Nói cách khác, sự phát triển ấy đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết làbản thân khoa học cũng cần phải được nghiên cứu một cách khoa học, cần được khái quátnhững lý thuyết về cơ chế và phương
Trang 1TẬP BÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRẺ EM
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……… 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG NGHIÊN CỨU TRẺ EM……… 8
1.1 Phương pháp luận nghiên cứu trẻ em……… 8
1.1.1 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học……… 8
1.1.2 Trẻ em là gì……….……… 11
1.1.2.1 Khái niệm……….………. 11
1.1.2.2 Quy luật phát triển của trẻ em……….……… 15
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em……… 16
1.2 Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu trẻ em ……… 19
1.2.1 Phép biện chứng duy vật vừa là nền tảng, vừa là kim chỉ nam trong nghiên cứu trẻ em 19 1.2.2 Quan điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu trẻ em ……… 21
1.2.3 Quan điểm tiếp cận lịch sử trong nghiên cứu trẻ em……… 23
1.2.4 Quan điểm tiếp cận tích hợp trong nghiên cứu trẻ em……… 24
1.2.5 Quan điểm tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu trẻ em……… 25
1.2.6 Quan điểm tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu trẻ em……… … 27
1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học về trẻ em……… ……… 28
1.3.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học…… ……… ………… 28
1.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học……… 28
1.3.1.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học……… 29
1.3.2 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học.……… 30
1.3.3 Hệ thống các phương pháp nghiên cứu trẻ em……… 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 33
CÂU HỎI VÀ NỘI DUNG ÔN TẬP CHƯƠNG 1……… 33
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRẺ EM……… 34
2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận trong nghiên cứu trẻ em… ……… 34
2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết.… ……… 35
2.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết……… … 36
2.1.3 Phương pháp cụ thể hóa lý thuyết……… ……… 37
2.1.4 Phương pháp giả thuyết……… ……… … 38
2.1.5 Phương pháp chứng minh……… ……… … 39
2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn trong nghiên cứu trẻ em……… … 40
2.2.1 Phương pháp quan sát……… …… ……… … 40
2.2.1.1 Khái niệm về phương pháp quan sát khoa học … …… ……… 40
Trang 32.2.1.2 Các loại quan sát… …… ……… ……… 41
2.2.1.3 Tiến trình quan sát ……… ……… 42
2.2.2 Phương pháp thực nghiệm.……… …… ……… … 44
2.2.2.1 Khái niệm về phương pháp thực nghiệm ……… ……… 44
2.2.2.2 Các loại phương pháp thực nghiệm ……… ……….………… 46
2.2.2.3 Tiến trình tổ chức nghiên cứu trẻ em bằng thực nghiệm………… ……….….……… 47
2.2.3 Phương pháp trắc nghiệm.……… …… ….……… … 49
2.2.3.1 Khái niệm về phương pháp trắc nghiệm ……… ……….……… 49
2.2.3.2 Cấu trúc của trắc nghiệm……… 50
2.2.3.3 Phương phắc trắc nghiệm trí tuệ trẻ em……….… 51
2.2.3.4 Các dạng bài tập trong trắc nghiệm khách quan dùng cho trẻ em………. 52
2.2.4 Phương pháp trò chuyện……… 54
2.2.4.1 Khái niệm về phương pháp trò chuyện ……….……….… 54
2.2.4.2 Phân loại phương pháp trò chuyện……… 54
2.2.4.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp trò chuyện……… 55
2.2.4.4 Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp trò chuyện……… 56
2.2.5 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động……… 57
2.2.5.1 Khái niệm về phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động……… 57
2.2.5.2 Các loại sản phẩm hoạt động của trẻ em……… 57
2.2.5.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động……….……… 58
2.2.5.4 Một số yêu cầu khi sử dụng phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ……… 58
2.2.6 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử trẻ em……… ……… 59
2.2.6.1 Khái niệm về phương pháp nghiên cứu tiểu sử trẻ em……….……….……… 59
2.2.6.2 Nội dung cơ bản về tiểu sử trẻ em……….……….……….……… 59
2.2.6.3 Những yêu cầu khi sử dụng phương pháp nghiên cứu tiểu sử trẻ em……… ……… 61
2.2.7 Phương pháp điều tra viết……… ……… 61
2.2.7.1 Khái niệm về phương pháp điều tra viết……….……….……….……… 61
2.2.7.2 Các bước tiến hành điều tra……….……….……….……… 61
2.2.8 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm……… ……… 67
2.2.8.1 Khái niệm về phương pháp tổng kết kinh nghiệm……….……….…… 67
2.2.8.2 Tiến trình tổng kết kinh nghiệm……….……… ………….…… 68
2.2.8.3 Một số điểm lưu ý khi sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn…….……… ………….…… 69
2.2.9 Phương pháp sử dụng toán học trong nghiên cứu trẻ em ……… 69
2.3 Thực hành……… ……… ……… 74
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… …… 76
CÂU HỎI VÀ NỘI DUNG ÔN TẬP CHƯƠNG 2…… ……… …… 76 PHỤ LỤC……… ……….…… 78
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên có vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống
giáo dục quốc dân, như lời Bác Hồ từng căn dặn: “Dạy trẻ cũng như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt” Với mục tiêu hình thành ở trẻ những năng lực và phẩm chất chung của con người
mới, góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách, giáo dục Mầm non của nước tahiện nay đang được đổi mới theo hướng lấy trẻ làm trung tâm Điều đó có nghĩa mọi hoạtđộng giáo dục hướng vào trẻ em, vì sự phát triển của trẻ em Ðể tổ chức các hoạt độngchăm sóc - giáo dục trẻ em lứa tuổi mầm non theo xu hướng này, nhà giáo dục cần phảihiểu rõ đặc điểm phát triển tâm sinh lí của trẻ em lứa tuổi mầm non nói chung và của trẻ
em lứa tuổi mầm non trong địa phương mình nói riêng Do vậy việc nghiên cứu sự pháttriển của trẻ em trở thành một nhu cầu thiết yếu làm cơ sở cho việc xây dựng nội dung vàlựa chọn các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức các hoạt động chăm sóc - giáodục trẻ
Bên cạnh đó, chương trình đào tạo giáo viên mầm non ở nước ta đang hướng vàoviệc bồi dưỡng cho sinh viên cả về mặt kiến thức và mặt kỹ năng thực hành chăm sóc,giáo dục trẻ Vì thế, học phần Phương pháp nghiên cứu trẻ em là một trong số nhiều họcphần đặc thù quan trọng, đem đến cho sinh viên những hiểu biết nhất định về nghiên cứukhoa học giáo dục mầm non nói chung và trẻ em nói riêng, hình thành khả năng nghiên cứu,đánh giá sự phát triển của trẻ, qua đó bồi dưỡng thêm lòng yêu nghề, yêu trẻ Thông qua họcphần này, sinh viên được trang bị những kiến thức về mặt lý luận trong nghiên cứu trẻ em,giúp họ nắm được các phương pháp nghiên cứu, được thực hành tổ chức các hoạt độngnghiên cứu, từ đó bồi dưỡng kỹ năng thực hiện hoạt động nghiên cứu trẻ em ở trườngmầm non
Học phần Phương pháp nghiên cứu trẻ em được chính thức đưa vào thực hiện trong
kế hoạch đào tạo ngành Giáo dục mầm non dành cho sinh viên năm thứ 3, kì 5, gồm 3đơn vị học trình bằng 45 tiết Theo mô tả của học phần và chương trình chi tiết do Bộ GD
- ĐT ban hành, học phần Phương pháp nghiên cứu trẻ em gồm các nội dung cơ bản sau:Phương pháp luận nghiên cứu trẻ em, các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu trẻ em,
Trang 6phương pháp nghiên cứu khoa học trẻ em, các phương pháp nghiên cứu lý luận và thực tiễntrong nghiên cứu trẻ em.
Để nâng cao chất lượng dạy và học học phần này, giảng viên chuyên ngành và sinhviên cần có một tài liệu mang tính chất tổng hợp gồm tất cả các vấn đề lý luận cũng nhưthực tiễn về việc nghiên cứu trẻ em ở trường mầm non Nghiên cứu trẻ em là một vấn đềkhó khăn và phức tạp Kết quả nghiên cứu phụ thuộc khá lớn vào việc lựa chọn và sửdụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp Trong tài liệu này, chúng tôi giới thiệu nhữngvấn đề cơ bản, hiện đại về việc nghiên cứu trẻ em, từ các quan điểm tiếp cận mang tínhđịnh hướng của phương pháp luận đến các phương pháp nghiên cứu cụ thể, giúp sinh viên
có thể áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ em Vì vậy, việc viết tập bài giảng Phương pháp nghiên cứu trẻ em là cầnthiết Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi tham gia viết tập bài giảng với mong muốn giúp sinhviên và giảng viên bộ môn có thêm tài liệu nhằm nghiên cứu, giảng dạy và học tốt họcphần này
-Tập bài giảng được chia thành 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung trong nghiên cứu trẻ em
Chương 2: Các phương pháp nghiên cứu trẻ em
Sự phân chia như vậy phù hợp với chương trình chi tiết đã được ban hành
Tập bài giảng Phương pháp nghiên cứu trẻ em khi hoàn thành sẽ là tài liệu thamkhảo chính cho các giảng viên giảng dạy học phần và sinh viên thuộc chuyên ngành giáodục mầm non năm thứ 3, học kỳ V Tuy nhiên, tập bài giảng được biên soạn lần đầu, chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp để tài liệu hoànthiện hơn
Tác giả
Trang 7Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG NGHIÊN CỨU TRẺ EM
(10 tiết lý thuyết)
*PHẠM VI KIẾN THỨC:
Phương pháp luận nghiên cứu trẻ em, các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu trẻ
em, phương pháp nghiên cứu khoa học trẻ em
*MỤC TIÊU: Học xong chương 1, sinh viên đạt được :
1 Kiến thức:
- Nắm được thế nào là phương pháp luận nghiên cứu khoa học và các phương phápnghiên cứu trẻ em
- Hiểu được các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu trẻ em
- Hiểu và phân biệt được các phương pháp nghiên cứu khoa học trẻ em
2 Kỹ năng:
- Bước đầu có kĩ năng vận dụng các phương pháp vào quá trình nghiên cứu trẻ em
- Có kĩ năng nghiên cứu tài liệu, kĩ năng thảo luận nhóm
3 Thái độ:
- Bồi dưỡng cho lòng yêu nghề, yêu trẻ
- Sinh viên có ý thức học tập bộ môn
*NỘI DUNG
1.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU TRẺ EM
1.1.1 Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Từ nửa sau thế kỉ XX, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật
đã chứng minh vai trò của khoa học đối với sự tiến bộ xã hội, mở ra một kỉ nguyên bùng
nổ thông tin dữ dội, mang lại cho nhân loại một kho tàng tri thức đồ sộ Các thành tựunghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống Khoa học đã làmđảo lộn nhiều quan niệm truyền thống, nó làm cho sức sản xuất xã hội tăng lên rất nhiềulần so với trước đây
Về phần mình, bản thân khoa học càng cần được nghiên cứu một cách khoa học:Một mặt phải tổng kết thực tiễn nghiên cứu khoa học để khái quát những lý thuyết về quátrình sáng tạo khoa học, mặt khác phải tìm ra được các biện pháp tổ chức, quản lý và
Trang 8nghiên cứu khoa học tốt hơn cho bộ máy khoa học vốn đã mạnh lại phát triển mạnh hơn
và đi đúng quỹ đạo hơn Nói cách khác, sự phát triển ấy đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết làbản thân khoa học cũng cần phải được nghiên cứu một cách khoa học, cần được khái quátnhững lý thuyết về cơ chế và phương pháp nghiên cứu của chính khoa học, tìm ra cáchthức tổ chức có hiệu quả cho các quá trình nghiên cứu khoa học
Trong số các môn khoa học hiện đại có một số môn đã đề cập đến quá trình nghiêncứu khoa học một cách nghiêm túc và có hệ thống:
- Bộ môn thứ nhất là “Lịch sử khoa học tự nhiên và kĩ thuật” tổng kết các quy luậtlịch sử của sự phát triển, tiến bộ của các khoa học và kĩ thuật
- Bộ môn thứ hai là “Khoa học luận” nghiên cứu tổng hợp lý luận và tổng kết kinhnghiệm hoạt động của các hệ khoa học và kĩ thuật, nhằm dự báo tiềm lực khoa học và đềxuất các giải pháp tác động về mặt tổ chức và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của hoạtđộng nghiên cứu khoa học
- Bộ môn thứ ba, đặc biệt quan trọng là “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học”.Phương pháp luận (Methology) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp là methodos và logos.Methodos là phương pháp, cách thức; logos là lý thuyết, học thuyết Như vậy, phươngpháp luận là lý thuyết về phương pháp, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là lýthuyết về phương pháp nhận thức khoa học hay lý thuyết về con đường nhận thức khámphá thế giới
Như vậy, bản thân khoa học lại trở thành đối tượng nghiên cứu của các khoa họckhác ở cấp độ cao hơn Đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu khoa học là phương phápluận nghiên cứu khoa học
Vậy có thể hiểu khái niệm phương pháp luận nghiên cứu khoa học như sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là hệ thống lí thuyết về phương pháp nhận thức khoa học, bao gồm các lí thuyết về sáng tạo, những quan điểm tiếp cận đối tượng khoa học cùng với hệ thống lí thuyết về phương pháp logic và tiến hành nghiên cứu các công trình khoa học cũng như phương pháp tổ chức các quá trình nghiên cứu đó.
Như vậy, phương pháp luận nghiên cứu khoa học là một lý thuyết bao gồm các bộphận sau đây:
Trang 9- Hệ thống các luận điểm chung nhất với tư cách là những quan điểm, những cách tiếpcận đối tượng khoa học Chúng giữ vai trò chỉ đạo quá trình tổ chức nghiên cứu khoa học.
- Hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học Phương pháp nhận thứcnày nằm ngay trong logic nhận thức, đồng thời là quá trình phản ánh cái khách quan vào ýthức chủ quan của con người Phương pháp luận nghiên cứu khoa học đề cập tới cơ chếsáng tạo khoa học, logic và kĩ thuật nghiên cứu cũng như kĩ năng thực hiện quá trìnhnghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu khoa học là một hoạt động có mục đích và có tổ chức của xã hội, vìvậy, phương pháp luận nghiên cứu khoa học bao gồm cả lý thuyết về quá trình tổ chức,thực hiện và đánh giá một công trình khoa học cũng như nghiên cứu ứng dụng chúng vàothực tiễn cuộc sống, đó là công nghệ và chuyển giao công nghệ
Nhiệm vụ của phương pháp luận nghiên cứu khoa học:
- Làm sáng tỏ bản chất của khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kếtcác quy luật phát triển của khoa học hiện đại
- Làm sáng tỏ cơ chế tư duy sáng tạo trong nhận thức của nhà khoa học và các kĩnăng thực hành của họ
- Nghiên cứu những quan điểm tổng quát, những cách tiếp cận đối tượng nhận thức,đồng thời xây dựng hệ thống lí thuyết về phương pháp nghiên cứu khoa học
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục là lý thuyết về phương pháp nghiêncứu các hiện tượng giáo dục của một chuyên ngành khoa học, về thực chất là vận dụngnhững lý thuyết chung vào nghiên cứu một lĩnh vực của hiện thực, một hiện tượng đặcbiệt của xã hội loài người - hiện tượng giáo dục và đào tạo
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục có hai chức năng: Chức năng thếgiới quan và chức năng nhận thức các hiện tượng giáo dục
- Với chức năng thế giới quan, phương pháp luận nhận thức khoa học giáo dục phântích các quan điểm và cách tiếp cận hiện tượng giáo dục, nhằm hướng dẫn quá trìnhnghiên cứu sáng tạo của các nhà giáo dục
- Với chức năng nhận thức, phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục đề cậptới các phương pháp nghiên cứu hiện tượng giáo dục, bao gồm cả lý thuyết về cấu trúc logiccủa một công trình khoa học và các giai đoạn tiến hành một công trình khoa học cụ thể
Trang 10Phương pháp luận có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu khoahọc Phương pháp luận một mặt vạch ra con đường, bước đi trong quá trình nghiên cứucác đề tài khoa học, đồng thời tìm ra cấu trúc logic nội dung của các công trình đó.Phương pháp luận nghiên cứu khoa học cũng chú ý đến phương pháp tổ chức, hoạt độngnghiên cứu khoa học, coi đó là một khâu ứng dụng các thành tựu khoa học nhằm nâng caotiềm lực khoa học và tổ chức quá trình nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao.
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học là kết quả của quá trình khái quát lý thuyết
và thực tiễn nghiên cứu khoa học Nó trở thành công cụ sắc bén để hướng dẫn tất cả nhữngngười nghiên cứu khoa học cũng như các nhà tổ chức hoạt động khoa học
Phương pháp luận có chức năng đặc biệt quan trọng là hướng dẫn thực hành nghiêncứu khoa học Trong nghiên cứu khoa học, khó có đề tài nào lại không liên quan đến vấn
đề phương pháp luận Phương pháp luận vừa là cơ sở lý luận vừa là kim chỉ nam cho mọi
đề tài nghiên cứu khoa học Nắm vững phương pháp luận là nắm được con đường đi tìmchân lý
Nghiên cứu trẻ em là một hệ thống khoa học mang tính phức hợp, nó đòi hỏi cóphương pháp luận rõ ràng, chính xác trên cơ sở hiểu về khái niệm trẻ em mới đem lạinhững thành tựu đáng tin cậy, phục vụ tốt cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục trẻ
1.1.2 Trẻ em là gì?
1.1.2.1 Khái niệm
a Xét trên bình diện sinh học
Mọi trẻ em đều được kế thừa cấu trúc và chức năng cơ thể từ thế hệ trước Ngay từlúc mới ra đời, đứa trẻ đã nhận được một hệ thống thần kinh và một bộ não có khả năngtrở thành một cơ quan hoạt động tâm lý cực kì phức tạp
Tính chất đặc biệt co giãn, khả năng học tập là một đặc điểm tối quan trọng để phânbiệt bộ não con người với bộ não con vật Ở con vật, phần lớn bộ não đã bị chất đầynhững hình thái hành vi từ khi ra đời, cơ chế bản năng đã có sẵn, nói cách khác, các hìnhthái hành vi đã được chuyển giao bằng cơ chế di truyền sinh vật từ thế hệ trước sang thế
hệ sau Còn ở trẻ em, phần lớn bộ não đang còn trống, các đặc điểm hành vi của conngười và các phẩm chất tâm lý người chưa có sẵn từ trước trong bộ não trẻ, nhưng nó đãsẵn sàng tiếp nhận và gìn giữ những bài học mà trẻ tiếp thu được trong cuộc sống và giáo
Trang 11dục Khoa học cũng đã chứng minh được rằng quá trình hình thành bộ não ở con vật thực
tế đã kết thúc khi con vật ra đời, còn bộ não của con người thì vẫn tiếp tục hình thành saukhi ra đời và tùy thuộc vào điều kiện trong đó đứa trẻ sống
Cho đến nay, bộ não của người thay đổi rất ít so với thời tổ tiên của chúng ta sốngcách đây hàng chục nghìn năm Đứng về phía loài mà xét, đối với con người, các quy luậttiến hóa sinh vật đã mất hết hiệu lực Sự chọn lọc tự nhiên không còn tác dụng đối vớicon người nữa vì con người đã biết cách cải tạo môi trường sống bằng lao động nhằmthỏa mãn các nhu cầu của mình Như vậy, con người đã tách ra khỏi quá khứ động vật vàtrở thành một sáng tạo mới của lịch sử Tuy nhiên, cấu trúc hình thái cơ thể của một đứatrẻ cũng chưa phải là cấu trúc hình thái cơ thể của một người lớn Trong suốt thời kì thơ
ấu, từ lọt lòng cho đến tuổi trưởng thành, hình thái cơ thể của trẻ tăng trưởng khá mạnh
mẽ (sự tăng lên về chiều cao và cân nặng, sự thuần thục dần của các cơ quan nội tạng,nhất là hệ thần kinh và bộ não…) Đặc biệt trong 7 năm đầu tiên, khối lượng của bộ nãotăng lên khoảng ba lần rưỡi cùng với sự hoàn thiện các chức năng của nó
Mới ra đời, đứa trẻ được thừa hưởng một số phản xạ không điều kiện mang tính bẩmsinh cần thiết cho sự sống của nó Trẻ sơ sinh có hẳn một hệ thống các nhu cầu cơ thể:nhu cầu oxy, nhiệt độ thích hợp, thức ăn… cùng với những cơ chế phản xạ đã được tạo ra
để giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu đó Sau này, các tác động khác nhau của môi trường làmnảy sinh các phản xạ tự vệ và phản xạ định hướng Có thể nói, dù những cơ sở tự nhiên đókhông làm nảy sinh ra các phẩm chất tâm lý nhưng lại là điều kiện cần thiết để các phẩmchất tâm lý được hình thành Trên các cơ sở tự nhiên đó, các phản xạ có điều kiện dầnđược nảy sinh, làm cho các phản ứng của trẻ đối với tác động bên ngoài ngày càng mởrộng và phức tạp dần
Như vậy, xét trên bình diện sinh học, khái niệm trẻ em có thể hiểu là một cấu trúc hình thái cơ thể người còn non nớt, đang được tăng trưởng mạnh mẽ về tổ chức và chức năng.
Cơ thể đang tăng trưởng đó là mảnh đất phì nhiêu để tiếp nhận các kinh nghiệm xã hội.
b Xét trên bình diện văn hóa.
Trong khi thế giới động vật thực hiện việc chuyển giao hành vi cùng với cấu trúchình thái cơ thể cho thế hệ sau bằng con đường di truyền sinh vật, thì với con người, cáchình thái hoạt động vốn có cùng với tri thức, kĩ năng, phẩm chất tâm lý lại được chuyển
Trang 12giao từ thế hệ trước sang thế hệ sau bằng con đường hoàn toàn khác - con đường di truyền
xã hội hay kế thừa văn hóa
Các thế hệ trước để lại các kinh nghiệm xã hội, tri thức, kĩ năng và các phẩm chấttâm lý của mình trong các sản phẩm lao động, trong các sản phẩm của nền văn hóa vậtchất (vật dụng sinh hoạt, công cụ lao động…) và trong các sản phẩm của nền văn minhtinh thần (ngôn ngữ, khoa học, nghệ thuật…) Thế hệ sau tiếp nhận những gì mà thế hệtrước tạo ra thông qua con đường hoạt động và giao tiếp Trong khi tiếp xúc với thế giớixung quanh, với nền văn hóa nhân loại, trẻ dần lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội được kếttinh trong đó Tuy nhiên, đứa trẻ không thể tự hiểu được các thành quả của nền văn hóanhân loại đó, mà phải thông qua sự hướng dẫn, dạy dỗ thường xuyên của người lớn Nhưvậy, sự phát triển của trẻ em gắn liền với sự phát triển của lịch sử nhân loại
Thuở bình minh của loài người, trẻ em được coi như người lớn thu nhỏ lại, nghĩa làchỉ có sự khác biệt về cỡ, về lượng chứ không khác nhau về chất Hoạt động của ngườilớn và trẻ em đều được thực hiện với những động tác giống hệt nhau Hơn nữa, nhữngthao tác lao động sản xuất lúc đó không khác bao nhiêu so với thao tác sử dụng công cụsinh hoạt Điều này làm cho sự khác biệt về tâm lý giữa người lớn và trẻ em là khôngđáng kể Xã hội ngày một phát triển văn minh, hiện đại đã kéo theo sự khác biệt lớn giữacông cụ lao động với công cụ sinh hoạt, tạo ra sự khác biệt giữa người lớn và trẻ em Lúcnày, trẻ em cần được người lớn hướng dẫn hay dạy dỗ để nắm bắt được kiến thức, kĩ năng
sử dụng công cụ lao động, tức là trẻ cần được học để trở thành người lao động Xã hộicàng phát triển, tri thức con người tích lũy ngày càng phong phú, phức tạp hơn, buộc trẻphải chờ đến một lứa tuổi nào đó mới có thể lĩnh hội được Điều đó có nghĩa là trẻ cầnđược chơi rồi mới đi học ở trường để lĩnh hội các tri thức khoa học
Khi nghiên cứu về các chức năng tâm lý cấp cao, L.X.Vưgôtxky đã khẳng định:
“Văn hóa sáng tạo ra các hình thái đặc biệt của hành vi, văn hóa thay đổi loại hình hoạt động của các chức năng tâm lý, văn hóa kiến tạo nên các tầng mới trong hệ thống luôn phát triển của hành vi con người Trong quá trình phát triển lịch sử xã hội con người, thay đổi phương thức và biện pháp hành vi của mình, chuyển hóa các tố chất và các chức năng thiên nhiên, tạo lập các dạng thức mới, văn hóa đặc thù của hành vi” (Phạm Minh Hạc Tâm lý học Vưgôtxky Tập I, tr.130 NXB Giáo dục Hà Nội 1997) Như vậy, sự phát
Trang 13triển các chức năng tâm lý cấp cao không phụ thuộc vào quá trình tiến hóa sinh vật,nhưng lại phụ thuộc vào quá trình phát triển lịch sử - văn hóa.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi đã cho rằng một đứa trẻ Việt Nam lên 4 tuổi cũng tức là
4 tuổi cộng với 4000 năm lịch sử, cũng tức là nó lĩnh hội không chỉ nền văn hóa đươngđại mà còn lĩnh hội nền văn hóa đã được gây dựng từ 4000 năm lịch sử trước đây Điều
đó nói lên rằng khi nghiên cứu trẻ em cần phải tính đến bề dày lịch sử của nền văn hóadân tộc với những ưu điểm và nhược điểm của nó Nói cách khác, khi nghiên cứu trẻ emphải tính đến bản sắc dân tộc
Tóm lại, trên bình diện văn hóa có thể hiểu trẻ em là một khái niệm mang tính chất lịch sử-văn hóa Khái niệm đó luôn luôn thay đổi cùng với sự thay đổi của các nền văn hóa Hơn thế nữa nó mang trong mình truyền thống văn hóa dân tộc.
c Xét trên bình diện cá thể (tâm lí cá nhân)
Đối với sự phát triển cá thể trẻ em, bình diện sinh học và bình diện văn hóa luôn hòa
quyện vào nhau, khó mà tách bạch một cách rạch ròi, như L.X.Vưgôtxky đã viết: “Hành
vi của người lớn, văn hóa hiện nay là kết quả của cả hai quá trình khác nhau của sự phát triển tâm lý Một mặt đó là quá trình tiến hóa sinh vật của các loài động vật dẫn đến chỗ nảy sinh loài Homosapiens Mặt khác là quá trình phát triển lịch sử đưa người mông muội nguyên thủy thành người văn hóa Trong nguồn gốc chủng loại, hai quá trình này – quá trình phát triển sinh vật và quá trình phát triển văn hóa của hành vi tách bạch nhau như hai quá trình phát triển độc lập; trong nguồn gốc cá thể, hai quá trình này bện lại với nhau” ((Phạm Minh Hạc Tâm lý học Vưgôtxky Tập I, tr.129 NXB Giáo dục Hà Nội 1997).
Một trong những phẩm chất tâm lý tối quan trọng của con người là ngôn ngữ - khảnăng nghe được tiếng nói, phân biệt và nhận ra các âm thanh của ngôn ngữ Không mộtloài động vật nào có được khả năng này Ở đứa trẻ, khi sinh ra đã nhận được ở tự nhiênmột cơ quan thính giác và một bộ phận tương ứng trong hệ thần kinh nên có thể phân biệtđược âm thanh của ngôn ngữ Tuy nhiên, khả năng tri giác về ngôn ngữ này bản thân nóchỉ phát triển trong quá trình lĩnh hội ngôn ngữ, khi các cơ quan thính giác, cơ quan phát
âm … đã đạt tới một độ chín muồi nhất định cùng với sự tiếp nhận tiếng nói (một thành tựuvăn hóa của loài người) trong quá trình được người lớn dạy cho từ đơn giản đến phức tạp
Trang 14Trẻ mới sinh ra còn rất yếu ớt, chưa có bất cứ một chức năng tâm lý bậc cao nào.Khác với người mông muội, trẻ sinh ra trong một môi trường văn hóa đã có sẵn Trongmôi trường đó, bản thân đứa trẻ bằng hoạt động của mình với sự dìu dắt, giúp đỡ củangười lớn đã tạo ra các hình thái thích nghi với nền văn hóa Từ lọt lòng đến lúc trưởngthành, mỗi đứa trẻ phải trải qua một quá trình phát triển bao gồm nhiều thời kì, nhiều giaiđoạn, nhiều pha Mỗi giai đoạn phát triển đều mang những đặc điểm riêng, đặc trưng chomỗi đứa trẻ Từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau là một bước chuyển biến mang tínhnhảy vọt, có sự biến đổi về chất và sự phát triển ở mỗi giai đoạn vừa là kết quả của giaiđoạn trước đó, vừa là tiền đề cho bước phát triển tiếp theo Khi chuyển từ giai đoạn pháttriển này sang giai đoạn phát triển khác đều xuất hiện những cấu tạo tâm lí mới chưa từng
có trong các giai đoạn phát triển trước Quá trình phát triển đã hình thành ở mỗi cá thể trẻ
em một nhân cách mang tính độc đáo có một không hai, tức là một cá thể Người - mỗi cánhân với mỗi nét tâm lý độc đáo của mình
Như vậy, đứng trên bình diện cá thể, trẻ em được coi là một thực thể đang phát triển, là một thực thể tự vận động theo quy luật của bản thân, nhưng thường xuyên có sự dạy dỗ của người lớn Trong quá trình vận động đó, giai đoạn sau bao giờ cũng là giai đoạn phát triển mới của đời sống cá thể và bao giờ cũng phủ định giai đoạn phát triển trước để dần dần mỗi trẻ em thành người lớn và chính người lớn là hình thức phủ định của trẻ em.
Từ những vấn đề đã phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm: Trẻ em là một thực thể đang phát triển theo những quy luật riêng với sự thống nhất giữa sản phẩm tiến hóa vật chất ở bậc thang cao nhất của tự nhiên và sản phẩm phát triển đỉnh cao của xã hội loài người, bằng con đường tích cực hoạt động của cá nhân để lĩnh hội và sử dụng các sản phẩm nền văn hóa xã hội cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân.
1.1.2.2 Quy luật phát triển của trẻ em
a Sự phát triển của trẻ diễn ra với một tốc độ mạnh mẽ.
Từ khi cất tiếng khóc chào đời đến tuổi trưởng thành, sự phát triển của trẻ diễn racực kỳ mạnh mẽ Đầu tiên chỉ là những phản xạ không điều kiện mang tính bẩm sinh thiếtyếu cho sự sống còn của trẻ Sau này, trong quá trình tiếp xúc với môi trường xung quanh,nhờ có bộ óc tinh vi cùng với hệ thần kinh nhạy bén được thừa hưởng từ thế hệ trước, hệ
Trang 15thống các phản xạ có điều kiện dần được hình thành, giúp trẻ tiếp thu các kinh nghiệm xãhội, làm cho đời sống tâm lý người được hình thành và phát triển nhanh chóng.
b Sự phát triển của trẻ diễn ra không đồng đều.
Sự phát triển của trẻ mang tính không đồng đều Tính không đồng đều thể hiện trongbản thân mỗi một đứa trẻ và trong cả mối quan hệ với những trẻ khác
Trong tiến trình phát triển của mỗi cá nhân, có giai đoạn tốc độ phát triển nhanh,cũng có giai đoạn tốc độ phát triển chậm hơn Trẻ càng nhỏ, tốc độ phát triển càng nhanh,sau đó chậm lại, rõ nhất là về mặt sinh học (3 tháng biết lẫy, 7 tháng biết bò, 9 tháng lò dòbiết đi) Về sự phát triển tâm lý, càng lớn, chất lượng của sự phát triển càng cao (sự biếnđổi về chất) Mỗi một giai đoạn phát triển tâm lý có sự phát cảm của một chức năng tâm
lý nào đó, (ví dụ trẻ 3 tuổi có sự phát cảm của chức năng ngôn ngữ ), vì thế nhà giáo dụcphải biết chớp thời cơ để có những tác động kịp thời, phù hợp nhằm tạo ra sự phát triểntối ưu cho trẻ, song không được nóng vội, đốt cháy giai đoạn
Xét trong mối quan hệ với những trẻ khác, các giai đoạn mà mọi trẻ đều phải trảiqua là như nhau nhưng tốc độ, nhịp độ phát triển của mỗi đứa trẻ (cùng độ tuổi) trongtừng giai đoạn có sự khác nhau Sự khác biệt ấy có thể quan sát được ở mọi phương diệnnhư thể chất (chiều cao, cân nặng, khả năng vận động ) và tâm lý tinh thần (tính cách,hứng thú, ngôn ngữ, khả năng nhận thức ) Nguyên nhân của sự không đồng đều này là
do có sự khác biệt về những điều kiện bên trong (cấu trúc giải phẫu sinh lí khác nhau )
và những khác biệt về điều kiện bên ngoài (giáo dục, gia đình, hoàn cảnh sống ) Nhưvậy, mỗi trẻ em là một khách thể riêng biệt, không trẻ nào giống trẻ nào, đó chính là nguồngốc của phương pháp giáo dục cá biệt trong dạy học
1.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.
a Yếu tố sinh học (bẩm sinh - di truyền).
Sự phát triển của trẻ em chịu sự chi phối không nhỏ của các yếu tố sinh học của bảnthân đứa trẻ - cái mà chúng được thừa hưởng từ thế hệ trước thông qua con đuờng bẩmsinh di truyền Các yếu tố bẩm sinh di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên, là cơ sở vậtchất cho sự hình thành và phát triển nhân cách Các yếu tố bẩm sinh di truyền như đặcđiểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu tạo của não, cấu tạo và hoạt động của các giácquan… Những yếu tố này sinh ra đã có do bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị
Trang 16(bẩm sinh) Di truyền là sự tái tạo ở đời sau những thuộc tính sinh học có ở đời trước, là
sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm những phẩm chất nhất định (sứcmạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới dạng những tư chất và năng lực) đã được ghi lại trong
hệ thống gen di truyền
Sinh ra lành lặn, khỏe mạnh là dấu hiệu quan trọng về sự phát triển bình thường củamột đứa trẻ, và nó cũng chỉ phát triển bình thường được khi được nuôi dưỡng, chăm sócmột cách chu đáo, khoa học Bằng các công trình nghiên cứu, các nhà tâm lý, giáo dụchọc đều đã khẳng định rằng yếu tố sinh học là tiền đề vật chất của mọi sự phát triển, nóquy định chiều hướng, tốc độ, nhịp độ của sự phát triển Trong cùng một hoạt động, cùngmột môi trường như nhau thì đứa trẻ có năng khiếu (cái được thừa hưởng từ thế hệ trước)thường hoạt động tích cực và hiệu quả hơn các đứa trẻ khác
Tuy nhiên, các nhà sư phạm cũng khẳng định rằng, năng khiếu, tư chất chỉ là tiềmnăng cho sự phát triển, phải đến một độ tuổi nhất định mới bộc lộ Nó cũng chỉ bộc lộ vàphát huy tác dụng trong môi trường hoạt động thích hợp, dưới sự hướng dẫn, dạy dỗ củanhà giáo dục và sự nỗ lực hoạt động của bản thân đứa trẻ
b Yếu tố môi trường
Sự phát triển của trẻ em chịu sự chi phối của môi trường sống của trẻ Đó chính lànhững hoàn cảnh tự nhiên và xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng trực tiếp đếnđời sống, hoạt động và sự phát triển nhân cách của con người Môi trường có thể đượcchia thành 2 loại là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ngoài ra, môi trường cònđược phân chia theo mức độ ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ em, là môitrường lớn: kinh tế, xã hội và môi trường nhỏ: gia đình, trường mầm non
Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường xã hội có tầm quan trọngđặc biệt vì nếu không có xã hội loài người thì những tư chất có tính người cũng không thểphát triển được Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể được thực hiện trongmột môi trường nhất định Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện
và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó giúp trẻ chiếm lĩnh được cáckinh nghiệm để hình thành và phát triển nhân cách của mình Tuy nhiên, tính chất và mức
độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc
Trang 17vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùythuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ nhận thức của mỗi cá nhân.
Môi trường được xem là điều kiện cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em.Một đứa trẻ sinh ra có đủ yếu tố sinh học, nhưng vì lý do nào đó không được sống trongmôi trường xã hội loài người thì không thể có nhân cách của con người được Nhữngbằng chứng của nhiều nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh điều này Sự phong phú
về đời sống tinh thần của đứa trẻ phụ thuộc vào môi trường sống và hoạt động của chúng.Thay đổi môi trường sống và hoạt động là điều kiện quan trọng để thay đổi sự phát triểnnhân cách trẻ em
c Yếu tố giáo dục
Giáo dục là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện cóhiệu quả các mục đích đã đề ra Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành vàphát triển nhân cách Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác nhưbẩm sinh - di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được Nói cách khác, giáodục giữ vai trò định hướng, tổ chức và điều khiển sự phát triển nhân cách trẻ em
Trẻ sinh ra có thể thừa hưởng yếu tố sinh học, được sống trong xã hội loài người,nhưng nếu thiếu sự dạy dỗ của người lớn thì nhân cách đó cũng không thể phát triển hoànthiện được Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể đi trước hiện thực và thúc đẩy nóphát triển Giáo dục có giá trị định hướng sự hình thành phát triển nhân cách Giáo dụcthúc đẩy sức mạnh bên trong khi trẻ nắm bắt được nhu cầu, động cơ, hứng thú và nó phùhợp với quy luật phát triển bên trong của cá nhân Vì thế, giáo dục tạo cơ hội thuận lợicho sự phát triển tối ưu mọi khả năng của trẻ Bên cạnh đó giáo dục còn có tầm quantrọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt dobệnh tật gây ra cho con người Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu vàlàm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội
Đối với trẻ mầm non, giáo dục gia đình giữ vai trò quan trọng Có thể nói, gia đìnhchính là trường học đầu tiên của đứa trẻ Cha mẹ, đặc biệt là người mẹ chính là ngườithầy dạy đầu tiên của các em
Trang 18Tuy nhiên không nên tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhâncách Giáo dục không thể tách rời tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện nhân cách ở mỗi
cá nhân
d Yếu tố hoạt động của cá nhân
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Hoạt động của con người là hoạtđộng có mục đích, mang tính xã hội, cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhấtđịnh với những công cụ nhất định Hoạt động cá nhân đóng vai trò quyết định trực tiếpđối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Trong cuộc sống, đứa trẻ không được hoạt động, không được giao lưu tiếp xúc vớingười lớn, với các trẻ em khác thì đời sống tinh thần của trẻ sẽ trở nên nghèo nàn Thôngqua hoạt động của bản thân trẻ sẽ lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội và biến nó thànhnhân cách của mình Hoạt động giúp kích thích hứng thú, niềm say mê sáng tạo và làmnảy sinh những nhu cầu mới, những thuộc tính tâm lý mới… ở mỗi cá nhân mà nhờ đónhân cách được hình thành và phát triển
Sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ phụ thuộc vào hoạt động ở mỗi thời kì,lứa tuổi nhất đinh Muốn hình thành và phát triển nhân cách thì các nhà giáo dục, cha mẹcần phải cho con tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau và kích thích yếu tố hoạtđộng cá nhân Có thể nói thông qua hoạt động và giao tiếp, trẻ học làm người
Như vậy, để một đứa trẻ được phát triển và hoàn thiện nhân cách bình thường, ngườilớn - những nhà giáo dục cần phải bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc cho cơ thể trẻ phát triểntốt, đặc biệt là bộ não; phải tạo môi trường sống và hoạt động phong phú và lành mạnh,khích lệ trẻ tích cực hoạt động, giao tiếp với người lớn và với những trẻ em khác
1.2 CÁC QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU TRẺ EM.
1.2.1 Phép biện chứng duy vật vừa là nền tảng vừa là kim chỉ nam trong nghiên cứu trẻ em.
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật vàphương pháp luận biện chứng trong nhìn nhận thế giới Đó chính là kết tinh của các thànhtựu khoa học và tư tưởng triết học của nhân loại
Trang 19Thế giới quan duy vật khẳng định rằng vật chất là cái có trước, ý thức có sau và vậtchất quyết định ý thức Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ não của conngười.
Phương pháp luận biện chứng cho ta cách nhìn hiện thực một cách hệ thống, thấyđược các sự vật hiện tượng trong thế giới luôn tác động qua lại lẫn nhau, luôn vận động
và biến đổi không ngừng
Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật được thể hiện trong các vấn đề chủyếu sau:
* Hai nguyên lí:
- Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến.
Tất cả các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan đều nằm trong mối quan hệqua lại với nhau rất phức tạp Nguyên lý này đòi hỏi cần phải quán triệt tính hệ thống vàtoàn diện trong khi nghiên cứu các sự vật, hiện tượng của thế giới
- Nguyên lí về sự phát triển
Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn luôn vận động và biến đổi không ngừngtheo xu hướng phát triển Nguyên lý này đòi hỏi cần phải xem xét sự vật, hiện tượngtrong sự vận động, trong sự phát triển của chúng
* Ba quy luật vận động của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan:
- Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tượng chính là động lực cho sự phát triển
- Quy luật chuyển hóa từ những biến đổi về lượng thành biến đổi về chất.
Quá trình phát triển của mọi sự vật, hiện tượng không bao giờ diễn ra êm ả, tuần tựtheo con đường thẳng tắp mà luôn khúc khuỷu, quanh co, đi lên bằng những bước nhảyvọt Quy luật này chỉ ra cách thức của sự vận động và phát triển
- Quy luật phủ định của phủ định.
Trong quá trình phát triển, mọi sự vật luôn luôn biến đổi và chuyển hóa cho nhau
để tạo ra cái mới chưa hề có Cái mới chỉ có thể nảy sinh bằng cách phủ định cái trước đó
để rồi tự hình thành và hoàn thiện bản thân mình theo quy luật của chính mình Quy luậtnày chỉ ra xu hướng của sự vận động và phát triển
* Sáu cặp phạm trù:
Trang 20- Nội dung và hình thức
- Cái chung và cái riêng
- Tất nhiên và ngẫu nhiên
- Nguyên nhân - Kết quả
Những cặp phạm trù này giúp nhà nghiên cứu xem xét và thể hiện sự vật, hiện tượngcủa thế giới một cách toàn diện, chính xác, sâu sắc
Kết luận: Những vấn đề chủ yếu trên của phép biện chứng duy vật vừa là nền tảngvừa là kim chỉ nam cho nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu về trẻ em nói riêng.Trẻ em là đối tượng nghiên cứu bộc lộ khá rõ những quy luật mà triết học duy vật biệnchứng đã vạch ra do đó việc nghiên cứu trẻ em có ý nghĩa đối với phép biện chứng duy vật
1.2.2 Quan điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu trẻ em.
Quan điểm hệ thống - cấu trúc là một luận điểm quan trọng trong phương pháp luậnnghiên cứu khoa học, phương pháp luận nhận thức Để nắm vững quan điểm này, cần làm
rõ các khái niệm sau:
Hệ thống là tập hợp các thành tố tạo thành một chỉnh thể trọn ven, ổn định và vậnđộng theo quy luật chung, mang tính chất tổng hợp
Cấu trúc là toàn bộ những quan hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể.Một hệ thống bao giờ cũng có một cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố lại cócấu trúc của mình nằm trong cấu trúc lớn Hệ thống nhỏ nằm trong hệ thống lớn, hệ thốnglớn là môi trường của hệ thống nhỏ Giữa hệ thống và môi trường có mối quan hệ tácđộng qua lại với nhau Môi trường tác động và quy định hệ thống, còn hệ thống tác độngcải tạo môi trường
Thành tố là một bộ phận của một hệ thống có tính xác định về chất và có chức năngriêng Mỗi thành tố là một bộ phận có vị trí độc lập, chức năng riêng nhưng luôn vận độngtheo quy luật của toàn hệ thống
Trong một hệ thống, các thành tố không phải lúc nào cũng có quan hệ bình đẳng nhưnhau mà trong quá trình vận động, các thành tố chiếm những vị trí ở những thứ bậc khácnhau, có chức năng quan trọng khác nhau, trong đó có thành tố nổi lên chiếm vị trí trungtâm hay hạt nhân của hệ thống - cấu trúc đó
Trang 21Tính hệ thống và tính cấu trúc là thuộc tính quan trọng của thế giới Vì vậy nghiên cứukhoa học có nhiệm vụ là phải phát hiện ra tính hệ thống và tính cấu trúc của đối tượng.
Quan điểm hệ thống - cấu trúc vạch ra con đường nghiên cứu các đối tượng trên cơ
sở phân tích các đối tượng thành các bộ phận để nghiên cứu một cách sâu sắc nhằm tìm ratính hệ thống, tính toàn vẹn của đối tượng, tìm ra những mối quan hệ giữa các thành tốcủa hệ thống và giữa hệ thống với môi trường, nói cách khác là giữa hệ thống nhỏ với hệthống lớn Quan điểm hệ thống - cấu trúc là công cụ, là phương pháp luận giúp ngườinghiên cứu khám phá những đối tượng phúc tạp để tạo ra một sản phẩm khoa học có cấutrúc lôgic chặt chẽ
Nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non theo quan điểm hệ thống - cấu trúc là nhìnnhận, đánh giá mọi vấn đề của công tác giáo dục mầm non trong một chỉnh thể thống nhấtgồm nhiều thành tố có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, không có yếu tố nào độc lập.Nghiên cứu đối tượng theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cần phải chú ý mấy điểmsau đây :
- Khi nghiên cứu đối tượng cần phân tích chúng ra thành các thành tố để xem xétmột cách sâu sắc
- Cần nghiên cứu đầy đủ các quan hệ qua lại giữa các thành tố trong hệ thống để tìm
ra cấu trúc và quy luật phát triển nội tại của hệ thống
- Cần xác định thành tố trung tâm và tác động chi phối của nó với các thành tố kháctrong hệ thống
- Cần đặt đối tượng trong môi trường, trong hoàn cảnh phát triển cụ thể để thấy tácđộng qua lại giữa đối tượng với môi trường, xác định được những điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của đối tượng
- Kết quả nghiên cứu phải được trình bày một cách rõ ràng, với một hệ thống lí luậnchặt chẽ, có tính logic cao
Trong nghiên cứu trẻ em, quan điểm hệ thống - cấu trúc có vai trò định hướng rấtquan trọng, theo quan điểm này, trẻ em được coi là một đối tượng toàn vẹn với những đặcđiểm, những mối quan hệ của chúng trong một hệ thống - cấu trúc nhất định Quan điểm
hệ thống - cấu trúc giúp khắc phục chủ nghĩa tản mạn và chủ nghĩa chức năng, chỉ biếtxem xét các mặt tách rời, các khía cạnh riêng lẻ ở trẻ em, như tách bạch các mặt thể chất
Trang 22trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ mà không hiểu rõ mối quan hệ qua lại giữa các mặt đó, ảnh hưởngtổng thể của chúng qua quá trình phát triển đồng bộ ở trẻ em.
1.2.3 Quan điểm tiếp cận lịch sử trong nghiên cứu trẻ em.
Mọi sự vật đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển nên khi nghiên cứucần phải xem xét đối tượng một cách toàn diện và trong suốt quá trình phát sinh và phát triểncủa nó, tức là nghiên cứu theo quan điểm lịch sử (hay còn gọi là quan điểm phát triển)
Sự thật lịch sử bao giờ cũng có những nguyên nhân, đó là những điều kiện thúc đẩyhay trì hoãn tiến trình phát triển của nó Nếu có điều kiện thuận lợi sẽ giúp cho các nhân
tố mới, tích cực phát triển được nhanh chóng Ngược lại, trong điều kiện khó khăn, nhữngnhân tố tiêu cực có dịp nổi lên lấn át những nhân tố tích cực, làm cho tiến trình lịch sử bịchậm lại Nghiên cứu khoa học theo quan điểm lịch sử không những giúp ta phát hiện quyluật phát triển của sự vật mà còn giúp ta tìm ra những nguyên nhân gây nên những thànhcông hay thất bại của sự kiện lịch sử, từ đó rút ra được những bài học bổ ích
Nghiên cứu theo quan điểm lịch sử không phải là nghiên cứu cái dĩ vãng, mà sửdụng phạm trù phát triển để nghiên cứu các hiện tượng trong sự vận động Đặc biệt khinghiên cứu con người, cần phải thấy được sự phát triển của con người là một bộ phậntrong quá trình chung của lịch sử phát triển loài người Nghiên cứu một đối tượng nào đótheo quan điểm tiếp cận lịch sử có nghĩa là nghiên cứu đối tượng trong quá trình vậnđộng Đó cũng chính là đòi hỏi của phương pháp biện chứng, trong khi nghiên cứu cầntheo dõi quá trình phát triển của đối tượng ở nhiều giai đoạn, từ nguồn gốc nảy sinh, quátrình diễn biến cho đến khi tàn lụi, mất đi trong những không gian, thời gian khác nhau,trong những hoàn cảnh nhất định Chỉ có như vậy mới tìm ra bản chất của đối tượng, vì chỉtrong sự vận động mới cho ta thấy rõ nó là cái gì và quy luật phát triển của nó như thế nào.Trong nghiên cứu khoa học, tài liệu lịch sử có một số chức năng chủ yếu sau:
- Chức năng làm cơ sở để xây dựng giả thuyết và chứng minh các giả thuyết đó
- Chức năng minh họa, chứng minh cho các luận điểm, lí thuyết khoa học
- Chức năng đánh giá các kết luận khoa học bằng các sự kiện có thật trong lịch sử.Nghiên cứu trẻ em theo quan điểm lịch sử về thực chất là xem xét đứa trẻ trong quátrình phát triển của nó với những điều kiện nhất định, đặc biệt là trong mối quan hệ giữaphát triển và giáo dục Trong mối quan hệ đó, giáo dục không theo đuôi sự phát triển,
Trang 23cũng không đồng nhất với sự phát triển mà giáo dục phải luôn đi trước, hướng dẫn sự pháttriển Đó cũng chính là quan điểm về “Vùng phát triển gần nhất” mà L.X Vưgôtxky đãnêu ra.
Một số lưu ý khi quán triệt quan điểm tiếp cận lịch sử trong nghiên cứu trẻ em:
- Cần phải theo dõi quá trình phát triển của trẻ trong không gian, thời gian, hoàncảnh cụ thể
- Cần phải nhìn nhận sự phát triển của đứa trẻ theo con mắt động: có thể thay đổi,điều chỉnh được sự phát triển của trẻ khi ta điều chỉnh nội dung, thay đổi phương phápgiáo dục và cải tạo môi trường giáo dục
- Cần phải nhìn nhận sự phát triển cửa đứa trẻ trong mối quan hệ kế thừa, phát triểnnhững thành tựu trước đó, trong những điều kiện khách quan và chủ quan cụ thể
1.2.4 Quan điểm tiếp cận tích hợp trong nghiên cứu trẻ em.
Quan điểm tích hợp coi tự nhiên, xã hội, con người là một thể thống nhất tác độngqua lại với nhau Tích hợp trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi có sự kết hợp, đan xen, lồngghép các mảng đề tài, các góc độ nghiên cứu chung
Quan điểm tích hợp cũng đang được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu trẻ em vìtrước hết, trẻ em là một đối tượng nghiên cứu mang tính phức hợp, đòi hỏi phải có nhiềukhoa học tham gia (như sinh vật học, tâm lí học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoahọc khác)
Trong 6 năm đầu tiên, sự phát triển của trẻ tuy đạt tới một tốc độ rất nhanh, các chứcnăng sinh lí và tâm lí đang hình thành nhưng chưa thật rõ nét và chưa tách bạch rạch ròinhư ở người lớn Do đó, để hiểu rõ về trẻ em, người ta đã sử dụng nhiều phương pháp mộtcách tổng hợp ở nhiều mảng đề tài thuộc nhiều khoa học khác nhau Theo quan điểm tíchhợp, trong nghiên cứu trẻ em, người ta vận dụng một hệ thống gồm nhiều phương phápnhư quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ Trong đó có phương pháp chủ đạo và có phương pháp hỗ trợ
Từ quan điểm tích hợp, trong giáo dục tiền học đường, người ta đã kết hợp giữa việcchăm sóc sức khỏe và dạy dỗ trẻ em Muốn đạt tới hiệu quả khi thực hiện hai nhiệm vụnày cần lồng ghép, đan xen, hoà quyện chúng với nhau, có nghĩa là khi chăm sóc sức
Trang 24khỏe cần chú ý tranh thủ thời cơ để dạy dỗ trẻ, ngược lại, trong khi dạy dỗ phải chú ý đếntrạng thái sức khỏe của trẻ.
Cũng theo quan điểm này, việc xây dựng chương trình chăm sóc giáo dục trẻ khôngnên xuất phát từ logic nội tại của mỗi khoa học để phân chia chương trình thành những bộmôn khoa học một cách rạch ròi như ở phổ thông, mà phải xuất phát từ yêu cầu hìnhthành những thuộc tính, năng lực chung, hướng tới sự phát triển chung của trẻ, góp phầnhình thành nền tảng nhân cách ban đầu cho trẻ em
Một số lưu ý khi quán triệt quan điểm tích hợp trong nghiên cứu trẻ em:
- Khi nghiên cứu một vấn đề nào đó trong khoa học giáo dục mầm non nói chung vànghiên cứu về trẻ em nói riêng cần sử dụng những phương pháp và thành tựu của nhiềulĩnh vực khoa học liên quan: sinh lí học, tâm lí học, xã hội học… để nghiên cứu và giảithích một cách thấu đáo
- Cần xem xét mối quan hệ giữa chăm sóc và giáo dục (giữa nuôi và dạy); mối quan
hệ của các mặt sinh lí - thể chất với trí tuệ, tình cảm, tính cách,
- Mọi hoạt động giáo dục ở trường mầm non có tác dụng giáo dục nhiều mặt Dovậy cần tích hợp nhiều nội dung giáo dục vào từng hoạt động giáo dục ở trường mầm non
1.2.5 Quan điểm tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu trẻ em.
Hoạt động là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể mà kết quả là khách thểđược cải tạo và chủ thể được hoàn thiện Như vậy, hoạt động của con người tạo ra kết quảkép: kết quả đối với hình thái bên ngoài của hoạt động (hoạt động vật chất, hoạt độngthực tiễn) là những đối tượng của hiện thực khách quan được cải tạo, biến đổi; kết quả đốivới hình thái bên trong của hoạt động (hoạt động tinh thần, hoạt động tâm lý) là bản thânchủ thể hoạt động được hình thành và phát triển đời sống tâm lý của mình Kết quả đó cóđược nhờ hoạt động của con người bao giờ cũng có phương tiện đó là những công cụ và
hệ thống kí hiệu Như vậy, hoạt động của con người bao giờ cũng mang tính gián tiếp,thông qua các công cụ và những hệ thống kí hiệu
L.X.Vưgôtxky cho rằng con người có 2 dạng hoạt động là hoạt động bên ngoài (thựchiện nhờ các công cụ) và hoạt động bên trong - hoạt động tâm lý (thực hiện thông qua hệthống ký hiệu) Hoạt động bên trong được xây dựng theo mẫu của hoạt động bên ngoài
Trang 25Sự chuyển hóa từ hoạt động bên ngoài vào hoạt động bên trong diễn ra theo cơ chế nhậptâm, tạo nên sự phát triển tâm lí ở trẻ em Đó cũng là con đường để thế hệ sau tiếp thukinh nghiệm của thế hệ trước Những quan điểm cơ bản ấy được các nhà tâm lí khác tiếptục khẳng định và phát triển Quan điểm này thực chất là một cách diễn đạt quan điểm của
Mác: “Ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc của con người và được cải biến đi trong đó” (C.Mác Tư bản Quyển 1 NXB Sự thật 1973).
Cơ chế nhập tâm là con đường cơ bản để thế hệ sau tiếp thu kinh nghiệm của thế hệtrước Sự nhập tâm ấy thực hiện bắt đầu từ đối tượng bên ngoài hoặc sự giao tiếp giữa cánhân với cá nhân Do đó, khi nghiên cứu tâm lý trẻ em thì trước hết phải nghiên cứu cáchoạt động có đối tượng bên ngoài và tiếp đó bằng sự chuyển hóa mà có hoạt động tâm lý.Quan điểm tiếp cận hoạt động là một luận điểm quan trọng trong phương pháp luậnnghiên cứu trẻ em, nó chỉ ra rằng, tâm lí - nhân cách trẻ được bộc lộ trong hoạt động,trong sản phẩm hoạt động và hình thành bằng hoạt động của chính mình Do đó, ngườinghiên cứu cần coi đứa trẻ là một chủ thể hoạt động để phát triển lâm lí và hình thànhnhân cách của mình Không nên cho đứa trẻ chỉ là một đối tượng chịu sự tác động củagiáo dục một cách thụ động mà là một chủ thể hoạt động để tự sinh ra mình Trẻ em hoạtđộng để trở thành một nhân cách, một thành viên của xã hội, có thể sống và hoạt động cókết quả trong xã hội văn minh
Điều quan trọng hơn cả là người lớn cần tổ chức hoạt động cho trẻ em theo yêu cầugiáo dục của mình Điều đó có nghĩa muốn hình thành một phẩm chất hay chức năng tâm
lí nào đấy thì trước hết phải tổ chức cho trẻ tham gia vào những hoạt động có đối tượngbên ngoài tương ứng và cần phải tổ chức cho trẻ thực hiện những hành động có địnhhướng cụ thể để theo cơ chế nhập tâm mà hình thành tâm lí, nhân cách cho trẻ
Một số lưu ý khi quán triệt quan điểm tiếp cận hoạt động trong nghiên cứu trẻ em:
- Cần tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú phù hợp với lứa tuổi để hình thành,phát triển tâm lí - nhân cách cho trẻ
- Cần nghiên cứu sự phát triển của trẻ em trong chính hoạt động thực tiễn của trẻ
- Mọi giai đoạn phát triển của trẻ đều có một hoạt động chủ đạo chi phối cuộc sốngcủa trẻ, cần đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của đứa trẻ trong hoạt động này
Trang 261.2.6 Quan điểm tiếp cận thực tiễn trong nghiên cứu trẻ em.
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính chất lịch sử xã hội của conngười làm biến đổi tự nhiên, xã hội Diễn biến của thực tiễn bao giờ cũng mang tính chấtkhách quan, với những sự kiện đa dạng, phức tạp và phát triển theo nhiều hướng, thậm chícòn đầy mâu thuẫn
Thực tiễn có vai trò rất quan trọng với nghiên cứu khoa học nói chung và nghiêncứu trẻ em nói riêng:
- Nghiên cứu khoa học phải bắt nguồn từ thực tiễn Nhu cầu giải quyết mâu thuẫncửa thực tiễn là động lực thúc đẩy mọi hoạt động nghiên cứu khoa học Các sự kiện củathực tiễn lại là những gợi ý cho những ý tưởng, cho những đề tài nghiên cứu khoa học.Chính vì thế mà mọi đề tài nghiên cứu khoa học phải xuất phát từ thực tiễn, phục vụ thựctiễn Đó cũng là mục đích của hoạt động khoa học nói chung
- Những sự kiện trong thực tiễn luôn luôn là những cứ liệu cung cấp cho ngườinghiên cứu khoa học để nắm bắt những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và phát hiệnquy luật của chúng Do đó, người nghiên cứu khoa học cần bám sát thực tiễn, theo dõidìến biến của đối tượng ngay trong thực tiễn sinh động Thực tiễn luôn luôn là mảnh đấtmầu mỡ đem lại sức sống cho những lí luận khoa học
- Những khái quát khoa học chỉ trở thành chân lí khi được thực tiễn kiểm nghiệm vàđánh giá Thực tiễn là tiêu chuẩn để đánh giá các sản phẩm khoa học chính xác nhất.Những lí thuyết khoa học đúng luôn được thực tiễn minh hoạ một cách sinh động, đầythuyết phục và lại trở thành ngọn đuốc soi đường cho hoạt động thực tiễn Trái lại, những
lí thuyết khoa học sai lầm sẽ bị chính thực tiễn đào thải và sẽ không có chỗ đứng trongcuộc sống của con người
Vậy, thực tiễn vừa là nguồn gốc, là động lực, vừa là mục đích, là tiêu chuẩn đánh giá đối với mọi lí thuyết khoa học.
Trong lịch sử nghiên cứu trẻ em đã có nhiều thành tựu được thực tiễn kiểm nghiệm
và trở thành lí thuyết khoa học, được ứng dụng rộng rãi và thu được nhiều thành tựu to lớn.Bên cạnh đó cũng có không ít những học thuyết không phù hợp và bị thực tiễn đào thải.Đứng trước ngưỡng thế kỉ XXI, thực tiễn chăm sóc và giáo dục trẻ em ở nước tacũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu nhằm tới một sự phát triển tối ưu cho trẻ em
Trang 27- những công dân tương lai - chủ nhân của đất nước Nghiên cứu trẻ em cần đứng vữngtrên quan điểm thực tiễn mới hi vọng đổi mới hoạt động nghiên cứu khoa học về trẻ em,mang lại lợi ích thực tiễn cho sự nghiệp chăm sóc và giáo dục trẻ em của nước nhà.
Một số lưu ý khi quán triệt quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dụcnói chung và nghiên cứu trẻ em nói riêng:
- Mọi nghiên cứu khoa học cần dựa vào hoàn cảnh thực tiễn, phát hiện những mâuthuẫn, những khó khăn, những cản trở trong thực tiễn giáo dục và lựa chọn trong số đónhững vấn đề nổi cộm, cấp thiết làm đề tài nghiên cứu Như vậy, đối tượng nghiên cứu sẽ
là một trong những vấn đề của thực tiễn khách quan, có nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứugiải quyết
- Phân tích sâu sắc những vấn đề của thực tiễn giáo dục, tìm cho được bản chất củachúng Những thông tin từ thực tiễn giúp ta minh họa, chứng minh cho những nguyên lý,
lý thuyết giáo dục và giúp ta khái quát thành những quy luật giáo dục hoặc hình thànhnhững nguyên lý giáo dục mới
- Luôn bám sát thực tiễn giáo dục làm cho lý luận và thực tiễn phải luôn gắn bó với nhau
- Lý luận giáo dục và thực tiễn phải song hành, mọi nghiên cứu khoa học khôngđuợc xa rời thực tiễn hoặc mâu thuẫn với thực tiễn; phải hướng vào phục vụ thực tiễn (cảitạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non) Lý luận chỉ có giá trị khi nósoi sáng thực tiễn, cải tạo thực tiễn, ứng dụng và đem lại những hiệu quả thiết thực Thựctiễn là mảnh đất phì nhiêu đem lại sức sống cho lý luận giáo dục
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ TRẺ EM.
1.3.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học.
1.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học
Trong khoa học, phương pháp được hiểu dưới 3 cấp độ:
- Cấp độ 1: Phương pháp luận
- Cấp độ 2: Phương pháp
- Cấp độ 3: Biện pháp
Phương pháp có vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học L.X.Vưgôtxky đã
khẳng định: “Phương pháp nghiên cứu vừa là tiền đề, vừa là sản phẩm, vừa là công cụ,
Trang 28vừa là kết quả của công trình nghiên cứu khoa học” (Phạm Minh Hạc Tâm lý học Vưgôtxky Tập 1, NXB Giáo dục 1997, tr132) Chính phương pháp quyết định sự thành
công của mọi công trình nghiên cứu khoa học Trong nghiên cứu khoa học, dù đề tài có ýnghĩa thực tiễn và lý luận to lớn đến đâu nhưng phương pháp phạm sai lầm thì kết quảcũng không đáng tin cậy Phương pháp chính là con đường dẫn người nghiên cứu khoahọc đến mục đích khám phá, sáng tạo
Vậy, phương pháp về mặt bản chất là “việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó”.
1.3.1.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học
a Tính chủ thể và tính đối tượng:
- Tính chủ thể: Phương pháp là cách làm việc của chủ thể hướng tới đối tượng nhằmkhám phá sự vận động theo quy luật vận động và phát triển của đối tượng Để việc nghiêncứu đạt tới kết quả, chủ thể cần có một số điều kiện chủ quan như trình độ nhận thức khoahọc, năng lực hoạt động thực tiễn, lòng say mê tìm tòi sáng tạo…
- Tính đối tượng: Chủ thể khi nghiên cứu cần xuất phát từ những đặc điểm của đốitượng, nên phương pháp luôn gắn liền với đối tượng Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu cũngphải tính đến mối quan hệ của đối tượng với các điều kiện khách quan, nên phương phápcũng mang tính khách quan
b Tính mục đích:
Nghiên cứu khoa học bao giờ cũng hướng tới mục đích là khám phá những thuộctính bản chất và quy luật vận động của đối tượng nhằm cải tạo thế giới Mục đích củanhững đề tài nghiên cứu khoa học có vai trò định hướng, chỉ đạo việc tìm kiếm và lựachọn phương pháp thích hợp, và nếu lựa chọn được phương pháp chính xác sẽ giúp đạt tớimục đích nghiên cứu một cách nhanh chóng và thuận lợi Bản thân phương pháp chỉ lànhững công cụ mang tính khách quan, không mang tính mục đích, nhưng người nghiêncứu khoa học khi sử dụng phương pháp lại ý thức được mục đích nghiên cứu của mình rất
rõ ràng, vì thế mà họ có thể lựa chọn phương pháp thích hợp
c Mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp nghiên cứu.
Trang 29Phương pháp nghiên cứu có mối quan hệ chặt chẽ với nội dung của các vấn đềnghiên cứu Phương pháp là hình thức vận động của nội dung Mỗi nội dung cần nghiêncứu đòi hỏi có phương pháp nghiên cứu phù hợp Nội dung quy định việc lựa chọnphương pháp và ngược lại, nếu lựa chọn được phương pháp phù hợp sẽ khám phá đượcnhững điều mà nội dung cần làm sáng tỏ.
d Cấu trúc của phương pháp
Là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu
Sự thành công của một công trình nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào sự phát hiệnđược hay không chương trình tối ưu của các thao tác đó và biết sử dụng chúng một cáchhợp lý Đó chính là con đường đạt tới sự hoàn hảo của phương pháp nghiên cứu, dẫn tới
sự thành công của quá trình nghiên cứu đề tài khoa học
Trong cấu trúc của mỗi phương pháp bao gồm nhiều cấu trúc con, gọi là biện pháp(là cách giải quyết một vấn đề cụ thể của việc nghiên cứu) Để thực hiện các phươngpháp, người nghiên cứu thường thực hiện thông qua các biện pháp cụ thể được gắn liềnvới các nội dung của vấn đề nghiên cứu nhất định
e Phương tiện nghiên cứu
Để thực hiện phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần sự hỗ trợ của các phươngtiện, gồm các công cụ kĩ thuật hiện đại với độ chính xác cao (máy ghi âm, ghi hình…) haynhững công cụ đơn giản như các công cụ tự làm bằng giấy, bằng gỗ…
Phương tiện và phương pháp tuy là hai lĩnh vực khác nhau nhưng lại luôn luôn gắn
bó chặt chẽ với nhau Tùy vào phương pháp nghiên cứu mà người ta chọn những phươngtiện nghiên cứu phù hợp Phương tiện càng có chất lượng cao càng tạo cho phương phápđạt tới sự thành công nhanh chóng của đề tài
1.3.2 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học.
Có nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học, tùy theo mục đích, nhiệm vụ và nộidung của vấn đề nghiên cứu, người nghiên cứu cần lựa chọn các phương pháp sao chophù hợp Trong nghiên cứu khoa học đã có nhiều cách phân loại phương pháp, sau đây làmột số cách thường gặp:
* Theo phạm vi sử dụng:
- Nhóm phương pháp chung nhất dùng cho mọi lĩnh vực khoa học
Trang 30- Nhóm phương pháp chung dùng cho một số ngành khoa học.
- Nhóm phương pháp đặc thù chỉ dùng cho một ngành khoa học nhất định
* Dựa theo lí thuyết thông tin về quy trình nghiên cứu một đề tài khoa học:
- Nhóm phương pháp thu thập thông tin
- Nhóm phương pháp xử lí thông tin
- Nhóm phương pháp trình bày thông tin
* Dựa vào yêu cầu của con đường nhận thức thế giới
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nhóm phương pháp xử lí số liệu
1.3.3 Hệ thống các phương pháp nghiên cứu trẻ em.
Trẻ em là một đối tượng nghiên cứu mang tính phức hợp, mỗi khía cạnh dù là một
bộ phận nhỏ đều là một đề tài nghiên cứu khá phức tạp Dó đó, nghiên cứu trẻ em cần cónhững hệ thống phương pháp phong phú Thông thường, một đề tài nghiên cứu khoa học
về trẻ em thường sử dụng các phương pháp sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Nhóm phương pháp này có chức năng sau:
+ Định hướng cho việc nghiên cứu đề tài, vạch ra con đường tiếp cận đối tượng, chỉđạo lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể để khám phá đặc điểm và quy luật pháttriển của trẻ em về một khía cạnh nhất định
+ Xây dựng hệ thống khái niệm làm công cụ cho việc nghiên cứu
+ Khái quát những cứ liệu khoa học thành những kết luận khoa học, cao hơn nữa làthành những lý thuyết khoa học
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đây là nhóm phương pháp trực tiếp tác
động vào đối tượng đang tồn tại trong thực tiễn để làm bộc lộ bản chất và quy luật vậnđộng của các đối tượng ấy
Với mỗi công trình nghiên cứu trẻ em, nhóm phương pháp này đóng vai trò chủ lực,
có chức năng tổ chức thực hiện công việc tìm tòi, phát hiện những điều chưa biết về đốitượng nghiên cứu; sưu tầm các cứ liệu khoa học, để chỉ ra các đặc điểm trong quá trìnhvận động, biến đổi của đối tượng, từ đó mà thấy được quy luật phát triển của trẻ em từgóc độ đang nghiên cứu Nhóm phương pháp này gồm nhiều phương pháp như quan sát,
Trang 31thực nghiệm, trò chuyện, điều tra, nghiên cứu sản phẩm… Tất cả thống nhất thành một hệthống, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Trong đó
sẽ có một phương pháp công hiệu nhất được chọn làm chủ đạo, còn các phương phápkhác đó vai trò hỗ trợ
- Nhóm phương pháp xử lí số liệu: Giúp cho việc nghiên cứu đạt tới kết quả rõ ràng,
chính xác Trong khoa học hiện đại, việc xâm nhập của toán học vào mọi ngành đã manglại cho khoa học thêm một sức mạnh mới, đó là việc định lượng các mức độ và trình độphát triển của đối tượng nghiên cứu, bổ sung cho việc định tính vốn đã có trong các côngtrình nghiên cứu khoa học do các phương pháp trên mang lại
Trong khoa học nghiên cứu về trẻ em, bên cạnh việc nghiên cứu định tính, việcnghiên cứu định lượng đóng vai trò không kém phần quan trọng, bởi lẽ trẻ em là một thựcthể đang phát triển Bằng phương pháp định lượng có thể cho ta biết một cách rõ ràng vềmột phẩm chất hay một chức năng tâm lý nào đó của trẻ đang phát triển nhanh hay chậm.Điều đó nói lên rằng đứa trẻ đang có cơ hội tốt để phát triển, người lớn nên tạo mọi điềukiện để giúp cho sự phát triển đó đạt tới trình độ tối ưu Điều đó cũng có thể nói lên rằngđứa trẻ đang trong tình trạng chậm phát triển hoặc đang gặp nhiều khó khăn trong bướcđường phát triển, đòi hỏi người lớn phải tìm cách giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cần thiết đểtrẻ vượt qua tình trạng trì trệ này
Trang 32DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đào Thanh Âm (chủ biên), Trịnh Dân, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang Giáo dục học mầm non Tập 3 NXB Đại học Sư phạm, 1995
2 Đinh Kim Thoa Đánh giá trong giáo dục mầm non NXB Giáo dục, 2008
3 Nguyễn Ánh Tuyết - Chủ biên, Lê Thị Kim Anh, Đinh Văn Vang Phương pháp nghiên cứu trẻ em NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001
4 Nguyễn Ánh Tuyết Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non NXB ĐHSP Hà Nội, 1994
5 Phạm Viết Vượng Phương pháp luận nghiên cứu khoa học NXB DDaHQG Hà Nội, 1997
6 Phạm Viết Vượng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục NXB Giáo dục, 1997.
CÂU HỎI VÀ NỘI DUNG ÔN TẬP CHƯƠNG 1
Câu 1: Phương pháp luận là gì? Vai trò của nó trong nghiên cứu khoa học nói chúng vàtrong nghiên cứu khoa học về trẻ em nói riêng?
Câu 2: Phân tích khái niệm trẻ em xét trên 3 bình diện: sinh học, văn hóa, cá thể Lấy ví
dụ minh họa
Câu 3: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em Trên cơ sở đó hãy đặt
ra những yêu cầu cần thiết để phát huy vai trò của các yếu tố này đối với sự phát triển củatrẻ em
Câu 4: Tại sao nói phép biện chứng duy vật vừa là nền tảng, vừa là kim chỉ nam trongnghiên cứu trẻ em?
Câu 5: Hãy nêu nội dung của quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc Tại sao trong nghiêncứu trẻ em cần tuân thủ quan điểm này?
Câu 6: Hãy nêu nội dung của quan điểm tiếp cận tích hợp Tại sao trong nghiên cứu trẻ
em cần tuân thủ quan điểm này?
Câu 7: Hãy nêu nội dung của quan điểm tiếp cận hoạt động Tại sao trong nghiên cứu trẻ
em cần tuân thủ quan điểm này?
Câu 8: Hãy nêu nội dung của quan điểm tiếp cận thực tiễn Tại sao trong nghiên cứu trẻ
em cần tuân thủ quan điểm này?
Trang 33*MỤC TIÊU: Học xong chương 2, sinh viên đạt được :
1 Kiến thức:
- Nắm được các phương pháp nghiên cứu lý luận trong nghiªn cøu trẻ em
- Hiểu và phân tích được các phương pháp nghiên cứu thực tiễn trong nghiên cứu trẻ em
- Biết cách vận dụng các phương pháp nghiên cứu trẻ em vào xây dựng các bài tậpnghiên cứu cụ thể
2 Kỹ năng:
- Rèn luyện các kĩ năng nghiên cứu khoa học
- Có kĩ năng vận dụng các phương pháp vào quá trình nghiên cứu trẻ em
- Có kĩ năng nghiên cứu tài liệu, kĩ năng thảo luận nhóm
3 Thái độ:
- Bồi dưỡng lòng yêu nghề, yêu trẻ
- Sinh viên có ý thức học tập bộ môn
Trong nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non, phương pháp nghiên cứu lí luậnđược sử dụng như là cách thức thu thập và xử lí thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứucác văn bản tài liệu, trong đó có cả những công trình nghiên cứu lí luận thuộc các trường
Trang 34phái với những quan điểm khác nhau về trẻ em đã tồn tại lâu bền trước đó Bằng tư duykhoa học, nguời nghiên cứu có thể xây dựng nên hệ thống lí thuyết của mình hoặc khẳngđịnh hay phủ định những luận điểm khoa học đang được bàn luận, tranh cãi, hoặc phêphán những lí thuyết sai lầm đã ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dạy trẻ em trong thực tế.Đối với bất cứ một đề tài nghiên cứu khoa học nào về trẻ em đều cần tiến hànhnghiên cứu các quan điểm lí luận nhằm định hướng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu, chỉđạo việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, khai thác và xử lí các cứ liệukhoa học Nói cách khác, trước khi bắt tay vào nghiên cứu thực tiễn, người nghiên cứucần hình thành cho mình một tư tưởng khoa học rõ ràng.
Có nhiều phương pháp nghiên cứu lí luận, sau đây là một số phương pháp chủ yếuthường được dùng trong các công trình nghiên cứu trẻ em
2.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp lí thuyết.
Phân tích và tổng hợp lý thuyết là hai thao tác nghiên cứu có chiều hướng trái ngược nhauPhân tích nhằm tách đối tượng ra thành nhiều bộ phận, nhiều chi tiết để xem xét đốitượng một cách kĩ lưỡng ở nhiều mặt, nhiều góc độ khác nhau Tổng hợp nhằm gộp các
bộ phận, các chi tiết đã được phân tích theo một hướng nhất định tạo thành một chỉnh, thểnhờ đó đối tượng được nhìn nhận một cách toàn diện và sâu sắc Tuy hai thao tác đốingược nhau nhưng lại thống nhất biện chứng với nhau, đi liền với nhau
Trong nghiên cứu trẻ em, đây là một phương pháp không thể thiếu được đối với việcxây dựng những luận cứ khoa học Thông thường, phương pháp này thường được sử dụng
ở bước khởi đầu của quá trình nghiên cứu Trong kho tàng khoa học về trẻ em đã có rấtnhiều lý luận được đưa ra theo nhiều quan điểm, trường phái khác nhau Do đó, ngườinghiên cứu phải phân tích để tìm hiểu mọi khía cạnh, xác định các thành phần trong cấutrúc của lý thuyết đó, tìm ra các đặc điểm riêng biệt của nó, đồng thời phân định được cácbước phát triển theo thời gian do nhiều thế hệ tác giả khác nhau đóng góp mà thành Trên
cơ sở đó người nghiên cứu tổng hợp lại để nhìn nhận theo một thể thống nhất theo quanđiểm của mình, lược bỏ các mặt yếu kém, lạc hậu, kế thừa những nhân tố tích cực (nếucó), từ đó hình thành nên lí luận, đóng góp vào kho tàng lí luận khoa học về trẻ em hoặcđịnh hướng chính xác cho công việc nghiên cứu của mình
Trang 35Ví dụ trước một đề tài nghiên cứu khoa học, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu các côngtrình đã từng nghiên cứu về vấn đề này, tìm hiểu các tư tưởng, quan điểm từ Đông sangTây, từ cổ đến kim của nhiều thế hệ tác giả làm cơ sở lý luận cho đề tài Khi đã tìm đượctài liệu, nhà nghiên cứu cần phân tích các tài liệu đó để thấy được các đóng góp riêng củacác tác giả, sau đó tổng hợp lại theo quan điểm của mình, kế thừa nhân tố tích cực, hìnhthành hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài.
2.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết.
Mỗi một lĩnh vực của thực tại đều có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết, mỗicông trình chỉ đề cập đến một khía cạnh, như vậy lý thuyết về một vấn đề, một đối tượngrất đa dạng, phong phú Những lý thuyết đó có thể cùng xu hướng, có thể khác nhau, tráingược nhau, không những khác nhau về quan điểm mà còn khác nhau bởi kết cấu, góc độ,bởi nhiều thời điểm nghiên cứu khác nhau Do đó, muốn có cách nhìn khái quát và sâusắc về một lĩnh vực nào đó của thực tại cần phải biết phân loại tài liệu thành nhiều nhómtheo nhiều tiêu chí nhất định
Vậy, phân loại lí thuyết là phân chia các tài liệu lý luận ra các mặt, các đơn vị kiếnthức, các đề tài khoa học khác nhau dựa vào dấu hiệu bản chất hay xu hướng nghiêncứu Hệ thống hóa lí thuyết là sắp xếp các tài liệu đã được phân loại vào trong những mốitương quan theo thứ bậc trên cơ sở một mô hình lý thuyết, theo một hệ thống nhất định.Phân loại và hệ thống hóa là hai thao tác luôn đi cùng nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau.Nhờ đó, các tài liệu khoa học vốn có kết cấu phức tạp về nội dung trở nên dễ nhận thấy,
dễ sử dụng theo mục đích nghiên cứu của đề tài Phương pháp phân loại và hệ thống hóabao giờ cũng dựa vào khả năng khái quát hóa Trình độ khái quát cao là điều kiện đểngười nghiên cứu đạt tới đỉnh cao của lý luận
Trong nghiên cứu trẻ em, phương pháp phân loại và hệ thống hóa đóng vai trò rấtquan trọng, nhờ đó mà các lí thuyết khoa học về trẻ em mang tính khái quát cao, địnhhướng cho công việc nghiên cứu thực tiễn và có tác dụng mạnh mẽ chỉ đạo việc chăm sóc
và giáo dục trẻ
Ví dụ khi tìm hiểu các tư tưởng, quan điểm liên quan đến đề tài, phân tích và làmsáng tỏ các khái niệm công cụ cho đề tài đòi hỏi nhà nghiên cứu phân loại tài liệu theo
Trang 36thời gian, theo vị trí địa lý, theo trường phái , từ đó hệ thống hóa tài liệu và đưa ra quanđiểm của riêng mình về vấn đề nghiên cứu.
Chẳng hạn khi nghiên cứu về trò chơi, các nhà khoa học đã chia trò chơi ra thànhnhiều loại (Trò chơi học tập, trò chơi lắp ghép - xây dựng, trò chơi dân gian, trò chơi phânvai, trò chơi vận động ) và đặt chúng vào trong hệ thống của hoạt động vui chơi, trong
đó mỗi loại trò chơi giữ một chức năng nhất định đối với sự phát triển một mặt nào đó củatrẻ Điều đó không những làm cho chúng ta nhận thức một cách sâu sắc về bản chất, ýnghĩa của mỗi loại trò chơi mà cả về việc tổ chức cho trẻ chơi sao cho đạt tới hiệu quảgiáo dục cao
2.1.3 Phương pháp cụ thể hóa lí thuyết
Lý thuyết khoa học bao giờ cũng tồn tại ở dạng trừu tượng, được xây dựng nên bởinhững khái niệm khoa học Để lí thuyết khoa học dễ hiểu, dễ sử dụng vào thực tiễn, ngườinghiên cứu cần cụ thể hóa những điều đã được khái quát hóa trong lí thuyết bằng phươngpháp minh họa và phương pháp mô hình hóa
Phương pháp minh họa là cách thức sử dụng những sự kiện sinh động có thực trongthực tiễn để làm sáng tỏ lí thuyết, làm cho cái trừu tượng trong khoa học trở thành sự vậthiện tượng dễ nhìn thấy, dễ nắm bắt Chính những sự kiện này không những là cái minhhọa một cách có hiệu quả nhất cho lý thuyết, mà còn bổ sung cái mới cho lý thuyết, nhờ
đó, lý thuyết luôn gắn với thực tiễn và có được cơ hội để tiếp tục phát triển
Phương pháp mô hình hóa là phương pháp nghiên cứu lí thuyết khoa học bằng cáchxây dựng những mô hình giả định để thể hiện được ý đồ chứa đựng trong lí thuyết, rồidựa trên mô hình đó mà nghiên cứu trở lại lí thuyết làm cho nó trở nên chính xác hơn,phong phú hơn Mô hình hóa có thể được xây dựng bằng yếu tố vật chất, hay được xâydựng nên bằng những khái niệm hình thành trong quá trình tư duy và được biểu diễn dướidạng trực quan (gọi là mô hình lý thuyết) Mô hình là cái thay thế cho đối tượng nghiêncứu nhưng đến lượt nó lại biến thành một phương tiện cụ thể để nghiên cứu, giúp ngườinghiên cứu có thể đào sâu và mở rộng lý thuyết của mình Mô hình lý thuyết còn có thểchứa đựng trong cấu trúc của nó những yếu tố mới chưa có trong hiện thực, tức mô hìnhhóa những ý tưởng chưa được thể nghiệm trong cuộc sống nên được gọi là mô hình giả định
Trang 37Tóm lại, nhờ cụ thể hóa lý thuyết mà những trừu tượng khoa học được bộc lộ nhưnhững sự kiện có thực hoặc những mô hình trực quan giúp cho người nghiên cứu có chỗdựa để đi xa hơn trong quá trình nghiên cứu lí thuyết của mình.
Trong nghiên cứu trẻ em, phương pháp cụ thể hóa được sử dụng rộng rãi để những líluận khoa học về trẻ em gắn liền với thực tiễn chăm sóc và giáo dục trẻ Phương pháp nàykhông chỉ giúp người nghiên cứu đạt được kết quả mới về lí luận mà còn giúp cho thựctiễn nuôi dạy trẻ có những bước tiến mới
2.1.4 Phương pháp giả thuyết.
Là phương pháp nghiên cứu bằng cách dự đoán những thuộc tính và quy luật pháttriển của đối tượng, để chỉ đường cho việc chứng minh những điều dự đoán đó là đúng,trên cơ sở đó mà tìm kiếm, khám phá bản chất của đối tượng Trong nghiên cứu khoa họcphương pháp này thực hiện hai chức năng: chức năng dự báo và chức năng định hướng.Phương pháp giả thuyết là khâu đầu tiên của quá trình nhận thức về đối tượng nào
đó khi những thông tin về đối tượng này còn thiếu hụt và chưa rõ ràng buộc nhà nghiêncứu phải huy động các quá trình nhận thức, đặc biệt là tư duy logic và sự tưởng tượngsáng tạo để hình dung ra những điều cần biết về đối tượng Những điều cần biết ấy vẫnchỉ là một giả định do đó giả thuyết chưa phải là chân lý, hay nói đúng hơn, giả thuyết làchân lý nhưng còn mang tính xác suất, cần phải được chứng minh
Giả thuyết có thể rơi vào những trường hợp sau đây:
- Giả thuyết là chân lí khi nó được chứng minh một cách hợp lí, được thực tiễn kiểmnghiệm Đó có thể là những học thuyết khoa học lớn, có giá trị trong lịch sử, góp phầnchinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội Đó cũng có thể là những dự đoán của các đề tàinghiên cứu nhỏ nhưng được chứng minh là đúng cả trong lý luận và thực tiễn
- Giả thuyết không phải là chân lí, nó bị thực tiễn loại bỏ, nên cũng bị loại bỏ trong
cả lí luận Đó là những học thuyết phản khoa học đã gây nhiều tác hại cho hoạt động thựctiễn của loài người Đó cũng là những dự đoán sai lầm mà người nghiên cứu các đề tàikhoa học không thể chứng minh được
- Giả thuyết lúc đầu chưa được coi là một chân lí, thậm chí còn bị coi là phản khoahọc Quá trình chứng minh giả thuyết bị kéo dài, nhưng những luận điểm đúng sẽ trởthành chân lí, giả thuyết sẽ trở thành chân lí nếu được chứng minh rõ ràng, hợp lí và được
Trang 38thực tiễn chấp nhận Do đó, khi đưa ra giả thuyết của mình, người nghiên cứu một mặtcần thận trọng, mặt khác cần kiên trì chứng minh ý tưởng của mình, cho dù con đường điđến chân lý khúc khuỷu, quanh co, nhiều chông gai, trở ngại, đòi hỏi phải có nhiều nghịlực để vượt qua.
- Giả thuyết khi mới ra đời được nhiều người chấp nhận như một chân lí tuyệt đối,nhưng sau một thời gian, giả thuyết đó dần dần bộc lộ những sai lầm, không thể chấpnhận được cả về lí luận lẫn thực tiễn Đây là thái độ ngộ nhận, thái độ này không thể cóđược ở một người nghiên cứu khoa học nghiệm túc
Trong nghiên cứu trẻ em, phương pháp này không những cần thiết cho việc nghiêncứu lí luận mà còn rất cần thiết cho thực tiễn chăm sóc giáo dục trẻ, đặc biệt cần thiết choviệc dự báo sự phát triển của trẻ em ở thế kỉ XXI, định hướng cho việc tìm kiếm nhữngphương pháp mới có hiệu quả hơn trong việc nuôi dạy trẻ em
2.1.5 Phương pháp chứng minh.
Chứng minh là cách sử dụng lí luận hay sự kiện thực tiễn để làm sáng tỏ một nhậnđịnh, một quan điểm là chân lí hay không Chứng minh với tư cách là một phương phápnghiên cứu lý thuyết chỉ giới hạn ở việc dùng lý luận để khẳng định hay phủ định mộtnhận định, một quan điểm khoa học nào đó
Phương pháp chứng minh có thể tiến hành theo nhiều cách:
- Chứng minh trực tiếp: Chứng minh dựa vào các luận chứng chân thực và bằngnhững quy tắc suy luận để rút ra những kết luận cần thiết
- Chứng minh gián tiếp: Chứng minh chưa nhằm thẳng vào luận đề chính cần khẳngđịnh, trước tiên, bằng những luận chứng chân thực người nghiên cứu bác bỏ các luận đề tráivới luận đề chính (phản đề), vạch rõ những sai lầm, những cái không hợp lí của các phảnluận đề ấy, từ đó khẳng định tính chân thực, tính chính xác và tính logic của luận đề chính
- Phương pháp quy nạp: Là phương pháp chứng minh bằng suy luận đi từ những vấn
đề riêng lẻ đến những kết luận chung Phương pháp này thường được dùng trong nhiềucông trình nghiên cứu lý luận khoa học về trẻ em
- Phương pháp diễn dịch: Là phương pháp chứng minh bằng lối suy luận đi từ nhữngnguyên lí chung nhất đến những kết luận cho những trường hợp riêng Đây là phươngpháp chứng minh theo lối suy diễn nên khi sử dụng cần hết sức thận trọng Suy diễn
Trang 39thường mang tính chủ quan của người nghiên cứu, nếu lại xuất phát từ những luận đềkhông chính xác thì dễ dẫn tới sai lầm nghiêm trọng, xa rời thực tiễn.
Trong nghiên cứu trẻ em, việc xây dựng hệ thống khoa học lý luận về trẻ em bằngphương pháp chứng minh chặt chẽ là hết sức cần thiết nhằm chỉ đạo việc nuôi dạy trẻ nhỏ,đáp ứng được những yêu cầu do cuộc sống mới đặt ra trong thế kỉ XXI
Kết luận: Những phương pháp nghiên cứu lý thuyết trình bày trên đây được vậndụng một cách linh hoạt không chỉ trong các công trình nghiên cứu lý luận thuần túy màcòn được sử dụng nhiều trong các công trình mang tính ứng dụng
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TRONG NGHIÊN CỨU TRẺ EM.
2.2.1 Phương pháp quan sát
2.2.1.1 Khái niệm về phương pháp quan sát khoa học
Quan sát là quá trình tri giác có chủ định về một đối tượng nào đó để thu thập thôngtin về họ Đây là một quá trình tâm lý thuộc giai đoạn nhận thức cảm tính nhưng đã đượcquá trình nhận thức lý tính, đặc biệt là tư duy chi phối
Phương pháp quan sát khoa học là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, có mụcđích, có kế hoạch, có phương tiện để tri giác các đối tượng được lựa chọn điển hình nhằmphát hiện các dấu hiệu đặc trưng và các quy luật phát triển của đối tượng
Trong nghiên cứu trẻ em, người nghiên cứu quan sát, theo dõi một cách có mục đíchhành vi, trang thái của trẻ trong điều kiện tự nhiên và ghi lại một cách nghiêm túc những
gì quan sát được, hoặc sử dụng những phương tiện kĩ thuật hỗ trợ
Kết quả quan sát phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
- Kết quả quan sát phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu Mục đích càng xác định rõràng bao nhiêu thì thông tin thu thập được càng đầy đủ và chính xác bấy nhiêu Nếu nhưtrước khi quan sát, người nghiên cứu không xác định được mục đích quan sát, những gìmình đang quan tâm theo dõi ở trẻ em thì những cứ liệu thu thập được sẽ mơ hồ, khôngxác định, cái chính cần nghiên cứu thì lại bỏ qua, cái thứ yếu lại mất công thu thập khiếncho quan sát không mang lại hiệu quả
- Kết quả quan sát còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người nghiên cứu và trẻ em.Người nghiên cứu phải để trẻ không biết là có người đang quan sát mình, nếu không trẻ sẽ
Trang 40mất tự nhiên, không thoải mái khiến cho bức tranh hành vi của trẻ bị biến dạng, không phảnánh trung thực những gì vốn có của trẻ Bởi vậy, tốt nhất quan sát phải do người thân thuộc,gắn bó với trẻ tiến hành vì sự có mặt của họ đối với trẻ là hoàn toàn bình thường.
- Kết quả quan sát có thật chính xác hay không một phần còn nhờ vào phương tiệnquan sát Trong nghiên cứu trẻ em, ngoài các giác quan, đôi khi người ta còn áp dụngphương pháp quan sát kín, nghĩa là chỉ có người quan sát nhìn thấy trẻ còn trẻ tuyệt đốikhông nhìn thấy người quan sát Ngoài ra, để việc quan sát đạt kết quả tốt, người nghiêncứu còn sử dụng một số phương tiện kĩ thuật hỗ trợ thêm như máy ảnh, máy ghi âm, ghihình… Những phương tiện đó một mặt giúp người quan sát ghi lại những biểu hiện củatrẻ một cách đầy đủ, chính xác và lưu giữ được lâu, mặt khác những phương tiện nàycũng giúp cho người nghiên cứu thực hiện phương pháp quan sát kín một cách thuận lợi
- Kết quả quan sát trong nghiên cứu trẻ em còn phụ thuộc vào khả năng nắm bắt sựkiện của người nghiên cứu Khi quan sát, người nghiên cứu chỉ có thể theo dõi đượcnhững biểu hiện bên ngoài của hành vi đứa trẻ như những hành động với đồ vật, lời nói,điệu bộ, cử chỉ Những người nghiên cứu không phải chỉ quan tâm đến các quá trình, cáctrạng thái, các phẩm chất ẩn dấu đằng sau những biểu hiện bên ngoài đó, bởi nhiều khicùng một biểu hiện bên ngoài lại có thể biểu đạt những trạng thái bên trong khác nhau Vìvậy, khi tiến hành quan sát, người nghiên cứu chẳng những phải nhận xét đúng đắn cácđặc điểm hành vi của trẻ mà còn phải lý giải chính xác những điều mắt thấy tai nghe Do
đó, người nghiên cứu cần có vốn kinh nghiệm dồi dào, vừa phải huy động khả năng trigiác nhạy bén đồng thời vừa có khả năng tư duy sâu sắc
Để quá trình nghiên cứu có tính hướng đích cao, nhà nghiên cứu cần lập phiếu quansát trong quá trình quan sát trẻ Khi quan sát, nhà nghiên cứu một mặt cần mô tả nhữngbiểu hiện bên ngoài của đứa trẻ thật chi tiết, rõ ràng, chính xác vào một phía trong phiếuquan sát, mặt khác ghi lại cách lý giải của mình về những biểu hiện đó vào phía bên kiacủa phiếu quan sát
2.2.1.2 Các loại quan sát
a Quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp