1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng giáo dục học 2

108 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 19,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Giáo dục học 2, tài liệu biên soạn nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lý luận dạy học và giáo dục; các đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

BÀI GIẢNG (Lưu hành nội bộ)

GIÁO DỤC HỌC 2 (Dành cho sinh viên các ngành ĐHSP)

Tác giả: Nguyễn Thị Thuỳ Vân Nguyễn Thị Xuân Hương Nguyễn Thị Diễm Hăng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 4

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN DẠY HỌC 4

1.1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 4

1.2 NGUYÊN TẮC DẠY HỌC 13

CHƯƠNG 2 17

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 17

2.1 NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 17

2.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 23

2.3 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 32

2.4 HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC 35

CHƯƠNG 3 47

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN GIÁO DỤC 47

3.1.QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC 47

3.2 NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC 59

3.3 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC 65

CHƯƠNG 4 74

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 74

4.1 KHÁI NIỆM NỘI DUNG GIÁO DỤC 74

4.2 NỘI DUNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 76

CHƯƠNG 5 94

NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 94

5.1 VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 94

5.2 NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 98

5.3 PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC CỦA GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP 106

5.4 NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập học phần: Giáo dục học 2, tài liệu biên soạn

nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lý luận dạy học và giáo dục; các đặc điểm dạy học và giáo dục ở trường phổ thông, giúp sinh viên có kỹ năng vận dụng những kiến thức lý luận vào việc rèn kỹ năng tổ chức thực hiện hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục, vận dụng vào việc đổi mới phương pháp, hình thức, phương tiện dạy học cũng như triển khai, đánh giá, kết hợp các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

Nội dung tài liệu thể hiện trong 5 chương:

Chương 1 Những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học

Chương 2 Tổ chức hoạt động dạy học ở trường phổ thông

Chương 3 Những vấn đề cơ bản của lý luận giáo dục

Chương 4 Tổ chức hoạt động giáo dục ở trường phổ thông

Chương 5 Người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông

Trong quá trình biên soạn tài liệu không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong đồng nghiệp và sinh viên góp ý để tài liệu hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÝ LUẬN DẠY HỌC

1.1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.1.1 Khái niệm chung về quá trình dạy học

1.1.1.1 Định nghĩa

Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học

1.1.1.2 Tính chất hai mặt của quá trình dạy học

Qúa trình dạy học bao gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Hai hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Hai hoạt động này quy định sự tồn tại lẫn nhau, nếu thiếu một trong hai thì quá trình dạy học không thể diễn ra được Chẳng hạn, nếu thiếu hoạt động dạy của giáo viên thì quá trình đó chuyển thành quá trình tự học của người học Còn nếu thiếu hoạt động học của người học thì hoạt động dạy không diễn ra, do đó không diễn ra quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học, giáo viên đóng vai trò chủ đạo thể hiện việc định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh hoạt động học tập của người học và người học đóng vai trò tự giác, tích cực, chủ động phối hợp với sự tác động của giáo viên bằng cách tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình, nhằm đạt được nhiệm vụ dạy học

Vai trò của người giáo viên trong quá trình dạy học:

- Đề ra mục đích, yêu cầu học tập

- Vạch ra kế hoạch hoạt động của mình

- Tổ chức hoạt động dạy của mình và hoạt động học của người học

- Kích thích tính tự giác, tích cực và chủ động của học sinh bằng cách tạo nên nhu cầu, động cơ, khêu gợi tính tò mò, ham hiểu biết, hứng thú học tập của người học, làm cho họ ý thức rõ ràng nghĩa vụ và trách nhiệm đối với học tập của mình

-Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, qua đó mà có những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa kịp thời những thiếu sót của họ cũng như trong công tác giáo dục của mình

Vai trò của người học trong quá trình dạy học:

- Dưới tác động trực tiếp của giáo viên:

+ Tiếp nhận nhiệm vụ và kế hoạch học tập do giáo viên đề ra

+ Thực hiện những hành động và thao tác học tập nhằm giải quyết nhiệm vụ đề ra + Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức - học tập của mình dưới tác kiểm tra của giáo viên

và sự tự kiểm tra của mình

+ Phân tích những kết quả học tập dưới sự lãnh đạo của giáo viên

- Dưới tác động gián tiếp của giảng viên:

Trang 5

+ Lập kế hoạch hoặc cụ thể hóa những hoạt động học tập của mình

+ Tự tổ chức hoạt động học tập

+ Tự kiểm tra, điều chỉnh hoạt động học tập của mình

+ Tự phân tích kết quả hoạt động học tập của mình

Hoạt động dạy học đạt kết quả tối ưu trong trường hợp có sự thống nhất biện chứng giữa

hoạt động dạy và hoạt động học

1.1.2 Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn

Hệ thống bao gồm nhiều thành phần, các thành tố, thành phần đó có vị trí, vai trò riêng nhưng chúng quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng qua lại với nhau theo những quy luật nhất định tạo thành một khối thống nhất hoàn chỉnh Một hệ thống phải thoả mãn các điều kiện:

Hệ thống bao giờ cũng tồn tại trong một môi trường nhất định và chịu sự tác động qua lại với môi trường

Quá trình dạy học bao gồm các thành tố: Mục đích (mục tiêu); Nhiệm vụ dạy học; Nội dung dạy học; Giáo viên với hoạt động dạy; Học sinh với hoạt động học; Phương pháp dạy học; Phương tiện dạy học; Hình thức tổ chức dạy học; Kết quả của quá trình dạy học Trong đó:

- Mục đích, nhiệm vụ dạy học phản ánh yêu cầu của xã hội đặt ra, là đơn đặt hàng của xã hội đối với nhà sư phạm, nó định hướng, chi phối toàn bộ quá trình dạy học

- Nội dung dạy học là mục đích được hiện thực hoá, quy định việc dạy cái gì, học cái gì trong quá trình dạy học Nội dung dạy học được xây dựng phù hợp với đặc điểm nhận thức của từng lứa tuổi học sinh

- Giáo viên và học sinh là hai nhân tố đặc trưng cơ bản thể hiện tính hai mặt không thể thiếu của quá trình dạy học Sự tác động qua lại giữa học sinh và giáo viên tạo nên kết quả dạy học, làm biến đổi nhân cách người học

- Phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học là công cụ, cách thức dạy học, nó

có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập của học sinh

- Kết quả dạy học là nhân tố phản ánh chất lượng và hiệu quả toàn bộ quá trình dạy học so với mục đích đề ra

Các thành tố này có quan hệ mật thiết với nhau: Mục đích dạy học định hướng cho các thành tố khác trong quá trình dạy học, mục đích này được hiện thực hóa bằng nội dung dạy học Người giáo viên với hoạt động dạy của mình, với những phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học tác động đến động cơ của người học để thúc đẩy người học học tập Sự tác động lẫn nhau giữa giaó viên và học sinh sẽ tạo nên kết quả dạy – học Mặt khác, hoạt động dạy và học còn chịu sự tác động của môi trường bên ngoài xã hội (kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ…) Môi trường tạo nên sự thuận lợi hay không thuận lợi cho quá trình dạy học

1.1.3 Bản chất của quá trình dạy học

1.1.3.1 Những cơ sở xác định bản chất của quá trình dạy học

* Khía cạnh biện chứng

Trang 6

Qúa trình dạy học thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học, quá trình dạy học đạt được mục đích khi thực hiện được mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học, giữa giáo viên và học sinh

- Mối quan hệ giữa nhận thức và dạy học: Để tồn tại và phát triển loài người không ngừng nhận thức, tích lũy kinh nghiệm và dần dần khái quát chúng thành hệ thống tri thức Những tri thức đó được truyền cho thế hệ sau một cách có tổ chức, có mục đích, có chương trình thông qua quá trình dạy học Như vậy, trong xã hội diễn ra hai hoạt động (hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy học) Hoạt động nhận thức có trước và hoạt động dạy học có sau

- Mối quan hệ giữa dạy và học, giữa giáo viên và học sinh: hoạt động dạy của giáo viên

và hoạt động học của học sinh hai hoạt động quan hệ biện chứng với nhau nhằm tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh Do đó, chỉ có thể tìm bản chất của quá trình dạy học trong mối quan hệ giữa học sinh và tài liệu học tập ở trong hoạt động nhận thức Từ đó suy ra bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh

* Khía cạnh xã hội

Qúa trình dạy học thể hiện mối quan hệ giữa nhận thức và dạy học, giữa người dạy và người học thông qua quá trình chuyển hóa kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người cho thế hệ sau Vì thế, quá trình dạy học là một hiện tượng xã hội, là quá trình truyền đạt kinh nghiệm lịch sử xã hội cho thế hệ sau

* Quan niệm tâm lý

Qúa trình dạy học được xem là quá trình tâm lý (phản ánh kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người vào trong một con người tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách) Các phẩm chất tâm lý vừa là mục tiêu vừa là nhân tố để người học nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực trí tuệ, hình thành thế giới quan, phẩm chất đạo đức nhân cách

*Một số quan niệm khoa học hiện đại

- Quan điểm hệ thống cấu trúc: quá trình dạy học là một hệ thống hoạt động phức tạp có thể chỉ đạo và điều khiển được

- Thuyết điều khiển, thuyết điều chỉnh: quá trình dạy học là một quá trình điều khiển thể hiện sự thống nhất giữa điều khiển dạy và điều khiển học, điều khiển và tự điều khiển

- Lý thuyết thông tin: Quá trình dạy học được xem như là quá trình thu nhận, truyền đạt,

lưu giữ, xử lý, vận dụng thông tin

1.1.3.2 Bản chất của quá trình dạy học

* Hoạt động học là hoạt động nhận thức

Nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người Đó là sự phản ánh tâm

lý của con người bắt đầu từ cảm giác Sự học tập của học sinh cũng là quá trình phản ánh như vậy Sự phản ánh đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất của tính chất cải tạo đó là sự sáng tạo Sự phản ánh đó không phải thụ động như chiếc gương mà bao giờ cũng bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người như qua tri thức, kinh nghiệm, nhu

Trang 7

cầu, hứng thú… của chủ thể nhận thức Sự phản ánh đó có tính tích cực thể hiện ở chỗ nó được thực hiện trong tiến trình phân tích – tổng hợp của não người và có tính lựa chọn Trong

vô số những sự vật và quá trình của hiện thực khách quan, chủ thể tích cực lự chọn những cái trở thành đối tượng phản ánh của họ Vì vậy, với tư cách là chủ thể có ý thức, học sinh có khả năng phản ánh khách quan về nội dung và chủ quan về hình thức, nghĩa là về nội dung học sinh có khả năng phản ánh đúng bản chất và những quy luật của thế giới khách quan, còn về hình thức, mỗi học sinh có phương pháp phản ánh riêng của mình

Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi tiếng của V.I.Lênin: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan” (Bút ký Triết học – NXB Sự thật, Hà Nội 1963 Tr 189) Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của học sinh đều thể hiệm theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điểm xuất phát trong quá trình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng

và từ trừu tượng đến cụ thể, từ đơn nhất đến khái quát và từ khái quát đến đơn nhất

Trong thực tiễn dạy học, do không hiểu đúng công thức đó đã dẫn tới cách xây dựng nội dung và sử dụng phương pháp dạy học không đúng, dẫn đến việc quá đề cao vai trò của tính trực quan sinh động mà xem nhẹ vai trò của tư duy logic, tư duy khái quát, trừu tượng…, hoặc là quá chú trọng đến nhận thức xã hội, thay thế và xem xét nhận thức cá nhân bằng nhận thức xã hội

*Vậy tính độc đáo trong quá trình nhận thức của học sinh thể hiện như thế nào? Hoạt

động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học được sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên với những điều kiện sư phạm nhất định nên nó có tính độc đáo, thể hiện như sau:

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như quá trình nhận thức chung của loài người mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng nội dung dạy học và người giáo viên gia công vào

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại

mà là tái tạo lại tri thức của nhân loại đã tạo ra, nên cái mà họ nhận thức được chỉ là mới đối với họ mà thôi

+ Trong một thời gian tương đối ngắn, học sinh có thể lĩnh hội một khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi Chính vì vậy, trong quá trình học tập của học sinh phải củng cố, tập vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản riêng của bản thân họ

Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quá trình nhận thức của học sinh để tránh sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quá trình nhận thức của người học sinh Song cũng không vì quá coi trọng tính độc đáo đó mà thiếu quan tâm đúng mức tới việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm hiểu và tham gia các hoạt động khoa học vừa sức, nâng cao dần qua các lớp để chuẩn bị cho sự khai thác tri thức để tham gia

Trang 8

nghiên cứu khoa học trong tương lai

*Tóm lại, bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của người học dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh của giáo viên

* Dạy học lấy người học làm trung tâm

- Thế nào là quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm

Bản chất của quá trình này là lấy hoạt động của người học làm trung tâm, người học vừa

là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình dạy học Mọi tác động sư phạm của người dạy phải căn cứ vào đặc điểm người học, phải tạo điều kiện để người học suy nghĩ hoạt động nhiều, phải khơi dậy tiềm năng của người học Việc dạy học phải xuất phát từ người học, giáo dục học sinh có nhu cầu, động cơ đúng đắn

Người học phải là chủ thể của hoạt động học, tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và thái độ tạo ra sản phẩm giáo dục cho chính mình Người học phải nhập cuộc vào hoạt động học do động cơ bên trong thúc đẩy Người học trước hết phải tự thể hiện mình, hợp tác với bạn Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm phải chuyển hóa quá trình đào tạo, quá trình giáo dục thành tự giáo dục Người học vừa là chủ thể vừa là mục tiêu của quá trình dạy học Người học không lệ thuộc tuyệt đối vào giáo viên

- Đặc điểm của dạy học lấy người học làm trung tâm

+Về mục tiêu dạy học: Hướng vào việc chuẩn bi cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội, tôn trọng nhu cầu và lợi ích, tiềm năng học sinh

+ Về nội dung dạy học: Ngoài tri thức lý thuyết, chú trọng các kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn

+ Về phương pháp dạy học: Hướng vào việc tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động, giúp

họ vận dụng hiểu biết và kinh nghiệm của mình vào việc chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện phương pháp tự học, tập dượt nghiên cứu

+ Về hình thức tổ chức dạy học: Phong phú, đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh

tự thể hiện, khẳng định mình

+ Về đánh giá: Học sinh tự đánh giá và tham gia đánh giá lẫn nhau theo chuẩn với vai trò trọng tài của giáo viên

1.1.4 Nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông

a Nhiệm vụ 1: Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội – nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Kho tàng tri thức nhân loại hết sức đồ sộ nhưng nhiệm vụ của trường phổ thông chỉ có thể làm cho học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng

- Tri thức phổ thông cơ bản: Là những tri thức đã được lựa chọn và xây dựng từ các lĩnh

vực khoa học khác nhau Đó là những tri thức tối thiểu, cần thiết nhất giúp học sinh có thể

Trang 9

tiếp tục học lên ở bậc học cao hơn, ở các trường dạy nghề hoặc bước vào cuộc sống tự lập

- Tri thức hiện đại: Là những tri thức phản ánh các thành tựu mới nhất của văn hóa,

khoa học công nghệ, phù hợp với chân lý khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại

Những tri thức trang bị cho học sinh một mặt phải phù hợp với tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh, nhưng mặt khác phải đảm bảo tính hệ thống, logic khoa học, đồng thời đảm bảo mối liên

hệ giữa các môn học Bên cạnh hệ thống tri thức, cần trang bị cho người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng

Trong dạy học bên cạnh những những kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến môn học, cần trang

bị cho học sinh kỹ năng tự học và tập dượt nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp nhằm giúp học sinh rèn luyện năng lực sáng tạo, có khả năng vận dụng kiến thức vào tình huống khác nhau Kỹ năng của học sinh phải được diễn ra từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kỹ năng tái hiện đến kỹ năng sáng tạo

Để học sinh có thể thích ứng một cách có hiệu quả với cuộc sống xã hôi trong giai đoạn hiện nay, học sinh không những phải trang bị tốt hệ thống tri thức mà còn phải có thái độ và

kỹ năng vững vàng, đặc biệt là những kỹ năng sau:

+ Kỹ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội

+ Kỹ năng hợp tác và làm việc có hiệu quả trong cộng đồng

+ Kỹ năng nhận thức về xã hội và nhân văn

+ Kỹ năng nhận thức về tự nhiên và toán học

+Kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và vi tính

+ Kỹ năng cảm thụ và sáng tạonghệ thuật

+ Kỹ năng phân tích và giải quyết các tình huống tứng xủ

+ Kỹ năng tổ chức và điều hành guồng máy

+ Kỹ năng phòng vệ sự sống và gia tăng sức khỏe

+ Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ

Trên đây là hệ thống kỹ năng chung cho học sinh phổ thông Trong việc giảng dạy học sinh, tùy theo điều kiện và mức độ, có thể đưa vào các hoạt động để rèn luyện cho học sinh

b Nhiệm vụ 2: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo

Trí tuệ là tổ hợp cả về chất lượng và số lượng các tri thức đã được tích lũy và các thao tác trí tuệ Như vậy trí tuệ bao gồm hai thành phần cơ bản:

+ Tri thức có thể sử dụng để hoạt động có hiệu quả

+ Năng lực nhận thức (các thao tác trí tuệ và phẩm chất tư duy)

- Sự phát triển trí tuệ nói chung có nét đặc trưng riêng bởi sự tích lũy vốn tri thức và các thao tác trí tuệ thành thạo, vững chắc của con người, hình thành các phẩm chất của hoạt động trí tuệ và các năng lực hành động Đó là quá trình chuyển biến về chất trong quá trình nhận thức của người học Quá trình chiếm lĩnh tri thức là quá trình diễn ra dưới sự tác động thống

Trang 10

nhất biện chứng giữa một bên là tri thức với tư cách là "cái được phản ánh" với một bên là các thao tác hoạt động trí tuệ với tư cách là "phương thức phản ánh" Những tri thức được hình thành trong quá trình học tập nhờ vào những thao tác trí tuệ, ngược lại chính những thao tác trí tuệ vừa được hình thành và củng cố sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng làm phong phú tri thức của mình Vì vậy, các nhà tâm lý học cho rằng, sự phát triển trí tuệ đặc trưng bởi sự tích lũy tri thức, bởi vốn kỹ năng, kỹ xảo và việc sử dụng những thao tác trí tuệ vào việc chiếm lĩnh tri thức mới

- Qúa trình dạy học dưới sự hướng dẫn của thầy, học sinh tự rèn luyện các thao tác trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất trí tuệ sau:

+ Tính định hướng của hoạt động trí tuệ

+ Bề rộng của hoạt động trí tuệ

+ Chiều sâu của hoạt động trí tuệ

+ Tính linh hoạt của hoạt động trí tuệ

+ Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ

+ Tính độc lập của hoạt động trí tuệ

+ Tính nhất quán của hoạt động trí tuệ

+ Tính phê phán của hoạt động trí tuệ

+ Tính khái quát của hoạt động trí tuệ

Sự phát triển trí tuệ có mối liên hệ mật thiết với dạy học Dạy học được tổ chức đúng và

có phương pháp sẽ góp phần không nhỏ vào sự phát triển trí tuệ của học sinh Ngược lại, nhờ

sự phát triển trí tuệ của học sinh mà hoạt động dạy học đạt chất lượng và hiệu quả Đây chính

là một quy luật quan trọng của dạy học.Điều kiện để thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của học sinh là hoạt động dạy học phải luôn đi trước sự phát triển trí tuệ và dạy học phải luôn ở mức

độ khó khăn vưà sức, tạo điều kiện để thúc đẩy tiềm năng vốn có của nó

c Nhiệm vụ 3: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung

- Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên và xã hội Nó quy định xu hướng chính trị, tư tưởng, đạo đức và những phẩm chất khác;

nó chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động của mỗi cá nhân

Trong dạy học phải quan tâm đến việc hình thành những cơ sở thế giới quan khoa học cho học sinh để họ có suy nghĩ, có thái độ và hành động đúng

- Bên cạnh việc hình thành cho người học thế giới quan khoa học cần bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục đã đề ra như làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước và chủ nghĩa xã hội, năng động, tự chủ, sáng tạo, thích ứng nhanh

với yêu cầu CNH- HĐH đất nước

* Trong QTDH, ba nhiệm vụ trên có quan hệ mật thiêt với nhau, tác động, hỗ trợ lẫn

nhau để thực hiện mục đích giáo dục có hiệu quả

1.1.5 Quy luật, động lực và logic của quá trình dạy học

Trang 11

1.1.5.1 Quy luật của quá trình dạy học

b Những quy luật của QTDH

- Tính quy luật về tính quy định của xã hội đối với QTDH

- Tính quy luật và mối liên hệ giữa dạy học và GD

- Tính quy luật về mối quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ

- Tính quy luật về sự thống nhất và quy định lẫn nhau giữa các thành tố của QTDH

1.1.5.2 Động lực của quá trình dạy học

a.Mâu thuẫn của quá trình dạy học

Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều không ngừng vận động và phát triển do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập thực chất là đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn

Quá trình dạy học cũng như các sự vật, hiện tượng khác cũng không ngừng vận động và phát triển do không ngừng đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn

- Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố với nhau và

mâu thuẫn trong bản thân từng thành tố

- Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố trong quá

trình dạy học với các yếu tố bên ngoài môi trường (KT- XH, KHKT - công nghệ, văn hoá ) Việc giải quyết đúng đắn và hiệu quả mâu thuẫn bên trong có ý nghĩa quyết định trong việc tạo ra động lực, việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận động và phát triển của quá trình dạy học

b Mâu thuẫn cơ bản- động lực chủ yếu của quá trình dạy học

- Căn cứ để xác định mâu thuẫn cơ bản:

+ Mâu thuẫn phải tồn tại trong suốt quá trình dạy học

+ Việc giải quyết mâu thuẫn đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mâu thuẫn khác

+ Mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến hoạt động học và sự vận động, phát triển trong hoạt động nhận thức của học sinh

- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề

ra với trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và sự phát triển trí tuệ hiện có của học sinh Mâu thuẫn này không ngừng xuất hiện, không ngừng được giải quyết, nó xuyên suốt quá trình dạy học tạo nên sự vận động, phát triển quá trình dạy học

Trang 12

- Động lực chủ yếu: Việc giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn cơ bản sẽ tạo nên động lực chủ yếu của quá trình dạy học

c Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực

Để mâu thuẫn trở thành động lực phải thỏa mãn 3 điều kiện sau:

- Mâu thuẫn đó phải được người học ý thức một cách đầy đủ, sâu sắc và có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn;

- Mâu thuẫn phải vừa sức học sinh: Nghĩa là nhiệm vụ học tập đề ra có mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng phát triển gần nhất, để học sinh giải quyết được vấn đề đặt ra với sự

nỗ lực cao nhất về trí tuệ, thể lực và kinh nghiệm;

- Mâu thuẫn phải nảy sinh tất yếu theo tiến trình phát triển của quá trình dạy học

1.1.5.3 Logic của quá trình dạy học

a Khái niệm

Logic của QTDH là trình tự vận động hợp quy luật của quá trình đó, nhằm đảm bảo cho học sinh đi từ trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ tương ứng từ lúc bắt đầu nghiên cứu môn học (hay một đề mục nào đó), đến trình độ tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo và trình độ nhận thức, đặc biệt là năng lực trí tuệ, tương ứng với lúc kết thúc môn học (hay một đề mục) nào đó của môn học

Logic của QTDH là hợp kim của logic môn học và logic nhận thức

b Các khâu của QTDH

- GV đề xuất vấn đề (kích thích thái độ tích cực học tập của học sinh): đây là khâu đầu

tiên của quá trình dạy học, giáo viên khéo léo đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, nhờ vậy

mà học sinh ý thức được nhiệm vụ học tập tích cực, tự giác, hứng thú tham gia giải quyết vấn

đề nhằm tạo tâm thế để học tập

- Tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới:

+ Giai đoạn 1: Tổ chức, điều khiển học sinh tri giác tài liệu cảm tính

Tùy theo tính chất tài liệu để tổ chức cho học sinh quan sát trực tiếp hoặc đàm thoại để các em nhớ lại những biểu tượng, kinh nghiệm đã có và tìm ra mối liên hệ gần gũi với những

sự vật, hiện tượng mới, từ đó xây dựng những biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm

+ Giai đoạn 2: Hình thành khái niệm mới (tổ chức học sinh tiến hành các thao tác tư duy)

Trên cơ sở tài liệu cảm tính, học sinh tiến hành các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp,

so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa) để hình thành khái niệm và qua đó các thao tác tư duy được hoàn thiện hơn kết hợp với các khái niệm tạo thành phán đoán, kết hợp những phán đoán tạo thành suy luận Khái niệm, phán đoán, suy luận đều được diễn đạt dưới hình thức ngôn ngữ thành những định nghĩa, định lý, định luật, nguyên tắc, học thuyết Hình thành khái niệm có thể bằng con đường quy nạp hay diễn dịch

- Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố tri thức: những tri thức vừa lĩnh hội nếu không

Trang 13

được củng cố sẽ có thể bị phai mờ, quên hoặc không thể nhớ lại đầy đủ, chính xác khi cần thiết Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra phải củng cố để lưu giữ, khắc sâu tri thức một cách đầy đủ, chính xác, bền vững khi cần tái hiện lại nhanh chóng Bằng biện pháp ôn tập tích cực, thường xuyên, hệ thống, khái quát hóa

- Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo: Thực chất quá trình học tập,

học sinh cần chuyển hóa tri thức thành kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, làm cho tri thức thực sự có ý nghĩa Qúa trình rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo ở những mức độ khác nhau, quá đó phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh

- Tổ chức, điều khiển kiểm tra, đánh giá việc nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống của học sinh và tổ chức cho họ tự kiểm tra, tự đánh giá: đây là khâu quan

trọng nhằm giúp học sinh, giáo viên, nhà trường điều chỉnh quá trình dạy học Đồng thời góp phần quan trọng vào việc hình thành cho học sinh phẩm chất, năng lực tự học, học tập suốt đời đáp ứng được yêu cầu của thời đại

- Phân tích kết quả từng giai đoạn, từng bước nhất định của quá trình dạy học: sau khi

kiểm tra, đánh giá việc hoàn thành một bước, một giai đoạn nhất định nào đó của quá trình dạy học, người học, người dạy phải nhìn lại hoạt động của mình, đối chiếu kết quả thu được với mục đích, xem xét được mức độ nào, phát hiện ưu nhược điểm, tìm nguyên nhân và đề ra

phương hướng và biện pháp giải quyết

1.2 NGUYÊN TẮC DẠY HỌC

1.2.1 Khái niệm

Nguyên tắc dạy học là những luận điểm xuất phát cơ bản có tính quy luật của lý luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục tiêu dạy

học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã xác định

1.2.2 Những căn cứ để xây dựng nguyên tắc dạy học

Khi xây dựng nguyên tắc dạy học căn cư vào:

- Mục tiêu giáo dục;

- Quy luật nhận thức của loài người cũng như quy luật nhận thức của học sinh;

- Tính quy luật của quá trình dạy học;

- Bảo đảm tính kế thừa, phát triển của quá trình dạy học

1.2.3 Hệ thống các nguyên tắc dạy học

1.2.3.1 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học

- Yêu cầu: Trong qúa trình dạy học phải trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa hoc chính xác, phản ánh những thành tựu khoa học kĩ thuật - công nghệ và văn hoá hiện đại Giúp các em tiếp cận với phương pháp học tập, thói quen suy nghĩ và làm việc khoa học Qua đó dần hình thành cơ sở thế giới quan, tình cảm và những phẩm chất đạo đức nhân cách Dạy học không chỉ phát triển trí tuệ và trang bị cho người học tri thức mà còn phải tạo hứng thú và nhu cầu học tập

- Biện pháp thực hiện:

Trang 14

+ Trang bị cho học sinh những tri thức khoa học hiện đại, giúp học sinh hình thành ý thức, thái độ và hành động đúng

+ Làm cho học sinh hiểu được tự nhiên, xã hội, con người, truyền thống dân tộc để hình thành tình cảm, giáo dục ý thức, tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ công dân

+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, phê phán những hiện tượng mê tín

dị đoan phản khoa học

+ Giúp học sinh làm quen và tiếp cận với một số phương pháp nghiên cứu khoa học ở mức

độ đơn giản, rèn luyện phẩm chất, tác phong của người nghiên cứu khoa học

+ Vận dụng phương pháp và tổ chức hoạt động dạy học theo quan điểm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh Mặt khác, ngăn chặn tình trạng học vẹt, thụ động trong học tập

1.2.3.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học

- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững tri thức lý thuyết, nhận rõ tác dụng của tri thức đối với đời sống và kĩ năng vận dụng chúng góp phần cải tạo thực tiễn và bản thân

+ Về hình thức tổ chức dạy học: Cần kết hợp những hình thức tổ chức dạy học khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh liên hệ lý thuyết với thực tiễn

1.2.3.3 Đảm bảo thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học

- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi phải tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật hiện tượng hoặc mô hình của chúng, từ đó hình thành những khái niệm, quy luật, lý thuyết

và ngược lại có thể từ lĩnh hội những khái niệm, quy luật, lý thuyết trước rồi xem xét những sự vật hiện tượng cụ thể Đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể với tư duy trừu tượng

- Biện pháp thực hiện:

+ Sử dụng nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là phương tiện nhận thức

+ Kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp dạy học thuyết trình với trình bày trực quan, hình thành những biểu tượng mới, khái niệm mới

+ Khi trình bày đồ dùng trực quan, cần rèn luyện cho học sinh óc quan sát và kết hợp với ngôn ngữ

+ Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học khác nhau

+ Đề ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ giữa cái

Trang 15

cụ thể và cái trừu tượng và ngược lại

1.2.3.4 Đảm bảo tính vững chắc của tri thức kỹ năng, kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy

- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm cho học sinh nắm vững bản chất vấn đề với sự hoà trộn vốn kinh nghiệm của bản thân, đồng thời học sinh cần nhớ nhiều, nhớ nhanh, nhớ lâu, nhớ chính xác những kiến thức phù hợp nhằm giải quyết có hiệu quả những tình huống cụ thể, góp phần tích cực vào việc phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo cho học sinh

- Biện pháp thực hiện :

+ Trong dạy học cần làm nổi bật những cái cơ bản, bản chất của vấn đề

+ Trong quá trình tự học, học sinh phải biết sử dụng phối hợp nhiều loại ghi nhớ

+ Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, cách sưu tầm, tra cứu tài liệu

+ Trong dạy học, chú ý ôn tập cho học sinh, trong ôn tập phải yêu cầu học sinh nắm được tính hệ thống của kiến thức, thấy được cái mới, đồng thời tạo điều kiện cho các em vận dụng kiến thức vào nhiều tình huống khác nhau Điều đó có tác dụng làm cho học sinh vừa nắm chắc kiến thức, vừa rèn luyện phẩm chất linh hoạt trong tư duy

1.2.3.5 Đảm bảo tính vừa sức và chú ý đến những đặc điểm lứa tuổi, tính cá biệt và tính tập thể trong dạy học

- Yêu cầu: Trong quá trình dạy học khi lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải phù hợp với trình độ chung của lớp, đồng thời phù hợp với từng đối tượng học sinh, bảo đảm cho mọi học sinh đều có thể phát triển tối đa khả năng của mình Dạy học vừa sức nghĩa

là đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ phù hợp, tác động vào giới hạn cao nhất của “Vùng phát triển gần nhất” (theo học thuyết của L.X Vưgôtxki) mà học sinh có thể hoàn thành với sự nỗ lực cao nhất cả về trí lực lẫn thể lực

- Biện pháp thực hiện:

+ Trong dạy học cần nắm vững đặc điểm chung , đặc điểm riêng của từng học sinh để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn + Phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp dần, từ tri thức đến kĩ năng, kĩ xảo trong vận dụng tri thức

+ Phải điều chỉnh kịp thời hoạt động nhận thức của học sinh

+ Phải cá biệt hoá, sử dụng những tác động thích hợp để phát triển học sinh khá giỏi và dẫn dắt học sinh trung bình, yếu kém

1.2.3.6 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học

- Yêu cầu: Trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ đạo của giáo viên tạo nên sự cộng hưởng giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Thái độ tự giác, tích cực học tập bắt đầu từ khi học sinh hiểu rõ mục đích và nhiệm vụ chung của việc học tập cũng như những mục đích riêng của mỗi nhiệm vụ học tập, mỗi bài học,

Trang 16

mỗi bài làm

Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh ý thức được mục đích, nhiệm vụ học tập, có

ý thức trong việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, có ý thức kiểm tra, tự kiểm tra, đánh giá, tự đánh giá quá trình, kết quả học tập của mình để tự điều chỉnh quá trình học tập Tính tích cực nhận thức thể hiện ở thái độ cải tạo của chủ thể đối với đối tượng nhận thức, huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành các nhiệm

+ Cần duy trì thường xuyên mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học

1.2.3.7 Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học thành quá trình tự học

- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải hình thành cho học sinh nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học có thể chuyển dần từ quá trình dạy học sang tự học Người học phải thực sự tích cực trong quá trình học tập, tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, tự kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh hoạt động học tập để đạt hiệu quả ngày càng cao

- Biện pháp thực hiện:

+ Trong quá trình dạy học phải chú ý rèn luyện kỹ năng học tập: đọc sách, tra cứu, lập kế hoạch, tự tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá

+ Tăng tỉ trọng hoạt động tự lực của học sinh trong quá trình học tập

+ Nêu những tấm gương tự học tốt để giáo dục học sinh

+ Tổ chức trao đổi kinh nghiệm học tập trong tập thể học sinh, xây dựng không khí và phong trào học tập sôi nổi của tập thể học sinh

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Thế nào là quá trình dạy học? Vì sao quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn?

2 Phân tích bản chất của quá trình dạy học và rút ra những kết luận cần thiết

3 Qúa trình dạy học gồm những nhiệm vụ nào? Phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm

vụ đó

4 Phân tích động lực của quá trình dạy học, từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết

5 Trình bày các khâu của quá trình dạy học? Cho ví dụ minh họa

6 Trình bày các nguyên tắc của quá trình dạy học và rút ra những kết luận sư phạm cần

Trang 17

thiết

*Thảo luận:

1 So sánh quan điểm dạy học truyền thống và dạy học lấy người học làm trung tâm

2 Động lực của quá trình dạy học

CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

2.1 NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

2.1.1 Nội dung dạy học

2.1.1.1 Khái niệm về nội dung dạy học

Nội dung dạy học là một hệ thống những tri thức, cách thức hoạt động, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và thái độ cảm xúc- đánh giá đối với thế giới phù hợp về mặt sư phạm và được định hướng về mặt chính trị nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người học

2.1.1.2 Cấu trúc của nội dung dạy học

a Tri thức

Thiếu tri thức là thiếu cơ sở để tư duy, để hình thành thế giới quan khoa học và nhờ đó

để có phương pháp luận đúng đắn trong hoạt động nhận thức và thực hành Song, tri thức loài người tích lũy được vô cùng phong phú còn từng người trong cuộc đời của mình không thể nắm được tất cả tri thức đó mà chỉ có thể nắm được một bộ phận mà thôi Vì vậy, điều quan trong là làm sao bộ phận tri thức đó phải bao gồm những tri thức khác nhau, là cơ sở của những khoa học, là những dạng hoạt động cơ bản của hoạt động xã hội và của đời sống Ngoài ra bộ phận tri thức đó phải bao gồm những dạng tri thức khác nhau đặc trưng cho những khoa học có tính chất nền tảng, vì với điều kiện đó thì tri thức mới thực hiện được những chức năng cơ bản của mình: chức năng bản thể luận, chức năng định hướng, chức năng đánh giá

Trong môn học ở trường phổ thông có 6 dạng tri thức sau: Tri thức có tính chất kinh nghiệm, tri thức lý thuyết, tri thức thực hành, tri thức thiết kế sáng tạo, tri thức về phương pháp thiết kế và tư duy khoa học đặc trưng đối với từng ngành khoa học mà học sinh phải lĩnh hội, tri thức đánh giá Tất cả những dạng tri thức này đóng vai trò khác nhau trong việc thực hiện những chức năng khác nhau trong công tác dạy học - giáo dục Vì vậy, phải tổ chức, sử

dụng và có những biện pháp để giúp học sinh lĩnh hội có hiệu quả những tri thức đó

b Kinh nghiệm thực hiện những cách thức hành động

Kỹ năng, kỹ xảo là những kinh nghiệm về cách thức hành động khác nhau được con người tiếp thu Các nhà tâm lý học cho rằng có kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng phức tạp Kỹ năng sơ đẳng được luyện tập nhiều lần biến thành kỹ xảo Nói cách khác kỹ xảo là hành động

tự động tự động hóa nhờ luyện tập Còn kỹ năng phức tạp bao gồm rất nhiều kỹ xảo Ví dụ:

kỹ năng giải toán, kỹ năng sư phạm cần rất nhiều kỹ xảo khác nhau và bao giờ cũng có sự

Trang 18

tham gia của ý thức Có thể có kỹ xảo, kỹ năng thực hành và kỹ xảo, kỹ năng trí tuệ Ngoài ra còn có kỹ xảo, kỹ năng chung cho các môn học như kỹ xảo, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ xảo, kỹ năng làm dàn ý, so sánh, phân tích ý phụ, ý chính, rút ra kết luận Và kỹ xảo, kỹ năng đặc trưng cho môn học như kỹ xảo, kỹ năng làm thí nghiệm trong học môn học như Sinh vật, Hóa học, Trong số các kỹ xảo, kỹ năng đó, có những kỹ xảo, kỹ năng làm điều kiện để độc lập lĩnh hội tri thức, những kỹ xảo, kỹ năng tóm tắt, nhận xét, phê bình, lập thu mục, sử dụng sách báo

c Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo

Thành phần này nhằm chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm tòi, giải quyết vấn đề mới, cải tạo hiện thực Nó thực hiện một chức năng hết sức quan trọng đó là tạo cho thế hệ trẻ cải biến một cách sáng tạo hiện thức khách quan và làm cho hiện thức đó phát triển một cách bền vững Do đó phải xây dựng nội dung dạy học như thế nào để đòi hỏi học sinh phải thể hiện tính tự lực nhận thức một cách hệ thống và sáng tạo Vì vậy dấu hiệu sáng tạo có những đặc trưng sau:

+ Thấy được chức năng mới của đối tượng quen biết

+ Tự lực tổng hợp những cách thức hoạt động đã biết thành những cách thức hoạt động mới

+ Nhìn thấy cấu trúc của đối tượng

+ Nhìn thấy những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề nào đó và chọn cách giải quyết phù hợp tối ưu với hoàn cảnh nhất định

+ Xây dựng những cách giải quyết hoàn toàn mới, khác với cách giải quyết đã từng quen biết

d Những tiêu chuẩn về thái độ thái độ đối với tự nhiên, xã hội và con người

Thực chất đây là tính giáo dục của nội dung dạy học Thành phần này có nội dung đặc biệt ở chỗ nó không chỉ bao hàm những tri thức kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả thái độ đánh giá, thái độ cảm xúc đối với thế giới, đối với con người, đối với hoạt động

Thành phần này được thể hiện một cách trực tiếp ở một số môn học như môn Đạo đức, Giáo dục công dân, trong hoạt động lao động, hoạt động xã hội, sinh hoạt đoàn thể và phản ánh gián tiếp qua các bộ môn khác, đặc biệt là bộ môn nhân văn và trong các hoạt động khác của nhà trường Vì vậy, thành phần này được thể hiện khi toàn bộ nội dung dạy học thấm nhuần sâu sắc thế giới quan khoa học, chú ý giáo dục tình cảm, thái độ đánh giá một cách đúng đắn với tri thức thực sự khoa học, với những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ cao đẹp Bốn thành phần của nội dung dạy học có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau Thiếu tri thức không thể hình thành kỹ năng, kỹ xảo Hoạt động sáng tạo được thực hiện trên cơ sở tri thức và kinh nghiệm đã biết

2.1.2 Kế hoạch dạy học

2.1.2.1 Khái niệm

Kế hoạch dạy học là văn bản quy định các môn học; trình tự dạy học các môn học qua

Trang 19

từng năm học; số tiết cho từng môn trong mỗi năm học, từng tuần học và việc tổ chức năm học (số tuần thực học, số tuần lao động và nghỉ, chế độ học tập hàng tuần, hàng ngày)

2.1.2.2 Kế hoạch dạy học ở trường THPT

- Môn học: Được xây dựng trên cơ sở những khoa học tương ứng Tuy nhiên, do sự phân hoá khá lớn của khoa học nên trong một môn học thường không chỉ bao gồm những cơ sở của mỗi khoa học mà của nhiều khoa học có liên quan với nhau, trong đó tất cả các môn đều có yếu

- Số tiết cho các môn trong tuần không giống nhau

- Trong kế hoạch dạy học còn dành số tiết cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp

2.1.3 Chương trình dạy học

2.1.3.1 Khái niệm

Chương trình dạy học là văn bản quy định: Vị trí môn học; Mục đích môn học (mục tiêu), phạm vi và hệ thống nội dung môn học; Số tiết dành cho môn học nói chung cũng như từng phần/chương/ bài nói riêng

Bộ GD&ĐT ban hành Khung phân phối chương trình các môn học và các hoạt động

giáo dục hàng năm (website: http://moet.gov.vn)

2.1.3.2 Cấu trúc của chương trình dạy học

Khung phân phối chương trình (KPPCT) mỗi cấp học gồm 2 phần:

- Hướng dẫn sử dụng PPCT (những lưu ý về nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học, cách thức kiểm tra, đánh giá )

- Khung PPCT (Phạm vi và hệ thống nội dung môn học (các phần, chương, bài, mục ); Phân phối thời gian cho môn học nói chung và đối với từng phần, chương, bài nói riêng cũng như thời gian dành cho kiểm tra, ôn tập )

Chương trình môn học là căn cứ để các cấp quản lí giáo dục chỉ đạo, và kiểm tra, giám sát công tác dạy học của giáo viên và nhà trường Đồng thời là căn cứ để giáo viên tiến hành tổ chức công tác dạy học, lập kế hoạch giảng dạy

2.1.3.3 Nguyên tắc xây dựng chương trình dạy học

Xây dựng chương trình dạy học có thể theo 02 cách: đường thẳng hoặc đồng tâm Chương trình phổ thông đều được xây dựng theo kiểu đồng tâm

2.1.3.4 Yêu cầu đối với giáo viên

Phải nắm vững chương trình môn học mà mình phụ trách và tìm hiểu, nghiên cứu chương trình các môn học có liên quan để thiết lập mối quan hệ liên môn trong quá trình dạy học

2.1.4 Sách giáo khoa và tài liệu dạy học khác

Trang 20

2.1.4.1 Sách giáo khoa

Nội dung chương trình được thể hiện cụ thể, chi tiết, có hệ thống trong sách giáo khoa

Cấu trúc và nội dung của sách giáo khoa được quy định bởi cấu trúc và nội dung chương trình

môn học Tuy nhiên, chương trình không vạch ra đầy đủ nội dung những tri thức mà học sinh

cần lĩnh hội, do đó

- Nhiệm vụ sách giáo khoa là trình bày những nội dung bộ môn một cách rõ ràng, chi tiết

theo cấu trúc, trình bày nội dung cơ bản, thông tin cần thiết, vừa sức học sinh, có hệ thống chặt

chẽ

- Chức năng sách giáo khoa: Chủ yếu là giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri

thức tiếp thu trên lớp; phát triển năng lực trí tuệ, có tác dụng giáo dục Đồng thời, giúp giáo viên

xác định nội dung và lựa chọn phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học phù hợp

- Những yêu cầu đối với sách giáo khoa: + Những tri thức trong sách giáo khoa phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng, tính hệ

thống, tính vừa sức và phù hợp với chương trình quy định

+ Giúp học sinh dần nắm được phương pháp học tập độc lập, biết học tập liên tục, học tập

suốt đời Vì vậy, cần có những chỉ dẫn, bài tập quan sát, luyện tập, câu hỏi ôn tập và tự kiểm tra

+ Kích thích sự suy nghĩ, mở rộng tầm hiểu biết cho học sinh, cần nêu những vấn đề - hiện

tượng trong đời sống, đòi hỏi phải vận dụng khai thác tri thức trong sách giáo khoa kết hợp với

tri thức đã biết để giải quyết

+ Ngôn ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác

+ Hình thức trình bày đảm bảo yêu cầu về vệ sinh và thẩm mỹ

2.1.4.2 Những tài liệu dạy học khác

Ngoài sách giáo khoa còn có những sách và tài liệu tham khảo khác cho cả thầy và trò rất

phong phú và đa dạng (sách tra cứu, hướng dẫn giảng dạy, từ điển, sách bài tập, sách nâng cao

vv ) giúp giáo viên tiến hành công tác giảng dạy thuận lợi, đồng thời giúp học sinh mở rộng,

bổ sung, đào sâu kiến thức phù hợp với trình độ và hứng thú Tuy nhiên, những tài liệu này có

thể không đảm bảo những yêu cầu đầy đủ như sách giáo khoa Do vậy, giáo viên phải giúp học

sinh nắm vững nội dung học tập và hướng dẫn cách sử dụng cũng như cách khai thác tri thức

2.1.5 Những phương hướng chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học ở trường phổ

thông

2.1.5.1 Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường THPT nói

chung và từng cấp học nói riêng

- Toàn bộ nội dung dạy học ở trường THPT hiện nay phải tạo cho thế hệ trẻ những cơ sở

ban đầu rất quan trọng của con người mới, đáp ứng được nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước

- Đối với giáo dục THPT phải trực tiếp chuẩn bị cho học sinh khi ra trường có thể học nghề,

TCCN, CĐ – ĐH, hoặc tham gia cuộc sống lao động sản xuất

2.1.5.2 Nội dung dạy học đảm bảo tính toàn diện và cân đối, trong đó phải hết sức

Trang 21

coi trọng giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức

- Tính toàn diện và cân đối của giáo dục đòi hỏi nội dung dạy học ở trường THPT phải là tổng thể thống nhất giữa các mặt giáo dục: đức, trí, thể, mĩ, lao động kĩ thuật Mỗi môn học đều

có nhiệm vụ góp phần đẩy mạnh các mặt giáo dục Phải phối kết hợp hữu cơ, thống nhất các mặt giáo dục với nhau, kết hợp đúng đắn giữa lao động trí óc và lao động chân tay, học và hành, giữa thể chất - tinh thần, giữa các tác động giáo dục

- Giáo dục đạo đức phải coi trọng đến việc quán triệt định hướng mục tiêu xã hội chủ nghĩa, giáo dục tư tưởng, chính trị và đạo đức Muốn vậy, nội dung dạy học phải:

+ Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lòng yêu nước phù hợp với lứa tuổi, bậc học, đường lối chính sách của Đảng, phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Từ đó để xây dựng niềm tin, tích cực thực hiện và vận động cùng những người khác cùng thực hiện;

+ Đi đôi với nhận thức lý luận, nội dung dạy học cần bồi dưỡng tình cảm đúng đắn và lối sống đẹp trong các mối quan hệ;

+ Coi trọng và phát huy ưu thế các môn khoa học xã hội nhân văn trong việc xây dựng tình cảm;

+ Giáo dục thẩm mỹ qua các môn học hình thành cho học sinh cơ sở thẩm mỹ, bồi dưỡng năng lực sáng tạo văn học nghệ thuật, thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh và phong phú;

+ Coi trọng giáo dục lao động kĩ thuật và hướng nghiệp để học sinh biến tri thức lĩnh hội được thành công cụ cải tạo và xây dựng đất nước;

+ Giáo dục thể chất cần góp phần làm cho học sinh ý thức được tầm quan trọng đối với việc bảo vệ, củng cố sức khoẻ và xây dựng thói quen giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, đẩy mạnh các hoạt động thể dục thể thao;

+ Trong các môn học phải đảm bảo cân đối của lý thuyết và thực hành phong cách tư duy khoa học, thế giới quan khoa học;

+ Để đảm bảo tính cân đối và toàn diện giữa các mặt giáo dục cần có chế độ học tập hợp lý

và khoa học (hàng ngày/ tuần/ tháng/ năm)

2.1.5.3 Nội dung dạy học đảm bảo cho học sinh nắm vững những tri thức phổ thông,

cơ bản, hiện đại, có hệ thống, phù hợp với thực tiễn đất nước về khoa học xã hội - nhân văn, qua đó hình thành thế giới quan khoa học, phát triển năng lực trí tuệ và hình thành phẩm chất nhân cách

Để hiện đại hoá nội dung dạy học phải tiến hành các biện pháp sau:

- Tăng cường cơ sở lý luận và giảm bớt những tri thức có tính chất mô tả không cần thiết Trình bày giải thích những tri thức phổ thông dưới ánh sáng của những tư tưởng lý thuyết, quan niện hiện đại của khoa học một cách phù hợp

- Đưa vào nội dung dạy học một cách đúng đắn những yếu tố của một số lý thuyết hiện đại

- Giới thiệu có chọn lọc những tài liệu, số liệu, kết luận, ứng dụng hiện đại của khoa học - công nghệ, văn hoá phù hợp với thực tiễn

Trang 22

Như vậy, tính hiện đại của tri thức thể hiện tính cập nhật với tiến bộ khoa học kĩ thuật - công nghệ và tính ứng dụng kịp thời

2.1.5.4 Nội dung dạy học phải phản ánh thực tiễn đất nước một cách đầy đủ

Trong nội dung dạy học những tri thức phải:

- Làm cho học sinh hiểu về đất nước và con người Việt Nam

- Tạo khả năng cho học sinh phân tích, giải quyết những vấn đề cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn và thực hành những điều đã học

- Nội dung dạy học phải thống nhất trong cả nước nhưng đồng thời phải chú ý đến từng đặc điểm riêng từng vùng, địa phương khác nhau Muốn vậy cần thực hiện các biện pháp sau: + Tuỳ từng môn học, chương trình sẽ dành thời gian thích hợp để học kĩ, học sâu hơn những phần có liên quan đến đặc điểm từng vùng, từng địa phương khác nhau

+ Đối với một số môn, ngoài sách giáo khoa phản ánh tình hình chung của đất nước, cần biên soạn tài liệu riêng một số vùng, địa phương

+ Chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ (nói, viết) của dân tộc trong việc dạy học

- Khi dạy những vấn đề trong nội dung chương trình phải vận dụng liên hệ với tình hình thực tế địa phương Ngoài ra, còn phải mở rộng hiểu biết về các đất nước khác trong khu vực và trên thế giới

2.1.5.5 Nội dung dạy học đảm bảo tính hệ thống và liên hệ giữa các bộ môn

Mỗi môn học đều được xác định trên cơ sở những khoa học tương ứng, nó tuân theo mối liên kết và tính tuần tự trong khi nghiên cứu Nhưng một số môn khác lại được xây dựng bằng cách tích hợp tri thức của nhiều khoa học khác nhau có liên quan

Mỗi khoa học nghiên cứu những quy luật khách quan về lĩnh vực của thế giới Song nhưng sự vật hiện tượng của thế giới khách quan lại tồn tại không tách rời nhau mà liên hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, các môn học về cơ bản được xây dựng trên cơ sở khoa học này hay khoa học khác nhưng không cô lập với nhau do đó nội dung môn học liên hệ bổ sung cho nhau nhằm cung cấp cho học sinh một hệ thống tri thức hoàn chỉnh và chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành thế giới quan khoa học, phát triển hài hoà các lĩnh vực hoạt động trí tuệ, tình cảm và thể chất Các môn học, về nội dung thường có những mối liên hệ theo tính chất chung của lý thuyết, định luật, khái niệm, của những sự kiện khoa học, của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học và của những cách thức hoạt động trí tuệ

2.1.5.6 Nội dung dạy học cần phải đảm bảo tính chất kỹ thuật tổng hợp

Giáo dục kĩ thuật tổng hợp là một trong những nội dung của giáo dục toàn diện Để quán triệt tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp, nội dung môn học cần đáp ứng những yêu cầu sau: + Trên cơ sở nắm vững tri thức cần làm cho học sinh nắm vững được yêu cầu và phương hướng của những ngành chủ yếu của nền sản xuất nước ta trong từng giai đoạn phát triển kinh tế

- xã hội

+ Làm cho học sinh nắm được những nguyên lý cơ bản của quá trình sản xuất chủ yếu và việc tổ chức quản lý sản xuất một cách khoa học, hiệu quả

Trang 23

+ Nội dung dạy học phải đảm bảo liên hệ đúng mức các tri thức phổ thông cơ bản với thực

Ngoài đặc điểm chung lứa tuổi, mỗi học sinh đều có một đặc điểm tâm sinh lý khác nhau Đặc biệt học sinh trung học là lứa tuổi có sự khác biệt rõ nét đặc điểm giới tính Do đó nội dung dạy học còn phải phù hợp với giới tính và chú ý đền việc phát huy sở trường, năng khiếu của từng em (trong học tập cũng như trong các hoạt động )

Nội dung dạy học phải kết hợp việc phổ cập và nâng cao, chú trọng tới điều kiện tổ chức dạy học ở từng vùng có đặc điểm khác nhau

Tóm lại, những phương hướng cơ bản chỉ đạo xây dựng nội dung dạy học có mối liên hệ biện chứng với nhau (đan kết, bổ sung, hỗ trợ và quy định lẫn nhau) Do đó phải quán triệt quan điểm hệ thống phức hợp

2.2.1.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học

- PPDH chịu sự chi phối của mục đích dạy học

- Chịu sự chi phối của NDDH

- Phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của GV

- Bị chi phối bởi nhu cầu và trình độ phát triển của xã hội

2.2.2 Hệ thống các phương pháp dạy học ở trường phổ thông

2.2.2.1 Các PPDH dùng ngôn ngữ

a Phương pháp thuyết trình

Trang 24

- Định nghĩa: Là phương pháp dạy học bằng lời để trình bày tài liệu mới hoặc hệ thống

những tri thức mà học sinh đã lĩnh hội được trong một thời gian nhất định

- Các hình thức thuyết trình: giảng thuật, giảng giải và giảng diễn

+ Giảng thuật: là một hình thức của phương pháp thuyết trình, trong đó có yếu tố mô tả,

trần thuật Giảng thuật không chỉ được sử dụng trong việc dạy học các môn học xã hội - nhân văn mà còn có cả những bộ phận khoa học tự nhiên Nó được sử dụng khi mô tả những thí nghiệm

+ Giảng giải: là hình thuyết trình thể hiện bằng việc dùng những luận cứ, số liệu để

chứng minh một hiện tượng, sự kiện, định lý, định luật, công thức, nguyên tắc trong môn học Giảng giải chứa đựng các yếu tố phán đoán, suy lí nên có khả năng phát triển tư duy logic cho học sinh Trong quá trình dạy học giảng giải thường kết hợp với giảng thuật

+ Giảng diễn: là một hình thức của phương pháp thuyết trình nhằm trình bày một vấn đề

hoàn chỉnh, có tính phức tạp, trừu tượng và khái quát trong một thời gian tương đối dài

- Các bước thực hiện PP thuyết trình (Cấu trúc của phương pháp thuyết trình)

+ Đặt vấn đề: Đây là bước đầu tiên nhằm thông báo vấn đề dưới dạng tổng quát nhằm

kích thích sự chú ý ban đầu của học sinh

+ Phát biểu vấn đề: Là nêu lên những câu hỏi cụ thể nhằm vạch ra phạm vi những vấn

đề cần phải xem xét

+ Giải quyết vấn đề: có thể theo lối quy nạp, diễn dịch

+ Kết luận: là bước kết thúc của việc trình bày vấn đề Nó và việc kết thúc dưới dạng súc

tích, chính xác những khái quát bản chất của vấn đề đưa ra xem xét

- Ưu điểm của PP thuyết trình

+ Cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung lý thuyết tương đối khó, chứa đựng nhiều thông tin mà học sinh tự mình không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc

+ Giúp cho học sinh nắm được hình mẫu về cách tư duy logic, cách đặt và giải quyết vấn đề khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt vấn đề

+Tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên tác động đến tư tưởng, tình cảm của học sinh qua việc trình bày tài liệu với giọng nói, cử chỉ điệu bộ thích hợp và diễn cảm

+ Tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý và kích thích tính tích cực tư duy của học sin + Giáo viên có thể truyền đạt một khối lượng thông tin khá lớn cho nhiều học sinh trong cùng một lúc vì vậy đảm bảo tính kinh tế cao

- Nhược điểm:

+ Học sinh dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi

+ Dễ hình thành thói quen thụ động, thiếu sáng tạo và ghi nhớ kém bền vững

+ Làm cho học sinh thiếu tính tích cực trong phát triển ngôn ngữ nói

+ Thiếu điều kiện cho phép giáo viên chú ý đầy đủ đến trình độ nhận thức cũng như kiểm tra sự lĩnh hội tri thức của từng học sinh

- Yêu cầu khi sử dụng PP thuyết trình:

Trang 25

+ Trình bày chính xác các sự kiện, hiện tượng, khái niệm, định luật, vạch ra được bản chất của vấn đề, ý nghĩa tư tưởng chính trị và thực tiễn của tài liệu học tập

+ Trình bày đảm bảo tính tuần tự, lôgíc, rõ ràng, dễ hiểu, lời nói ngắn gọn, súc tích, biểu cảm, chính xác, hấp dẫn để lôi cuốn học sinh

+ Thu hút và duy trì sự chú ý học sinh, gây được hứng thú, kích thích tư duy qua ngôn ngữ nói kết hợp với cử chỉ, điệu bộ…

+ Trình bày phải đảm bảo cho học sinh ghi chép được, qua đó giúp các em biết cách kết hợp vừa ghi chép vừa tập trung nghe giảng và suy nghĩ

+ Phối kết hợp với các phương pháp khác

b Phương pháp vấn đáp (đàm thoại)

- Định nghĩa: Là PPDH trong đó GV khéo léo đặt ra hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời

nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới, tự khai phá những tri thức mới bằng cách tái hiện những tri thức đã học hoặc những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa những tri thức đã tiếp thu được và nhằm kiểm tra, đánh giá, giúp họ tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức

- Ưu điểm của PP vấn đáp

+ Vận dụng khéo léo sẽ có tác dụng điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, kích thích học sinh tích cực độc lập tư duy

+ Bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời các vấn đề khoa học

+ Giúp giáo viên thu tín hiệu ngược một cách nhanh chóng, tạo không khí sôi nổi trong giờ học

- Nhược điểm: Sử dụng không khéo sẽ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạch lên lớp -Yêu cầu sử dụng phương pháp vấn đáp:

+ Trước hết, đặt câu hỏi để cả lớp chuẩn bị, sau đó gọi học sinh trả lời, yêu cầu những học sinh khác nhận xét, bổ sung, sữa chữa, nhằm thu hút sự chú ý, kích thích hoạt động chung của

+ Thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu lên những thắc mắc của mình và khéo léo sử dụng thắc mắc đó thành tình huống có vấn đề cho cả lớp cùng suy nghĩ, thảo luận, tranh luận để giải

Trang 26

quyết vấn đề

c Phương pháp làm việc với sách giáo khoa và tài liệu khác

- Ý nghĩa: Sách giáo khoa và các tài liệu khác là nguồn tri thức phong phú, vô tận, là

phương tiện quan trọng để nhận thức thế giới xung quanh vì nó phản ánh kinh nghiệm loài người đã được khái quát, hệ thống hoá

Sử dụng sách giáo khoa và tài liệu khác không chỉ là lĩnh hội tri thức mà còn hình thành phương pháp đọc sách khoa học, hiệu quả

- Yêu cầu:

+ Sử dụng sách giáo khoa và tại liệu khác tại lớp: Giáo viên cần xác định nội dung nào học sinh có thể tự lực nghiên cứu tại lớp Khi tiến hành bài học, giáo viên cần xem trong từng trường hợp cụ thể phải hướng dẫn sử dụng một cách hợp lí để kích thích hoạt động tư duy tích cực của học sinh mà không dẫn tới ghi nhớ một cách máy móc Sử dụng việc nghiên cứu tại lớp dù bất

kỳ trường hợp nào cũng không chiếm toàn bộ tiết học, cần phối hợp với phương pháp dạy học khác Sau khi nghiên cứu một nội dung nào đó giáo viên cần đưa ra câu hỏi và kích thích học trả lời để nắm mức độ lĩnh hội của học sinh Qua đó có biện pháp mở rộng và đào sâu những kiến thức, sửa chữa những điều các em chưa hiểu đúng

+ Sử dụng SGK và tài liệu khác ở nhà: Giúp học sinh bổ sung, đào sâu những tri thức tiếp thu trong thời gian hạn chế tại lớp và và rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo và thói quen sử dụng + Các kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành để sử dụng sách giáo khoa và tài liệu khác hiệu quả:

Kỹ năng, kỹ xảo đọc, lập dàn ý, xây dựng đề cương, trích ghi, ghi tóm tắt Những kỹ năng, kỹ xảo này được hình thành và hoàn thiện dần trong quá trình sử dụng với điều kiện ở lớp giáo viên

đề ra những yêu cầu nghiêm túc, có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn rõ ràng, tỉ mỉ, có hệ thống và học sinh tích cực hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra Ngoài ra cần hướng dẫn cho học sinh chọn sách, lập thư mục và thu thập thông tin tài liệu theo môn hoặc chủ đề nhất định, kích thích học sinh lập tủ sách cá nhân và tổ chức trao đổi sách báo với nhau

2.2.2.2 Nhóm phương pháp dạy học trực quan

a Phương pháp quan sát

- Định nghĩa: Là PP tổ chức cho học sinh tri giác một cách có chủ định, có kế hoạch tiến

trình và sự biến đổi diễn ra ở đối tượng nhằm thu thập những sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh Quan sát luôn gắn với tư duy

- Các bước tiến hành quan sát: Gồm 3 bước:

+ Bước chuẩn bị: Giaó viên cần có kế hoạch về những nội dung sau:

- Đối tượng quan sát, thời gian quan sát, thời lượng quan sát

- Nhiệm vụ học tập cụ thể của học sinh khi quan sát

- Hướng dẫn cách ghi chép cho học sinh

- Chuẩn bị phương tiện (nếu cần)

+ Tiến hành quan sát:

- Giaó viên giao nhiệm vụ học tập cho học sinh

Trang 27

- Hướng dẫn sự quan sát của học sinh

- Kích thích sự suy nghĩ của học sinh

- HS quan sát, suy nghĩ, kết luận và ghi chép

+ Kết thúc quan sát:

- Giaó viên tóm tắt các kết quả học tập đạt được qua quan sát

- Nhận xét thái độ làm việc của học sinh

- Dặn dò

- Yêu cầu:

+ Quan sát phải gắn với các nhiệm vụ dạy học cụ thể

+ Phải chuẩn bị chu đáo, đảm bảo an toàn và thành công cho buổi quan sát

+ Học sinh quan sát tích cực, kích thích hoạt động tư duy và ngôn ngữ trong quan sát + Cần có sự ghi chép của học sinh trong quan sát và có kết luận

b Phương pháp minh họa

- Định nghĩa: Là PPDH mà trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan, các

số liệu, ví dụ, thực tiễn để minh họa giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu vận dụng được gọi là PP minh họa PP minh họa gây hứng thú học tập, phát triển năng lực quan sát, kích thích tư duy của học sinh

- Ưu điểm: tạo nên súc hấp dẫn, hứng thú học tập, giờ học trở nên sống động, học sinh nhận thức nhanh các vấn đề, đồng thời có khả năng phát triển óc quan sát, phương pháp tư

duy thực tiễn

c Phương pháp biểu diễn thí nghiệm

Trong dạy học các môn khoa học tự nhiên, giáo viên có thể làm các thí nghiệm, học sinh quan sát, tư duy và rút ra các kết luận khoa học cần thiết PP biểu diễn thí nghiệm thường được sử dụng trong bài học kiến thức mới, cũng có thể sử dụng để củng cố, luyện tập kiến thức

- Một số yêu cầu khi sử dụng PPDH trực quan

+ Xây dựng, lựa chọn phương tiện trực quan phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học + Các phương tiện trực quan phải có tính chất khoa học, có nghĩa là phải phản ánh chính xác được nội dung các quan hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu, giúp người học hiểu đúng

- Khái niệm: Là phương pháp dạy học dưới sự chỉ dẫn của giáo viên, học sinh lặp đi lặp lại

nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và

Trang 28

phát triển những kĩ năng, kĩ xảo

- Yêu cầu luyện tập:

+ Phải nhằm mục đích, yêu cầu nhất định

+ Phải tiến hành theo một trình tự chặt chẽ Lúc đơn giản, có làm mẫu, có chỉ dẫn, sau tăng dần tính phức tạp của hành động và sự tự lực luyện tập

+ Phải nắm lý thuyết trước khi luyện tập, qua luyện tập để hiểu sâu hơn lý thuyết

+ Phải đảm bảo mức độ khó khăn vừa sức đối với những hoàn cảnh khác nhau theo nhiều phương án (tình huống đa dạng)

+ Phải đảm bảo hình thức luyện tập gây được hứng thú cho học sinh

+ Cần nhận xét và biểu dương kịp thời

b Phương pháp ôn tập

- Khái niệm: Là phương pháp giúp học sinh mở rộng, đào sâu khái quát hoá, hệ thống hoá

tri thức đã học, nẵm vững kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy Đồng thời qua đó để có thể điều chỉnh, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm trong hệ thống tri thức của các em

- Yêu cầu sử dụng:

+ Có kế hoạch, có hệ thống, thường xuyên với nhiều hình thức khác nhau

+ Ôn rải ra tốt hơn ôn tập trung vào một thời gian ngắn, ôn xen kẽ nhiều môn tốt hơn chỉ tập trung vào một môn

+ Có tính chất tích cực (tái hiện cấu trúc lại tri thức, vận dụng )

+ Có thể lập sơ đồ, bảng nhằm hệ thống hoá những tri thức lí thuyết

c Phương pháp làm thí nghiệm, thực hành

- Khái niệm: Là phương pháp giáo viên chỉ đạo, hướng dẫn học sinh độc lập sử dụng thiết

bị và tiến hành làm thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ, khẳng định những vấn đề lý thuyết Qua đó củng cố, đào sâu những tri thức đã lĩnh hội hoặc vận dụng lý luận để nghiên cứu những vấn đề

do thực tiễn đặt ra

- Yêu cầu:

+ Xác định mục đích, yêu cầu trước khi tiến hành

+ Nắm chắc lý thuyết trước khi thực hành

+ Phải xây dựng kế hoạch, quy trình thực hành thí nghiệm

+ Khi tiến hành học sinh phải độc lập, giáo viên theo dõi hướng dẫn

+ Phải trang bị đầy đủ và chú ý đến vấn đề an toàn

2.2.2.4 Nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

a Chức năng và ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá

*Chức năng

- Chức năng phát hiện, điều chỉnh:

Quá các hình thức kiểm tra, giáo viên phát hiện kịp thời trình độ và năng lực nhận thức của học sinh cả về khối lượng lẫn chất lượng chiếm lĩnh nội dung học tập trên cơ sở đối chiếu với

Trang 29

yêu cầu đặt ra Từ đó giáo viên có nhận xét đánh giá, xác định những kết quả đã đạt được về số lượng và chất lượng, khẳng định những hạn chế, yếu kém và tìm các nguyên nhân ảnh hưởng tới hoạt động học tập Đồng thời, qua đó giáo viên và các cấp quản lý kịp thời có phương hướng, biện pháp khắc phục hoàn thiện quá trình dạy học

- Chức năng củng cố, phát triển trí tuệ học sinh:

Quá trình chuẩn bị các kỳ kiểm tra (các kỳ thi) đòi hỏi học sinh phải học tập tích cực, phát huy cao độ năng lực tư duy độc lập sáng tạo của mình nhằm tái hiện, chính xác hoá, hoàn thiện và khắc sâu một cách có hệ thống những tri thức đã lĩnh hội, trên cơ sở đó để củng cố rèn luyện, hoàn thiện những kỹ năng kỹ xảo và phát triển năng lực trí tuệ của các em

- Chức năng giáo dục:

Thành tích học tập được phản ánh thông qua thái độ học tập của học sinh trong quá trình chuẩn bị, trong thực hiện các nhiệm vụ của các bài kiểm tra và đối với kết quả đánh giá, tự đánh giá Kiểm tra, đánh giá giúp các em có nhu cầu, động cơ học tập đúng đắn, thói quen tự giác, tích cực, độc lập để giải quyết các nhiệm vụ học tập, luôn có ý thức trách nhiệm cao, ý chí vươn lên trong học tập, ý thức tổ chức kỷ luật (tránh những biểu hiện sai trái về thái độ, hành vi, thói quen xấu trong thực hiện các nhiệm vụ bài kiểm tra) Như vậy, chức năng giáo dục kiểm tra đánh giá góp phần vào giáo dục phẩm chất nhân cách của học sinh

* Ý nghĩa

- Đối với học sinh, kiểm tra đánh giá có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng Qua kết quả kiểm tra, học sinh đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng so với yêu cầu và tự mình ôn tập, củng cố, bổ sung, hoàn thiện học vấn Do đó, kiểm tra đánh giá còn là điều kiện để rèn luyện phương pháp và thói quen tự học tích cực cho học sinh

- Đối với giáo viên, kiểm tra đánh giá giúp nắm được kết quả nhận thức của học sinh, qua

đó giáo viên tự đánh giá trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nhân cách và uy tín của mình đối với học sinh từ đó có những điều chỉnh trong hoạt động dạy học cũng như học tập nâng cao trình độ

- Đối với các cấp quản lí lãnh đạo, kiểm tra đánh giá là biện pháp để nắm được chất lượng

và hiệu quả đào tạo từ đó để có cơ sở đề xuất những chủ trương, chính sách, phương hướng, nhiệm vụ về xây dựng đội ngũ, đổi mới nội dung, phương pháp

b Các phương pháp kiểm tra

Các phương pháp kiểm tra được sử dụng trong kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ

và kiểm tra tổng kết

* Phương pháp kiểm tra vấn đáp (kiểm tra miệng)

- Phương pháp kiểm tra này không chỉ được sử dụng trước, trong và sau khi học bài mới, khi ôn tập, hệ thống hoá mà còn được sử dụng khi mở đầu công tác thực hành, công tác thí nghiệm Kiểm tra vấn đáp có thể bằng lời và kết hợp trình bày đồ dùng trực quan với lời nói, đòi hỏi học sinh phải tái hiện lại tri thức cũ để giải thích một hiện tượng, sự kiện để giải quyết một vấn đề trong hoàn cảnh cụ thể đòi hỏi phải tư duy sáng tạo

- Yêu cầu sử dụng:

Trang 30

+ Phải tuân thủ theo các yêu cầu của phương pháp vấn đáp

+ Tạo điểu kiện để học sinh trả lời tốt, có câu hỏi bổ sung, gợi mở kết hợp kiểm tra cá nhân

và tập thể Khi học sinh trả lời các học sinh khác lắng nghe, suy nghĩ và bổ sung, sau đó giáo viên nhận xét, đánh giá Trong nhận xét đánh giá phải kích thích học sinh tự nhận xét và đánh giá, động viên, công khai kết quả kích thích học sinh học tập

* Phương pháp kiểm tra viết

Phương pháp kiểm tra này được sử dụng cả trước và sau khi học 1tiết/bài /chương/phần hoặc toàn bộ môn học Tuỳ theo yêu cầu nội dung kiểm tra mà dành thời gian phù hợp Kiểm tra viết thường có hai hình thức: trắc nghiệm khách quan và tự luận

- Trắc nghiệm khách quan: Dạng câu hỏi "đóng" đã có sẵn các phương án trả lời và học sinh phải lựa chọn một phưong án phù hợp Có các hình thức:

+ Trắc nghiệm đúng - sai: Câu hỏi có hai phương án đúng và sai, học sinh chọn một trong hai phương án đó

+ Trắc nghiệm nhiều lựa chọn: Câu hỏi có nhiều phương án trả lời trong đó chỉ có một phương án đúng nhất

+ Trắc nghiệm ghép đôi: Được chia làm: Phần câu hỏi và các câu trả lời tương ứng + Trắc nghiệm điền thế: Học sinh phải điền vào chỗ trống những từ thích hợp

- Trắc nghiệm chủ quan: Dạng câu hỏi "mở" đòi hỏi học sinh tự luận

- Tạo điều kiện để học sinh bình tĩnh tập trung cao độ khi làm bài

- Thu bài đúng giờ quy định

- Chấm bài cẩn thận, nhận xét chính xác, gọn rõ

- Trả bài đúng hạn, có nhận xét công khai kết quả

* Phương pháp kiểm tra thực hành

Phương pháp này nhằm kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo thực hành như đo lường, thí nghiệm, lao động ở trên lớp hay phòng thí nghiệm, vườn trường có thể tiến hành với từng cá nhân hay từng nhóm, yêu cầu học sinh phải vận dụng tri thức lý thuyết để đối chiếu, so sánh, minh hoạ trong thực tiễn

Yêu cầu sử dụng

- Lựa chọn hình thức thực hành phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nội dung

- Bao quát, theo dõi học sinh trong quá trình làm bài

- Phát hiện thiếu sót để giúp đỡ học sinh sửa chữa

- Có tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm

* Phương pháp kiểm tra bằng máy

Trang 31

Với phương pháp này chương trình kiểm tra được đưa vào máy Học sinh chọn câu trả lời bằng số và ấn vào số tương ứng trên máy

* Phương pháp tự kiểm tra đánh giá

Học sinh tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình thấy ưu và nhược điểm từ đó có ý thức điều chỉnh quá trình học tập Đồng thời, giúp người học ý thức rõ bản thân mình phải tự học, học liên tục, học suốt đời phải hình thành thói quen tự kiểm tra, đánh giá mức độ lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo để tự điều chỉnh Góp phần hoàn thiện việc kiểm tra hiện nay ở trường phổ thông Vì vậy, phải gắn chặt kiểm tra với tự kiểm tra, đánh giá với tự đánh giá Đối với phương pháp này yêu cầu học sinh phải nhận thức, có thái độ đánh giá đúng

c Đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Khái niệm: Kết quả việc kiểm tra lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được thể hiện trong việc đánh giá Đánh giá là sự biểu thị thái độ theo một chuẩn mực nhất định Thông qua kết quả kiểm tra, người đánh giá nêu nhận xét một cách tổng hợp (bằng lời, bằng chữ, kết hợp với điểm

số, xếp loại )

- Yêu cầu đánh giá: Khi đánh giá cần:

+ Căn cứ vào cả hai mặt số lượng và chất lượng kết quả học tập của học sinh

+ Khuyến khích học sinh tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau Trên cơ sở đó giáo viên phân tích cụ thể ưu nhược điểm, chỉ ra biện pháp phát huy, khắc phục

+ Kích thích sự cố gắng của học sinh

+ Phải đảm bảo tính đúng đắn khách quan và mang tính giáo dục cao

2.2.3 Xu hướng đổi mới và vấn đề lựa chọn, phối hợp các phương pháp dạy học

2.2.3.1 Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

- Nâng cao tính tích cực, tự chủ, độc lập, sáng tạo của từng học sinh Phương pháp dạy

học hiện đại hướng vào việc tăng cường tổ chức cho học sinh hoạt động, tự học, tự nghiên cứu, tạo thói quen và kỹ năng tự học để có thể học thường xuyên, học suốt đời

- Khai thác tiềm năng trí tuệ của tập thể học sinh Phương pháp dạy học hiện đại biến tập thể học sinh thành môi trường học tập thuận lợi, trong đó học sinh tương tác với nhau, vừa hợp tác và giáo dục tinh thần hợp tác là mục tiêu giáo dục hiện đại

- Tăng cường sử dụng các thiết bị kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin vào quá trình dạy học Phương pháp dạy học hiện đại yêu cầu sử dụng các thiết bị kỹ thuật như công cụ nhận thức, công cụ hỗ trợ cho giáo viên và học sinh tìm kiếm, xử lý thông tin, tiến hành các thí nghiệm, thực hành để tăng hiệu quả học tập tối đa

- Đổi mới kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của học sinh Phương pháp dạy học hiện đại yêu cầu sử dụng kiểm tra, đánh giá làm phương tiện kiểm soát quá trình dạy học, làm động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của học sinh

2.2.3.2 Lựa chọn phối hợp các phương pháp dạy học

Hệ thống các phương pháp dạy học phong phú và đa dạng và phức hợp về nhiều phương diện, cấp độ mục đích dạy học, nội dung dạy học và cách lĩnh hội không đồng nhất, lại được

Trang 32

thực hiện bằng những phương tiện khác nhau và sự kết hợp giữa các phương tiện khác nhau

đó Hơn nữa, không có phương pháp dạy học nào là vạn năng, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng Trình độ và nghệ thuật của giáo viên thể hiện ở chỗ vận dụng, phối hợp các phương pháp dạy học một cách linh hoạt, phù hợp, nhuần nhuyễn và sáng tạo Do đó, lựa chọn, vận dụng phương pháp dạy học là một vấn đề hết sức quan trọng đối với việc nâng cao phương pháp dạy học và giáo dục Khi lựa chọn phương pháp dạy học cần căn cứ vào những yếu tố sau:

- Lứa tuổi và bậc học của học sinh

- Lĩnh vực và mức độ mục tiêu cần thực hiện

- Coi trọng việc tổ chức hoạt động tự giác, có hệ thống, độc lập của học sinh, đó là điều kiện cần thiết và nhất thiết phải có để việc học tập của học sinh thực sự là hoạt động nhận thức, từ đó đảm bảo từng bước thực hiện mục tiêu giáo dục

- Lựa chon dạng hoạt động thích hợp với mục tiêu và nội dung học tập, vì mỗi dạng hoạt động có vai trò nhất định đối với việc thực hiện mục tiêu học tập

- Những điều kiện về vật chất (nơi học tập, số lượng, điều kiện, phương tiện )

- Năng lực của bản thân giáo viên và các mặt giao tiếp, tổ chức, hướng dẫn

2.3 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

2.3.1 Khái niệm

Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh, đồng thời cũng là phương tiện nhận thức của học sinh nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học

2.3.2 Chức năng của phương tiện dạy học

2.3.2.1 Chức năng nhận thức

Phương tiện dạy học làm phong phú quá trình tư duy bằng nhiều chi tiết đã mất đi trong những khái niệm trừu tượng và giúp vạch ra những thuộc tính bên trong của đối tượng và hiện tượng được nghiên cứu

2.3.2.2 Chức năng điều khiển, điều chỉnh hoạt động nhận thức của người học

Phương tiện dạy học là người trợ thủ không thể thay thế được của giáo viên ở giai đoạn

tư duy trừu tượng

Giúp học sinh có thông tin đầy đủ và sâu sắc về đối tượng hoặc hiện nghiên cứu; làm thỏa mãn và phát triển hứng thú của người học; làm chi tài liệu học tập trở nên vừa sức đối với họ; tăng cường hoạt động lao động của người học và bằng cách đó cho phép nâng cao nhịp điệu nghiên cứu tài liệu học tập

2.3.3 Các loại phương tiện dạy học

2.3.3.1 Đồ dùng dạy học trực quan

a Mẫu vật:

Mẫu vật có thể dưới dạng vật thật, vật nhồi hoặc tiêu bản Tùy theo môn học mà vật thật

có những loại khác nhau Chẳng hạn môn sinh học có những mẫu sống, mẫu tươi, mẫu ngâm,

Trang 33

mẫu nhồi Môn đại lý có các bộ sưu tập về các loại đá và khoáng sản

b Mô hình và hình mẫu

* Mô hình

- Định nghĩa: Mô hình là đồ dùng dạy học phản ánh cấu tạo khái quát và giúp hình dung

được cấu trúc không gian được phóng to hoặc thu nhỏ lại so với kích thước của vật thật

- Phân loại

+ Tùy theo đối tượng được mô tả, mô hình có những loại sau: mô hình giải phẫu, mô tả

thực vật, cơ thể người, mô hình kỹ thuật như mô hình máy móc, thiết bị, công cụ lao động, đò dùng sinh hoạt, lò luyện gang thép

+ Tùy theo tính chất và cấu trúc, có mô hình không tháo lắp được như quả cầu, mô hình tháo lắp được như quả tim, mô hình cấu tạo meetan eetylen , mô hình tĩnh, mô hình động

- Khi sử dụng mô hình cần nêu rõ những bộ phận thiết bị với những chức năng, những

nguyên tắc vận động của nó dựa trên những cơ sở tri thức khoa học

- Nên sử dụng mô hình, hình mẫu phối hợp với tranh ảnh và các đồ dùng trực quan

nhằm hình thành biểu tượng và khái niệm một cách rõ ràng, đúng đắn

c Phương tiện đồ họa

Phương tiện đồ họa bao gồm các loại hình vẽ, tranh ảnh, bảng vẽ, sơ đồ, bản đồ

* Hình vẽ của giáo viên trên bảng

Đó là loại phương tiện hình tĩnh phổ biến nhất trong dạy học, vì nó có hiệu quả sư phạm rất lớn Hình vẽ của giáo viên có thể chỉ truyền đạt những đặc điểm chủ yếu hơn cả của đối tượng hoặc của hiện tượng, khối lượng thông tin ít hơn nhiều so với những bức ảnh, bức tranh của những nghệ sỹ Song không vì thế mà hình vẽ của giáo viên có nhiều thiếu sót, mà trái lại

đó là ưu điểm giúp học sinh nhận ra những dấu hiệu bản chất của đối tượng hoặc hiện tượng cần nghiên cứu Hình vẽ của giáo viên có hiệu quả cao là do chúng xuất phát từ từ chứ không xuất hiện ngay Qua đó học sinh có thể theo dõi sự phát triển tư tưởng của giáo viên không chỉ

Trang 34

bằng lời nói mà bằng hình ảnh Tuy nhiên, để vẽ hình, đặc biệt là hình phức tạp đòi hỏi nhiều thời gian, hơn nữa không phải giáo viên nào cũng biết vẽ đúng, vẽ đẹp và vẽ nhanh

* Tranh

Tùy theo nội dung người ta có thể phân ra tranh có chủ đề và tranh phong cảnh Về mặt cấu trúc, có thể phân biệt tranh thông thường, mô tả một chỉnh thể thống nhất trên toàn bộ diện tích bức tranh, tranh với những hình riêng rẽ, tranh có tính chất so sánh, trình bày những giai đoạn khác nhau của sự phát triển tuần tự một chủ đề, một hiện tượng

*Bản vẽ dùng để dạy học

Bản vẽ dùng để dạy học là một loại phương tiện trực quan hình tượng chiếm vị trí trung gian giữa hình vẽ sơ lược của giáo viên và ảnh của đối tượng nghiêm cứu Bản vẽ dùng để dạy học khác với hình vẽ sơ lược của giáo viên ở khối lượng thông tin đạt được nhờ hình ảnh

có tính nghệ thuật cao của đối tượng nghiên cứu và các với bức ảnh ở chỗ không có những chi tiết thứ yếu có thể làm phân tán sự chú ý của học sinh

*Bản đồ

Tuy theo nội dung bài học mà phân ra bản đồ đại lý, bản đồ lịch sử Bản đồ địa lý có bản

đồ tổng quát (bản đồ tự nhiên - chính trị của thế giới, của khu vực của một nước), bản đồ chuyên ngành (bản đồ khí hậu, bản đồ dân tộc, bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ khoáng sản, bản đồ động vật, bản đồ thực vật )

*Sơ đồ

- Sơ đồ dùng để mô tả một đối tượng nhất định không chỉ một cách tĩnh ở một thời điểm

nào đó mà trong sự phát triển, trong mối liên hệ lẫn nhau giữa những bộ phận và trong mối liên hệ với những sự vật và hiện tượng khác Nhờ chúng, dưới hình thức quy ước có thể vạch

ra sự phát triển và mối liên hệ lẫn nhau giữa những khái niệm, tư tưởng, định luật

Sơ đồ khác với tranh ảnh, đồ thị ở chỗ nó không chỉ ra kích thước, quy mô của đối tượng được mô tả và những chỉ số về mặt định lượng

Những phương tiện đồ họa này có thể được sử dụng trong việc lĩnh hội tài liệu học tập mới, trong việc khái quát hóa, hệ thống hóa tri thức, trong kiểm tra, đánh giá tri thức

* Thiết bị thí nghiệm

Một số môn học như Vật lý, Hóa học, Sinh học để tiến hành dạy học đạt được kết quả cần được trang bị những thiết bị thí nghiệm tương ứng để thí nghiệm minh họa trên lớp và trong phòng thí nghiệm, trong xưởng trường, vườn trường

2.3.3.2 Phương tiện kỹ thuật dạy học

Bao gồm phương tiện nghe- nhìn, các máy kiểm tra, máy dạy học Trong số những phương tiện đó, phương tiện nghe - nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất

Các phương tiện nghe- nhìn gồm 2 bộ phận: các giá mang thông tin và các máy móc chuyển tải thông tin

2.3.4 Sử dụng phương tiện dạy học

Khi sử dụng phương tiện dạy học, cần lưu ý những nội dung sau:

Trang 35

- Nghiên cứu kỹ tài liệu để phân chia chúng và xác định chính xác những phương tiện dạy học nào cần thiết phải sử dụng, mục tiêu sư phạm cần phải sử dụng từng phương tiện dạy học đó, kết quả cần đạt được

- Nắm tính năng của từng phương tiện và qua đó phối hợp các phương tiện đạt hiệu quả cao nhất

- Xác định thời gian sử dụng phương tiện đó

- Xây dựng kế hoạch và tiến hành tổ chức tiết học với việc sử dụng phối hợp những phương tiện dạy học một cách thích hợp, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh trong việc lĩnh hội những tài liệu học tập

2.4 HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC

2.4.1 Khái niệm

Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên

và học sinh trong quá trình dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định, với việc sử dụng những

phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học

2 4.2 Các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông

b Đặc trưng cơ bản của hình thức lên lớp

- Lớp học có thành phần không đổi Học sinh có sự tương đồng về lứa tuổi, trình độ nhận thức

- Giáo viên chỉ đạo hoạt động nhận thức của cả lớp, đồng thời chú ý đến đặc điểm của từng học sinh

- Học sinh nắm bắt tài liệu học tập trực tiếp tại lớp

c Các loại bài lên lớp

Bài lĩnh hội tri thức mới; Bài hình thành kỹ năng, kỹ xảo; Bài vận dụng tri thức kỹ năng,

kỹ xảo; Bài khái quát và hệ thống hoá, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; Bài kiểm tra và điều chỉnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; Bài hỗn hợp

Ngoài cấu trúc chung, mỗi loại bài học trên sẽ có cấu trúc riêng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ dạy học

d Cấu trúc các loại bài

* Bài lĩnh hội tri thức mới

- Tổ chức lớp (ổn định tổ chức): Đây là công việc đầu tiên của một tiết học nhằm thu hút

Trang 36

sự tập trung chú ý học tập của học sinh bằng nhiều biện pháp khác nhau

- Tích cực hoá những kinh nghiệm cảm tính và những tri thức đã có để làm chỗ

dựa cho việc nắm tri thức mới Nghĩa là làm cho học sinh nhớ lại những kinh nghiệm cảm tính, những tri thức đã lĩnh hội làm điểm tựa cho việc lĩnh hội tri thức mới, kích thích hứng thú, tạo cảm xúc trí tuệ Giáo viên có thể nêu lên những câu hỏi, tạo tình huống có vấn đề dưới dạng kiểm tra (kiểm tra bài cũ) để kích thích, động viên tính tích cực tái hiện tri thức làm điểm tựa cho việc lĩnh hội tri thức mới

- Thông báo đề bài, mục tiêu bài học: Nhằm nâng cao tính định hướng, tính tổ chức trong hoạt động nhận thức của học sinh Bằng cách tạo nên tình huống có vấn đề, lúc đó việc giải quyết vấn đề đặt ra sẽ trở thành mục đích bài học

- Học sinh tri giác tài liệu học tập: Thực hiện qua tri giác trực tiếp và gián tiếp qua ngôn ngữ, liên hệ chặt chẽ với trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ Để học sinh tri giác, ý thức rõ ràng, đầy đủ, sâu sắc những dấu hiệu những mối quan hệ và quan hệ chủ yếu của sự vật hiện tượng thường sử dụng phương tiện, đồ dùng trực quan kết hợp với lời nói, việc sử dụng sách giáo khoa hoặc tiến hành thí nghiệm, thực hành

- Học sinh suy nghĩ những tri thức: Khâu này được thực hiện thông qua quá trình nhận thức lý tính Học sinh suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện ra những mối liên hệ có tính quy luật của tài liệu và vạch ra bản chất nội tại bên trong của tài liệu trên cơ sở những mối liên hệ đó Để đạt được điều đó, giáo viên phải chỉ đạo, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh để họ phải sử dụng những thao tác tư duy tích cực nhằm giải quyết những vấn đề học tập thông qua các phương pháp dạy học như: thuyết trình, vấn đáp, sử dụng sách giáo khoa, thí nghiệm

- Khái quát và hệ thống hoá sơ bộ tri thức: giáo viên giúp học sinh liên kết tri thức mà họ vừa lĩnh hội với những tri thức đã có để tạo thành hệ thống mới Phương tiện để thực hiện điều này là thông qua đàm thoại, lập bảng so sánh, hệ thống hoá, sơ đồ hoá

- Tổng kết tiết học: Giáo viên thông báo ngắn gọn những vấn đề cơ bản của bài học, tinh thần, thái độ học tập của lớp, đánh giá chung việc học tập của lớp và một số học sinh tiêu biểu

- Ra bài tập về nhà và hướng dẫn học sinh tự học: Đây là giai đoạn kết thúc của một tiết học, tuy nhiên nó cũng có thể tiến hành các giai đoạn khác của tiết học tuỳ theo logíc quá trình dạy học Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh tự học ở nhà: những nội dung trong SGK cần khai thác, bài tập cần làm, tài liệu tham khảo, trình tự công việc Cần nhớ rằng việc học ở nhà

là sự tiếp tục công việc học tập ở lớp dưới sự chỉ đạo gián tiếp của giáo viên

* Bài hình thành kỹ năng, kỹ xảo

- Tổ chức lớp (thực hiện như bài lĩnh hội tri thức mới)

- Tích cực hoá những tri thức lý thuyết và kinh nghiệm thực hành đã có để làm chỗ dựa cho việc hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới Giai đoạn này giáo viên thường sử dụng vấn đáp và ra bài tập

- Thông báo đề bài, mục đích tiết học: Làm cho học sinh ý thức rõ được sự cần thiết của bài học để giải quyết tình huống có vấn đề mà giáo viên đã đặt ra trước đó Kỹ năng, kỹ xảo cần

Trang 37

nắm bắt là gì, nắm đến mức độ nào?

- Tổ chức tập luyện: Tổ chức luyện tập ở nhiều mức độ khác nhau:

+ Luyện tập mở đầu: Giai đoạn này cần làm cho học sinh nhớ lại những khái niệm, quy tắc hành động tương ứng làm cho cơ sở cho những bài tập hoặc hành động giáo viên nêu lên những câu hỏi, bài tập tạo cho học sinh những tình huống có vấn đề và giúp họ giải quyết lần lượt Trong giai đoạn này học sinh phải thực hiện các thao tác tư duy và những hành động thực hành khác nhau

+ Luyện tập thử: Đó là luyện tập nhằm bước đầu vận dụng những tri thức vừa tiếp thu được, biến ( chuyển hoá) tri thức thành kỹ năng Giai đoạn này chỉ sử dụng khi học sing nắm tri thức chưa vững

+ Luyện tập có tính chất rèn luyện: Nhằm hình thành cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo trong những điều kiện bình thường, ổn định Khác với luyện tập thử, ở giai đoạn này nó đòi hỏi tính tự lập, chủ động của học sinh ở mức độ cao hơn và mức độ khó khăn và phức tạp cũng tăng dần trong luyện tập Tuỳ theo mức độ tính tự lực về nhận thức và thực hành, người ta phân luyện tập có tính chất rèn luyện bằng 3 loại: Luyện tập theo mẫu, theo sự chỉ dẫn, hoặc theo nhiệm vụ mà giáo viên đề ra

+ Tập luyện có tính sáng tạo: Mục đích là giúp học sinh di chuyển một cách sáng tạo những tri thức, hành động vào hoàn cảnh mới, luôn luôn biến đổi Luyện tập này khác với những luyện tập khác ở mục đích, mức độ tự lực của học sinh Để luyện tập một cách sáng tạo không chỉ dựa vào những tài liệu có sẵn mà phải tìm tòi, suy nghĩ tạo nên chúng Một trong những bài tập có tính sáng tạo đó là bài tập có tính vấn đề Luyện tập có tính sáng tạo tạo khả năng tăng cường mối quan hệ giữa dạy học và cuộc sống

- Tổng kết bài học: Giáo viên nhận xét tình hình học tập của cả lớp và một số học sinh, đánh giá và cho điểm

- Ra bài tập về nhà và hướng dẫn học sinh tự học: Nội dung bài tập phải có tính tổng hợp, chú ý đến đặc điểm riêng của học sinh (khá, giỏi, trung bình, yếu), khối lượng phù hợp

* Bài vận dụng tri thức kỹ năng, kỹ xảo

- Suy nghĩ nội dung và trình tự vận dụng những hành động thực hành: Giai đoạn này học sinh cần hiểu nội dung bản chỉ dẫn, suy nghĩ xem cần dựa trên những tri thức lý thuyết nào (cơ sở) để giải quyết vấn đề, xác định những dụng cụ, thiết bị, máy móc cần sử dụng

- Học sinh tự lực hoàn thành bài tập dưới sự giúp đỡ (hướng dẫn) và kiểm tra của giáo viên: Học sinh tự lực hoàn thành bài tập theo cá nhân/nhóm/tổ tuỳ vào số lượng đồ dùng,

Trang 38

phương tiện kĩ thuật Giáo viên quan sát quá trình học sinh làm bài tập để giúp đỡ thêm, trong trường hợp cần thiết cần hướng hoạt động của các em đi đúng trọng tâm Tính phức tạp trong việc chỉ đạo hoạt động của học sinh ở giai đoạn này là trình độ, năng lực của họ khác nhau do đó nhịp điệu làm việc của họ cũng sẽ khác nhau Ngoài ra, giáo viên phải chú ý đến đặc điểm riêng của mỗi học sinh để chỉ đạo hướng dẫn hành động của các em cho phù hợp

- Học sinh khái quát và hệ thống hoá kết quả công việc: Sau khi hoàn thành nhiệm vụ được giao học sinh phải phân tích, hệ thống hóa kết quả bằng biểu đồ, sơ đồ, đồ thị phân tích so sánh, khái quát báo cáo đó, giáo viên kiểm tra tri thức đánh giá chất lượng

báo cáo và phương pháp tiến hành của học sinh

- Tổng kết tiết học: Giáo viên tổng kết những kết quả công việc mà học sinh đã thực hiện, thái độ và phương pháp tiến hành của cả lớp và một số em tiêu biểu

* Bài khái quát và hệ thống hoá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Tổ chức lớp

- Thông báo đề bài, mục đích, nhiệm vụ của tiết học

- Khái quát những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ: Giáo viên sử dụng phương pháp đàm thoại, trình bày đồ dùng dạy học trực quan, phân tích các biểu bảng, biểu đồ, sơ đồ giúp học sinh nhận thức đúng đắn, sâu sắc, đầy đủ để hiểu rõ bản chất hiện tượng

- Khái quát hoá và hệ thống hoá những khái niệm: Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh

lý thuyết cơ bản và tư tưởng chủ đạo của khoa học Giai đoạn này thực hiện thông qua đàm thoại và lập sơ đồ, bảng biểu để vạch ra mối quan hệ của những khái niệm cũng như các thứ bậc của chúng Qua đó mà hệ thống hoá tri thức, hình thành cho học sinh lý thuyết cơ bản và tư tưởng chỉ đạo của khoa học

- Tổng kết tiết học

- Ra bài tập về nhà và hướng dẫn học sinh tự học

* Bài kiểm tra và trả bài kiểm tra

Việc kiểm tra tri thức kỹ năng, kỹ xảo có thể tiến hành trong những giai đoạn khác nhau của quá trình dạy học Trong từng giai đoạn, việc kiểm tra có vai trò, chức năng cơ bản khác nhau và bằng những hình thức kiểm tra khác nhau Các loại bài kiểm tra có cấu trúc như sau:

- Kiểm tra viết: Tổ chức lớp; trình bày những yêu cầu khi làm bài kiểm tra; Đọc (phát) đề kiểm tra; giáo viên quan sát học sinh làm bài; học sinh nộp bài kiểm tra; nhận xét thái độ làm bài của học sinh

- Kiểm tra vấn đáp: Tổ chức lớp; trình bày những yêu cầu khi làm bài kiểm tra vấn đáp; học sinh lần lượt bốc thăm và chuẩn bị nội dung trả lời; học sinh lần lượt trình bày nội dung trả lời câu hỏi của mình; giáo viên hỏi lại (hỏi thêm) để học sinh trả lời; giáo viên đánh giá, cho điểm và nhận xét kết quả, thái độ cuả học sinh trong khi kiểm tra; ra bài tập về nhà và hướng dẫn học sinh tự học

- Trả bài kiểm tra: Tổ chức lớp; giáo viên đánh giá chung chất lượng tri thức của học sinh qua kết quả kiểm tra; giáo viên nêu những sai sót chung của cả lớp và những lỗi điển hình,

Trang 39

nghiêm trọng Giáo viên chỉ đạo cả lớp cùng nhau giải quyết nội dung bài kiểm tra và yêu cầu học sinh hệ thống hoá cách giải quyết bài kiểm tra đó Phát bài cho học sinh và yêu cầu các em nêu lên những thắc mắc của mình về cách đánh giá của giáo viên; học sinh tự sửa chữa những sai sót của mình; tổng kết tiết học; ra bài tập về nhà và hướng dẫn học sinh tự học

* Bài hỗn hợp

- Loại bài này thường có một hoặc hai mục đích dạy học (ví dụ, lĩnh hội tri thức mới kết hợp với kiểm tra tri thức; khái quát, hệ thống hoá tri thức kết hợp với hình thành kỹ năng, kỹ xảo ) Tuy kết hợp nhiều loại bài nhưng không thể thực hiện hỗn hợp mục đích tất cả các loại bài vì nội dung trong một tiết học hết sức phong phú mà thời lượng mỗi tiết học lại hạn chế

Do kết hợp các mục đích dạy học khác nhau nên cấu trúc của loại bài này rất đa dạng song vẫn có những giai đoạn sau: Tổ chức lớp; tích cực hoá những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; khái quát hoá, hệ thống hoá tri thức; tổng kết tiết học; ra bài tập về nhà và hướng dẫn học sinh tự học

e Những yêu cầu đối với bài học

Xuất phát từ mục đích giáo dục nói chung và nhiệm vụ dạy học nói riêng, bài học phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Yêu cầu về mặt tư tưởng:

Giáo viên dựa vào nội dung tiết học phải vũ trang cho học sinh những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, biện chứng thành kim chỉ nam trong suy nghĩ và hành động, là cơ sở của toàn bộ cuộc sống Ngoài ra, cần làm cho học sinh nắm vững đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng và nước ta, giúp học sinh nắm được các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các hiện tượng tự nhiên, xã hội Qua đó hình thành những

cơ sở của thế giới quan khoa học, những phẩm chất nhân cách mà mục đích giáo dục đã đề ra

- Yêu cầu về lý luận dạy học:

+ Để tiến hành tiết học có hiệu quả, giáo viên cần lập hệ thống bài giảng theo chương mục

và soạn giáo án từng tiết dạy Trong giáo án xác định rõ mục đích, yêu cầu, phương pháp, phương tiện dạy học cần sử dụng, cấu trúc từng bài cho phù hợp với nội dung tài liệu dạy học + Trong tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh phải biết kết hợp hành động của tập thể với tính tự lực của từng học sinh nhằm đảm bảo vai trò chủ đạo của thầy và chủ động, tích cực của trò Do đó trong giáo án phải thể hiện được không chỉ hoạt động của thầy mà

cả hoạt động tương ứng của trò

+ Trong các tiết học phải quán triệt thực hiện các nguyên tắc dạy học trong sự kết hợp thống nhất

+ Phải lựa chọn và phối hợp các phương pháp dạy học hợp lý, hài hoà

+ Cần thu hút học sinh vào các hoạt động nhằm biến quá trình đào tạo, giáo dục thành quá trình tự đào tạo, tự giáo dục

+ Phải thường xuyên củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo bằng nhiều hình thức khác nhau (ôn tập, củng cố, vận dụng )

+ Phải thực hiện kiểm tra đánh giá và hình thành cho học sinh năng lực tự kiểm tra đánh

Trang 40

giá chất lượng lĩnh hội tri thức kỹ năng, kỹ xảo của mình, từ đó có những điều chỉnh kịp thời trong dạy và học

+ Cần biết sử dụng phối hợp phương pháp và phương tiện dạy học đặc biệt là việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại

+ Cần cá biệt hoá quá trình dạy học để tác động phù hợp

- Yêu cầu về mặt tâm lý:

+ Phải nghiên cứu toàn diện và chú ý đến đặc điểm tâm lý cả lớp và từng học sinh (thái độ, động cơ, nhu cầu, hứng thú ) Giáo viên phải giúp học sinh xác định đúng động cơ, tạo cho các

em nhu cầu không ngừng học hỏi mở rộng tri thức, đồng thời khéo léo kích thích và duy trì động cơ đó trên cơ sở hình thành hứng thú nhận thức

+ Giáo viên phải biết tự chủ, tự kiểm tra mình để khắc phục những trạng thái tâm lý tiêu cực vì trạng thái tâm lý của giáo viên và học sinh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của tiết học Ngoài ra, khi tiến hành tiết học, giáo viên phải đề ra những yêu cầu hợp lý, vừa sức và kiểm tra việc thực hiện những yêu cầu đó của học sinh Trong đánh

giá cũng như đối xử với học sinh cần phải thể hiện sự công minh, tôn trọng, thân ái

- Yêu cầu về mặt vệ sinh:

Tránh làm cho học sinh quá mệt mỏi về trí lực cũng như thể lực, đồng thời quan tâm tới các yêu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ (ánh sáng, nhiệt độ, âm thanh, vệ sinh môi trường… ) Đồng thời, tránh tính đơn điệu, buồn tẻ trong cách dạy, giọng nói (ngữ điệu), thay đổi các dạng học tập khác nhau (thảo luận, seminar…) tránh đề ra yêu cầu quá nhiều, quá cao đối với học sinh

g Việc chuẩn bị lên lớp

Việc chuẩn bị lên lớp không những là điều kiện cần thiết mà còn là điều kiện bắt buộc không chỉ với những giáo viên mới bước vào nghề mà cả đối với những giáo viên lâu năm, có nhiều kinh nghiệm

Việc chuẩn bị của giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho cả năm hoặc từng học kỳ

và việc chuẩn bị trực tiếp cho việc lên lớp từng tiết học cụ thể

*Chuẩn bị dài hạn cho cả năm học hoặc từng học kì

Bao gồm những công việc cụ thể sau:

- Tìm hiểu học sinh lớp mình giảng dạy về mọi mặt (kết quả học tập, giáo dục, thái độ, phong trào chung, đặc điểm riêng từng học sinh, những giáo viên đã và đang dạy lớp đó… ) Trên cơ sở đó đề ra những yêu cầu hợp lý đối với các em

- Nghiên cứu kĩ chương trình, nội dung tài liệu dạy học, trên cơ sở đó để thu thập, lựa chọn tài liệu, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học thích hợp

- Tìm hiểu phương tiện dạy học hiện có ở trường, có kế hoạch sử dụng hoặc tự tạo, đề nghị trang bị thêm những phương tiện mới và có những dự định đổi mới phương pháp dạy học

- Nghiên cứu những tài liệu, văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học để xây dựng

kế hoạch dạy học theo chương trình cả năm học hay từng học kỳ

* Chuẩn bị trực tiếp lên lớp (ngắn hạn)

Ngày đăng: 10/08/2017, 16:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w