1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Truyền thuyết vùng lục đầu giang (nghiên cứu trên địa bàn huyện quế võ và gia bình, tỉnh bắc ninh)

177 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian, ra đời sau truyện thần thoại, thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo, các nhân vật, sự kiện đều l

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

–––––––––––––––––––

TRẦN THỊ NHUNG

TRUYỀN THUYẾT VÙNG LỤC ĐẦU GIANG

(Nghiên cứu trên địa bàn huyện Quế Võ và Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

–––––––––––––––––––

TRẦN THỊ NHUNG

TRUYỀN THUYẾT VÙNG LỤC ĐẦU GIANG

(Nghiên cứu trên địa bàn huyện Quế Võ và Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN HẰNG PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả khảo sát và nghiên cứu chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả

Trần Thị Nhung

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ quý báu của nhiều đơn vị và cá nhân Đầu tiên, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy Cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Văn học Việt Nam khóa 11, quý Thầy Cô công tác tại Phòng Sau Đại học Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường THPT Quế Võ Số1-Huyện Quế Võ - Tỉnh Bắc Ninh và các bạn đồng nghiệp

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Hằng Phương, người đã hết lòng giúp đỡ và hướng dẫn tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình chuẩn bị, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, song chắc chắn rằng luận văn này sẽ không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy

Cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn được bổ sung hoàn thiện nhằm giúp cho công tác sưu tầm và bảo tồn kho tàng truyền thuyết và lễ hội dân gian ở vùng đất Lục Đầu

Giang đặc biệt là hai huyện Quế Võ, Gia Bình tỉnh Bắc Ninh cho mai sau

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2019

Tác giả

Trần Thị Nhung

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của luận văn 7

7 Những đóng góp của luận văn 8

PHẦN NỘI DUNG 9

Chương 1 LỤC ĐẦU GIANG VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI, TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 9

1.1 Vùng đất Lục Đầu Giang 9

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội 9

1.1.2 Văn hóa truyền thống 12

1.2 Văn học dân gian vùng Lục Đầu Giang 21

1.2.1 Loại hình tự sự dân gian 21

1.2.2 Thơ ca dân gian 23

1.2.3 Tục ngữ phương ngôn và câu đố 25

1.3 Một số vấn đề lý luận và các nhóm truyền thuyết tiêu biểu vùng Lục Đầu Giang 27

1.3.1 Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết 27

1.3.2 Các nhóm truyền thuyết tiêu biểu vùng Lục Đầu Giang 29

Tiểu kết chương 1 31

Chương 2 GIÁ TRỊ TRUYỀN THUYẾT VÙNG ĐẤT LỤC ĐẦU GIANG 32

2.1 Giá trị nội dung của các nhóm truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang 32

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.1.1 Truyền thuyết Lục Đầu Giang phản ánh những giai đoạn lịch sử hào hùng

của dân tộc 32

2.1.2 Truyền thuyết vùng Lục Đầu Giang ca ngợi công đức và tài năng hơn người của các nhân vật lịch sử, nhân vật văn hóa 37

2.2 Giá trị nghệ thuật của truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang 65

2.2.1 Cốt truyện 65

2.2.2 Nhân vật 66

2.2.3 Mô típ 68

Tiểu kết chương 2 75

Chương 3 TRUYỀN THUYẾT VÙNG LỤC ĐẦU GIANG TRONG KHÔNG GIAN LỄ HỘI VÀ TÂM THỨC DÂN GIAN 77

3.1 Truyền thuyết huyện Quế Võ với lễ hội dân gian về các vị Thánh 78

3.1.1 Truyền thuyết về những người theo Gióng đi đánh giặc và các lễ hội 78

3.1.2 Truyền thuyết Thánh Tam Giang với lễ hội ở xã Vân Dương 83

3.1.3 Truyền thuyết Thánh Nguyễn Minh Không với lễ hội rước nước ở chùa Phả Lại 85

3.1.4 Truyền thuyết Đức Thánh Trần với lễ hội đền thượng làng Lê Độ, đền làng Hôm, đền làng Thịnh Lai… 87

3.2 Truyền thuyết huyện Gia Bình với lễ hội dân gian về các vị tướng 88

3.2.1 Truyền thuyết các tướng Hai Bà Trưng với các lễ hội tiêu biểu 88

3.2.2 Truyền thuyết Cao Lỗ Vương với lễ hội đền Cao Lỗ ở xã Cao Đức 91

3.3 Truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang trong tâm thức dân gian 94

3.3.1 Tâm thức hướng về cội nguồn 94

3.3.2 Tâm thức đoàn kết sức mạnh cộng đồng 96

3.3.3 Tâm thức bảo tồn và lưu truyền văn hóa 97

Tiểu kết chương 3 98

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

“Hơn bảy trăm năm trải mấy triều Khí thiêng phảng phất núi non cao”

(Á Nam Trần Tuấn Khải) Trong hành trình khảo sát văn hóa và văn học dân gian ở các địa phương hai huyện Quế Võ, Gia Bình nằm bên bờ sông Lục Đầu, chúng tôi nhận thấy hệ thống truyền thuyết dân gian và lề hội của mảnh đất này rất phong phú Truyền thuyết dân gian là một trong những thể loại quan trọng góp phần tạo nên nền văn hóa của mỗi vùng đất cũng như nền văn hóa dân tộc Các nhân vật trong truyền thuyết vừa là các

vị thần tự nhiên như: Pháp vân, pháp vũ, pháp lôi, pháp điện, sơn thần, thủy thần, thạch thần… vừa là các nhân thần, đó là những nhân vật lịch sử được dân gian hóa Chính vì vậy thông qua những tác phẩm truyền thuyết ta thấy rất nhiều những tri thức về cuộc sống của người xưa từ đời sống vật chất, công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, phong tục tập quán và đời sống tâm linh Việc tìm hiểu cái hay cái đẹp của các tác phẩm truyền thuyết tiêu biểu của vùng đất Lục Đầu Giang ta sẽ hiểu được tâm tư, tình cảm và cả tư duy của nhân dân trong các giai đoạn lịch sử khác nhau của dân tộc Vì vây mỗi triều đại từ: Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần, hậu Lê và triều Nguyễn… đều để lại những dấu ấn đậm nét lên phong tục tập quán, văn hóa, văn học dân gian của những làng quê bên bờ sông Lục Đầu

Trải qua những thăng trầm của lịch sử nhiều ngôi đình, ngôi đền, ngôi chùa

bị chiến tranh tàn phá không còn dấu vết, thần tích, thần phả cũng bị thiêu trụi bởi

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ngọn lửa oan nghiệt của chiến tranh Khi chiến tranh đi qua nhân dân lại mải miết làm kinh tế, dựng xây nhà cửa khang trang, làm đường giao thông to đẹp mà họ quên mất việc khôi phục những di sản văn hóa, văn học dân gian có giá trị tinh thần

vô cùng to lớn của ông cha Đây là một thực trạng đáng buồn, đáng lo ngại

Là một người con sinh ra và lớn lên ở vùng đất Lục Đầu Giang, hơn nữa còn

là một giáo viên dạy văn ở trường THPT nên tôi thiết nghĩ việc nghiên cứu về truyền thuyết dân gian vùng đất Lục Đầu Giang chủ yếu ở hai huyện Quế Võ và Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh là một việc làm vô cùng cần thiết, để giới thiệu những truyền thuyết và lễ hội ở quê nhà cho thế hệ sau, giúp cho người dân thêm tự hào, yêu quý mảnh đất quê hương mình Đó cũng là cơ hội để người viết tích lũy thêm kiến thức về kho tàng văn học dân gian ở địa phương Vốn kiến thức này sẽ rất hữu ích góp phần giảng dạy văn học dân gian và mở rộng liên hệ thực tế về sự ảnh hưởng của văn học dân gian tới văn học viết Điều đó giúp các em học sinh thấy được sự phong phú và giá trị của thể loại truyền thuyết dân gian ở quê nhà nói riêng, kho tàng văn học dân gian nói chung Từ đó khơi dậy trong các em lòng tự hào dân tộc, các em sẽ có ý thức trân trọng, biết giữ gìn, bảo tồn và phát huy vốn văn hóa, văn học dân gian của cha ông

2 Lịch sử vấn đề

2 1 Vấn đề nghiên cứu truyền thuyết ở Việt Nam

Truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian, ra đời sau truyện thần thoại,

thường có yếu tố tưởng tượng kì ảo, các nhân vật, sự kiện đều liên quan đến lịch sử.Thể loại truyền thuyết ở nước ta ra đời sớm từ giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc nhưng phải đến thế kỷ XIV, XV một số nhà nho như: Lý Tế Xuyên, Vũ Quỳnh, Trần Thế Pháp, Kiều Phú, Ngô Sỹ Liên…mới có ý thức dày công sưu tầm

truyền thuyết dân gian và tập hợp lại trong các cuốn sách: Báo cực truyện, Ngoại sử

ký, Việt điện U Linh, Lĩnh Nam trích quái và Đại Việt sử ký toàn thư… Nhưng việc

sử dụng thuật ngữ truyền thuyết vào việc nghiên cứu văn học dân gian ra đời muộn mãi

đến năm 1957 với sự chào đời của hai cuốn sách: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam

của nhóm Lê Quý Đôn ( gồm các ông: Lê Thước,Trương Chính,Hoàng Ngọc Phách,

Vũ Đình Liên, Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu) và tác phẩm Sơ thảo lịch sử văn

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

học Việt Nam do các tác giả Văn Tân,Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi,Hoài

Thanh,Vũ Ngọc Phan biên soạn thì thuật ngữ truyền thuyết mới được dùng

Trong cuốn giáo trình của trường Đại học Sư phạm xuất bản năm 1961- 1970

đã đưa truyền thuyết vào cơ cấu các thể loại văn học dân gian như: thần thoại, cổ tích…Chúng đều thuộc loại hình tự sự dân gian có cốt truyện, có nhân vật Năm

1971 các tác giả: Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc Côn và Kiều Thu Hoạch đã đưa ra định nghĩa về truyền thuyết, chỉ ra những đặc điểm cơ bản của thể loại văn học này Đây là những đóng góp to lớn cho thể loại truyền thuyết

Năm 1973 khi nói về ý nghĩa, tầm quan trọng của di sản văn hóa dân tộc mà cha ông để lại, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có những định hướng về thể loại

truyền thuyết “Những truyền thuyết dân gian thường có một cái lõi là sự thật lịch sử

mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào nó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tửng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn học mà đời đời con người ưa thích” [17,Tr 506]

Năm 1990 trong cuốn giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” của tác giả Hoàng Tiến Tựu và cuốn sách “Văn học dân gian Việt Nam” của tác giả Lê Chí Quế

đã đưa ra khái niệm và cách phân loại truyền thuyết một cách hợp lý, rất có sức

thuyết phục Năm 2002 cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của tác giả

Phạm Thu Yến đã có những định hướng khá toàn diện cho việc nhận diện thể loại truyền thuyết từ đặc điểm nội dung đến các thủ pháp nghệ thuật quen dùng của thể loại văn học dân gian này Những năm gần đây đã có nhiều hướng nghiên cứu mới

về truyền thuyết trong đó nổi bật là hướng nghiên cứu liên ngành

Điểm qua các công trình sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu về truyền thuyết dân gian trong nhiều giai đoạn lịch sử chúng tôi nhận thấy thể loại truyền thuyết đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị ra đời Đây sẽ là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng để người viết áp dụng vào đề tài nghiên cứu của mình

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

2.2 Tình hình nghiên cứu truyền thuyết dân gian ở Bắc Ninh và vùng đất Lục Đầu Giang

Cho đến nay việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian nói chung, thể loại truyền thuyết nói riêng tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã được khá nhiều người quan

tâm Bắng chứng rõ nhất là có rất nhiều những cuốn sách đã ra đời như: Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái của triều đại nhà Trần, được coi là hai tác phẩm đặt

nền móng cho việc tìm hiểu truyện kể và truyền thuyết dân gian trong đó có những

sự tích về: Thần Phù Đổng (Thánh Gióng), truyện rùa vàng, nguyễn Minh Không…

Đầu thời Nguyễn có cuốn sách Bắc Ninh phong thổ tạp ký ghi chép lại sự tích các vị thần và Phật ở các đền chùa của Kinh Bắc Tác phẩm Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí

và cuốn Bắc Ninh dư địa chí của triều Nguyễn đã ghi chép lại những nét văn hóa

tiêu biểu của miền quê quan họ Kinh Bắc và các truyện kể dân gian về các vị thánh thần Cuốn sách Truyện cổ xứ Bắc của nhóm tác giả Xuân Cần, Anh Vũ sưu tầm có

nhiều thể loại truyện kể: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, giai thoại

Cuốn sách Các nữ thần Việt Nam đã kể lại cuộc đời và chiến công của cá vị

nữ thần ở Việt Nam, trong đó có nhiều nữ thần người Kinh Bắc Cuốn sách Lễ hội Bắc Ninh của tác giả Trần Đình Luyện đã giới thiệu khá đầy đủ tên và nơi tổ chức

và thời gian tổ chức các lễ hội từ lớn đến nhỏ của Bắc Ninh, Truyền Thuyết thành

cổ Luy Lâu của Phạm Thuận Thanh chủ yếu đi vào giới thiệu những truyền thuyết vùng huyện Thuận Thành Người anh hung làng Dóng của Cao Huy Đỉnh giúp cho

người đọc có cái nhìn toàn diện từ nguồn gốc xuất thân, con đường Dóng ra trận,

con đường Dóng trở về quê nhà và bay lên trời Danh Nhân lịch sử Kinh Bắc của

Trần Quốc Thịnh đã kể về cuộc đời và sự nghiệp của hai trăm tám ba danh nhân của

mảnh đất Kinh Bắc Truyện cổ ca dao tục ngữ các làng quan họ của Lê Danh

Khiêm chủ yếu kể về thủy tổ Quan họ, những sự tích liên quan đến các làng Quan

họ và một phần nhỏ là ca dao - Tục ngữ Thần tích sắc phong các vị thần thành hoàng làng tỉnh Bắc Ninh của Lê Viết Nga liệt kê đầy đủ các thần tích, thần sắc và

lễ hội đình, đền ở tất cả các làng xã ở các huyện, thành phố của Bắc Ninh trong đó

có nhiều lễ hội, nhiều thần tích bị mai một khiến người đọc không khỏi ngậm ngùi

tiếc nuối Truyền thuyết về các vị tổ nghề của tỉnh Bắc Ninh, đã giới thiệu lịch sử

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các làng nghề trong tỉnh Bắc Ninh và tóm tắt thần tích các vị tổ nghề đã được thờ

phụng trong các làng nghề tiêu biểu Văn chương Bắc Ninh của hai tác giả Ngọc

Lâm và Khắc Đàm giúp người đọc thấy một phần nhỏ các tác phẩm Truyện cổ, ca dao, tục ngữ và một vài tác phẩm văn thơ của người con Kinh Bắc… Ở những cuốn sách này các tác giả đã dày công sưu tầm các thể loại văn học dân gian ở quê nhà như: tục ngữ, ca dao, các giai thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết, dân ca quan họ, sự tích và ý nghĩa một số các địa danh, trang sử các địa phương trong tỉnh, phong tục tập

quán, lễ hội đình chùa… trong không gian văn hóa thôn làng

Bên cạnh đó dưới góc độ khoa học văn học, truyền thuyết dân gian Bắc Ninh cũng đã được đề cập trong các công trình như: Truyện kể dân gian trong không gian văn hóa xứ Bắc (năm 2011, luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Bỉnh)

Làng tranh dân gian Đông Hồ (năm 2012, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hạnh) Tín ngưỡng thành hoàng làng ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay (năm 2013 của ) Truyền thuyết và lễ hội chùa Dâu (năm 2014, luận văn thạc sĩ của Trần Xuân Chương) Đại học Quốc Gia Hà Nội Tín ngưỡng bà chúa kho ở châu thổ Bắc Bộ (năm 2015, luận

án tiến sĩ của Phan Phương Anh), Đại học sư phạm Hà Nội

Như vậy, cho đến thời điểm này chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện về truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang, đặc biệt là truyền thuyết ở hai huyện Quế Võ và Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh Trên cơ sở tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước, với ý thức muốn giữ gìn những di sản văn hóa của quê hương Kinh Bắc, chúng tôi chọn “Truyền thuyết dân gian vùng Lục Đầu Giang (nghiên cứu trên địa bàn huyện Quế Võ và Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)” làm đề tài cho công trình nghiên cứu của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài luận văn là Truyền thuyết dân gian vùng Lục Đầu Giang (chủ yếu ở hai huyện Quế Võ và Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh)

- Tìm hiểu thêm một số lễ hội dân gian tiêu biểu ở nơi đây

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi căn cứ vào các văn bản truyện

kể dân gian xứ rong Kinh Bắc đã được các nhà Nho, nhà nghiên cứu ghi chép trong

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

các cuốn sách đã được xuất bản như: Người anh hùng làng Dóng, Danh nhân lịch sử Kinh Bắc, kể chuyện lịch sử Việt Nam thời Bắc thuộc

- Mặt khác, chúng tôi cũng tham khảo các thần tích, thần sắc ở các đền thờ, đình thờ ở các địa phương vùng Lục Đầu Giang

- Tư liệu nghiên cứu chủ yếu là các: Truyền thuyết dân gian vùng đất Lục Đầu Giang trong một không gian cụ thể là hai huyện Quế Võ, Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh Tập trung vào những nhóm truyền thuyết tiêu biểu về: Thánh Tam Giang, Thánh Gióng, Nguyễn Minh Không, Cao Lỗ, các tướng thời Hai Bà Trưng, Trần Thủ Độ, Thiên Tướng Hoàng Bà

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Bước đầu định hướng chung về bảo tồn và phát huy giá trị truyền thuyết và

lễ hội dân gian đất Lục Đầu vùng Giang

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khảo sát, mô tả một cách hệ thống truyền thuyết dân gian ở hai huyện nằm bên bờ sông Lục Đầu là Quế Võ, Gia Bình và những nét văn hóa tiêu biểu của vùng đất Kinh Bắc

- Phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết và mối liên hệ giữa truyền thuyết với lễ hội ở vùng đất Lục Đầu Giang

- Đưa ra một số định hướng chung về bảo tồn và phát huy giá trị truyền thuyết và lễ hội dân gian nơi mảnh đất địa linh nhân kiệt này

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp sưu tầm điền dã: Đây là một trong những phương pháp quan trọng mà chúng tôi sử dụng trong luận văn này Chúng tôi đã tiến hành điền dã đến tận các làng có thờ các vị thánh và thần như: Thánh Tam Giang, Thánh Gióng, Cao

Lỗ Vương, Nguyễn Minh Không của tỉnh Bắc Ninh, khảo sát các nơi thờ cúng,

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sưu tầm các truyền thuyết, phỏng vấn những người cao tuổi có hiểu biết về lịch sử ngôi đền, chụp ảnh tư liệu

- Phương pháp khảo sát thống kê: Trên cơ sở những tài liệu truyện kể, truyền thuyết thu thập được qua quá trình điền dã, kết hợp với những nguồn tài liệu sách, báo viết về các vị thánh, thần nói trên đã được công bố, xuất bản, các hồ

sơ di tích, lễ hội ở địa phương, chúng tôi tiến hành thống kê phân loại, sắp xếp thành từng nhóm

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ những truyền thuyết ở hai huyện Quế

Võ, Gia Bình chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá và nhìn nhận về đặc điểm nội dung và nghệ thuật truyền thuyết dân gian vùng đất Lục Đầu Giang

- Phương pháp so sánh loại hình: Chúng tôi tiến hành mở rộng liên hệ so sánh với một số truyền thuyết dân gian ở một số vùng lân cận để thấy được những giá trị nổi bật trong những truyền thuyết vùng Lục Đầu Giang và chỉ rõ những nét chung và riêng mang đậm dấu ấn văn hoá của vùng miền ở các truyền thuyết dân gian này

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: là phương pháp nghiên cứu có sự kết hợp phương pháp của nhiều ngành khoa học khác nhau: văn hóa học, Sử học, Dân tộc học, để tập trung làm rõ giá trị của truyền thuyết dân gian vùng đất Lục Đầu Giang và ý nghĩa to lớn của các truyền thuyết trong đời sống văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung chính

của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Lục Đầu Giang, vùng đất, con người, truyền thống văn hóa và một số vấn đề lý luận

Chương 2: Giá trị của truyền thuyết vùng Lục Đầu Giang

Chương 3: Truyền thuyết vùng Lục Đầu Giang trong không gian lễ hội và tâm thức dân gian

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

7 Những đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống và khá toàn diện về các truyền thuyết ở Quế Võ, Gia Bình, hai huyện nằm bên bờ sông Lục Đầu

và văn hóa lễ hội gắn với những truyền thuyết nơi đây

Thêm một ý kiến khẳng định vị trí quan trọng của các truyền thuyết dân gian vùng đất Lục Đầu Giang và những nét văn hóa tâm linh đặc trưng của các truyền thuyết này Từ đó, người viết mong muốn được góp phần công sức nhỏ bé của mình vào việc gìn giữ và giới thiệu vốn văn hoá vừa phong phú vừa đặc sắc của quê hương Kinh Bắc thương yêu

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 LỤC ĐẦU GIANG VÙNG ĐẤT, CON NGƯỜI,

TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VÀ MỘT SỐ VÂN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ

LOẠI TRUYỀN THUYẾT

Trong phạm vi cho phép của đề tài nghiên cứu, chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào mọi vấn đề thuộc về điều kiện tự nhiên, xã hội và vấn đề văn hóa của vùng đất Lục Đầu Giang ở hai huyện Quế Võ, Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh mà chỉ đi vào tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự hình thành các truyền thuyết dân gian và lễ hội của hai huyện này Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu chúng tôi chỉ tập trung vào những vấn đề sau: Vùng đất Lục Đầu Giang, con người và văn hóa, văn học dân gian của vùng đất Lục Đầu ở hai huyện Quế Võ, Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh

1.1 Vùng đất Lục Đầu Giang

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội

Về mặt vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của vùng Lục Đầu Giang là điểm hẹn

của sáu dòng sông là: sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam, sông Đuống, sông

Kinh Thầy, sông Thái Bình mà thành Chính vì vậy mà “người xưa coi đây là biểu tượng hợp lưu của tứ đức trong vũ trụ” cũng bởi vì trong sáu dòng sông nói trên có

bốn dòng sông đều có một chữ đức trong tên của mình: sông Thương (Nhật Đức), sông Lục Nam (Minh Đức), sông Cầu (Nguyệt Đức),sông Đuống (Thiên Đức) Nhân tâm trong trời đất đều được hội tụ lại ở quãng sông Lục Đầu này,đem lại sự bình yên, thịnh vượng cho cuộc sống của nhân dân Bãi Nguyệt Bàn là một bãi bồi toàn đất phù sa mầu mỡ, cây cối xanh tốt quanh năm Nó lại nằm ở giữa dòng Lục Đầu Giang giống như một hòn ngọc xanh quý giá Sáu dòng sông giống như sáu con rồng đều quay đầu về phía Bãi Nguyệt Bàn, nên nhân dân mới gọi hiện tượng tự

nhiên kì thú này là: Lục long tranh châu

Thời phong kiến dòng sông này trở thành dòng sông huyền thoại đã ghi dấu biết bao chiến công của cha ông trong công cuộc dựng nước và giữ nước, đặc biệt là chiến công của triều đại nhà Trần trong ba lần đại phá giặc Nguyên Mông Dòng

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

sông Lục Đầu là ranh giới chia tách giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Hải Dương Nằm bên

bờ phía Tây Bắc của dòng sông là huyện Chí Linh của tỉnh Hải Dương, nằm ở phía

bờ Đông Nam là hai huyện Quế Võ và Gia Bình của tỉnh Bắc Ninh Hai huyện này chạy men theo đôi bờ của dòng sông Thiên Đức Đây là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng là cửa ngõ đường thủy để tiến vào kinh thành Thăng Long xưa và cũng là thủ đô Hà Nội ngày nay Quốc lộ mười tám chạy dọc giữa huyện Quế Võ,quốc lộ ba tám nồi huyện Gia Bình với Hải Dương và Hải Phòng, cùng với cây cầu Bình Than và tuyến đường sắt xuyên Việt chạy qua đây,đã góp phần nối kết vùng đất Lục Đầu với những trung tâm kinh tế, văn hóa và thương mại lớn là Hà Nội, Quảng Ninh,Hải Phòng.Đây là tam giác kinh tế trọng điểm của miền Bắc Việt Nam Không chỉ thuận tiện về giao thông đường bộ, vùng đất này cũng khá thuận tiện về giao thông đường thủy, phía Bắc của huyện Quế Võ là dòng sông Cầu, phía Nam là dòng sông Đuống rất thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa cũng như vấn đề an ninh quốc phòng Quá trình bồi đắp phù sa của hai dòng sông Nguyệt Đức và Thiên Đức đã tạo nên những bãi bồi rộng lớn chạy dọc theo đôi bờ của hai dòng sông này Đây là nơi nhân dân ven sông trồng các loại cây hoa màu như: chuối, ngô, khoai, đỗ, lạc, vừng…Chẳng thề mà nhà thơ Hoàng Cầm viết về quê

hương trong bài Bên kia sông Đuống (sông Thiên Đức) với hình ảnh về một miền quê trù phú “Xanh xanh bãi mía bờ dâu, ngô khoai biêng biếc”

Vùng đất Lục Đầu Giang về phía Bắc Ninh có diện tích 159, 482 km2, địa hình không bằng phẳng,có độ dốc theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện rõ qua dòng chảy của hai dòng sông Miền quê này không hoàn toàn là đồng bằng mà có xen kẽ những đồi núi thấp như dãy núi Nam Sơn, núi Dạm, núi Thiên Thai,núi Đông Du, núi Hiền Lương Nhưng đồng bằng chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của hai huyện Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành bốn mùa rõ rệt đó là: xuân, hạ, thu, đông.Mùa xuân khí hậu thường

ấp áp và ẩm thấp vì có gió nồm và mưa phùn, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại cây trồng phát triển xanh tốt.Mùa hè bầu không khí rất oi bức, nóng nực và hay có những trận mưa rào nên những khu đồng chiêm trũng ở đây hay bị ngập úng, mực nước của hai con sông dâng lên rất cao dễ gây ra vỡ đê và lụt lội Nhân dân ở đây

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

còn nhớ mãi những trận lụt lịch sử năm 1968 và năm 1971 Mùa thu khí hậu rất mát

mẻ với sự xuất hiện của những làn gió heo may, lượng mưa không nhiều như mùa

hè, công việc cấy, cày của nhà nông được thuận lợi Mùa đông thời tiết giá lạnh với những trận gió mùa đông bắc ùa về nhưng đây lại là thời tiết lý tưởng để những cây trồng vụ đông phát triển đặc biệt là khoai tây và cải bắp… Xưa kia vùng đất Lục Đầu Giang cũng có những cánh rừng rậm như rừng tre ngà ở làng Ngườm (Nghiêm Xá), rừng gỗ lim ở làng Can Vũ, những khu rừng này gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng đi đánh giặc Ân Nhưng nay phần lớn những khu rừng bị tàn phá chỉ còn lại những cái tên: Đồng rừng, Bãi rừng, Bãi lim, Vườn Cam… Nên tài nguyên rừng không lớn, vì chủ yếu là rừng trồng Tài nguyên khoáng sản chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét, cát để sản xuất đồ gốm, gạch ngói các loại Vùng đất Lục Đầu Giang ngày xưa còn có một hồ nước rộng lớn chạy dài suốt từ khu vực huyện Yên Dũng của Bắc Giang đến hai huyện Gia Bình, Lương Tài của Bắc Ninh

Hồ nước đó có tên gọi là hồ Lãng Bạc Hồ nước này gắn liền với truyền thuyết Hai

Bà Trưng Nhưng theo thời gian và những thay đổi về kiến tạo địa chất, một lượng phù sa lớn từ dòng Lục Đầu đã bồi đắp thành những cánh đồng và làng mạc, phố phường dân cư đông đúc.Chính những yếu tố tự nhiên này đã tác động lớn đến sự hình thành và phát triển của nền văn hóa, văn minh nông nghiệp lúa nước ở vùng Lục Đầu Giang, trong đó có văn học dân gian nói chung và truyền thuyết nói riêng

Về điều kiện xã hội,dân số của vùng đất Lục Đầu Giang theo số liệu điều tra năm 2015 là 167672 người, với hai mươi bảy dân tộc sinh sống, trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh, Tày, Nùng.Trong số các dân tộc đang sinh sống ở vùng đất này thì người Kinh chiếm số lượng lớn nhất, đông đảo nhất.Họ là những người giữ vai trò chủ đạo trong quá trình khai phá, dựng xây và phát triển các làng xã ở miền quê này Ngày từ thời nhà nước Văn Lang, Âu Lạc những người Kinh ở vùng đất này đã

có nền sản xuất văn minh tương đối phát triển Họ phát triển kinh tế vừa dựa vào việc khai thác những thứ có sẵn trong tự nhiên như: bắt cá, cua ốc, trai hến và hái các loại hoa quả: khế, cam… Họ còn biết cấy lúa, trồng ngô và chăn nuôi gà, lợn Biết làm các nghề thủ công: rèn sắt, đan tre, đan cói, đúc đồng Nhưng sản xuất nông nghiệp, cấy lúa nước và trồng cây vẫn là lĩnh vực kinh tế chủ đạo Các nông

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cụ phục vụ sản xuất của người dân Lục Đầu ngày càng tinh sảo Sau một thời gian dài cấy trồng cây lương thực người Kinh đã biết tích lũy cho mình những kinh nghiệm phong phú và những phương pháp canh tác phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu của miền đất này.Những kinh nghiệm ấy được lưu truyền đến ngày nay qua những bài ca dao, những câu tục ngữ và phương ngôn của xứ Bắc Các dân tộc Tày, Nùng…chỉ chiếm số lượng rất nhỏ Họ là những người về làm dâu, làm rể ở vùng đất này hoặc mốt số người dân di cư từ mạn Bắc Giang, Lạng Sơn… xuống vì thấy điều kiện sống ở đây thuận lợi nên họ cư trú lâu dài.Chính điều này tạo nên điều kiện thuận lợi để giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, để nền văn hóa của vùng đất Lục Đầu ngày một phong phú, đa dạng

Cư dân vùng Lục Đầu Giang chịu ảnh hưởng tư tưởng tôn giáo: Nho, Phật, Đạo… sớm muộn khác nhau Đạo phật có ảnh hưởng mạnh tới địa phương từ thời nhà Lý, một loạt ngôi chùa được xây dựng trong thời gian này, những giáo lý của nhà phật khá phù hợp với đạo lý truyền thống của người dân nên được đón nhân và truyền bá rộng rãi

1.1.2 Văn hóa truyền thống

Lục Đầu Giang là một trong những vùng đất địa linh nhân kiệt, một trong những nơi hội tụ nhiều nhất các di tích lịch sử, văn hóa Gia Bình và Quế Võ là hai địa danh văn hóa tiêu biểu của vùng đất Lục Đầu Giang thuộc địa phận tỉnh Bắc

Ninh Đây là vùng đất giàu truyền thống văn hóa Văn hóa miền đất này rất đa dạng

có sự hội nhập và tiếp thu có chọn lọc nhiều yếu tố văn hóa trong và ngoài nước.Có những yếu tố văn hóa truyền thống của người Việt từ cách ăn ở, lao động sản xuất,mối quan hệ trong gia đình đến mối quan hệ ngoài xã hội.Bên cạnh đó có những yếu tố văn hóa là kết quả của sự hội nhập từ nước ngoài đặc biệt là hai nước láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ Ở những địa phương này còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể

Văn hóa vật thể là những yếu tố văn hóa tồn tại hữu hình người ta có thể ngắm nhìn bằng mắt, có thể cầm lên bằng tay, có thể cảm nhận qua các giác quan như: thị giác, xúc giác, vị giác Những yếu tố văn hóa này tồn tại qua nhiều thời đại

và được các thế hệ người dân giữ gìn và phát huy Yếu tố văn hóa vật thể được nhắc

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đến trước tiên là kiến trúc tổng thể của những thôn (làng) ở Quế Võ, Gia Bình cũng mang những nét chung của làng quê đồng bằng Bắc Bộ Hệ thống đường giao thông

ở các làng quê vùng đất Lục Đầu cũng khá độc đáo Phần lớn những con đường vào các xóm đều rất nhỏ, chạy quanh co nên những phương tiện giao thông hiện đại như

ô tô chỉ có thể đỗ ở đầu làng, không thể vào trong các ngõ xóm Làng nào cũng có

từ hai đến ba trục đường chính chạy ở mặt phía trước làng, đường chạy giữa làng, đường chạy phía sau làng Những con đường này thường rộng gấp đôi đường trong ngõ xóm, cây cối được trồng hai bên đường xanh tốt, phần lớn là những lũy tre.Ngày xưa toàn là đường đất, nên trời mưa là lầy lội trơn trượt, nhưng ngày nay theo chính sách phát triển giao thông nông thôn của Đảng và nhà nước những con đường ở các làng quê đều đã được đổ bê tông rất sạch sẽ

Yếu tố văn hóa vật thể được nhắc đến tiếp theo là kiến trúc của những ngôi nhà trong các thôn(làng), ngày xưa những gia đình giàu có thì xây nhà ngói sân gạch khung nhà được làm bằng gỗ lim rất chắc chắn, còn những gia đình nghèo thì sống trong những ngôi nhà mái lợp bằng rơm rạ, khung nhà bằng tre, tường nhà là vách đất, để có vách đất chắc chắn những người dân nghèo ở Lục Đầu Giang đã biết dùng rơm rũ dối ngào lẫn với bùn đất và chát lên khung tre của ngôi nhà Kiến trúc nhà cửa ngày nay đã khác xưa nhưng vẫn còn kẻ giàu người nghèo nên nhà cửa vẫn thể hiện rõ điều kiện kinh tế của từng gia đình Nhà giàu xây cao tầng, xây biệt thự, nhà vườn… trang trí cầu kì đẹp mắt, nhà nghèo là nhà cấp bốn cũ kĩ, thấp bé

Văn hóa vật thể còn được thể hiện rõ nét ở những ngôi chùa cổ kính có lịch

sử tồn tại lâu đời, có kiến trúc độc đáo như: Chùa Hàm Long được xây dựng từ thời nhà Lý trên dãy núi Nam Sơn,dãy núi như hình con rồng cha, chỗ xây chùa là vị trí miệng của con rồng nên mới có tên gọi Hàm Long.Đường lên chùa là những bậc đá xanh, hai bên là những cây cổ thụ tỏa đầy bóng mát.Sân chùa không rộng nhưng được trồng nhiều cây xanh Mới vào đến sân chùa đã cảm nhận thấy bầu không khí trong lành thanh tịnh chốn cửa thiền Tòa nhà chính điện có bốn pho tượng đồng có niên đại khoảng gần một trăm năm Đây là ngôi chùa cổ nổi tiếng linh thiêng là nơi nhốt vong an toàn nhất nên khách thập phương đến để cầu cúng và gửi vong hồn những người trong gia đình bị mất vào giờ nặng rất đông.Cách chùa Hàm Long

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

không xa là ngôi đền Tấm Cám và ngôi chùa Dạm, dưới chân núi là ngòi Con Tên, Ngòi Con Tên chạy thẳng đến chân núi con Rùa tạo thành một quần thể danh thắng đẹp và linh thiêng Nếu như dãy núi Nam Sơn được ví như con rồng cha để người dân Lục Đầu xây dựng chùa Hàm Long thì dãy núi Thiên Thai nằm bên bờ hữu ngạn của dòng sông Thiên Đức được ví như con rồng mẹ Đây là dãy núi hội tụ nhiều linh khí nên từ thời nhà Lý cũng xây dựng ở đây hai ngôi chùa là Chùa Đông Lâm và chùa Tĩnh Lư thiên tự Cửa sông Lục Đầu còn có ngôi chùa thờ hai vị quốc

sư của triều đình nhà Lý là Dương Không Lộ và Khổng Minh Không (Nguyễn Minh Không) đó chính là Chùa Phả Lại, có tên chữ là Chúc Thánh tự Ngôi chùa này tọa lạc trên đỉnh núi Phả Lại hướng ra cửa sông Lục Đầu (Lục Đầu Giang) thuộc xã Đức Long, huyện Quế Võ.Quần thể đình,đền, chùa Phả Lại được xây dựng vào thời

Lý ở thế kỷ XI.Khuôn viên chùa rất rộng, cổng chùa mới được xây dựng lại thời

gian gần đây Sân chùa có nhiều cây cối xanh tốt và có một tấm bia đá cổ Phả Lại

từ bi Mái ngói của chùa rêu phủ u trầm tạo nên vẻ đẹp cổ kính, linh thiêng

Vùng Lục Đầu Giang còn có hàng trăm ngôi đình, đền Mỗi ngôi đình, đền ở đây đều có kiến trúc độc đáo như: Đền Tam phủ còn có tên là đền thờ “Ba vua”, ba

vị vua được thờ ở đây là Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ - vua của ba cõi tự nhiên (trời-đất-nước) đã sáng tạo ra muôn loài Đền xây từ rất lâu đời và được trùng tu, tôn tạo nhiều lần trong đó để lại dấu ấn đậm nét nhất là những đường nét kiến trúc nghệ thuật của thời Lê và thời Nguyễn Cổng đền vừa được xây dựng lại rất to đẹp, với những hình rồng phượng uy nghiêm Trước cửa đền là một khoảng sân rộng với nhiều cây cổ thụ có nhiều cành lá rậm rạp tươi tốt tỏa bóng mát quanh năm, trong

đó lâu đời nhất là cây đa lan có tuổi thọ hàng trăm năm, bộ rễ của nó xù xì như cây

đa nhưng lại ra lá và hoa giống như cây lan Cây đa lan này tươi tốt quanh năm, tỏa hương thơm ngát như một nét độc đáo khiến không gian đền thêm phần cổ kính, thâm nghiêm Ngôi nhà phía trước là đền thờ “Ba vua” (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ) gồm ba tòa: tiền tế, trung đền và hậu cung Tòa tiền tế được xây dựng theo kiến trúc ba gian hai trái, mái đao cong, khung dựng hoàn toàn bằng gỗ lim với nhiều đường nét chạm trổ hình rồng, phượng, cây cỏ, hoa lá rất cầu kì tinh sảo Trung đền có kiến trúc tương tự như tòa tiền tế, là nơi đặt ban thờ Ngũ vị tiên ông,

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Đức ông và Bà chúa Lục Đầu Giang Đặc biệt, trên khám thờ có treo bức hoành phi

cổ bằng tiếng Hán “Tam phủ linh từ” (đền tam phủ linh thiêng), cột hai bên treo câu đối: “Vạn cổ nguy nga Tam Phủ điện/ Thiên thu đột ngột Lục đầu giang” Ngăn

cách giữa trung đền và hậu cung là một khoảng sân khá rộng, lát gạch vuông thường gọi là sân rồng Hậu cung là nơi tối linh thiêng, đặt tượng thờ ba vị vua của ba cõi: Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ trong dáng vẻ uy nghiêm Mỗi vị vua mặc một màu

áo khác nhau: Đức vua Thiên phủ mặc áo màu đỏ đầu đội mũ đỏ, đức vua Địa phủ mặc áo màu vàng, đầu đội mũ vàng, đức vua Thuỷ phủ mặc áo trắng, đầu đội mũ trắng Cách đền Tam Phủ không xa là đền thờ Cao Lỗ Vương cũng cổ kính, linh thiêng nằm trên bãi bồi cao ven bờ Nam của dòng sông Đuống thuộc thôn Đại Trung (tên nôm là làng Lớ, xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh Ngôi đền hướng mặt về Lục Đầu giang, bao quanh là trời mây, sông nước càng khiến cho cảnh quan nơi đây trở nên yên bình và thơ mộng Đền có quy mô khá là rộng lớn,

với kết cấu kiến trúc kiểu "tiền Công, hậu Quốc" Khoảng sân rộng trước cửa đền

có những cây cổ thụ cành lá xanh tôt quanh năm Trong đền có những bộ khung gỗ với những nét chạm khắc hoa văn tinh xảo và mái ngói rêu phủ, đây là dấu tích của kiến trúc thời Lê và thời Nguyễn vẫn còn nguyên vẹn Khám thờ của đền hiện còn lưu giữ được nhiều di vật cổ như: tượng Cao Lỗ Vương đặt trong long khám tòa đại bái, tượng An Dương Vương và tượng Thánh Giang Sứ (rùa vàng) đặt trong hậu cung Ba pho tượng này được xác định có niên đại thời Nguyễn Lăng mộ tướng quân Cao Lỗ được đặt tại làng Tiểu Than cũng mới được xây dựng lại những năm gần đây

Ở xã Vân Dương còn cụm di tích về quê hương Thánh Tam Giang trong đó

có đền Vân Mẫu, được xây dựng gần mộ của bà, đó là khu vực cạnh làng Vân Mẫu, trên một gò đất cao mé đầm chiêm, phía nam có cái giếng lớn gọi là giếng mắt rồng Đằng trước là năm gian nhà tiền tế, mộ Thánh mẫu ở giữa, hai bên là hai dải vũ, phía sau là ba gian nhà hậu cung Nghè Chu Mẫu là nơi thờ Thánh Tam Giang, nhà

cố trạch tương truyền là nhà ở thuở nhỏ của các Thánh.Trong đền có tượng Thánh Mẫu, thần phả, sắc phong, bia đá và nhiều đồ thờ tự quý.Bên Gia Bình nổi tiếng về nghệ thuật kiến trúc không chỉ có đền Tam Phủ và đền Cao Lỗ mà còn có Đình

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Hương Vinh nằm ở đầu làng Hương Vinh Đây là một làng quê có lịch sử lâu đời Khuôn viên của đình là một thửa đất khá rộng Ngôi đình cổ này được trùng tu tôn tạo nhiều lần Hiện nay công trình kiến trúc của đình có tòa nhà tiền tế, tòa nhà Đại đình và tòa hậu cung Trong đình còn khám thờ, những đồ thờ tự, tế khí còn lại khá phong phú về số lượng, đa dạng về loại hình

Như vậy kiến trúc nhà ở, đình, đền, chùa và kết cấu hạ tầng giao thông làng (thôn) là những yếu tố văn hóa vật thể vô cùng quý giá của vùng đất Lục Đầu Giang Mà ở phần trên chúng tôi mới chỉ liệt kê ra một vài địa danh tiêu biểu, kiến trúc độc đáo là minh chứng rõ nét cho sự phong phú, đa dạng của văn hóa vật thể ở địa phương này

Văn hóa phi vật thể là những yếu tố văn hóa có giá trị về mặt tịnh thần, có giá trị về mặt lịch sử… được nhân dân lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng phương thức truyền miệng và diễn xướng dân gian.Yếu tố văn hóa phi vật thể đầu tiên được nhắc đến ở vùng Lục Đầu là lối sống sinh hoạt và những mối quan hệ mang tính cộng đồng của những người dân trong những làng xã.Ở vùng đất Lục Đầu Giang đơn vị xóm, làng, xã, huyện không đơn thuần chỉ là đơn vị hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước của chế độ phong kiến ngày xưa và chế độ xã hội chủ nghĩa ngày nay Mà nó còn có những tục lệ, những hương ước riêng của

từng làng xã, nên người xưa có câu nói “Phép vua thua lệ làng” Những người trong

làng xã thường rất gắn bó, họ có tinh thần yêu thương đùm bọc lẫ nhau Họ quan

niệm “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau”

Sự quan tâm, giúp đỡ nhau vì hoàn cảnh gia đình của những người dân lao động ở các làng quê vùng Lục Đầu thật cảm động

Văn hóa phi vật thể không chỉ được thể hiện trong nếp sống, tình làng nghĩa xóm tốt đẹp nói trên, mà nó còn được thể hiện trong các loại hình diễn xướng dân gian.Đó là những loại hình nghệ thuật đặc sắc đã đạt đến trình độ điêu luyện Như: hát chèo, hát tuồng,hát ả đào, hát quan họ, hát trống quân… Vùng đất Lục Đầu Giang cũng là một trong những nơi sinh thành ra loại hình nghệ thuật hát chèo truyền thống của đất nước.Nên loại hình nghệ thuật này phát triển ở vùng đất Lục Đầu cũng khá phong phú với những hình thức như:hát chèo trong lễ hội rước nước,

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hát chèo trong nghi lễ thờ cúng tổ tiên, nghi lễ tang ma, chèo sân khấu dân gian.Hình thức hát chèo trong lễ rước nước được diễn ra ở hội chùa làng Phả Lại và hội chùa Dạm (Lãm Sơn) Hát chèo trong nghi lễ thờ cúng tổ tiên, nghi lễ tang ma nhằm mục đích giúp cho tang chủ vơi bớt đau buồn phiền muộn và cầu chúc cho linh hồn người mất về nơi suối vàng có một cuộc sống mới tốt đẹp.Loại hình hát chèo sân khấu dân gian thường do những ghánh hát nghiệp dư ở các làng biểu diễn, các tích chèo được sân khấu hóa thường được lấy cốt truyện từ những câu chuyện dân gian như: Quan Âm Thị Kính, Tống Trân - Cúc Hoa, Lưu Bình - Dương Lễ… Huyện Quế

Võ có hai ghánh hát chèo nổi tiếng là làng Thất Gian và làng Nga Hoàng

Bên cạnh loại hình nghệ thuật hát chèo vùng đất Lục Đầu còn có thể loại hát

ca trù (hát ả đào) là bài hát có sự kết hợp thơ và âm nhạc Nhạc cụ của hát ca trù khá chuyên biệt gồm: Đàn đáy, Cỗ phách, Cặp sênh Hát ca trù xuất hiện ở vùng đất Lục Đầu Giang khá sớm điều đó được ghi trong sách Phong thổ Hà Bắc và còn thể hiện trong lễ hội chín thôn: Trúc Ổ, Mộ Đạo, Yên Giả, La Miệt, Trạc Nhiệt, Mai Ổ, Đức Tái, Tập Ninh, Đô Đàn của huyện Quế Võ Chín làng này cùng thờ một vị phó tướng của vua Hùng Vương thứ mười tám là Bình Thiên Hiền Đức Đại Vương Lễ hội diễn ra là lúc các làng lại mời ả đào về hát ca trù cho quan khách nghe Trong truyền thuyết về Doãn Công có nhân vật Đào Nương là vợ của Doãn Công Đây là hai vị tướng thời Hai Bà Trưng Họ được thờ ở mười ngôi đình khác nhau ở huyện Gia Bình, đó là lễ hội Thập Đình, trong lễ hội cũng có hát ca trù Thôn Thất Gian của xã Châu Cầu và làng Tiểu Than của xã Cao Đức đều có người làm nghệ sĩ hát Ả đào (Cô đầu)

Loại hình nghệ thuật hát trống quân cũng khá phát triển ở Quế Võ, Gia Bình.Đây là thể loại dân ca có nhạc cụ khá đặc biệt Nhạc cụ để hát trống quân là chiếc trống đất, tức là mọi người phải đào hố và cho trống xuống hố, cách làm trống đất để tạo ra âm thanh phục vụ hát trống quân khá phức tạp Lời hát được lấy từ các bài thơ lục bát chuẩn về vần, về luật Đây thực chất là lối hát giao duyên, hát đối đáp giữa một người nam và một người nữ Không gian để hát trống quân thường là sân đình, sân chùa Thời gian diễn ra lễ hội hát trống quân thường vào những lúc nông nhàn, thường là mùa thu vì đây là thời điểm không khí mát

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

mẻ trong lành, trăng thu sáng vằng vặc Người ta có thể hát trống quân suốt đêm,

từ lúc trăng bắt đầu lên cho đến lúc trăng tàn Một canh hát trống quân theo quy định phải có các bước: mở đầu là lời hát gọi, sau đó là lời hát chào, hát thách, hát mời trầu, mời thuốc, mời nước, hát hoa, hát vận, hát giã bạn Theo quy định thì người nam phải hát trước, người nữ phải hát sau gọi là nam xướng, nữ tòng Mỗi lượt lời hát của nam hay nữ thường giãn cách bằng ba hoặc năm khẩu trống, sau những khẩu trống giãn cách mà người hát sau không hát đối được là người đó bị thua Bên cạnh loại hình hát trống quân vùng đất Lục Đầu còn nổi tiếng với những làn điệu dân ca quan họ

Mặc dù hai huyện Quế Võ, Gia Bình không có làng nào nằm trong danh sách bốn chín làng quan họ cổ của Xứ Bắc nhưng những người dân nơi đây ai cũng thuộc khá nhiều bài hát quan họ, có nhiều làng thành lập những đội văn nghệ là những người hát hay trong làng Đội hát quan họ của các làng sẽ biểu diễn vào các dịp: hội làng, hội vùng Trong những ngày lễ hội này không gian diễn ra cuộc hát quan họ

có thể ở sân đình, sân chùa hoặc bơi thuyền ở các ao làng phía trước cửa đình, cửa chùa.Hát quan họ còn diễn ra trong đám cưới hỏi hoặc những lúc nông nhàn trai gái trong xóm ngoài làng có thể quây quần ở một gia đình nào đó trò chuyện tâm tình

và hát đối đáp với nhau.Một canh hát quan họ bao giờ cũng có ba chặng: chặng mở đầu người hát theo giọng lề lối, tốc độ chậm,nhiều tiếng luyến láy và tiếng đệm Các bài quan họ thuộc giọng lề lối là: bài hát Cây gạo, Tình tang, Cái hời cái ả… (người hát phải chọn khoảng mười bài để hát theo giọng lề lối) Chặng hứ hai là giọng sổng và giọng vặt Giọng sổng là giai đoạn chuyển tiếp từ giọng lề lối sang giọng vặt Những bài hát quan học thuộc giọng vặt khá phong phú về nội dung và chiếm số lượng khá lớn như các bài: Qua cầu gió bay, Ngồi tựa mạn thuyền, Tương phùng tương ngộ …Chặng thứ ba là giọng giã bạn, đây là những lời hát để chia tay Những bài hát giã bạn bao giờ cũng có giai điệu buồn thương thể hiện tình cảm lưu luyến, đắm say, mặn nồng của các liền anh, liền chị.Không chỉ hát để phục vụ lễ hội các đội văn nghệ của các làng còn hát phục vụ đám cưới của các gia đình Tiền thưởng cho đội văn nghệ tùy thuộc và kinh tế từng gia đình nhưng cái quan trọng là tinh thần hát phục vụ nhân dân của các đội văn nghệ.Nhờ đó mà đám cưới nào cũng

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

có hát quan họ.Một số làng đội văn nghệ phát triển khá chuyên nghiệp như làng Quế Ổ, Nga Hoàng…Họ tập hợp những người hát hay ở các thôn lại cùng luyện tập

và đi hát ở các đám cưới ở khắp mọi nơi trong làng ngoài huyện Trang phục biểu diễn áo the,khăn xếp và các nhạc cụ đệm cho hát quan họ khá đầy đủ Như vậy những bài hát quan họ để hát vào các dịp như: hội làng, đám cưới, hát đối đáp của trai gái các làng, hát cầu, hát canh… Dân ca quan họ là đặc sản, di sản văn hóa của vùng đất Lục Đầu Giang nói riêng, tỉnh Bắc Ninh nói chung.Năm 2009 dân ca quan

họ Bắc Ninh đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại

Lục Đầu Giang là vùng đất có nhiều đình, chùa và lễ hội Làng quê nào cũng

có một ngôi chùa thờ phật, mặc dù chiến tranh tàn phá đình chùa bị phá hủy nhưng nhân dân các làng đều có ý thức xây dựng lại chùa trước tiên Chính vì vậy làng quê nào cũng có người biết hát kể hạnh Đây là bài hát mang tính nghi lễ, thường hát ở chùa vào các dịp lễ hội Nhằm ngợi ca công đức, phẩm hạnh của Đức Phật và bày tỏ tấm lòng thành kính đối với tín ngưỡng của đạo phật Người ta thường chọn những bài thơ lục bát nói về đạo phật làm bài hát kể hạnh như:

“Đã là Phật Thánh trên trời

Tấm lòng độ lượng cứu đời cháu con

Không cần báo đáp ân non

Quên mình cứu cả đứa con nhầm đường”

Trong các loại hình diễn xướng dân gian ở hai huyện Quế Võ và Gia Bình không thể không nhắc đến nghệ thuật múa rối.Đây là nơi có nhiều đoàn mua rối cổ truyền hoạt động biểu diễn ở các làng quê vào dịp hội đình, hội chùa hay những ngày tết đến xuân về.Múa rối được phân làm hai loại là: múa rối cạn, múa rối nước Con rối thường được làm bằng gỗ mít, người nghệ nhân làm con rối thường dùng sơn để tô vẽ các con rối, mỗi con rối mô phỏng một nhân vật nào đó, có thể là người nông dân đang lao động ngoài đồng áng,cày, cấy, đánh bắt cá hay trong công việc gia đình.Đó có thể là chú Tễu, vua, quan…Không gian diễn ra múa rối can thường

là sân đình, còn múa rối nước thường là ao, hồ trước cửa đình.Các tiết mục của mủa rối thường ngắn gọn, hấp dẫn, gây cười Người nghệ sĩ vừa khéo léo điều khiển con

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

rối thông qua những sợi dây rất nhỏ vừa hát các bài quan họ để tạo không khí vui tươi, sôi nổi cho buổi biểu diễn Ngoài ra đoàn múa rối còn có nhạc công đệm nhạc cho lời hát của nghệ sĩ múa rối Các nhạc cụ phổ biến là: sáo, nhị, chiêng, trống,

mõ, đàn nguyệt, đàn tranh…Như vậy múa rối là bộ môn nghệ thuật trình diễn tổng hợp các loại hình: âm nhạc, ca hát diễn xướng dân gian để tạo nên những tiết mục múa độc đáo, hấp dẫn, tạo tiếng cười sảng khoái cho người xem

Bên cạnh các loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian là những truyền thống tốt đẹp được lưu truyền qua nhiều thế hệ những người dân ở các làng xã như: truyền thống hiếu học, khoa bảng.Những người dân quê hương tôi vẫn luôn tự hào

về truyền thống hiếu học của quê nhà qua câu ca “Một giỏ ông Đồ, một bồ ông Cống, một đống trạng nguyên, một thuyền Bảng Nhãn” Điển hình là làng Kim Đôi

của xã Kim Chân, ngôi làng này nằm bên bờ nam của dòng sông Cầu thuộc huyện Quế Võ Nhìn theo chiều dài lịch sử nước nhà qua các triều đại phong kiến thì đây

là làng có nhiều người đỗ tiến sĩ đặc biệt là dòng họ Nguyễn có mười tám người, dòng họ phạm có bảy người, như vậy cả làng có tới hai lăm vị tiến sĩ Tên tuổi của

họ được lưu danh ở Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Quốc Tử Giám và trong những

cuốn sách như: Lịch Triều hiến chương loại chí, Đại Việt sử kí toàn thư, phong thổ Kinh Bắc và trong gia phả của hai dòng họ.Hàng năm Làng Kim Đôi mở hội làng

vào các ngày 26,27,28 tháng 2 âm lịch để tôn vinh, tưởng nhớ các bậc hiền tài của quê nhà cũng là dịp để thế hệ trẻ của địa phương nhìn vào tấm gương của thế hệ cha ông mà phát huy truyền thống hiếu học của quê nhà.Bên huyện Gia Bình cũng có những bậc hiền tài làm rạng danh truyền thống hiếu học của quê nhà như: Thiền sư Huyền Quang( tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm), Trạng nguyên khai khoa,quan thái sư Lê Văn Thịnh,Trạng nguyên Lưu Thúc Kiệm, Trạng nguyên Nguyễn Quang Bật Họ được nhân dân ngợi ca là tứ hổ của mảnh đất Gia Bình

Người dân Lục Đầu còn có truyền thống yêu nước, nhiều người theo Thánh Gióng đi đánh giặc Ân, nhiều người trở thành những viên tướng giỏi của Hai Bà Trưng Qua lịch sử các triều đại Lý, Trần, Lê… người dân Quế Võ, Gia Bình cũng tích cực tham gia đánh giặc cứu nước Trong cuộc kháng chiến chống Pháp tấm gương yêu nước của cụ Nguyễn Cao còn được nhân dân ghi nhớ và lập đền thờ tại

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thôn Cách Bi.Ở giai đoạn cách mạng tháng tám và kháng chiến chống đế quốc Mỹ nhân dân vùng đất Lục Đầu Giang rất tích cực đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến, nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại ngoài chiến trường, nghĩa trang liệt sĩ ở các làng xã mộ dày đặc Đây là minh chứng rõ ràng nhất về truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân quê hương Lục Đầu, những anh hùng liệt sĩ ấy đã hóa thân mình cho dáng hình đất nước

Người dân quê hương tôi còn có truyền thống hay lam hay làm Họ không chỉ chăm chỉ làm nông nghiêp, cấy lúa, trồng ngô khoai, đậu đỗ mà những lúc nông nhàn

họ lại bắt tay vào làm các nghề thủ công như: gốm sứ của làng Phù Lãng, gò đúc đồng của làng Đại Bái, tre trúc Xuân Lai, thợ mộc La Miệt, rổ rá và bị cói ở Đức Tái, nón lá Môn Quang…những nghề truyền thống này vừa tận dụng được sức người lúc nông nhàn vừa góp phần phát triển kinh tế của địa phương thêm giàu mạnh

Truyền thống uống nước nhớ nguồn của quê hương xứ sở Lục Đầu, được gửi cả vào những lễ hội đình, đền, chùa và tục lệ thờ cúng tổ tiên ở các gia đình Những truyền thống tốt đẹp đó vẫn được các thế hệ người dân lưu giữ và phát huy trong cuộc sống hiện tại

Như vậy trải qua một quá trình lịch sử lâu dài của công cuộc khai hoang và dựng xây thành làng xã vùng đất Lục Đầu có một kho tàng văn hóa truyền thống thật đa dạng, phong phú cả ở yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể Tạo nên bản sắc văn hóa vùng vừa độc đáo vừa đa dạng Đó là những nét đẹp văn hóa truyền thống tiêu biểu của người Việt Nam

1.2 Văn học dân gian vùng Lục Đầu Giang

1.2.1 Loại hình tự sự dân gian

* Truyện kể dân gian

Truyện kể dân gian vùng đất Lục Đầu Giang ở hai huyện Quế Võ và Gia Bỉnh rất phong phú gồm nhiều thể loại khác nhau như: thần thoại, thuyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và các giai thoại… Trong đó thể loại truyền thuyết chiếm

số lượng lớn và phổ biến ở cả hai huyện Quế Võ và Gia Bình Thể loại truyện cười chủ yếu tập trung ở huyện Quế Võ với làng nói phét Đồng Sài và Trúc Ổ với những

câu chuyện nổi tiếng như: Con cá làm nát ba sào mạ hay Củ khoai lang đưa võng

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ba ngày không nguội, Ông tổ họ Đào…Vì vậy người xưa có câu “Thứ nhất Đồng Sài, thứ hai Trúc Ổ, là tổ nói phét” Những câu chuyện nói phét của hai làng này đã được tập hợp trong cuốn sách Truyện làng cười xứ Bắc Bên cạnh đó ở Quế Võ còn

có làng nói tức Can Vũ, dân gian vẫn truyền nhau câu ca về cách nói năng của làng

này: “Ai về Can Vũ mà coi

Nói tức chết người mà vẫn thèm nghe”

Truyện cổ tích ở đây chủ yếu là truyện cổ tích sinh hoạt, đó là những câu truyện có liên quan tới cuộc sống lao đống sản xuất và văn hóa của từng làng quê Thể loại thần thoại chủ yếu kể về các vị thần được thờ ở các làng, trong đó có các vị thần tự nhiên như: sơn thần, thủy thần, thạch thần và các nhân thần có công sáng tạo văn hóa, các vị tổ nghề, các anh hung chống giặc ngoại xâm qua các thời kỳ lịch sử…

Thể loại truyền thuyết dận gian nói chung và truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang nói riêng được lưu truyền rộng rãi trong dân gian dưới nhiều hình thức khác nhau như: truyền miệng qua lời kể của nhân dân từ đời này sang đời khác, hoặc ghi

chép lại trong các cuốn sách vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học như “Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…” Các

truyền thuyết còn được ghi chép trong các thư tịch đó là thần tích, thần phả về các

vị thần gắn với nơi thờ cúng và sinh hoạt tín ngưỡng gắn với đời sống tâm linh của nhân dân nhiều thế hệ đã qua Trải qua nhiều thế hệ và những thăng trầm của lịch sử những tác phẩm truyền thuyết này đã được dân gian hóa Dựa trên thực tế lưu truyền của truyền thuyết dân gian trong không gian vùng đất Lục Đầu Giang và thời gian lịch sử có thể khẳng định rằng làng quê nào ở đây cũng có các truyền thuyết,

có những tác phẩm được lưu truyền trong không gian rộng của nhiều làng xã như: Truyền thuyết về Cao Lỗ Vương, về Thánh Tam Giang, về các tướng của Hai Bà Trưng, về Nguyễn Công Cự và Ngũ Vị Lôi Công, Các nhân vật theo Thánh Gióng

đi đánh giặc… Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm lại được lưu truyền trong không gia hẹp của một làng quê như: truyền thuyết về Lang Bố Đại Vương, về Lang Công và Chiêu Công, về Đặng Chính Sỹ, Trần Duy Hiển Và Trạng Tỏi …Hiện nay

do binh lửa chiến tranh và sự phá hủy của thời gian, do thiên tai lụt lội nên có rất nhiều truyền thuyết của vùng quê Lục Đầu bị mai một, bị thất truyền những người

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

cao tuổi chỉ còn một vài người nhớ một vài chi tiết nhỏ còn thế hệ trung tuổi thì bận kiếm sống, thế hệ trẻ mải học hành thi cử không có thời gian để quan tâm, tìm hiểu Trong số các các nhóm truyền thuyết vùng Lục Đầu Giang, có một số nhóm tiêu biểu Chúng tôi sẽ tìm hiểu các nhóm truyền thuyết này ở mục sau, làm cơ sở để triển khai nghiên cứu đề tài

1.2.2 Thơ ca dân gian

Thơ ca dân gian vùng Lục Đầu Giang ở hai huyện Quế Võ và Gia Bình cũng khá phong phú với đủ các thể loại: thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò, vè, câu đố… Trong đó đáng lưu tâm nhất là thể loại ca dao chiếm số lượng lớn Đó là những bài

ca ngắn viết bằng thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát là phổ biến nhằm ca ngợi lịch sử hoặc phản ánh mọi mặt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân, có những bài ca ngợi ca vẻ đẹp của quê hương:

“Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về Quế Ổ với anh thì vè

Quế Ổ có ruộng cây đề

Có sông tắm mát có nghề giã gon”

Thôn Quế Ổ trong bài ca dao thuộc địa phận xã Chi Lăng của huyện Quế Võ, nơi đây đồng ruộng bao la, đất đai màu mỡ, cây trồng tốt tươi Làng quê này nằm bên bờ con sông Đuống, nghề truyền thống của dân làng là giã gon để đan bị, đan chiếu và rất nhiều vật dụng khác Không chỉ tự hào về vẻ đẹp của ruộng đồng và nghề truyền thống, người dân Lục Đầu còn tự hào về truyền thống hiếu học và thành đạt của nhân dân quê hương mình

Trời mưa cho ướt lá bầu Lấy chồng Ngõ Gạch chẳng giàu cũng vui

Hay

Trăm năm cũng chẳng có suy Gia Bình ngũ hổ chầu về Thiên Thai

Địa danh Ngõ Gạch trong lời ca là xã Cách Bi của huyện Quế Võ, trai tráng

ở đây rất chăn chỉ học hành và có nhiều người đỗ đạt cao Nhắc đến mảnh đất Gia Bình là người dân nhắc đến năm vị quan trạng: Lê Văn Thịnh, Lý Đạo Tái, Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Lượng Thái, Nguyễn Vũ Giới Họ được coi là ngũ hổ của mảnh

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

đất Gia Bình Nơi đây còn có núi Thiên Thai, chân núi sát với dòng sông Đuống, trên đỉnh núi có chùa Phúc Long tạo cho cảnh qua nơi đây mang vẻ đẹp sơn thủy hữu tình và linh thiêng huyền ảo

Những bài ca về nghề nghiệp thủ công ở các làng nghề truyền thống Mỗi làng quê của mảnh đất này đều có những thế mạnh khác nhau, đó là đặc sản của từng làng quê Họ làm ra những vật dụng như: dao, bát, gậy, rổ và những sản vật như: gạo, cá… để phục vụ cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày Những người con xa quê luôn nhớ về những thế mạnh đó của quê nhà

“Dao Thống Vát Bát Cầu Cậy Gậy Xuân Lai Trai Quế Ổ

Rổ Đức Tái Gái Mộ Đạo Gạo Nghiêm xá

Qua những bài ca dao này nhân dân lao đồng quê hương tôi vừa thể hiện niềm tự hào về những nét đẹp của sự tài hoa khéo léo trong lao động sản xuất nông nghiệp, thủ công nghiệp để tạo ra những sản phẩm lương thực, thức phẩm và các vật dụng phục vụ cuộc sống sinh hoạt hang ngày Đó là vẻ đẹp của những con người

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

chăm chỉ, yêu quê hương, yêu đất nước luôn có ý thức giữ gìn và phát huy những nét đẹp trong phong tục tập quán của địa phương

1.2.3 Tục ngữ phương ngôn và câu đố

Bên cạnh thể loại ca dao vùng đất Lục Đầu Giang cũng có nhiều những câu phương ngôn được lưu truyền Đó là những câu nói có vần, có điệu, có hình ảnh, hàm súc được lưu truyền ở từng địa phương khác nhau Nôi dung của phương ngôn rất phong phú, phản ánh nhận thức và đời sống tâm hồn của cha ông ta khi nhìn nhận cuộc sống quanh mình và những mối quan hệ đối nhân xử thế của nhân tình thế thái như:

“Trai Đông Bình bằng khóa sinh thiên hạ”

Trai ở Đông Bình tức huyện Gia Bình ngày nay, vùng đất này có đường 282 chạy thẳng đến kinh thành Thăng Long nên điều kiện giao lưu văn hóa và kinh tế rất thuận lợi, các chàng trai ở đây đều được gia đình tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành, khoa cử

“Phúc đức Thái Lai, chông gai Bảo Triện”

Địa danh Thái Lai là xã Đại Lai của huyện Gia Bình, vào thời nhà Lê dân làng Thái Lai rất chăm chỉ đắp đường để giao thông đi lại thuận tiện Nhưng dân làng Bảo Triện lại hay gây khó dễ cho dân làng Thái Lai

“Cả huyện Văn Giang không bằng một làng Á Lữ”

Huyện Văn Giang tức huyện Quế Võ ngày nay, ngày xưa vùng đất này chủ yếu là đồng chiên trũng lũ lụt thường xuyên sảy ra, nhân dân đói khổ nhiều người

bỏ làng quê đi nơi khác sinh sống Trong khi đó Á Lữ là một làng của Đai Đồng Thành, huyện Thuận Thành làng quê này có đất đai màu mỡ phì nhiêu, dân cư đông đúc

“Bánh giầy nếp cái, con gái họ Ngô”

Bánh giầy được làm từ gạo nếp cái mới ngon, thơm còn kén vợ thì nên lấy con gái họ Ngô Đây là dòng họ nổi tiếng về khoa bảng, các cô con gái họ Ngô rất xinh đẹp, nết na đoan trang, thùy mị

Trai ở Đông Bình tức huyện Gia Bình ngày nay, vùng đất này có đường 282 chạy thẳng đến kinh thành Thăng long nên điều kiện giao lưu văn hóa và kinh tế rất

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

thuận lợi, các chàng trai ở đây đều được gia đình tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành, khoa cử

Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn hàm xúc có hình ảnh, vần nhịp, giàu chất triết lí, nhằm đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân lao đông về mọi mặt trong cuộc sống Tục ngữ được vận dụng vào trong những lời nói giao tiếp hàng ngày

Những câu tục ngữ ở Quế Võ và Gia Bình cũng có nội dung phong phú Phản ánh nhận thức của nhân dân về thế giới tự nhiên như:

Mưa không qua Ngọ, gió chẳng qua Mùi Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa

Phản ánh nhận thức của nhân dân về đời sống vật chất

Mùa hè cá sông, mùa đông cá đồng Đầu chép, mép trôi, môi mè, lườn trằm Người sống về gạo, cá bạo về nước

Phản ánh nhận thức của nhân dân về đời sống xã hội

Giấy rách thì giữ lấy lề Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng

Phản ánh nhận thức của nhân dân về quan niệm nhân sinh

Tre non dễ uốn Thuốc đắng giã tật, nói thật mất lòng

Tục ngữ và phương ngôn có giá trị nhân văn cao đẹp trong xã hội phong kiến ngày xưa cũng như xã hội hiện đại khoa học công nghệ ngày nay Kho tàng tục ngữ và phương ngôn của vùng đất Lục Đầu mang lại những bài học quý giá về cách nhìn tự nhiên, những kinh nghiêm sống trong xã hội… Góp phần hình thành bản chất con người có học thức, có nhân cách, đạo đức rất Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại

Vùng đất Lục Đầu Giang cũng lưu truyền khá nhiều câu đố dân gia Đây là những câu nói ngắn gọn có vần, có nhịp nhưng nói chệch tên khi miêu tả đặc trưng

và chức năng của từng sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan bằng các thủ pháp nghệ thuật như: ẩn dụ, so sánh, chơi chữ và hình tượng hóa… Tác dụng của câu đố là kiểm tra nhận thức và sự hiểu biết, suy luận của con người về các sự vật

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

hiện tượng trong cuộc sống, kích thích sự phát triển của tư duy của trí tuệ con

người Những câu đố tiêu biểu như: câu đố về chiếc quạt giấy Thân em xưa ở bụi tre Mùa đông khép lại mùa hè mở ra, là cái gì? chiếc quạt giấy được làm bằng tre

và giấy, mùa đông lạnh lẽo không phải dùng đến quạt nên nó được gấp lại, mùa hè nóng nực quạt lại được mở ra để quạt mát Hay câu đố về cuộc khởi nghĩa của Hai

Bà Trưng Đố ai nêu ngọn quốc kì Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời Yếm, khăn đội

đá vá trời Giặc Tô mất vía rụng rời thoát thân? những dữ liệu lịch sử như đất Mê

Linh, giặc tô Định là những yếu tố quan trong giúp người nghe câu đố đoán được nhân vật lịch sử đó là ai Dân gian cũng thật hóm hỉnh khi miêu tả hai cái bắp ngô

với râu ngô dài ra như hai ông cụ ôm lấy hai bên thân cây Có cây mà chẳng có cành Có hai ông cụ dập dềnh hai bên là cây gì?

Câu đố dân gian của vùng đất quê hương tôi rất giản dị dễ nhớ, dễ thuộc Nó

là một nét đẹp văn hóa của các làng quê sau lũy tre xanh Không chỉ có người lớn đọc câu đố để thử trí thông minh của trẻ nhỏ mà đám trẻ nhỏ cũng dùng câu đố tự

đố nhau, qua đó trí thông minh và những hiểu biết về thế giới khách quan đã được đánh thức trong tâm trí của trẻ thơ

1.3 Một số vấn đề lý luận và các nhóm truyền thuyết tiêu biểu vùng Lục Đầu Giang

1.3.1 Một số vấn đề lý luận về truyền thuyết

* Khái niệm

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Truyền thuyết là loại truyện dân gian truyền miệng kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, thường mang nhiều yếu tố thần kì [59, Tr1053]

Trong cuốn từ điển thuật ngữ văn học truyền thuyết lại được định nghĩa:

Truyền thuyết là một thể loại dân gian mà chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải các nhân vật và sự kiện lịch sử có ảnh hưởng quan trọng tới một thời kì, một bộ tộc, một địa phương hay một quốc gia [26, Tr367]

Sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 định nghĩa về thể loại truyền thuyết như sau:

Truyền thuyết là tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử phần lớn theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân tộc hoặc cộng đồng cư dân của một vùng Bên cạnh đó cũng có những truyền thuyết vừa đề cao vừa phê phán nhân vật lịch sử [SGK Ngữ Văn 10, Tr17]

Ngoài ra các tác giả Đỗ Bình Trị, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Bích Hà …cũng

có những định nghĩa rất khoa học về thể loại truyền thuyết Qua đó ta thấy những khái niệm về thể loại truyền thuyết rất phong phú, rất đa dạng nhưng cũng có những

điểm khá thống nhất đó là về mặt loại hình các tác giả đều khẳng định: Truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian Về mặt chức năng: Truyền thuyết nhận thức

và lí giải lịch sử, phong tục tập quán theo quan điểm và nguyện vọng của nhân dân

Về mặt nghệ thuật: Truyền thuyết có sử dụng những yếu tố hoang đường kì ảo

* Phân loại

Phân loại truyền thuyết là một vấn đề khá phức tạp vì hiện nay trên thế giới nói chung, ở Việt Nam nói riêng các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều tiêu chí, nhiều quan điểm khác nhau cho việc phân loại truyền thuyết

Ở Trung Quốc trong cuốn Giáo trình đại học Bắc Kinh các nhà nghiên cứu

đã chia thể loại truyền thuyết được chia thành sáu loại là: Truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết địa phương, truyền thuyết sản vật, truyền thuyết

phong tục, truyền thuyết thời sự Nhưng trong cuốn Từ điển truyện dân gian Quảng Tây truyền thuyết chỉ phân chia gọn gàng làm ba loại: truyền thuyết nhân vật,

truyền thuyết sự kiện lịch sử, truyền thuyết phong vật địa phương

Ở Nhật Bản các nhà folklore cũng phân chia thể loại truyền thuyết thành sáu loại lớn là: truyền thuyết về cây cối, truyền thuyết về hang động, truyền thuyết về đá núi, truyền thuyết về nước, truyền thuyết về mồ mả, truyền thuyết về đèo dốc, truyền thuyết về từ đường (nhà thờ)

Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều tiêu chí để phân loại truyền thuyết Căn cứ vào yếu tố thời kì lịch sử được phản ánh trong tác phẩm truyền thuyết tác giả Hoàng Tiến Tựu đã chia truyền thuyết của Việt Nam thành bốn

loại là: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kì Văn Lang, truyền thuyết về thời kì

Âu Lạc và Bắc thuộc, truyền thuyết về thời kì phong kiến tự chủ, truyền thuyết về thời kì Pháp thuộc [79, Tr28]

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Căn cứ vào nội dung chính của các tác phẩm truyền thuyết tác giả Lê Chí

Quế chia truyền thuyết nước nhà thành ba loại là: Truyền thuyết về lịch sử, truyền thuyết về người anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa [63, Tr62]

Tác giả Đỗ Bình Trị lại đưa ra hai cách phân loại truyền thuyết dựa vào

nhiều tiêu chí để phân chia như sau: Cách thứ nhất là vừa căn cứ vào thời gian lịch

sử được phản ánh, vừa căn cứ vào phạn vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm, tác giả chia truyền thuyết thành hai bộ phận: Những truyền thuyết về thời các vua Hùng và những truyền thuyết về sau thời các vua Hùng Cách

thứ hai là căn cứ vào những đặc trưng chung của thể loại và sự khác biệt của đối tượng được phản ánh trong tác phẩm truyền thuyết, tác giả chia truyền thuyết thành

ba loại: Truyền thuyết về các địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết về nhân vật và sự kiện lịch sử [73, Tr74]

Tác giả Kiều Thu Hoạch lại căn cứ vào các nhân vật, sự kiện lịch sử, phong tục tập quán và các sản vật được phản ánh trong tác phẩm để chia truyền thuyết

thành ba loại: Truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phong vật [30, Tr114]

Qua cách phân loại của các nhà nghiên cứu văn học dân gian trong nước và ngoài nước về thể loại truyền thuyết chủng tôi nhận thấy việc phân loại truyền thuyết trên thế giới, là một vấn đề rất phức tạp, mỗi nhà khoa học lại có những quan điểm và những tiêu chí riêng khá thuyết phục cho việc phân loại của mình Tất cả các cách phân loại trên góp phần gợi mở cho chúng tôi có hướng đi phân loại truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang trong đề tài này

1.3.2 Các nhóm truyền thuyết tiêu biểu vùng Lục Đầu Giang

Trong quá trình điền dã ở các làng của vùng đất Lục Đầu Giang trong mấy tháng qua, chúng tôi chỉ tìm thấy khoảng hơn bốn mươi tác phẩm truyền thuyết Sau đây là bảng thống kê phân loại các truyền thuyết của hai huyện Quế Võ, Gia Bình

Chúng tôi nhận thấy rằng, việc phân loại truyền thuyết nói chung, truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang nói riêng cần dựa trên đặc trưng của thể loại, thời gian lịch sử và nội dung phản ánh của các tác phẩm, cũng cần căn cứ vào nhân vật được phản ánh, sự kiện lịch sử được phản ánh… để có cái nhìn chính xác, khách

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

quan về tác phẩm truyền thuyết Trên cơ sở kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, chúng tôi phân loại truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang ở

hai huyện Quế Võ, Gia Bình thành các nhóm chính sau:

- Nhóm truyền thuyết về những người theo Thánh Gióng đi đánh giặc

- Nhóm truyền thuyết về tướng quân Cao Lỗ (Cao Lỗ Vương)

- Nhóm truyền thuyết về các tướng của Hai Bà Trưng

- Nhóm truyền thuyết về Thánh Tam Giang

- Nhóm truyền thuyết về Nguyễn Minh Không

- Nhóm truyền thuyết về nhà Trần và Bến Bình Than

Ngoài những nhóm này thì vùng đất Lục Đầu còn có những truyền thuyết riêng lẻ kể về người anh hùng đánh thú dữ, người anh hùng chống giặc ngoại xâm của thời đại các vua Hùng và triều đại nhà Lý, truyền thuyết về các vị tổ nghề Tất

cả đã được chúng tôi tập hợp trong bảng thống kê ở phần phụ lục 1

Nhìn vào bảng thống kê chúng tôi có thể khẳng định mặc dù bị mai một, bị thất truyền nhưng đến nay truyền thuyết vùng đất Lục Đầu vẫn còn khá phong phú, nhiều nhất là các tác phẩm thời kỳ dựng nước và thời Bắc thuộc Các nhân vật trong truyền thuyết phần lớn là những anh hùng có công đánh giặc ngoại xâm bảo vệ dân làng, có một vài nhân vật là những người có công giúp dân trừ thú dữ, trị giao long như: Đức Thánh Ba có tài trị giao long và Lang Bố Đại Vương có tài trị con hổ đã thành tinh Ngoài ra cũng có những truyền thuyết kể về công lao của những vị tổ nghề làm gốm Phù Lãng, nghề đúc đồng Đại Bái, nghề khâu nón lá ở Lãng Ngâm, nghề tre trúc ở Xuân Lai… mang lại đời sống no đủ cho nhân dân

Trong luận văn này người viết không có tham vọng tìm hiểu tất cả những truyền thuyết ở bảng thống kê trong phần phụ lục 1, mà chỉ đi sâu tìm hiểu những nhóm truyền thuyết tiêu biểu là: truyền thuyết về Thánh Gióng, Thánh Tam Giang, Nguyễn Minh Không ở huyện Quế Võ và nhóm truyền thuyết về tướng Cao Lỗ, Các tướng của Hai Bà Trưng và truyền thuyết về nhà Trần và hội nghị Bình Than ở huyện Gia Bình và Quế Võ Đây là những nhóm truyền thuyết được lưu truyền khá rộng rãi trên địa bàn và được nhiều tác giả sưu tầm ghi chép lại trong sử sách, trong thần tích thần phả của địa phương

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

là những văn bản trong các sách báo được các nhà nho, nhà văn, nhà nghiên cứu sưu tầm và ghi chép lại Dù tồn tại ở dạng nào thì đây đều là những câu chuyện mang tính ly kỳ, hấp dẫn gần gũi với cuộc sống sinh hoạt, văn hóa tín ngưỡng của người dân ở Quế Võ, Gia Bình trong các thời kì lịch sử

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

Chương 2 GIÁ TRỊ TRUYỀN THUYẾT VÙNG ĐẤT LỤC ĐẦU GIANG

Ở chương hai chúng tôi sẽ đi tìm hiểu những giá trị phản ánh về mặt lịch sử

và về mặt văn học của các nhóm truyền thuyết tiêu biểu trên vùng đất Lục Đầu Giang như: Nhóm truyền thuyết về những người theo Thánh Gióng đi đánh giặc, nhóm truyền thuyết về Cao Lỗ, nhóm truyền thuyết về các tướng của hai Bà Trưng, nhóm truyền thuyết về thánh Tam Giang, nhóm truyền thuyết về Nguyễn Minh Không, nhóm truyền thuyết về các tướng nhà Trần và Bến Bình Than Để thấy được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của mỗi nhóm truyền thuyết này

2.1 Giá trị nội dung của các nhóm truyền thuyết vùng đất Lục Đầu Giang

2.1.1 Truyền thuyết Lục Đầu Giang phản ánh những giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc

Những nhóm truyền thuyết của vùng đất Lục Đầu phần lớn là những truyền thuyết lịch sử kể lại truyện tích, sự kiện lịch sử của các anh hùng chống ngoại xâm Chính vì vậy mỗi nhóm truyền thuyết được lưu truyền ở đây đều góp phần phản ánh một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc

Nhóm truyền thuyết về những người theo Thánh Gióng đi đánh giặc Ân ở vùng đất huyện Quế Võ được ra đời vào giai đoạn các vua Hùng trị vì đất nước và được khúc xạ qua nhiều lớp lang văn hóa của các thời kỳ lịch sử khác nhau góp phần phản ánh một giai đoạn lịch sử hào hùng của đất nước dưới thời các vua Hùng Theo lời kể của truyền thuyết, chúng tôi nhận thấy đây là những tác phẩm văn chương cổ xưa nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam Nó được ra đời ở thời điểm sơ khai của lịch sử dân tộc Thánh Gióng được dân gian gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như: Thiết Sung Thần Tướng hay Phù Đổng Thiên Vương hay Sóc Thiên Vương Quê hương Gióng ở làng Phù Đổng huyện Sóc Sơn Đây là một nhân vật vô cùng quen thuộc trong truyền thuyết lịch sử nước ta Và trong tín ngưỡng dân gian Thánh Gióng còn là một trong bốn vị thánh mà người Việt Nam

gọi là Tứ bất tử Vị Thánh này là hình ảnh tượng trưng cho tinh thần yêu nước, anh

dũng chiến đấu chống ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi đất nước của các vua Hùng Gióng ra trận chiến đấu bằng sức mạnh của tuổi trẻ, sức mạnh của một vị thần hội

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

tụ sức mạnh và lòng yêu nước của nhân dân Theo chân Gióng đi đánh giặc lúc bấy giờ không chỉ có các tướng lĩnh, quan lại trong triều đình của vua Hùng Vương thứ sáu mà còn có cả nhân dân khắp mọi nơi Do đó nhóm truyền thuyết về những người theo Gióng đi đánh giặc vô cùng phong phú trong đó có cả những truyền thuyết ở vùng đất Lục Đầu Giang như: Truyền thuyết về tướng quân Cao Uy, truyền thuyết về Nguyễn Tam Giang (có sách gọi là anh em thần vồ), truyền thuyết về Minh Hớn và Minh Vũ, truyền thuyết về những người con của Hán Công, truyền thuyết về Hồng Thánh Hiển Linh Đại Vương (ông tổ nghề rèn sắt)…Như vậy chúng tôi đã tìm thấy ở đây năm tác phẩm truyền thuyết về những người có liên quan đến Thánh Gióng Qua chân dung các nhân vật truyền thuyết trong năm tác phẩm này, tác giả dân gian muốn phản ánh một giai đoạn lịch oai hùng của dân tộc trong công cuộc kháng chiến bảo vệ vững vàng chủ quyền đất nước

Ngay từ thời Hùng Vương, huyện Gia Bình vốn là vùng đất ven sông Đuống nơi cửa sông Lục Đầu Đây là vùng đất cổ, phù sa mầu mỡ sớm là địa bàn cư trú, an

cư lập nghiệp của người việt cổ Dấu ấn lịch sử -văn hóa của người Việt cổ thời Hùng Vương và An Dương Vương còn để lại đậm nét ở vùng đất này, nơi đây còn nhiều đền thờ, nhiều truyền thuyết về các tướng lĩnh của Vua Hùng Vương thứ 18 Hùng Duệ Vương trong cuộc nội chiến “Hùng- Thục” để chuyển giao quyền lực lãnh đạo đất nước như: truyền thuyết về ba anh em Dũng Công, Hùng Công, Lục Công, truyền thuyết về tướng Quý Minh, truyền thuyết về Cao Sơn Hiền Hữu Đại vương… cuộc nội chiến kết thúc An Dương Vương rời vùng Núi Nghĩa Lĩnh xuống đóng đô ở vùng đồng bằng Cổ Loa Trong công cuộc nhà vua xây thành, chế nỏ bảo

vệ đất nước phải kể đến sự góp sức không nhỏ của một vị tướng tài đức quê ở Đại Than - Gia Bình đó là tướng quân “Cao Lỗ” nơi đây còn lưu truyền khá nhiều truyền thuyết dân gian về vị danh tướng này Truyền thuyết về Cao Lỗ giúp người đọc thấy được một giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc dưới thời vua An Dương Vương Người Việt cổ thật thông minh, sáng tạo trong việc xây Loa thành kiên cố

để bao vệ đất nước Người Việt còn có những tướng tài như Cao lỗ, văn võ song toàn sang tạo ra nỏ thần (Linh Quang Kim Trảo) Chiếc nỏ là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại giúp an Dương Vương bảo vệ đất nước, đánh tan những cuộc xâm lăng

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn

của Triệu Đà từ phương Bắc Nhóm truyền thuyết về Cao Lỗ còn góp phần lý giải

về những biến cố trong lịch sử dân tộc Triệu Đà có mưu cao kế hiểm nên đất nước

Âu Lạc từ một nước phong kiến tự chủ trở thành thuộc địa An Dương Vương lơ là việc phòng thủ đất nước, dẫn đến việc bí mật quốc gia bị Trọng Thủy đánh tráo Nước mất, nhà vua phải nhảy xuống biển tự tử vì hết đường chạy Sau lỗi lầm của

An Dương Vương tổ tiên ta phải trả giá bằng cuộc chiến đấu trường kỳ, gian khổ và

quyết liệt hơn của giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc

Triệu Đà thống trị nước ta từ năm 179 (TCN) đến năm 111 (TCN), nhà Hán đánh bại Triệu Đà, thu phục nước Nam Việt, trong đó có hai quận Giao chỉ, Cửu Chân là đất Âu Lạc cũ Trong thời kỳ nhà Hán cai trị, vùng đất kinh Bắc có vai trò lớn về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, xã hội, vì dân cư đông đúc, thuận tiện giao thông cả hai đường thủy và bộ Từ cuối thế kỷ thứ I (TCN) nhà Hán chuyển bộ máy thống trị từ Mê Linh về Luy Lâu (Thuận Thành- Bắc Ninh ngày nay) Nhà Hán đã thực hiện những chính sách cai trị nhân dân ta rất hà khắc May mắn thay đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất Trưng Trắc, Trưng Nhị và ở chu Diên là chàng trai Thi Sách dũng mãnh Cuộc hôn nhân giữa Thi Sách và Trưng Trắc là một việc tốt lành không chỉ cho nhân duyên của đôi trai tài gái sắc mà còn góp phần nhân lên sức mạnh của người Việt Sức mạnh ấy có thể xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán Vì

thế Tô Định giật mình hoảng sợ trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng Chu Diên là Thi Sách, nên hắn đã bắt giết Thi Sách Để trả thù

cho chồng, rửa nhục cho nước Trưng Trắc cùng em gái Trưng Nhị đã phất cờ khởi nghĩa Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng phản ánh một giai đoạn lịch sử oai hùng của dân tộc không sống nhục không sống quỳ của nhân dân ta Đó là tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, vào giai đoạn tăm tối nhất của lịch sử dân tộc dưới ách

đô hộ của nhà Hán Những người phụ nữ Nước Việt chân yếu tay mềm đã vùng lên chiến đấu đánh đuổi quân thù giải phóng đất nước Trong hơn bảy mươi tướng của Hai Bà Trưng phần lớn các tướng là nữ Chứng tỏ phụ nữ nước Nam ngay từ ngày

xưa đã anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang, không chỉ đảm việc nhà mà còn

giỏi việc nước Vua Tự Đức viết trong khâm định Việt sử thông giám cương mạc

Ngày đăng: 17/12/2019, 16:17

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w