phụ thờ Tả thần và Hữu thần, sau đó là phương đình, nơi tiếnhành các nghi lễ, kết thúc bởi nhà thờ, kiến trúc lớn nhất của tổng thể Các hội quán đềuđược trang trí cầu kỳ, tỷ mỷ với bộ khung gỗ được chạm trổ, sơn son thếp vàng, phần mái
tô điểm các con thú bằng sành tráng men nhiều màu Ngày nay, các hội quán tuy đã bịthay đổi sửa chữa nhiều, nhưng bộ khung gỗ vẫn bảo lưu được nhiều yếu tố gốc Ngoàichức năng duy trì sinh hoạt cộng đồng, hội quán còn một chức năng quan trọng khác, đó
là tín ngưỡng Tùy theo tục quán tín ngưỡng của từng cộng đồng mà hội quán lấy cơ sở
để thờ phụng
Trong năm hội quán ở Hội An, Phúc Kiến là hội quán lớn nhất, nằm ở số 46 đườngTrần Phú Buổi ban đầu, nơi đây chỉ là một ngôi chùa lợp tranh do người Việt dựng vàonăm 1697 để thờ Phật Qua thời gian, ngôi chùa bị hư hỏng và người Việt không đủ khảnăng để sửa chữa Những thương nhân Phúc Kiến mua lại ngôi chùa vào năm 1759 vàsau nhiều lần trùng tu, năm 1792 đổi thành Hội quán Phúc Kiến Công trình có kiến trúctheo kiểu chữ Tam, kéo dài từ đường Trần Phú đến đường Phan Chu Trinh, theo thứtự: cổng tam quan, sân, hai dãy nhà Đông Tây, chính điện, sân sau và hậu điện Cổng tamquan của hội quán mới được xây dựng trong lần trùng tu lớn đầu thập niên 1970 Chiếccổng có một hệ mái ngoạn mục gồm 7 mái lợp ngói ống men xanh uốn lượn, xếp nốinhau thấp dần xuống, cân xứng giữa hai bên Phía cao của cổng, dưới tầng mái trên, mộttấm bảng trắng có ghi ba chữ Hán màu đỏ "Kim Sơn Tự" Phía dưới tầng mái dưới cũng
có một tấm biển đá xanh đề bốn chữ Hán màu đỏ "Hội quán Phúc Kiến" Hai bức tườnghai bên cổng tam quan ngăn cách sân trong của hội quán với một sân bên ngoài Phầnchính điện của hội quán được trang trí những cây cột màu đỏ son, treo những đôi liễn gỗ
ca tụng Thiên Hậu Thánh Mẫu Chính điện thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đangngồi thiền, phía trước là một lư hương lớn Hai bên hương án sẽ thấy hai bức tượng Thiên
Lý Nhãn và Thượng Phong Nhĩ, hai vị thần phụ tá cho Thiên Hậu cứu giúp các thuyềnbuôn người Hoa gặp nạn Tiếp theo chính điện, băng qua sân sau sẽ tới hậu điện Ở đâyphần chính giữa được dành để thờ sáu vị tướng nhà Minh người Phúc Kiến, bên trái làban thờ 3 bà chúa Sanh Thai và 12 bà mụ, bên phải là ban thờ Thần Tài Ngoài ra, hậu
Trang 22điện còn thờ những người đã có công đóng góp tiền của xây dựng hội quán và chùa KimSơn.Hàng năm, vào ngày 23 tháng 3 âm lịch, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu được ngườiHoa tổ chức với nhiều hoạt động như múa lân, bán pháo hoa, xộ cỗ, xin lộc thu hútnhiều người dân Hội An và những vùng khác đến tham dự.
- Chùa Cầu
Chiếc cầu cổ duy nhất còn lại ở Hội An ngày nay là Chùa Cầu, còn có tên gọi khác
là Cầu Nhật Bản Cây cầu này dài khoảng 18 mét, bắc qua một lạch nước nhỏ chảy
ra sông Thu Bồn, nối liền đường Trần Phú với đường Nguyễn Thị Minh Khai.[79]Theo sựtích kể lại thì Cầu Nhật Bản được xây dựng vào năm 1593, nhưng không có một cơ sở
chính xác nào để khẳng định điều này Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ năm 1630, cái tên
"Hội An Kiều" và hình ảnh một cây cầu có mái đã xuất hiện. Nhà sư Thích Đại Sán cũng
nhắc tới cái tên "Nhật Bản Kiều" trong cuốn Hải ngoại ký sự năm 1695 Trải qua rấtnhiều lần trùng tu, hình dáng cây cầu đã bị thay đổi nhiều, dáng vẻ ngày nay được hìnhthành trong những lần sửa chữa vào thế kỷ 18 và 19 Những trang trí bằng mảnh sứ trángmen hay đĩa sứ là biểu hiện đặc trưng của kiến trúc thời Nguyễn
Cầu Nhật Bản có một kiến trúc khá độc đáo, kiểu thượng gia hạ kiều, tức trên là
nhà dưới là cầu, một loại hình kiến trúc khá phổ biến ở những quốc gia châu Á nhiệt đới
Dù mang tên Cầu Nhật Bản nhưng sau nhiều lần trùng tu, thật khó có thể tìm thấy mộtchút dấu tích kiến trúc Nhật Bản trên cây cầu này Nhìn từ bên ngoài, cây cầu nổi bật nhờ
hệ mái cong mềm mại nâng đỡ bởi một hệ thống kết cấu gỗ, và phần móng được làmbằng vòm trụ đá Mặt cầu vồng lên kiểu cầu vồng, được lát ván làm lối qua lại, hai bên có
bệ gỗ nhỏ, trước kia làm nơi bày hàng buôn bán Gắn liền với cầu về phía thượng nguồn
là một ngôi chùa rất nhỏ thờ Huyền Thiên đại đế, xây dựng sau cầu khoảng nửa thế kỷ.Ngôi chùa nằm ngay cạnh cầu, ngăn cách bởi một lớp vách gỗ và bộ cửa "thượng song hạbản", tạo không gian riêng biệt Trên cửa chùa treo bức hoành màu đỏ với ba chữ "LaiViễn Kiều" do chúa Nguyễn Phúc Chu ban tặng vào năm 1719 với ý nghĩa cây cầu củanhững người bạn từ phương xa đến Ở mỗi đầu cầu, hai bên lối đi đều có hai bức tượng
Trang 23thú, một bên tượng khỉ, bên kia tượng chó Các tượng đều được chạm bằng gỗ mít trong
tư thế ngôi chầu, phía trước mỗi tượng có một bát nhang.Theo truyền thuyết, con thủyquái Mamazu có đầu nằm ở Nhật Bản, đuôi ở Ấn Độ Dương và thân thì ở Việt Nam, mỗikhi cựa mình sẽ gây ra động đất, thiên tai, lũ lụt Vì vậy những người Nhật đã xây dựngcây cầu cùng tượng Thần Khỉ và Thần Chó để trấn yểm con quái vật Một thuyết kháccho rằng những bức tượng khỉ và chó xuất hiện trên cầu vì công trình này được khởidựng vào năm Thân, hoàn thành vào năm Tuất Cây cầu nhỏ này ngày nay đã trở thànhbiểu tượng của thành phố Hội An
Trang 24CHƯƠNG II: KHẢO CỔ HỌC LỊCH SỬ Ở HỘI AN
Mục đích của điều tra khảo cổ học Hội An
Điều tra khảo cổ học ở Hội An được tiến hành với ba mục tiêu lớn sau đây:
Thứ nhất, làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển và suy thoái của thươngcảng mậu dịch quốc tế Hội An từ thế hỷ 16 đến thế kỷ 18, đồng thời xác định vị trí, quy
mô và hình dáng của “phố Nhật” tồn tại trong khoảng từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ 17
Thứ hai, làm sáng tỏ Hội An với vai trò một trạm trung chuyển trên “Đường tơ lụatrên biển” có từ trước cong nguyên, có nghĩa là làm sáng tỏ nền văn hóa Sa Huỳnh và tiếp
đó là hình thái cảng thị của vương quốc Chăm Pa
Thứ ba, kết hợp cùng nhóm trùng tu làm nhằm sáng tỏ cấu tạo cơ bản của côngtrình cổ điển đang tồn tại
2.1 Khái quát quá trình nghiên cứu khảo cổ học ở Hội An
Tổng quan về khảo cổ học ở Hội An trước năm 1985, các nhà khoa học trong vàngoài nước mới chỉ biết, viết về Hội An qua những nguồn tư liệu thư tịch, lịch sử và kếtqủa điều tra thực địa theo phương phap sử học, dân tộc, Fofkloke bởi việc Khảo cổ họchầu như chưa được tiến hành ở Hội An
Tháng 7/1985, tại Hội thảo khoa học Quốc gia về Đô thị cổ Hội An, từ những kết quảđiền dã khảo cổ bước đầu, thông qua Hội thảo, các nhà khoa học Việt Nam đã đề ra mộtchương trình nghiên cứu toàn diện về Đô thị cổ Hội An được thành lập (để chuẩn bị choHội thảo Quốc tế về Đô thị cổ Hội An 3/1990), một chương trình điều tra, khảo sát khảo
cổ học mới được triển khai chính thức Có thể nói đây là một chương trình mở đầu choKhảo cổ học ở Hội An Dựa vào cảnh quan địa lý, dấu vết của các dòng chảy cổ, sau mộtthời gian điều tra khảo sát, tháng 7/1989 đoàn Khảo cổ học đã đào thám sát khảo cổ tại.Năm điểm, thông qua hiện vật trong tầng văn hóa bước đầu cho biết:
1) Di chỉ Bàu Đà (Lăng Bà) xã Cẩm Thanh: nằm ở điểm cực Đông của Đô thị cổ Hội An,sát cửa biển (Cửa Đại xưa), bên bờ hai dòng chảy cổ (Song Cổ Cò và Sông Đình) Đây là
Trang 25một bến tàu - nơi dừng đậu, trao đổi hàng hóa, sản vật, đặc biệt là gốm sứ từ thời VươngQuốc Champa, được kế thừa, phát triển vào thời kỳ thương cảng Đại Việt thế kỷ XVI -XVIII
2) Di tích mộ táng An Bang và di chỉ cư trú Thanh Chiếm, Hậu Xá I (nay thuộc phườngThanh Hà), nằm ở phía Tây của Đô thị cổ Hội An, bên bờ của một dòng chảy cổ nay chỉ
còn lại dấu vết gọi là “Rọc gốm” Đây là một dải di tích của cư dân thời Tiền - Sơ sử ở
Hội An, nằm trong phức hệ văn hóa Sa Huỳnh (ở Nam Trung Bộ Việt Nam) Riêng di chỉThanh Chiếm, qua tầng văn hóa thấy rõ được sự tiếp nối bởi cư dân Champa, Đại Việt.Đặc biệt, đáng lưu ý ở đây là sự có mặt số lượng lớn của gốm sứ mậu dịch nguồn gốc từTrung Quốc, Nhật Bản (Hizen) với đồ gốm đất nung địa phương (Thanh Hà) niên đại thế
kỷ XVII, XVIII
* Chương trình này, có sự tham gia hợp tác của các nhà khảo cổ học ở Trung tâm
Văn hóa Việt Nam (trường Đại học Quốc gia Hà Nội), Bảo tàng tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) và Ban Quản lý Di tích Hội An
3) Di chỉ Hội quán Triều Châu (chùa Âm Bổn), nằm về phía sau của Hội quán này, sát hạlưu sông Thu Bồn (sông Hội An) và về phía Đông của khu phố cổ Hội An hiện nay Đây
là một điểm cư trú khá liên tục và lâu đời của cư dân từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX.Với sự có mặt khá đầy đủ của gốm sứ Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản (Hizen)
Đặc biệt, cũng trong đợt này (7/1989) đoàn đã phát hiện và giám định bước đầukhá nhiều vết tích kiến trúc, tác phẩm điêu khắc, giếng cổ của thời kỳ cư dân Champa đólà: Vết tích kiến trúc: ở An Bang, Thanh Chiếm (Thanh Hà), Lăng Bà (Cẩm Thanh); Tácphẩm điêu khắc: Bức tượng Voi trong Miếu thờ đình Xuân Mỹ (ở Thanh Hà) niên đại thế
kỷ VIII - IX, tượng Vũ Công Thiên Tiên - Gandharva, trong miếu thờ “Thần Hời” (An
Bang, Thanh Hà) niên đại thế kỷ IX, tượng Nam thần Kubera ở Lăng Bà (Cẩm Thanh)niên đại cuối thế kỷ X, đầu tượng thần ở Hậu Xá (Thanh Hà) niên đại thế kỷ VIII, mảnhbia vỡ (mặt phải còn ba dòng chữ, mặt trái còn hai dòng chữ) niên đại khoảng thế kỷ X -XII Đồng thời, hệ thống giếng cổ cũng được phát hiện khá nhiều, nằm dọc theo hạ lưusông Thu Bồn, trong các khu dân cư cổ, gần bên các vết tích kiến trúc Champa Đây là
Trang 26những giếng nước được làm từ thời cư dân Champa, đã trải qua nhiều lần tu sửa hoặcđược làm theo kiểu thức của cư dân Champa bởi cư dân Đại Việt từ lâu đời Tiếp theo và trên một quy mô rộng lớn hơn bao gồm các bước điều tra, đào thámsát, khai quật khảo cổ học trên toàn địa bàn Hội An hiện nay (kể cả những địa điểm đã
phát hiện trước đây) theo một chương trình dự án “Nghiên cứu khảo cổ học về văn hóa
Sa Huỳnh ở Hội An”, do quỹ của TOYOTA FOUNDATION (Nhật Bản) tài trợ từ năm
1993 – 1995
Kết quả ba năm điền dã, khảo sát đã phát hiện được trên toàn bộ vùng cửa sông ven biển Hội An đều có dấu tích văn hóa Sa Huỳnh và đã đào thám sát, khai quật tại bốnđiểm di tích mộ táng: An Bang, Hậu Xá I, Hậu Xá II (Thanh Hà), Xuân Lâm (Cẩm Phô)
-Đó là những khu mộ táng chum đất nung Năm điểm di chỉ cư trú: Hậu Xá I, Trảng Sỏi(Thanh Chiếm), Đồng Nà (Thanh Hà) và Bầu Đà (Lăng Bà Cẩm Thanh)
Các khu di tích mộ táng có số lượng mộ chum khá dày đặc (tổng số 73 chum đượcxác định trên diện tích 129m2) Với khá nhiều hiện vật tùy táng gồm có: Đồ gốm: bát, đĩa,
nồi, “ đèn Sa Huỳnh”, cốc, bình Đồ trang sức: khuyên tai (có 3 mấu, vành khăn), vòng
đeo tay, hạt chuỗi chất liệu thủy tinh, đá (có hồng mã não, Nephrite, Crystal, agate,phiến sét), kim loại khác (vàng, chì, đồng) Đồ sắt: Dao, rựa, rìu, đục Dọi xe chỉ: bằngđất nung (để xe chỉ dệt vải) Tiền đồng: Ngũ Thù, Vương Mãng của Trung Quốc
Các di chỉ cư trú với tầng văn hóa khá rõ và ổn định ở lớp dưới có nhiều mảnh đồđựng đã được sử dụng, gồm các loại gốm thô Sa Huỳnh, Sa Huỳnh - Chăm (gốm mịn,mầu nâu đỏ, vàng nhạt hoặc xám mốc, văn chải, thừng mịn hoặc in ô vuông, phong cáchHán, Trung Quốc) Niên đại từ thế kỷ II - III, IV sau công nguyên ở lớp trên với nhiềumảnh gốm Chăm, sứ, bán sứ Trung Quốc, Islam, Việt Nam thể hiện rất rõ sự nối tiếp dân
cư, văn hóa từ thế kỷ III, IV – XI, XV
Bằng những chứng cứ hiện vật khảo cổ từ trong lòng đất Hội An, tham chiếu, đốisánh với những di tích khảo cổ học khác ở trong nước và khu vực cùng với kết quả của
Trang 27nhiều phương pháp xét nghiệm, giám định niên đại, tại hội thảo khoa học về văn hóa SaHuỳnh ở Hội An tháng 11/1995 các nhà khảo cổ học đã thống nhất kết luận:
Mảnh đất Hội An là nơi tập trung nhiều nhất, đậm đặc nhất của văn hóa Sa Huỳnhthuộc giai đoạn muộn, cách ngày nay khoảng hơn 2.000 năm Nét đặc trưng cho các ditích ở đây là sự hiện diện của những đồng tiền Ngũ Thù, Vương Mãng (Trung Quốc),chất nhựa kết dính giữa nắp và miệng chum, hay than tro, xương động vật trong đáy mộchum hoặc những hiện vật sắt kiểu Tây Hán, dáng dấp kiểu Đông Sơn, óc Eo và trongkhu vực rộng hơn ở Đông Nam á Đặc biệt ở chuôi (cán) một số hiện vật sắt còn để lạidấu vết gỗ, vải khá rõ nét Trong các di chỉ cư trú, tuy mang tính chất khác nhau giữa cácđiểm (bến, chợ ven sông, điểm thờ cúng nơi cư trú), nhưng hiện vật trong các lớp văn hóađều đồng nhất, thể hiện rất rõ sự chuyển tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh sang văn hóa Champa.Mặt khác, cũng thể hiện rất rõ mối quan hệ, giao lưu văn hóa trong nước và trong khuvực
Có thể nói, từ thời Sa Huỳnh, Hội An đã là một tiền cảng thị (pre - port town) haymột cảng thị sơ khai (embryonnary port town) và chắc chắn là tiền đề cho sự hình thànhcác tiểu vương quốc ở khu vực miền Trung Việt Nam Với nền văn hóa Sa Huỳnh muộn
“cổ điển”, ở đây đặt ra nhiều vấn đề khoa học lý thú về sự phát triển, chuyển tiếp từ văn
hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa, về táng thức, diện mạo thiết chế kinh tế, văn hóa, xãhội của cư dân thời kỳ này
Song song với chương trình dự án “Nghiên cứu khảo cổ về văn hóa Sa Huỳnh ở
Hội An”, từ năm 1993 - 1995 là chương trình điều tra, thám sát và khai quật tìm hiểu về
các lớp kiến trúc, dân cư ở trong khu vực Khu phố cổ Hội An hiện nay của Trung tâmhợp tác nghiên cứu văn hóa Quốc tế, trường đại học Nữ Chiêu Hòa Nhật Bản.Tháng 9/1993 các nhà khảo cổ học đã tiến hành đào thám sát tại các sân sau hoặc trướccủa các nhà 85, 69, 65, 78, 80, 114 đường Trần Phú - tức là dãy phố trung tâm của khuphố cổ Hội An hiện nay Kết quả thông qua hiện vật cho thấy, ở đây chỉ có dấu vết dân
Trang 28cư, kiến trúc từ thế kỷ XVIII - XX Nghĩa là chưa tìm thấy dấu vết phố cổ ở phía Namđường Trần Phú (hiện nay) và thế kỷ XVI, XVII
Từ 1 - 8/1994 nhà khảo cổ học tiếp tục đào thám sát và khai quật khảo cổ tại các vịtrí về phía Tây của Khu phố cổ hiện nay đó là: Đình Cẩm Phô, đình ấp Tu Lễ, 129 PhanChu Trinh Ngoại trừ vị trí 129 Phan Chu Trinh, tầng văn hóa bị xáo trộn, không xácđịnh, còn lại cấu trúc tầng văn hóa ở các khu vực này khá ổn định và rõ nét, cho thấy vàothế kỷ XVI - XVII đây là vùng bãi sông, có độ xoải từ Bắc - Nam (phía đoạn sông cổ ởphía Nam đường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay) Hiện vật ở lớp 2 và 3 trong tầng vănhóa chủ yếu là gốm sứ Trung Quốc, Hizen (Nhật Bản), gốm sành Việt Nam từ thế kỷ XVI
- XVIII Như vậy, cho biết các khu dân cư ở phía Tây của Khu phố cổ Hội An hiện nay đãhình thành khá thịnh vượng vào thế kỷ XVI, XVII và được tiếp nối cho đến nay
Từ năm 1998 đến năm 2000, khảo cổ học ở Hội An tiếp tục thu được nhiều kết quả tốtđẹp Trong đó đáng quan tâm là việc phát hiện di chỉ Ruộng Đồng Cao (khu vực I - CẩmPhô), có niên đại thế kỷ III - IV sau công nguyên, với sự xuất hiện khá dày đặc gốm mịn,đanh cứng; màu nâu đỏ, vàng nhạt; có gốm trơn láng hoặc in hoa văn ô vuông Cùng với
sự xuất hiện các hạt chuỗi thủy tinh, đĩa đồng kiểu Hán (thế kỷ I - II sau công nguyên),đầu ngói ống (mặt hổ), gạch Di chỉ đã góp phần bổ sung thông tin làm sáng tỏ thêm về
cư dân Champa ở Hội An Có thể nói từ năm 1998 đến 2000 là thời gian giành cho việctập trung nghiên cứu khảo cổ học về Cù Lao Chàm, kết quả chương trình này là:
1) Lần đầu tiên đã phát hiện được di chỉ có niên đại cách ngày nay hơn 3000 năm
ở khu vực Hội An - di chỉ Bãi Ông, diện tích khai quật 22m2 vốn có khá nhiều hiện vậtgốm thô (đất nung), công cụ đá mài, cuội: rìu tứ giác, rìu có vai, lưỡi ghè, bàn nghiền, chìlưới Đặc biệt ở lớp trên có tầng văn hóa với niên đại thế kỷ IX – X
2) Tại di chỉ Bãi Làng: Trong tổng diện tích khai quật 8m2, thu được hiện vật rấtphong phú gồm: gốm - sứ Chăm, Islam (vùng Trung Cận Đông), Nam Trung Quốc; đồthủy tinh màu có nguồn gốc từ Trung Cận Đông, Nam ấn Độ Di chỉ có niên đại thế kỷ
Trang 29VIII - X Thông qua tư liệu thư tịch và hiện vật khảo cổ ở đây đã minh chứng về một vaitrò giao lưu buôn bán trên thế giới và trong khu vực của Cù Lao Chàm ở các thế kỷ trước.
3) Liên tiếp các năm 1997, 1998 và 1999, các nhà khảo cổ học Việt Nam cùng cácchuyên gia khảo cổ học, sử học của Đại học Oxford (Anh), KeBang Sean (Malaysia),Cộng hòa Séc, với sự liên doanh đầu tư của công ty Saga (Malaysia) và Visal (Việt Nam),các công ty chuyên trục vớt tàu đắm Kết quả theo báo cáo của Ban khai quật khảo cổ CùLao Chàm cho biết: đã khai quật được hơn 278.000 hiện vật chủ yếu là đồ gốm Việt Nam(sản xuất tại Chu Đậu, Hải Dương), một số ít của Trung Quốc và một số vật dụng khác cóniên đại vào thế kỷ XV
Kết quả khảo cổ học ở Hội An trong những năm qua đã tạo cơ sở cho sự hìnhthành ba Bảo tàng nhỏ ở Hội An: Bảo tàng lịch sử - văn hóa, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh,
Bảo tàng gốm sứ mậu dịch và đang có kế hoạch thiết lập Bảo tàng “Văn hóa khảo cổ biển
- đảo Hội An” Đây là những minh chứng về kết quả mà các nhà khảo cổ học đã đạt được
ở Hội An trong những năm qua Trên cơ sở này, các nhà khảo cổ học có thể dựng lại mộtcách khái quát tiến trình lịch sử của Hội An từ thời Tiền - Sơ sử với nền văn hóa SaHuỳnh, được nối tiếp bởi văn hóa Champa, Đại Việt - Đại Nam Trong suốt quá trình đó,tuy sự hưng thịnh có khác nhau ở mỗi thời kỳ, Hội An vẫn luôn đóng vai trò là giao điểmtrung chuyển mậu dịch, giao lưu văn hóa của Việt Nam và khu vực Đông Nam á Sự xuấthiện của gốm sứ Islam, gốm sứ Trung Quốc (Việt Châu, Trường Sa, Long Tuyền, các lò ởPhúc Kiến, Quảng Đông ) và Nhật Bản (Hizen) vào các thế kỷ IX - X đến thế kỷ XVI –XVII càng khẳng định thêm vai trò của Đô thị thương cảng này
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa phải là nhiều sơ với thực tế bề dày lịch sử vốn cócủa một Đô thị thương cảng cửa sông - ven biển Còn khá nhiều vấn đề khoa học đượcđặt ra cho từng giai đoạn, từng thời kỳ lịch sử, kể cả sự chuyển tiếp của nó Đặc biệt làvấn đề sự chuyển hóa tiếp nối từ văn hóa Sa Huỳnh lên văn hóa Champa và vai trò của
Đô thị thương cảng Hội An đối với con đường gốm sứ mậu dịch trên biển ở khu vựcĐông Nam á mà kết quả khảo cổ học ở Hội An trong những năm qua đã cho nhiều dấu
Trang 30hiệu, thông tin khoa học quý giá Cho nên, chắc chắn những kết quả này, mới chỉ khaiphá bước đầu, làm cơ sở cho ngành khảo cổ học ở Hội An với nhiều niềm tin đầy hứahẹn, hấp dẫn và lý thú Bởi tiếp tục khảo cổ học ở Hội An sẽ tiếp tục thu được nhiềuthông tin khoa học quan trọng không chỉ đối với ngành khảo cổ học mà cả ngành khoahọc xã hội nói chung ở Việt Nam và trong khu vực.
2.2 Kết quả các cuộc khai quật, điều tra khảo cổ học ở phố cổ Hội An
Từ băm 1993 đến năm 1998 , trog ba dãy khu phố ổ, các nhà khảo cổ học đã tiếnhành điều tra khai quật 6 địa điểm ở phố Trần Phú, nơi còn tồn tại những căn nhà gỗ cổ, 2địa điểm ở phố Nguyễn Thị Minh Khai tiếp giáp với phố Trần Phú, 2 địa điểm ở phốPhan Chu Trinh, 2 địa điểm và 7 hố thám sát ở khoảng giữa phố Trần Phú và phố PhanChu Trinh Sau đây tôi xin trình bày một số cuộc khai quật, thám sát ở phố cổ Hội An
2.2.1 Các cuộc khai quật ở đường Trần Phú
Nhà số 65 Trần Phú (24, 25/3/1993)
Nhà số 65 nằm ở khoảng giữa của đường Trần Phú về phía Nam Hiện trạng tháingôi nhà này còn khá nguyên vẹn hình dạng ban đầu Các nhà khảo cổ học đã tiến hànhcác khai quật có chiều dài 2m theo hướng Nam Bắc và chiều rộng 1m theo hướng ĐôngTây ở ngay chính giữa sân sau Đây là địa điểm đầu tiên được tiến hành khai quật trongkhu vực phố cổ
Tại phía nam của hố đào ở độ sau 80cm thấy xuất hiện hàng gạch chồng Tại phíaBắc, ở độ sâu 40cm thấy xuất hiện hình dáng tường gạch, với độ sâu thêm 10cm thì thấy
lộ rõ hình ảnh của tường gạch nêu trên với chiều cao 9 viên gạch và chiều rộng 50cm Cóthể dự đoán đây là phần móng của nhà sau có cùng thời kỳ với nhà trước hiện tại Mặttrên của tường này không có vết tích của lớp vữa trát nên có thể đây là mặt trên củamóng
Phía dưới của tường này còn thấy xuất hiện một cấu trúc nền gạch được xây dựngkhá công phu Giữa hai dáu tích này là tầng trống Điều này khiến chúng ta nghĩ rằng khi
Trang 31xây dựng ngôi nhà hiện nay người ta đã để nguyên lớp nền cũ rồi xây móng của nhà mớichồng lên trên
Như vậy theo suy đoán thì trước kia tại địa điêm này đã tòn tại một công trìnhkhác Như vậy, đã có hy vọng kiểm chứng sự tồn tại các công trình ở thời kỳ qua các tầnggạch ở phía Nam và phía Bắc hố đào có mối liên hệ nào đó với nhau nhưng khôngkhẳng định được chính xác
Nhà số 85 Trần Phú (điều tra lần 1: 23/3/1993, điều tra lần 2: 10 – 17/9/1994)
Di chỉ nhà số 85 nằm phía Nam đường Trần Phú, cách chùa Cầu 300m về phíaĐông Di chỉ đã được các nhà Khảo cổ học Nhật Bản (Trường Đại học Nữ Chiêu Hòa)phối hợp với Bảo tàng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Ban Quản lý Di tích Hội An và Việnkhảo cổ học khai quật vào tháng 9 năm 1993
Trước khi tiến hành khai quật, di chỉ đã được đào thám sát vào tháng 3 năm 1993 Hốkhai quật có diện tích khoảng 8m2 Trong hố khai quật đã tìm thấy dấu vết của 3 lớp kiếntrúc cổ
Lớp 1: Là nền của căn nhà, phía sau nhà số 85 hiện tại
Lớp 2: Dưới đáy cống ngầm của căn nhà lớp trên lộ ra một khoảng sân lát đá PhíaĐông sân đá là lớp nền của một nhà cầu cổ
Lớp 3: Bên dưới sân lát đá là một lớp nền được lát bằng gạch Dưới lớp nền này0,2m lại có thêm một lóp nền nữa lát bên trên bề mặt lớp đất tạo nên
Theo các khế ước, văn tự của nhà số 85 phố Trần Phú cho biết căn nhà này được
kê khai vào khoảng năm 1811 Do vậy, lớp kiên trúc thứ nhất có niên đại cuối thế kỷ 19,đầu thế kỷ 20
Những mảnh gốm tìm thấy ở lớp nền thứ 2 và thứ 3 đều có niên đại cuối thế kỷ 18
Đó cũng là niên đại của lớp kiến trúc này
Trang 32Tại đây, đã không phát hiện được bất kỳ dấu vết cư trú nào của cư dân Hội An vàothế kỷ 16-17 Vì vậy, có thể đoán chắc rằng, khu vực phía Nam đường Trần Phú hiện naykhông phải là phố cổ Nhật Bản ngày xưa.
Ngoài các số nhà trên nhóm khảo cổ học còn khai quật tai các số nhà khác trênđường Trần Phú: Nhà số 69, nhà sô 144 (18,19/3/1994), nhà số 78 (23/3/1994), nhà số 80(11,12/4/1995)
2.2.2 Đình Thổ Lễ (17 – 22/1/1994)
Đình Thổ Lễ có vị trí tại ngã ba đường Nguyễn Thị Minh Khai và đường HuỳnhĐức Cảnh, cách cầu Nhật Bản 400m về phía Tây Tại đây, các nhà khảo cổ học đã khaiquật 3 hố, trong đó chỉ có hố đầu tiên là thấy xuất hiện di tích còn các hố đào khác chỉthấy một vài mãnh gốm sứ vỡ
Hố đào thứ nhất có độ lớn 2m x 2m tại trước sân cửa đình Dưới mặt nền hiện tạikhoảng 70cm xuất hiện một hố có cả tàn tro Hố này được cho là di tích một bêp lò nằmngoài công trình, có niên đại thế kỷ 17 Ngoài ra ở tầng trên của hố đào còn thấy xuấthiện những đồ vật sản xuất lại lò gốm Quảng Đông, Phúc Kiến vào thế kỷ 18 Điều nàykhẳng định ở đây đã từng là khu cư trú từ thế kỷ thứ 17 đến thế ky 18
2.2.3 Nhà số 129 Phan Chu Trinh (12 – 17/4/1994)
Nhà số 129 là ngôi nhà có hình thức mặt đứng đứng kiểu châu Âu, nằm về phíaNam của đường Phan Chu Trinh Các nhà khảo cổ học tiến hành một hố 2m x3m Dướilớp nền hiện tai 80cm thấy xuất một di chỉ gồm 3 lớp gạch chồng người ta phán đoán đây
là móng của một công trình Khi quan sát tầng đất cho thấy tầng đất cách mặt đất nềnhiện tại khoảng 30cm, chính là nền đường Phan Chu trinh năm 1930 và di tích này nằmcách nền đường năm 1930 khoảng 25cm Xung quanh di tích này còn thấy xuất hiệnnhiều lọ thuốc đựng bằng thủy tinh, có niên đại vào khoảng thế kỷ 19 Mặt khác ở tầngđất dưới do có chứa nhiều thành phần sắt trong đất nên có thể suy đoán được rằng trướckia ở đây thường có tình trạng đọng nước Vì vậy trước thé kỷ 19 đây không phải là nơiphù hợp để cư trú Di vật khai quật được là những mảnh gốm sứ Trung Quốc thế kỷ 18,