Quan điểm hệ thống là một luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên cứu đối tượng phức tạp, là cách tiếp cận đối tượng bằng phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc của đối tượng, phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON
BÀI GIẢNG (Lưu hành nội bộ)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRẺ EM (Dành cho sinh viên ngành Đại học Giáo dục Mầm non)
Tác giả: Nguyễn Thị Thuỳ Vân
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI NểI ĐẦU 3
Chương 1 4
PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIấN CỨU TRẺ EM 4
1 khái niệm về trẻ em 4
2 các Quan điểm tiếp cận trong Nghiên cứu trẻ em 6
Chương 2 10
PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU TRẺ EM 10
1 KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU KHOA HỌC 10
2 Hệ thống các phương pháp nghiên cứu trẻ em 11
Chương 3 33
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH MỘT CễNG TRèNH 33
NGHIấN CỨU KHOA HỌC 33
1 giai đoạn chuẩn bị 33
2 giai đoạn thực hiện 37
3 giai đoạn hoàn thành 38
4 bảo vệ công trình nghiên cứu 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Phương pháp nghiên cứu trẻ
em tài liệu biên soạn nhằm giúp sinh viên hiểu được những kiến thức cơ bản về phương
pháp luận, một số phương pháp nghiên cứu cụ thể về tâm lý trẻ em, logic tiến hành một đề tài nghiên cứu trẻ em; Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức về Tâm lý học, giáo dục học, phương pháp nghiên cứu, thâm nhập thực tế để thực hiện các đề tài nghiên cứu về trẻ em lứa tuổi mầm non phục vụ cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc- giáo dục trẻ lứa tuổi này
Nội dung tài liệu thể hiện trong 3 chương:
Chương 1 Phương pháp luận nghiên cứu trẻ em
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu trẻ em
Chương 3.Các bước tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học
Trong quá trình biên soạn tài liệu không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong đồng nghiệp và sinh viên góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 4Chương 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIấN CỨU TRẺ EM
1 khái niệm về trẻ em
1.1 Khái niệm trẻ em xét về bình diện sinh học
Khoa học đã xác định mọi trẻ em đều kế thừa cấu trúc, chức năng cơ thể từ thế hệ trước Ngay khi mới ra đời, trẻ đã nhận được hệ thống thần kinh và não- cơ sở để hình thành, phát triển tâm lý Song quy luật tiến hoá sinh vật đối với con người đã mất dần tính hiệu lực, sự sống còn của cá nhân, sự chọn lọc của tự nhiên, khả năng thích nghi với môi trường không còn tác dụng nữa Vì con người đã biết cách cải tạo môi trường bằng lao động để thoả mãn nhu cầu của mình Như vậy, con người đã tách dần khỏi quá khứ động vật để trở thành người
Tuy nhiên, cấu trúc hình thái cơ thể của trẻ chưa phải là người lớn Trong quá trình trưởng thành hình thái cơ thể trẻ phát triển dần Những gì kế thừa được lúc mới ra
đời đã giúp trẻ có được một số phản xạ không điều kiện để đảm bảo cho sự thích nghi Trên cơ sở tự nhiên đó, các phản xạ có điều kiện được hình thành và phát triển, nhờ đó các phản ứng của trẻ đối với tác động bên ngoài ngày càng mở rộng và phức tạp dền lên một cách nhanh chóng Tổ hợp của các cơ chế phản xạ không điều kiện kết hợp với một số phản xạ có điều kiện mới được thành lập đảm bảo cho trẻ thiết lập mối quan hệ với bên ngoài, đặc biệt là với người lớn để chuyển sang sự tiếp thu các hình thái khác nhau của kinh nghiệm xã hội loài người
Tóm lại, xét về bản chất sinh học thì trẻ em là một cấu trúc hình thái cơ thể người còn non nớt đang phát triển mạnh mẽ về tổ chức và chức năng của chúng Nó không quyết định nhưng là cơ sở, điều kiện hình thành và phát triển tâm lý và cho sự tiếp nhận kinh nghiệm xã hội của trẻ
1.2 Khái niệm trẻ em xét về bình diện văn hoá
Nếu động vật chuyển giao hành vi mà thế hệ trước có được cùng với hình thái, cấu trúc cơ thể cho thế hệ sau bằng con đường di truyền sinh vật, thì con người, các hình thái hoạt động vốn có cùng với tri thức kỹ năng phẩm chất tâm lý lại được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con đường di truyền xã hội hay kế thừa văn hoá Thế hệ trước đã để lại các kinh nghiệm xã hội cho thế hệ sau (vật chất, tinh thần), thế hệ sau tiếp nhận những gì thế hệ trước đã sáng tạo ra thông qua hoạt động, giao lưu Khi tiếp xúc với thế giới xung quanh, với nền văn hoá nhân loại đứa trẻ dần dần lĩnh hội kinh nghiệm xã hội thông qua sự hướng dẫn, dạy dỗ thường xuyên của người lớn Như vậy, sự phát triển của trẻ gắn liền với sự phát triển lịch sử nhân loại
Trong lịch sử phát triển nhân loại, ngay từ buổi bình minh của lịch sử xã hội loài người chưa có khái niệm trẻ em, người ta coi trẻ em là người lớn thu nhỏ lại, nghĩa là giữa người lớn và trẻ em có sự khác biệt về số lượng chứ không khác về chất
Xã hội ngày càng phát triển, tri thức mà loài người tích luỹ càng phong phú, phức tạp hơn đòi hỏi trẻ phải có phương thức lĩnh hội mới (phương thức nhà trường) nghĩa là trẻ phải biết học để trở thành người lao động Như vậy, sự phát triển loài người, đặc biệt là lịch sử văn hoá đã sáng tạo ra hình thức đặc biệt - hành vi mới (hành vi người khác bản năng) Nó đã làm thay đổi hoạt động chức năng tâm lý, cũng như hành vi con
Trang 5người (chuyển hoá hành vi bản năng thành hành vi người) Vì vậy, xét về bình diện văn hoá thì trẻ em là một khái niệm lịch sử- văn hoá
1.3 Khái niệm trẻ em xét về bình diện cá thể (tâm lý cá nhân)
Khi xem xét trẻ ở hai bình diện trên (sinh vật, văn hoá) để thấy được cội nguồn trong bậc thang văn hoá của thế giới động vật mà con người đã vượt qua giới hạn đó để bước sang một phạm trù mới khác về chất (phạm trù người) bằng tác động quyết định của văn hoá Song thực tế sự phát triển cá thể của trẻ cả hai bình diện trên hoà lẫn vào nhau rất khó tách bạch Vì vậy, khi xém xét quá trình phát triển của trẻ thì quá trình phát triển là quá trình trẻ nhập vào nền văn hoá được diễn ra trong chừng mực cơ thể
đang biến đổi, lớn lên, chín muồi
Như vậy, hai bình diện (sinh vật và văn hoá) hoà nhập vào nhau trong sự phát triển trẻ, tạo nên sự thống nhất mặt xã hội và mặt sinh vật trong nhân cách trẻ Quá trình phát triển cơ thể được xảy ra trong môi trường văn hoá, trong chừng mực sự phát triển đó chuyển thành quá trình phát triển do lịch sử xã hội quy định Mặt khác, sự phát triển văn hoá có tính độc đáo được diễn ra đồng thời hoà quyện với sự chín muồi cơ thể
So sánh giữa động vật non với trẻ mới sinh thì đứa trẻ mới sinh yếu ớt hơn nhiều, mỗi động vật non sinh ra đã có sẵn những gì mà tổ tiên đã có, cơ thể sống với tư cách
là một thành viên cho nên động vật non chỉ thực hiện chức năng sinh trưởng (theo thời gian mà bộc lộ ra những gì mà tổ tiên đã trang bị) Còn trẻ em, mỗi đứa trẻ phải thực hiện quá trình phát triển của mình bằng hoạt động của chính mình
Điều đáng chú ý trẻ em sinh ra trong một môi trường văn hoá có sẵn, bằng chính hoạt động của mình, với sự giúp đỡ của người lớn đã tạo cho bản thân mình các hình thức thích nghi với nền văn hoá Như vậy để phát triển cho trẻ cần hình thành các hình thái văn hoá để trẻ sống được trong cuộc sống xã hội
Đứng về bình diện cá thể (tâm lý cá nhân) mà xét thì trẻ em được xem như một thực thể đang phát triển, nó phát triển theo quy luật của bản thân nó, quy luật đó diễn
ra bên trong đứa trẻ bằng sự tự phủ định mình để chuyển sang một chất lượng mới Quá trình chuyển hoá nên người là quá trình trẻ tự lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội bằng chính hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt của ngừơi lớn Đây chính là cơ chế hình thành cá thể Người, hình thành nhân cách
Như vậy, quá trình phát triển trẻ là một thực thể đang hình thành và tồn tại trong
sự phát triển, chính sự tồn tại trong sự sinh thành đã tạo nên sự phát triển chính mình (trẻ em phát triển chính mình) Trẻ em sinh ra đã chứa đựng một tiềm năng phát triển thành người chứ không phải sản phẩm hay một mẫu nào đó mà cha mẹ muốn, mà là quá trình phát triển để trở thành chính bản thân trẻ Quá trình phát triển đó được thực hiện bằng phương thức hoạt động từ tự phát đến tự giác theo chức năng điều khiển của người lớn, xã hội, bản thân
Quá trình giáo dục thực chất là tổ chức cho trẻ hoạt động nhằm làm cho trẻ thích nghi hoạt động, thích hoạt động, tích cực tự giác hoạt động nhằm tạo ra mọi giá trị để nên người
Tóm lại, quá trình phân tích trẻ ở ba bình diện (sinh vật, văn hoá, cá thể) cho chúng ta hiểu sâu sắc sự hình thành phát triển của trẻ, trong thực tế ba mặt đó nó đan xen, hoà nhập trong suốt quá trình phát triển của trẻ Trẻ em là một thực thể đang phát
Trang 6triển về nhiều mặt (sinh học, văn hoá, tâm lí cá nhân) để trở thành một thành viên của xã hội, một nhân cách
2 các Quan điểm tiếp cận trong Nghiên cứu trẻ em
2.1 Quan điểm duy vật biện chứng
Là sự thống nhất hữu cơ giữa phép duy vật và phép biện chứng trong nhìn nhận,
đánh giá thế giới (hiện thực khách quan) Nó là sự kết tinh của các thành tựu khoa học
và tư tưởng Triết học
Phép duy vật khẳng định vật chất có trước, ý thức là cái có sau, ý thức là sự phản
ánh hiện thực khách quan vào trong não người
Phép biện chứng luôn luôn cho ta cách nhìn hiện thực một cách hệ thống, thấy
được các sự vật hiện tượng trong thế giới luôn luôn tác động qua lại theo những quan
hệ mang tính quy luật
Nội dung bao gồm hai nguyên lý cơ bản, ba quy luật và sáu cặp phạm trù Phép duy vật biện chứng vừa là nền tảng vừa là kim chỉ nam trong nghiên cứu khoa học
2.2 Quan điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu trẻ em
Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và vận
động theo quy luật tổng hợp Một hệ thống bao giờ cũng có cấu trúc gồm nhiều thành
tố, mỗi thành tố của hệ thống là một bộ phận có vị trí độc lập, có chức năng riêng và luôn vận động theo quy luật của toàn hệ thống Các thành tố có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất
Quan điểm hệ thống - cấu trúc là quan điểm quan trọng nhất của lôgic biện chứng, yêu cầu xem xét đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển, với việc phân tích những điều kiện nhất định để tìm ra bản chất và quy luật vận động của đối tượng
Quan điểm hệ thống là một luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên cứu
đối tượng phức tạp, là cách tiếp cận đối tượng bằng phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc của đối tượng, phát hiện ra tính hệ thống, một thuộc tính quan trọng của đối tượng, nghiên cứu đối tượng theo quy luật của cái toàn thể, có tính hệ thống với cái thành phần có mối tương tác biện chứng hữu cơ
Phương pháp hệ thống là con đường nghiên cứu một đối tượng phức tạp trên cơ sở phân tích đối tượng thành các bộ phận, các thành phần để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc, tìm ra tính hệ thống của đối tượng Phương pháp hệ thống là công cụ của phương pháp luận, nó giúp ta nghiên cứu thành công một đối tượng phức tạp và cho ta một sản phẩm khoa học mang tính lôgic chặt chẽ
* Nghiên cứu khoa học theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cần:
- Nghiên cứu đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể
- Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật nội tại, sự phát triển từng mặt và của toàn bộ hệ thống
- Nghiên cứu đối tượng đó trong mối tương tác với các đối tượng xã hội khác, với toàn bộ nền văn hóa xã hội nhằm tìm môi trường thuận lợi cho sự phát triển
- Trình bày kết quả nghiên cứu khoa học rõ ràng, khúc chiết, theo một hệ thống
Trang 7chặt chẽ, có tính lôgic cao
Như vậy, nghiên cứu khoa học theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cho phép nhìn nhận một cách đầy đủ, sâu sắc, toàn diện, khách quan về đối tượng, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các đối tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó thấy được cái triệt để, khách quan của các tri thức khoa học
* Trong nghiên cứu trẻ em: Quan điểm hệ thống cấu trúc có vai trò định hướng rất quan trọng, theo quan điểm này, trẻ em được coi là một đối tượng trọn vẹn với những đặc điểm, những mối quan hệ trong một hệ thống cấu trúc nhất định Nó đã khắc phục được các quan điểm sai lầm khi nghiên cứu trẻ chỉ xem xét các mặt riêng lẻ, tách rời nhau về thể chất, trí tuệ, thẩm mỹ mà không hiểu rõ mối quan hệ qua lại giữa các mặt đó, ảnh hưởng tổng thể của chúng qua quá trình phát triển đồng bộ ở trẻ em Quan điểm hệ thống cấu trúc không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với việc xác định đối tượng nghiên cứu khoa học về trẻ em, hướng tới sự hoàn thiện việc chăm sóc và giáo dục trẻ, làm cho hai mặt đó quan hệ hữu cơ với nhau, tạo ra một hệ thống những tác động mà hạt nhân trung tâm của hệ thống
ấy gữ vai trò đặc biệt- vai trò chủ đạo cho toàn bộ hệ thống
2.3 Quan điểm tiếp cận lịch sử trong nghiên cứu trẻ em
Mọi sự vật hiện tượng đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển nên khi nghiên cứu cần phải xem xét đối tượng một cách toàn diện trong suốt quá trình phát sinh, phát triển của nó, cách nghiên cứu đó gọi là nghiên cứu theo quan điểm lịch sử
Lịch sử là sự vận động có thực của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khác
quan, diễn biến của lịch sử bao giờ cũng chứa đựng đầy mâu thuẫn trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định Tiến trình lịch sử phức tạp, chứa đựng thành công, thất bại, có những bước nhảy vọt nhưng cũng có những bước lùi song xu thế chung là phát triển
đi lên Lịch sử bao giờ cũng có nguyên nhân dẫn đến kết quả, nếu điều kiện thuận lợi
sẽ thúc đẩy nhanh sự phát triển, ngược lại nếu có những nhân tố không thuận lợi sẽ kìm hãm sự phát triển
Nghiên cứu khoa học theo quan điểm lịch sử là quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử, là quá trình phân tích, tìm hiểu, phát hiện nguyên nhân sự nảy sinh, diễn biến, phát triển của sự vật hiện tượng trong hoàn cảnh cụ thể, với những
điều kiện cụ thể, với thời gian, không gian xác định để phát hiện ra quy luật tất yếu của sự vận động, phát triển đó
Nguyên tắc lịch sử trong nghiên cứu khoa học giáo dục thực hiện nhiều chức
năng, có thể kể ra một số chức năng chủ yếu sau:
+ Chức năng làm cơ sở để xây dựng giả thuyết và chứng minh giả thuyết đó + Chức năng minh hoạ, chứng minh làm sáng tỏ các luận điểm, học thuyết khoa học hay kết quả nghiên cứu
+ Chức năng đánh giá các kết luận khoa học bằng các sự kiện có thật trong lịch sử Quan điểm lịch sử trong nghiên cứu trẻ em là cách tiếp cận đối tượng trong quá
trình vận động, đặc biệt sự phát triển của trẻ em trong những năm đầu diễn ra mới tốc
độ nhanh, mạnh và luôn biến đổi với các quy luật được bộc lộ một cách khách quan Nghiên cứu trẻ em có thể tiến hành trong những thời điểm, giai đoạn nhất định nhưng
để hiểu rõ những đặc điểm của giai đoạn này cần phải biết giai đoạn trước đó trẻ đã có
Trang 8quá trình phát triển như thế nào và dự đoán được quá trình phát triển trong giai đoạn tiếp theo, chỉ ra những điều kiện cho sự phát triển của trẻ
Nghiên cứu trẻ theo quan điểm lịch sử thực chất là xem xét trẻ trong quá trình phát triển với những điều kiện nhất định trong mối quan hệ giữa phát triển với giáo dục Trong mối quan hệ này cần theo quan điểm về “Vùng phát triển gần nhất” của L.X.Vưgotxki Theo quan điểm này, giáo dục không theo đuôi sự phát triển mà phải đi trước sự phát triển hướng dẫn sự phát triển của trẻ, kích thích trẻ hoạt động, thức tỉnh tiềm năng phát triển ở trẻ qua mối quan hệ tương tác
Tóm lại, quan điểm lịch sử trong nghiên cứu là quan điểm hướng dẫn quá trình tìm tòi, sáng tạo khoa học cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh quá trình phát triển của trẻ
Từ đó giúp ta phát hiện ra quy luật tất yếu của sự phát triển ấy, đó là mục đích, điều cần đạt được trong nghiên cứu khoa học nói chung, nghiên cứu trẻ em nói riêng
2.4 Quan điểm tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu trẻ em
Quan điểm thực tiễn là luận điểm quan trọng của phương pháp luận, yêu cầu nghiên cứu khoa học phải bám sát thực tiễn sinh động Thực tiễn là toàn bộ những hoạt
động vật chất có tính chất lịch sử - xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã hội Diễn biến của hiện thực là điều kiện khách quan, với những sự kiện đa dạng, phức tạp, phát triển theo nhiều khuynh hướng Có những thực tiễn tiên tiến, có những thực tiễn yếu kém và có những mâu thuẫn, những xu hướng chống đối nhau cần giải quyết, khắc phục Thực tiễn là nguồn gốc, động lực, tiêu chuẩn và mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học
Quán triệt quan điểm thực tiễn, trong nghiên cứu trẻ em cần phải:
- Phát hiện những mâu thuẫn, những khó khăn, những cản trở trong thực tiễn và lựa chọn trong số những vấn đề nổi cộm, cấp thiết làm đề tài nghiên cứu Như vậy, đối tượng nghiên cứu sẽ là một trong những vấn đề của thực tiễn khách quan, có nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu giải quyết
- Phân tích tìm được bản chất của những vấn đề nảy sinh, phát triển trong thực tiễn Tài liệu thực tiễn có thể minh họa, chứng minh cho những nguyên lý, lý thuyết làm cho lý thuyết trở nên sinh động, có sức sống Những thông tin từ thực tiễn có thể trở thành lý thuyết khoa học khi ta biết khái quát tìm ra quy luật phát triển của chúng
- Luôn bám sát thực tiễn, làm sao cho lý luận và thực tiễn phải gắn bó song hành với nhau Tổ chức nghiên cứu, thực nghiệm những lý thuyết khoa học để kiểm nghiệm
lý thuyết, từ đó mà ứng dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả Lý luận không được
xa rời thực tiễn, thực tiễn không thể chống đối, phủ định lý luận Lý luận chỉ có giá trị khi nó soi sáng thực tiễn, cải tạo thực tiễn, lý luận phải là những luận điểm có thể ứng dụng vào và đem lại hiệu quả thiết thực Thực tiễn đem lại sức sống cho lý luận Quán triệt quan điểm thực tiễn vừa có lợi cho khoa học vừa có lợi cho thực tiễn
Nghiên cứu trẻ em cần đứng vững trên quan điểm thực tiễn mới hy vọng đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học về trẻ em, mang lại lợi ích thiết thực cho sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ
2.5 Quan điểm tiếp cận tích hợp trong nghiên cứu trẻ em
Quan điểm tích hợp trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi trong nghiên cứu phải có
sự kết hợp đan xen, lồng ghép các mảng đề tài, các góc độ nghiên cứu
Trang 9Quan điểm tích hợp là một tư tưởng tiến bộ đang được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong nghiên cứu trẻ em Bởi vì:
- Trẻ em là một đối tượng nghiên cứu mang tính phức hợp, đòi hỏi nhiều khoa học tham gia
- Trong 6 năm đầu tiên, sự phát triển của trẻ tuy diễn ra nhanh, các chức năng tâm sinh lý đang hình thành nhưng chưa thật rõ nét và chưa tách bạch rạch ròi như ở người lớn Do vậy, để hiểu rõ về trẻ em khi nghiên cứu người ta sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau, trong đó có một phương pháp làm chức năng chủ đạo (tuỳ theo từng đề tài)
- Từ quan điểm tích hợp, trong giáo dục mầm non chúng ta đã kết hợp chăm sóc
và giáo dục trẻ, làm cho hai nhiệm vụ này lồng ghép, đan xen, hoà quyện vào nhau, tác
động qua lại lẫn nhau
- Theo quan điểm tích hợp khi xây dựng chương trình giáo dục trẻ không nên xuất phát từ lôgic nội tại của mỗi khoa học mà xuất phát từ yêu cầu hình thành những thuộc tính, những năng lực chung trên cơ sở tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau để hình thành nền tảng nhân cách ban đầu cho trẻ em
2.6 Quan điểm tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu trẻ em
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, là sự tác động qua lại giữa chủ
thể và khách thể nhằm cải tạo cả khách thể lẫn chủ thể (“sản phẩm kép”) Hoạt động bao giờ cũng mang tính gián tiếp
Tiếp cận hoạt động là điều kiện cơ bản để nghiên cứu con người, đặc biệt là trẻ
em Thông qua hai quá trình trong hoạt động (xuất tâm - nhập tâm) mà các chức năng tâm lý hình thành và phát triển
Sự hình thành phát triển tâm lý của trẻ trên cơ sở hoạt động theo cơ chế nhập tâm Nhờ có cơ chế này mà thế hệ sau tiếp thu kinh nghiệm thế hệ trước thông qua hoạt
động bên ngoài chuyển hoá thành hoạt động bên trong để hình thành và phát triển tâm
lý Đó cũng là con đường cơ bản để trẻ phát triển chính mình
Quan điểm tiếp cận hoạt động là một luận điểm quan trọng trong nghiên cứu trẻ
em, nó chỉ ra tâm lí của trẻ được bộc lộ trong hoạt động và hình thành chính nhờ hoạt
động Do đó khi nghiên cứu không nên coi trẻ là một đối tượng chỉ chịu sự tác động một cách thụ động mà phải phải coi trẻ là một chủ thể hoạt động để tạo nên sự phát triển tâm lý, nhân cách cho chính các em Điều quan trọng là người lớn cần tổ chức cho trẻ hoạt động có định hướng, theo yêu cầu giáo dục Theo quan điểm này, một nhà giáo dục giỏi phải là một nhà tổ chức hoạt động giỏi
Câu hỏi ôn tập và thảo luận
1 Hiểu thế nào về khái niệm trẻ em ?
2 Phân tích làm rõ nội dung của các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu khoa học và nghiên cứu trẻ em ?
Trang 10Chương 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU TRẺ EM
1 KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU KHOA HỌC
1.1 Phương phỏp nghiờn cứu khoa học là gỡ ?
Phương phỏp là con đường đạt mục đớch, là cỏch thức giải quyết một cụng việc
cụ thể Nghiờn cứu khoa học cú một hệ thống cỏc phương phỏp nghiờn cứu riờng Phương phỏp nghiờn cứu khoa học là tổ hợp cỏc thao tỏc, biện phỏp thực tiễn hoặc lý thuyết mà nhà nghiờn cứu sử dụng để nhận thức, khỏm phỏ đối tượng, tạo ra
hệ thống những kiến thức về đối tượng
1.2 Đặc điểm của phương phỏp nghiờn cứu khoa học
Phương phỏp nghiờn cứu khoa học cú những đặc điểm sau:
- Phương phỏp cú tớnh mục đớch: Mọi hoạt động đều cú mục đớch Mục đớch cụng việc chỉ dẫn việc lựa chọn phương phỏp Phương phỏp càng chớnh xỏc, càng sỏng tạo làm cho cụng việc đạt tới kết quả nhanh, chất lượng tốt và đụi khi vượt xa hơn cả mục đớch dự kiến ban đầu Phương phỏp nghiờn cứu khoa học gắn bú với mục đớch sỏng tạo khoa học
- Phương phỏp là con đường vận động của nội dung: Mọi hoạt động đều cú nội dung Nội dung cụng việc quy định phương phỏp và phương phỏp là cỏch thức thực hiện nội dung, là yếu tố quyết định chất lượng của cụng việc
Trong nghiờn cứu khoa học mỗi chuyờn ngành cú một hệ thống phương phỏp đặc thự, mỗi đề tài cú một nhúm phương phỏp cụ thể
- Phương phỏp là tổ hợp cỏc thao tỏc được sắp xếp theo một chương trỡnh tối ưu Nếu từng thao tỏc được thực hiện chớnh xỏc thỡ phương phỏp đạt tới độ hoàn hảo và chất lượng cụng việc là tốt nhất, nhanh nhất
- Phương phỏp là cỏch thức làm việc của chủ thể, do chủ thể lựa chọn Phương phỏp bị quy định bởi trỡnh độ nhận thức và kinh nghiệm đó cú của chủ thể Do đú, phương phỏp mang tớnh chủ quan Trong nghiờn cứu khoa học cỏc nhà nghiờn cứu phải cú hiểu biết nhất định về lĩnh vực nghiờn cứu, cú khả năng sỏng tạo và kinh nghiệm dàydạn
- Phương phỏp nghiờn cứu khoa học phụ thuộc vào đối tượng nghiờn cứu Đối tượng nghiờn cứu càng phức tạp, càng cần cú phương phỏp tinh vi Phương phỏp nghiờn cứu cú hiệu quả khi nú phự hợp với đặc điểm của đối tượng, phự hợp với quy luật vận động khỏch quan của đối tượng Vỡ vậy, phương phỏp cú tớnh khỏch quan
- Nghiờn cứu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiờn và khoa học chớnh xỏc, đũi hỏi cú phương tiện kĩ thuật tinh xảo, cú độ chớnh xỏc cao Phương tiện kĩ thuật là cụng
cụ hỗ trợ đắc lực cho phương phỏp nghiờn cứu
1.3 Phõn loại cỏc phương phỏp nghiờn cứu khoa học
Trang 11Cú nhiều cỏch phõn loại khỏc nhau Trong thực tế, cỏch phõn loại dựa vào trỡnh
độ tiếp cận đối tượng được chấp nhận rộng rói Theo cỏch phõn loại này, cú cỏc nhúm phương phỏp nghiờn cứu sau: Cỏc phương phỏp nghiờn cứu lý thuyết, cỏc phương phỏp nghiờn cứu thực tiễn, phương phỏp thống kê toỏn học
2 Hệ thống các phương pháp nghiên cứu trẻ em
2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận trong nghiên cứu trẻ em
Trong nghiên cứu trẻ em, các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng để thu thập, xử lý thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các nguồn tài liệu khác nhau Bằng tư duy khoa học, người nghiên cứu có thể xây dựng hệ thống lý thuyết của mình hoặc khẳng định hay phủ định những luận điểm khoa học đã có
Đối với bất cứ một đề tài nào đều cần nghiên cứu các quan điểm lý luận nhằm
định hướng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu, chỉ đạo việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu thực tiễn, khai thác và xử lý các cư liệu khoa học
Đối với các công trình nghiên cứu thuần tuý lý luận thì các phương pháp nghiên cứu lý luận đã chứa đựng trong nó những quan điểm cơ bản của nội dung đề tài
Có nhiều phương pháp nghiên cứu lý luận, sau đây là một số phương pháp chủ yếu thường được sử dụng trong nghiên cứu trẻ em
Trên cơ sở lý thuyết đã phân tích ta tiến hành tổng hợp chúng để tạo ra một hệ thống Từ đó giúp ta thấy được mối quan hệ biện chứng giữa chúng với nhau, nhờ đó
mà hiểu đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về lý thuyết nghiên cứu Nói cách khác, tổng hợp là gộp các bộ phận chi tiết đã được phân tích theo một hướng nhất định để tạo thành một chỉnh thể để nhìn nhận một cách trọn vẹn hơn
Trong nghiên cứu trẻ em, phương pháp phân tích- tổng hợp là 2 phương pháp cơ
bản để xây dựng luận cứ khoa học trẻ em, thông thường phương pháp này được sử dụng trong bước khởi đầu của việc nghiên cứu lý luận hoặc cơ sở lý luận cho một công trình nghiên cứu thực tiễn Trong kho tàng khoa học trẻ em có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau Vì vậy, việc phân tích- tổng hợp lý thuyết để tìm hiểu mọi khía cạnh, xác định các thành phần trong cấu trúc lý thuyết, trên cơ sở đó người nghiên cứu tổng hợp để nhìn nhận nó trong một thể thống nhất theo quan điểm của mình
2.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp người ta lại thực hiện quá trình phân loại, hệ thống hoá lý thuyết
Phân loại là thao tác logic bằng cách sắp xếp tài liệu nghiên cứu theo những vấn
đề, những mặt, những đơn vị kiến thức có cùng một dẫn luận, chung thuộc tính bản
Trang 12chất hay cùng phương hướng phát triển
Hệ thống hoá là thao tác được thực hiện sau khi phân loại tài liệu người nghiên
cứu sắp xếp chúng vào trong mối tương quan theo thứ bậc trên cơ sở một mô hình lý thuyết, nghĩa là sắp xếp chúng vào một hệ thống nhất định
Phân loại và hệ thống hoá lý thuyết là phương pháp luôn luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau Nhờ đó, các tài liệu dù phức tạp đến đâu cũng giúp ta nhận thấy và sử dụng theo
đúng mục đích đề tài
Trong nghiên cứu trẻ em, phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết đóng vai trò rất quan trọng Nhờ đó mà các lý thuyết khoa học về trẻ em mang tính khái quát cao, định hướng cho quá trình nghiên cứu thực tiễn cũng như chỉ đạo công tác chăm sóc, giáo dục trẻ
2.1.3 Phương pháp cụ thể hoá lý thuyết
Lý thuyết khoa học bao giờ cũng tồn tại ở dạng trừu tượng được xây dựng bởi những khái niệm khoa học Do vậy, muốn dễ hiểu, dễ ứng dụng người ta phải cụ thể hoá lý thuyết bằng phương pháp minh hoạ và mô hình hoá
Phương pháp minh hoạ là cách thức sử dụng những sự kiện sinh động có thực trong thực tiễn để làm sáng tỏ lý thuyết làm cho cái trừu tượng trong khoa học trở thành sự vật hiện tượng dễ thấy, dễ nắm bắt
Những sự kiện điển hình trong thực tiễn cuộc sống không những là cái minh hoạ một cách có hiệu quả cho lý thuyết mà còn bổ sung cái mới cho lý thuyết
Phương pháp mô hình hoá là phương pháp nghiên cứu lý thuyết bằng cách xây dựng mô hình giả định để nghiên cứu Mô hình được xây dựng bằng yếu tố vật chất hay bằng những ý niệm được hình thành trong quá trình tư duy và được biểu diễn dưới dạng trực quan Hệ thống mô hình cần xây dựng phải phản ánh trung thực những mối liên hệ cơ cấu- chức năng hay những mối liên hệ nhân quả giữa các thành tố trong đối tượng nghiên cứu Có thể coi mô hình là sự tái hiện đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan tương ứng với nguyên bản của lý thuyết, nó trở thành đối tượng, phương tiện
Phương pháp giả thuyết thực chất là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức về một
đối tượng nào đó Khi những thông tin về đối tượng còn thiếu hụt và chưa rõ ràng buộc người nghiên cứu khoa học phải huy động các quá trình nhận thức để hình dung ra những hiểu biết về đối tượng Song những hiểu biết ấy vẫn chỉ mang tính giả định cần
Trang 13phải được chứng minh
Nhiệm vụ của nhà khoa học là từ giả thuyết đi tìm chân lý Từ giả thuyết đến chân lý là một quãng đường dài, nhiều khi rất khó đạt tới, nhưng ở bất cứ công trình nào cũng cần đến Kể cả trong trường hợp giả thuyết bị bác bỏ nó cũng giúp ta từ bỏ hướng nghiên cứu cũ để tìm kiếm hướng nghiên cứu mới đúng đắn hơn
Trong nghiên cứu trẻ em, phương pháp giả thuyết không những cần thiết cho áu trình nghiên cứu lý luận mà còn rất cần thiết cho thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ Đặc biệt nó cần thiết cho việc dự báo trước sự phát triển của trẻ trong tương lai, định hướng cho việc tìm kiếm phương pháp mới có hiệu quả hơn trong chăm sóc giáo dục trẻ
định một nhận định hay một quan điểm khoa học nào đó
Phương pháp chứng minh có thể tiến hành nhiều cách:
- Chứng minh trực tiếp: Là phép chứng minh dựa vào những luận chứng chân thực và bằng các quy tắc suy luận để rút ra kết luận cần thiết
- Chứng minh gián tiếp: Là phương pháp chứng minh chưa nhằm thẳng vào luận
đề chính cần khẳng định mà bằng những luận chứng người nghiên cứu bác bỏ các luận
đề trái với luận đề chính (phản đề) để vạch rõ những sai lầm, những cái không hợp lý của các phản đề ấy Từ đó khẳng định tính đúng đắn của luận đề chính
+ Phương pháp quy nạp: Là phương pháp chứng minh bằng cách đi từ những vấn
đề riêng lẻ đến những kết luận chung khái quát
+ Phương pháp diễn dịch: Là phương pháp chứng minh bằng lối suy luận đi từ nguyên lý chung đến những kết luận cho từng trường hợp riêng lẻ
Trong nghiên cứu trẻ em, việc xây dựng hệ thống lý luận khoa học về trê em bằng phương pháp chứng minh chặt chẽ là hết sức cần thiết nhằm chỉ đạo công tác chăm sóc giáo dục trẻ, đáp ứng được những yêu cầu mới đang đang ra trong giai đoạn hiện nay đối với giáo dục mầm non
Tóm lại, các phương pháp lý thuyết trên được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong mọi đề tài nghiên cứu Nó làm chức năng định hướng và rút ra kết luận khoa học
2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn trong nghiên cứu trẻ em
Đây là nhóm các phương pháp trực tiếp tác động vào đối tượng trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất, quy luật vận động của các đối tượng ấy
Các phương pháp này được sử dụng trong nghiên cứu thực tiễn nhằm thu thập tài liệu, sự kiện, thông tin thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu Nó cũng là cơ sở cho chúng
ta hiểu biết thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp quan sát khoa học
a Khái niệm
Trang 14Dưới góc độ tâm lí, quan sát là qúa trình tri giác có chủ định về một đối tượng nào đó để thu thập thông tin về đối tượng đó Quá trình tri giác có chủ định được dùng trong nghiên cứu khoa học với tư cách là một phương pháp gọi là phương pháp quan sát khoa học
Phương pháp quan sát khoa học là một hoạt động đặc biệt, có mục đích, có kế hoạch, có phương tiện để tri giác các đối tượng được lựa chọn điển hình, nhằm phát hiện các dấu hiệu đặc trưng và những quy luật phát triển của đối tượng
Trong nghiên cứu trẻ em, người nghiên cứu quan sát, theo dõi một cách có mục
đích, hành vi, trạng thái cuả trẻ trong điều kiện tự nhiên và ghi lại các sự kiện, biểu hiện đã quan sát được (trực tiếp hoặc qua các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ)
Kết quả quan sát phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Mục đích quan sát
- Phương tiện quan sát
- Mối quan hệ giữa người nghiên cứu và trẻ
- Khả năng của chủ thể quan sát (khả năng nắm bắt, thu thập, xử lý thông tin )
b Chức năng
Trong nghiên cứu trẻ em, quan sát khoa học thực hiện 2 chức năng chủ yếu:
- Thu thập thông tin thực tiễn về cuộc sống và hoạt động của trẻ biểu hiện qua hành vi bên ngoài- đây là chức năng quan trọng nhất vì những cứ liệu do quan sát mang lại là cơ sở cho các bước nghiên cứu cao hơn, sâu sắc hơn nhằm phát hiện đặc
điểm và quy luật phát triển của trẻ
- Kiểm chứng giả thuyết hay lý thuyết đã có Trong nghiên cứu khoa học, khi cần chứng minh tính đúng đắn của giả thuyết hay lý thuyết nào đó, người nghiên cứu thu thập các cứ liệu từ thực tiễn để kiểm chứng (khẳng định hay phủ định) Trong quá trình kiểm chúng đó, các lý thuyết khoa học đuệoc bổ sung để hoàn thiện dần
c Phân loại
Có nhiều cách phân loại khác nhau:
* Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp:
- Quan sát trực tiếp: Là sử dụng các giác quan cũng như các phương tiện kỹ thuật
để thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu một cách trực tiếp
- Quan sát gián tiếp: Là quan sát thông qua các đối tượng khác (nghĩa là quan sát thông qua các tác động tương tác giữa đối tượng cần quan sát với đối tượng khác)
* Quan sát toàn diện và quan sát bộ phận:
- Quan sát toàn diện: Là quan sát cùng một lúc nhiều mặt của hành vi đứa trẻ và
được tiến hành trong cùng một thời gian dài Tuy nhiên, quan sát toàn diện ít nhiều cũng có tính chọn lọc, người quan sát chỉ ghi lại những điều quan trọng, có ý nghĩa đối với đề tài nghiên cứu, đặc biệt là những biểu hiện của cái mới trong quá trình phát triển của trẻ
- Quan sát bộ phận: Người nghiên cứu chỉ theo dõi, ghi lại một mặt nào đó hành
vi của trẻ trong một thời gian nhất định
* Quan sỏt phỏt hiện và quan sỏt kiểm nghiệm: quan sỏt phỏt hiện là quan sỏt được thực hiện nhằm bước đầu thu thập tài liệu và định hướng để đưa ra một giả
Trang 15thuyết; quan sỏt kiểm nghiệm là quan sỏt được thực hiện nhằm xỏc minh hoặc loại bỏ giả thuyết đú
d Tổ chức quá trình quan sát
* Các bước cần thực hiện trong tiến trình quan sát:
- Đặt mục đích nghiên cứu để định hướng cho quá trình quan sát Trước hết phải xác
định đúng đối tượng quan sát, kiểu loại quan sát cho phù hợp với mục đích nghiên cứu
- Lập kế hoạch quan sát: xác định thời gian, địa điểm, số lượng đối tượng, phương tiện quan sát
- Tiến hành quan sát: Thận trọng theo dõi để kịp thời phát hiện các thuộc tính của
đối tượng, theo dõi diễn biến quá trình vận động của đối tượng cũng như những ảnh hưởng của tác động bên ngoài tới đối tượng
- Ghi lại các cứ liệu quan sát: Những biểu hiệu, diễn biến của đối tượng đều phải ghi lại một cách thận trọng bằng nhiều cách khác nhau (theo mẫu in sẵn, dạng biên bản, nhật ký, bằng kí hiệu, ghi âm, chụp ảnh, quay phim )
- Xử lý tài liệu: Tài liệu quan sát phong phú, đa dạng, mang nặng tính chất cảm tính cần phải được xử lý bằng cách phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá, bằng thống kê toán học mới có được những thông tin đáng tin cậy, đảm bảo tính khoa học
* Khi tổ chức quá trình quan sát cần lưu ý:
- Về chủ quan: Người quan sát bao giờ cũng bị chi phối bởi các quy luật tâm lý, vì tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan thông qua lăng kính chủ quan của mỗi người Chính cái chủ quan có thể là nguyên nhân của sự sai lêch trong thu thập và xử
lý kết quả quan sát được Vì vậy, khi tiến hành quan sát, người quan sát cần ý thức rõ vấn đề này, rèn luyện các giác quan, đối chiếu cái mình quan sát được với người khác
để tài liệu thu thập được mang tính khách quan
- Về khách quan: Đối tượng quan sát thường nằm trong những mối quan hệ phức tạp với những sự vật hiện tượng khác và luôn luôn vận động, biến đổi Do đó tài liệu thu được thường bị biến dạng (“nhiễu”) bởi những tác động bên ngoài Chính vì vậy, khi quan sát cần tập trung chú ý vào đối tượng, đảm bảo tính tự nhiên của đối tượng để thu thập được những thông tin chính xác, tin cậy
Trong nghiên cứu trẻ em, quan sát là phương pháp chủ yếu để thu thập những biểu hiện về sự phát triển của trẻ Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải tốn kém thời gian, công sức, thụ động chờ đợi Vì vậy, khi sử dụng ta phải kết hợp với các phương pháp khác
để có được những thông tin đầy đủ, chính xác về đối tượng nghiên cứu dưới nhiều góc
Trang 16thực nghiệm trái với giả thuyết thì phủ định giả thuyết đó, xây dựng lại giả thuyết mới Phương pháp thực nghiệm thường được tiến hành trong một thời gian nhất định,
có khi lâu dài, phải lặp đi lặp lại nhiều lần mới xác định được kết qủa Đây là một phương pháp quan trọng nhất, được coi là phương pháp chủ công của nghiên cứu khoa học vì bất cứ đề tài nào cũng phải thực nghiệm khoa học mới khẳng định kết quả nghiên cứu có giá trị
Trong nghiên cứu trẻ em, thực nghiệm được coi là một phương pháp nghiên cứu tích cực, cho phép ta khơi gợi ở trẻ những biểu hiện, những đặc điểm mà chủ thể đang quan tâm nghiên cứu Trong thực nghiệm, người nghiên cứu tạo ra và làm thay đổi một cách có chủ định các điều kiện trong đó diễn ra các hoạt động của trẻ Người thực nghiệm đặt ra cho trẻ những nhiệm vụ nhất định mà trẻ cần giải quyết, rồi căn cứ vào cách giải quyết của trẻ để tìm ra những đặc điểm về một mặt nào đó ở trẻ đang cần xác
Phương pháp này được sử dụng khá rộng rãi trong các công trình nghiên cứu về trẻ em, các thực nghiệm được diễn ra trong sinh hoạt hàng ngày, đặc biệt là các trò chơi và trong các hoạt động mà trẻ ưa thích
Thực nghiệm tự nhiên cho phép người nghiên cứu chủ động khơi gợi những biểu hiện một mặt nào đó của trẻ mà mình đang quan tâm nghiên cứu Trong thực nghiệm, người nghiên cứu tạo ra và làm biến đổi một cách có chủ định các điều kiện trong đó diễn ra các hoạt động của trẻ Người thực nghiệm đặt ra cho trẻ những nhiệm vụ cần giải quyết rồi căn cứ vào cách giải quyết nhịêm vụ mà tìm hiểu đặc điểm về một mặt nào đó của trẻ
Khi tiến hành thực nghiệm tự nhiên đối với trẻ người ta thường vận dụng hình thức trò chơi Khi tổ chức thực nghiệm tốt nhất người nghiên cứu cần tham gia cùng trẻ
- Phương pháp thí nghiệm: Là phương pháp thực nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm với những phương tiện kỹ thuật Khi làm thí nghiệm người ta thay
đổi các dữ kiện hay các chỉ số về định tính cũng như định lượng của những thành phần tham gia vào sự kiện được thí nghiệm Việc này được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm phát hiện tính ổn định của các thuộc tính cũng như quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu Đây là phương pháp thường được dùng chủ yếu trong nghiên cứu khoa học
tự nhiên
Trong nghiên cứu trẻ em, người ta cũng sử dụng phương pháp này để xác định chỉ
số tâm sinh lý cần thiết Những điều kiện không quen thuộc trong phòng thí nghiệm có thể làm cho trẻ hoảng sợ, biểu hiện hành vi không bình thường Do đó, người nghiên cứu cần tạo bầu không khí gần gũi, thân mật, vui vẻ để trẻ mất đi cảm giác sợ sệt, thiếu
tự nhiên
* Theo chức năng nghiên cứu, có: Thực nghiệm kiểm định, thực nghiệm hình
Trang 17thành và thực nghiệm kiểm tra
- Thực nghiệm kiểm định: Phương pháp này được tiến hành trong điều kiện sống
và giáo dục bình thường, với chức năng là thăm dò một phẩm chất hay thuộc tính nào
đó của trẻ về thể chất, tinh thần đã xuất hiện chưa và đạt tới mức độ phát triển nào
- Thực nghiệm hình thành: Nhằm để hình thành những phẩm chất hay những
thuộc tính nào đó ở trẻ trong những điều kiện nhất định Loại thực nghiệm này được tiến hành trong một khoảng thời gian cần thiết đủ cho một phẩm chất hay một thuộc tính nào đó được hình thành
- Thực nghiệm kiểm tra: Loại thực nghiệm này dùng để xác định xem trẻ em đã
được tiến bộ gì sau những tác động của thực nghiệm hình thành Thực nghiệm này còn
được gọi là thực nghiệm kiểm chứng Để đảm bảo tính chính xác, người ta tiến hành lại thực nghiệm trên một nghiệm thể khác
c Tiến trình tổ chức nghiên cứu trẻ em bằng thực nghiệm
- Xác định mục đích thực nghiệm: có thể là hình thành hay phát triển một phẩm chất, thuộc tính về thể chất hay về tâm lý của trẻ, cũng có thể là khẳng định tính đúng
đắn của một chương trình hay một phương pháp mới trong chăm sóc, giáo dục trẻ
- Hình thành giả thuyết khoa học: nêu lên một sự phỏng đoán (tiên đoán, dự
đoán ) về diễn biến của đối tượng thực nghiệm trên cơ sở những tài liệu thu thập
được trước đó về vấn đề nghiên cứu
- Phân tích đối tượng nghiên cứu: để thấy rõ bản chất và tìm kiếm những tiêu chí
biểu hiện các mặt (thông số) của đối tượng thực nghiệm để xem xét sự phát triển của
đối tượng
- Tổ chức thực nghiệm kiểm định: trước lúc tổ chức thực nghiệm hình thành cần
tổ chức thực nghiệm kiểm định để thăm dò thực trạng Nghĩa là để xác định vấn đề cần
nghiên cứu ở trẻ đã đạt tới trình độ nào (nghiên cứu hiện trạng)
- Xây dựng hệ thống tác động đến trẻ: tức là tạo ra những điều kiện hay phương
pháp chăm sóc, giáo dục mới dưới dạng một hệ thống những công việc hay một hệ thống những bài tập cho trẻ theo hướng của mục đích thực nghiệm đặt ra
- Chọn nhóm thực nghiệm: đối tượng thực nghiệm được chia thành 2 nhóm (nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng) Hai nhóm này đều phải chọn một cách ngẫu nhiên với số lượng với những đặc điểm tương đồng nhau để tiến hành so sánh kết quả sau khi tiến hành thực nghiệm
- Tiến hành thực nghiệm hình thành: nhằm tạo ra ở trẻ một trình độ phát triển mới
trong điều kiện mới do người thực nghiệm tạo ra Thực chất là tổ chức cho trẻ thực hiện hệ thống việc làm hay bài tập nhằm làm thay đổi thông số từ trình độ thấp đến trình độ cao dần
- Tiến hành thực nghiệm kiểm tra: mục đích là để biết kết quả thực nghiệm đến đâu
- Thu thập cứ liệu theo các tiêu chí biểu hiện sự phát triển của đối tượng nghiên
cứu: và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học để đi đến kết luận thực nghiệm
- Rút ra kết luận khoa học của thực nghiệm: Sau khi đã có kết quả phân tích thực
nghiệm về mặt định tính cũng như định lượng, người nghiên cứu rút ra những kết luận
Trang 18khoa học của thực nghiệm
2.2.3 Phương pháp trắc nghiệm
a Khái niệm
Cú nhiều khỏi niệm khỏc nhau, sau đõy là khỏi niệm phổ biến:
Trắc nghiệm (Test) là một cụng cụ đó được tiờu chuẩn hoỏ để đo lường khỏch quan một hay nhiều mặt của nhõn cỏch toàn diện thụng qua những mẫu trả lời dưới dạng ngụn ngữ, phi ngụn ngữ hay một dạng hành vi khỏc
Trắc nghiệm cú những đặc điểm sau:
- Tớnh khỏch quan, nghĩa là kết quả trắc nghiệm khụng phụ thuộc vào mối quan
hệ giữa nghiệm viờn với nghiệm thể
- Tớnh tiờu chuẩn hoỏ, nghĩa là cỏch thức, thủ tục tiến hành trắc nghiệm, cỏch cho điểm, đỏnh giỏ đều được tiờu chuẩn hoỏ
- Tớnh đối chiếu của cỏc kết quả trắc nghiệm trờn cỏ nhõn hay nhúm với kết quả chuẩn mực, đú là những kết quả đó thu được trong những điều kiện như thế ở một nhúm khỏ tiờu biểu
Một trắc nghiệm cú giỏ trị khoa học phải đỏp ứng ba yờu cầu sau:
- Cú độ tin cậy cao, nghĩa là cỏc kết quả của nhiều lần trắc nghiệm trờn cựng một nghiệm thể phải giống nhau
- Cú độ ứng nghiệm cao, nghĩa là trắc nghiệm phải đo được cỏi cần đo
- Được tiờu chuẩn hoỏ, nghĩa là việc tiến hành và xử lý kết quả trắc nghiệm được tiờu chuẩn húa một cỏch rừ ràng, cụ thể
b Phõn loại: Cú nhiều cỏch phõn loại trắc nghiệm Thường người ta phõn trắc
nghiệm thành hai nhúm lớn: Trắc nghiệm trớ tuệ (trắc nghiệm trớ thụng minh; trắc nghiệm cỏc năng lực; trắc nghiệm thành tớch học tập ) và trắc nghiệm nhõn cỏch (cỏc bảng hỏi, cỏc bản kiểm kờ nhõn cỏch, cỏc trắc nghiệm phúng ngoại )
Nhờ trắc nghiệm người ta có thể so sánh trẻ em về trình độ phát triển trí tuệ chung, hay trình độ phát triển riêng sự so sánh đó được tiến hành trên cơ sở chuẩn theo lứa tuổi vì được xác lập trước Từ đó người ta xác định được một đứa trẻ nào đó phát triển bình thường hay không
c Một số trắc nghiệm thường dùng trong nghiên cứu trẻ em
sự phát triển trí tuệ của trẻ đạt đến mức độ nào
Độ chính xác của trắc nghiệm hoàn toàn phụ thuộc vào việc lựa chọn các bài tập
Do sự phát triển của trẻ là một quá trình phức tạp bao hàm nhiều vấn đề khác, nhiều biểu hiện khác nhau Vì vậy, khi xây dựng bài tập trắc nghiệm phải chú ý xây dựng bài tập theo hướng phát triển của các mặt chủ yếu bởi chính nó sẽ chi phối các mặt khác
và là căn cứ đáng tin cậy để rút ra kết luận về trình độ phát triển trí tuệ trẻ em
Trang 19- Trắc nghiệm trí thông minh của Stanford- Binet:
Đây là trắc nghiệm cá nhân chuyên dùng cho trẻ em Trong đó có nhiều tiểu nghiệm được sắp xếp theo từng độ tuổi (từ 2 đến 14 tuổi) Các khoản trong tiểu nghiệm thuộc một độ tuổi nhất định là những khoản được chọn sao cho trẻ ở độ tuổi đó hay lớn hơn mới có thể làm được và ít tuổi hơn sẽ rất khó thực hiện được
Khi trắc nghiệm một đứa trẻ, trước hết phải xem xét nó làm được tất cả mọi khoản trong một tiểu nghiệm nào đó và tiểu nghiệm đó thuộc hạng tuổi nào thì hạng tuổi đó được gọi là tuổi căn bản của trẻ Sau đó cho trẻ làm tiếp tiểu nghiệm thuộc hàng tuổi cao hơn cho đến khi gặp một tiểu nghiệm mà đứa trẻ không thể làm được
một khoản nào cả thì tuổi của tiểu nghiệm này được gọi là tuổi ngọn của nó Khi cộng
kết quả lại, điểm số của đứa trẻ sẽ là tuổi trí khôn của nó
Sau đây là một số khoản trong thang trắc nghiệm của Stanford- Binet:
Tuổi Khoản Thí dụ hoặc mô tả
2 Bằng hình 3 lỗ
Xếp khối: tháp
Đặt hình (như hình tròn) vào đúng lỗ Xếp một thắng bằng 4 khối theo mẫu, sau khi nhìn trình diễn
3 Xếp khối: cầu Xếp một cái cầu gồm các khối cạnh và một khối ở
trên cùng, theo mẫu, sau khi đã nhìn trình diễn
4 Nhận biết các phần thân
thể Nhớ lại tên các vật
Nhận biết hình ảnh
Chỉ miệng, tóc của một búp bê lớn bằng giấy
Khi được hỏi “Ta nấu nước bằng cái gì ?” hay “Khi trời mưa ta cần cái gì ?” trẻ phải chỉ đúng vào vật trong hình
- IQ: được gọi là hệ số thông minh
- MA: được gọi là tuổi khôn
- CA: được gọi là tuổi đời
Hệ số IQ chỉ ra sự vượt lên trước hay tụt lại sau của trẻ, thông minh ở đứa trẻ
được trắc nghiệm so với chuẩn Nếu:
+ IQ > 125: trí thông minh đạt mức độ rất cao (hiếm có)
IQ
Trang 20+ IQ < 50: trí thông minh ở mức độ trì độn
- Trắc nghiệm Buyse-Decroly:
Dùng cho trẻ từ 3 - 7 tuổi, yêu cầu của trắc nghiệm là phải có 75% trẻ em ở một hạng tuổi nào đó phải làm hết tất cả các bài tập dành cho hạng tuổi ấy và dĩ nhiên phải làm hết tất cả các bài tập dành cho hạng tuổi nhỏ hơn
Chẳng hạn:
- Nếu một em 5 tuổi không đạt được 64 điểm trong đó 14 điểm về trắc nghiệm 3 tuổi (nghĩa là số điểm trẻ làm hết các khoản trong các trắc nghiệm dành cho trẻ 3 tuổi), 24 điểm về trắc nghiệm dành cho trẻ 4 tuổi và 26 điểm về trắc nghiệm dành cho trẻ 5 tuổi Thì đứa trẻ đó được coi là chậm phát triển
- Nhưng nếu em đó đạt được 64 điểm mà lại làm được một khoản của trắc nghiệm 6 tuổi thì được cộng thêm điểm vào tuổi trí khôn (MA) Làm thêm một bài trắc nghiệm hạng 6 tuổi (tất cả có 6 bài) thì được cộng thêm 2 tháng, làm thêm được 1 bài trắc nghiệm hạng 7 tuổi (tất cả có 5 bài) thì được cộng thêm 5 tháng Ngược lại, nếu làm hỏng một bài trắc nghiệm hạng 5 tuổi hay 4 tuổi (tất cả có 6 bài) thì trừ đi 2 tháng
Ví dụ: Các khoản trong trắc nghiệm dành cho trẻ em 3 tuổi (nhận biết sự vật; nhận biết bộ phận trên mặt người; ngôn ngữ; vẽ hình tròn; cử chỉ); Các khoản trong trắc nghiệm dành cho trẻ em 4 tuổi (ngôn ngữ; nét mặt; nhận biết vật theo chức năng; nhận biết giới tính; ý niệm về số); Các khoản trong trắc nghiệm dành cho trẻ em 5 tuổi (ý niệm lớn, nhỏ; nhận hình; vẽ hình; định nghĩa bằng công dụng; Các khoản trong trắc nghiệm dành cho trẻ em 6 tuổi (thẩm mỹ; hiểu nghĩa những tiếng khái quát; nhận biết thời gian; chép hình quả trám; ý niệm về số; làm theo truyền khẩu)
- Trắc nghiệm Raven:
Có Raven đen trắng và Raven màu Đối với trẻ nhỏ người ta sử dụng Raven màu
Đây là dạng trắc nghiệm phi ngôn ngữ với những khuôn hình tiếp diễn nhằm đo các năng lực tư duy trên bình diện rộng (năng lực hệ thống hoa, tư duy logic, năng lực vạch ra những mối liên hệ )
- Bộ trắc nghiệm L.A Venger:
Trắc nghiệm này do nhà tõm lớ học Xụ Viết L.A.Venger và cỏc cộng sự xõy dựng nhằm nghiờn cứu sự phỏt triển tư duy trực quan- sơ đồ của trẻ mẫu giỏo 5 - 6 tuổi Bộ trắc nghiệm nhằm đỏnh giỏ năng lực sử dụng cỏch biểu diễn sơ đồ dưới dạng cỏc bản
vẽ để định hướng khụng gian Nội dung bộ trắc nghiệm gồm 10 bài tập chớnh và 2 bài tập hướng dẫn (khụng tớnh điểm) Mỗi bài tập cú một sơ đồ lớn vẽ cỏc con đường dẫn đến một địa điểm (ngụi nhà) và một sơ đồ nhỏ quy định hướng và cỏc mốc định hướng cần phải vượt qua (“chỡa khúa”) Để giải quyết cỏc bài tập này, trẻ cần thực hiện hai