LỜI NÓI ĐẦU Giáo dục học 2 là môn học cơ bản trong chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông, giúp sinh viên có được hệ thống tri thức, kĩ năng cần thiết để tiến hành tốt các ho
Trang 1UBND TỈNH QUẢNG NGÃI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG
BÀI GIẢNG
(HỆ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN THPT)
BIÊN SOẠN: NGÔ THỊ KIM NGỌC
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Quảng Ngãi, Năm 2017
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Giáo dục học 2 là môn học cơ bản trong chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông, giúp sinh viên có được hệ thống tri thức, kĩ năng cần thiết để tiến hành tốt các hoạt động dạy học và giáo dục trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình
Tiếp nối bài giảng Giáo dục học 1, chúng tôi biên soạn bài giảng Giáo dục 2 gồm hai phần:
Phần 1 Lí luận dạy học, trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về quá
trình dạy học; các nguyên tắc dạy học; về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình dạy học trong nhà trường trung học phổ thông
Phần 2 Lí luận giáo dục, là hệ thống lí luận về tổ chức quá trình giáo dục (theo
nghĩa hẹp) bao gồm những vấn đề cơ bản như: Bản chất, đặc điểm, qui luật của quá trình giáo dục; Nguyên tắc, phương pháp và nội dung giáo dục cho học sinh trung học phổ thông
Chúng tôi biên soạn trên cơ sở kế thừa chương trình Giáo dục học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; đồng thời cập nhật và điều chỉnh cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng phần nào yêu cầu của thực tiễn giáo dục các trường trung học phổ thông và nhu cầu học tập của các bạn sinh viên sư phạm
Bài giảng được trình bày một cách hệ thống, ngắn gọn, rõ ràng các nội dung cơ bản về quá trình dạy học và giáo dục ở trường trung học phổ thông; sau mỗi chương có câu hỏi ôn tập, thảo luận, thực hành… nhằm hỗ trợ sinh viên nắm bắt tri thức và luyện tập kĩ năng thực hành
Trong quá trình biên soạn, mặc dù chúng tôi đã cố gắng, song không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quí thầy cô và anh chị em sinh viên
Trang 3PHẦN I LÍ LUẬN DẠY HỌC
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.1 Khái niệm về quá trình dạy học
Dạy học là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là con đường quan trọng nhất
để thực hiện mục đích giáo dục toàn diện nhân cách cho thế hệ trẻ, đồng thời là phương thức để đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Nói đến dạy học là nói đến hoạt động dạy và hoạt động học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo và thái độ tích cực đối với học tập và cuộc sống
Theo quan niệm trước đậy, dạy học là quá trình hoạt động của giáo viên, nhiệm
vụ chủ yếu là truyền đạt kiến thức cho học sinh, học sinh thụ động tiếp thu, ghi nhớ và tái hiện; nhà trường chỉ chú ý đến hoạt động của giáo viên, đến phương pháp truyền đạt kiến thức một chiều mà ít quan tâm đến hoạt động học tập của học sinh Ngày nay, dưới ánh sáng của Lí luận dạy học và Tâm lí học sư phạm hiện đại, quan niệm dạy học
là quá trình hoạt động tương tác giữa hai chủ thể: giáo viên (chủ thể của hoạt động dạy)
và học sinh (chủ thể của hoạt động học) Hai hoạt động này phối hợp chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và ngược lại
- Hoạt động dạy của giáo viên: Giáo viên là chủ thể, đóng vai trò là người lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức – học tập của học sinh nhằm giúp học sinh tìm tòi, khám phá tri thức, qua đó thực hiện hiệu quả chức năng học của bản thân
Sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên thể hiện ở chỗ:
+ Đề ra mục tiêu, yêu cầu nhận thức - học tập cho học sinh
+ Xây dựng kế hoạch hoạt động của mình và dự tính hoạt động tương ứng của học sinh
+ Tổ chức thực hiện hoạt động dạy của mình với hoạt động nhận thức – học tập tương ứng của học sinh
Trang 4+ Kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của học sinh + Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, qua đó có biện pháp điều chỉnh, sửa chữa kịp thời những sai sót của học sinh cũng như trong công tác giảng dạy của mình
- Hoạt động học của học sinh: Học sinh là đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời
là chủ thể hoạt động tích cực, sáng tạo nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí tuệ, năng lực nhận thức, phát triển nhân cách Tính tích cực, chủ động nhận thức – học tập của học sinh thể hiện ở các mặt:
+ Tiếp nhận nhiệm vụ, kế hoạch học tập do giáo viên đề ra
+ Tự lập kế hoạch hoặc cụ thể hóa các nhiệm vụ học tập của mình
+ Tiến hành thực hiện các hành động, thao tác nhận thức – học tập nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập đã đặt ra
+ Tự điều chỉnh hoạt động nhận thức – học tập của mình dưới tác động kiểm tra, đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của bản thân
+ Phân tích kết quả nhận thức – học tập dưới tác động của giáo viên, qua đó cải tiến hoạt động học tập của bản thân
- Hoạt động dạy và hoạt động học luôn thống nhất biện chứng, gắn bó hữu cơ, bổ sung, hỗ trợ nhau cùng phát triển để đạt đến mục tiêu dạy học, thiếu một trong hai hoạt động đó thì quá trình dạy học không diễn ra
giáo viên và học sinh, trong đó dưới sự lãnh đạo, tổ chức và điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức - học tập của mình nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
1.2 Cấu trúc của quá trình dạy học
Quá trình dạy học (QTDH) là một hệ thống toàn vẹn, bao gồm nhiều thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau
Trang 51.2.2 Giáo viên và học sinh
Giáo viên và học sinh là hai thành tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng của quá trình dạy học Trong đó, giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo, định hướng, tổ chức, quản lí và điều khiển quá trình dạy học, học sinh là người giữ vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo trong học tập, là người quyết định kết quả học tập
Nhà trường cần một đội ngũ giáo viên có phẩm chất và năng lực chuyên môn tốt, cần lực lượng học sinh có trình độ học lực cao, thái độ học tập nghiêm túc “Dạy tốt,
học tốt” là yêu cầu tối quan trọng để đảm bảo chất lượng dạy học của nhà trường
1.2.3 Chương trình, nội dung dạy học
Nội dung dạy học là hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà người học cần lĩnh hội (gồm nhiều môn học được chọn lọc từ các lĩnh vực khoa học tương ứng) Nội dung chương trình được xây dựng phù học với mục đích dạy học và đặc điểm nhận thức của lứa tuổi học sinh Nó tạo nên nội dung hoạt động của giáo viên và học sinh
Như vậy, nội dung dạy học bị chi phối bởi mục đích dạy học và phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học của nhà trường, nó quy định việc lựa chọn và vận dung phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học
1.2.4 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh, nó có chức năng xác định phương thức hoạt động dạy học theo nội dung nhất định nhằm thực hiện tốt mục đích dạy học, vì vậy phương pháp dạy học có vai trò rất lớn trong việc quyết định chất lượng dạy học
Trang 6Ở trường phổ thông sử dụng phương pháp dạy học tích cực, giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động tìm tòi, khám phá kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành
1.2.5 Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là công cụ nhận thức, công cụ thực hành, hỗ trợ cho học sinh học tập một cách tích cực và sáng tạo Phương tiện dạy học đầy đủ, đồng bộ, hiện đại
sẽ góp phần quan trọng để tạo nên chất lượng dạy học
1.2.6 Hình thức tổ chức dạy học
Hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinh theo một chế độ và trình tự nhất định trong thời gian và địa điểm nhất định, với phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm đảm bảo các nhiệm vụ dạy học
1.2.7 Kết quả dạy học
Kết quả dạy học phản ánh kết quả vận động, phát triển của quá trình dạy học nói chung và kết quả vận động, phát triển của học sinh nói riêng Kết quả dạy học là điểm xuất phát của các mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Có thể nói, kết quả dạy học vừa là sản phẩm của quá trình dạy học này, vừa là cơ sở - tiền đề cho quá trình dạy học tiếp sau
1.2.8 Môi trường dạy học
Quá trình dạy học cần được thực hiện trong một môi trường thuận lợi ở cả hai phương diện vĩ mô và vi mô Môi trường vĩ mô là môi trường chính trị, xã hội ổn định, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ quốc gia tiên tiến Môi trường vi mô là môi trường văn hóa học đường, các phong trào thi đua học tập sôi nổi, tập thể sư phạm mẫu mực, học sinh đoàn kết, cơ sở vật chất khang trang, hiện đại, cảnh quan văn minh, sạch đẹp… Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lí, ý thức của học sinh trong học tập
và rèn luyện
trí xác định, thực hiện chức năng riêng, vận động theo qui luật riêng, đồng thời tuân theo qui luật vận động chung của toàn hệ thống Muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả
Trang 7dạy học, cần phải nâng cao chất lượng của từng thành tố và phải phối hợp chung trong một tổng thể thống nhất
Có thể khái quát mối quan hệ giữa các thành tố của quá trình dạy học qua sơ đồ dưới đây:
1.3 Bản chất của quá trình dạy học
1.3.1 Cơ sở xác định bản chất
1.3.1.1 Mối quan hệ giữa nhận thức - dạy học:
Đó là quan hệ giữa hoạt động nhận thức có tính chất lịch sử xã hội của loài người (thể hiện ở hoạt động nghiên cứu của các nhà khoa học) với hoạt động dạy học
Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng nhận thức thế giới xung quanh, dần dần tích lũy, hệ thống hóa, khái quát hóa những tri thức đã thu lượm được Hệ thống những tri thức này được truyền lại cho thế hệ sau và chúng không ngừng được
bổ sung, ngày càng phong phú và sâu sắc Sự truyền thụ tri thức cho thế hệ trẻ được gọi
là hoạt động dạy học
Trang 8Như vậy, trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy học cho thế hệ trẻ, trong đó hoạt động nhận thức đi trước hoạt động dạy học Trong hoạt động dạy học lại diễn ra hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên, hoạt động nhận thức của học sinh được thực hiện trong điều kiện tổ chức sư phạm đặc biệt Nó không lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức của loài người
1.3.1.2 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò:
Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai nhân tố trung tâm của quá trình dạy học Hai hoạt động này thống nhất với nhau, phản ánh tính hai mặt của quá trình dạy học Trong đó: thầy tổ chức, chỉ dẫn hoạt động học của trò; trò tích cực tự tổ chức quá trình học tập của mình theo định hướng của thầy
1.3.1.3 Mối quan hệ giữa học sinh và tài liệu học tập:
Quá trình học là quá trình học sinh tự lực làm việc với hệ thống tài liệu để lĩnh hội hoặc mở rộng, đào sâu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết
Xét cho cùng thì mọi tác động của giáo viên đến học sinh đều nhằm thúc đẩy mối quan hệ giữa học sinh và tài liệu học tập, tức thúc đẩy hoạt động nhận thức tài liệu học tập của học sinh Kết quả dạy học phản ảnh tập trung ở kết quả nhận thức của học sinh Như vậy, bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức hoạt động học cho học sinh - một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt
1.3.2 Bản chất quá trình dạy học là quá trình tổ chức hoạt động học - hoạt động nhận thức độc đáo của học sinh
1.3.2.1 Hoạt động học là hoạt động nhận thức (nét tương đồng giữa quá trình nhận thức của học sinh và quá trình nhận thức của loài người – các nhà khoa học)
- Quá trình học là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào trong ý thức cá nhân (bộ não)
+ Sự phản ánh này có tính cải tạo và đỉnh cao của nó là sự sáng tạo của học sinh + Sự phản ánh mang tính chủ quan, phụ thuộc vào nhu cầu, hứng thú của học sinh
Trang 9+ Sự phản ánh mang tính tích cực, thể hiện ở sự phân tích, tổng hợp của não và luôn mang tính lựa chọn cao
- Quá trình học tuân theo qui luật nhận thức chung của loài người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” (V.I Lenin)
- Quá trình học phải huy động tối đa các thao tác tư duy: Học sinh phải luôn tri giác tài liệu, phương tiện trực quan, tích cực suy nghĩ, vận dụng tri thức vào thực tiễn học tập và cuộc sống Nghĩa là phải vận dụng các hành động, các thao tác trí tuệ ở mức
Về đối tượng nhận thức: Nhà khoa học phát hiện và chứng minh những cái mới đối với nhân loại, tìm ra những chân lý chưa được khám phá Còn học sinh chỉ nhận thức những cái mới đối với bản thân, được rút ra từ kho tàng tri thức chung của loài người và được gia công sư phạm
Về điều kiện nhận thức: Quá trình nhận thức của nhà khoa học là một quá trình độc lập nghiên cứu bằng con đường mò mẫm, thử sai, con đường làm việc quanh co, gặp nhiều khó khăn, gian khổ Còn quá trình nhận thức của học sinh diễn ra theo con đường thuận lợi, đã được khám phá, trong điều kiện sư phạm đặc biệt, có sự tổ chức, hướng dẫn của người giáo viên và tài liệu khoa học Vì vậy, học sinh tránh được những vấp váp, tiến nhanh đến kết quả học tập
Về kết quả nhận thức: Kết quả nhận thức của các nhà khoa học là các phát minh, các định luật, qui luật ứng dụng vào thực tiễn Kết quả nhận thức của học sinh là những bước phát triển trong khả năng trí tuệ, thể hiện ở mức độ nắm vững khối lượng và chất lượng kiến thức khoa học trong chương trình dạy học Do đó đánh giá kết quả học của học sinh là đánh giá mức độ tiến bộ về nhận thức, sự trưởng thành về trí tuệ
Trang 10Về logic nhận thức: Quá trình nhận thức của nhà khoa học trải qua 3 bước: tri giác tài liệu mới, hình thành khái niệm, trải nghiệm thực tiễn Trong quá trình nhận thức của học sinh còn diễn ra các khâu củng cố, ôn tập và kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Về tính chất của hoạt động nhận thức: Quá trình nhận thức của học sinh luôn mang tính giáo dục Thông qua việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, học sinh hình thành thế giới quan khoa học, bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức - nhân cách phù hợp chuẩn mực xã hội Những nét đặc thù này ít thấy trong quá trình nhận thức của loài người Sự khác biệt này tạo nên tính độc đáo trong quá trình nhận thức của học sinh
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần có những biện pháp hợp lý để tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh đạt kết quả cao nhất
1.4 Nhiệm vụ dạy học
1.4.1 Tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững hệ thông tri thức khoa học và
hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
Trong quá trình dạy học cần trang bị cho học sinh hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản và hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội và tư duy Trên cơ sở hệ thống tri thức đó dần dần hình thành cho học sinh hệ thống kĩ năng,
kĩ xảo nhất định, đặc biệt là những kĩ năng tự học, tự nghiên cứu
Biết vận dụng hệ thống tri thức một cách linh hoạt để giải quyết các tình huống khác nhau trong nhận thức và thực tiễn cuộc sống
1.4.2 Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo
Sự phát triển trí tuệ nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy vốn tri thức và sự thành thạo các thao tác trí tuệ
Trang 11Năng lực trí tuệ là năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ vào quá trình chiếm lĩnh tri thức và việc giải quyết các tình huống trong cuộc sống
Trong quá trình dạy học, cần tổ chức, điều khiển học sinh phát huy tính tích cực nhận thức, rèn luyyện các thao tác trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất trí tuệ cần thiết như: tính định hướng, bề rộng, chiều sâu, tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính phê phán, tính nhất quán, tính khái quát của tư duy
1.4.3 Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của nhân cách
Trên cơ sở nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, quá trình dạy học còn góp phần hình thành cho học sinh những phẩm chất cần thiết của người công dân, người lao động trong tương lai
Dạy học và giáo dục có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó giáo dục thế giới quan và đạo đức vừa là mục tiêu vừa là kết quả, đồng thời là cơ sở, động cơ thúc đẩy sự chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển trí tuệ
1.5 Tính qui luật cơ bản của quá trình dạy học
1.5.1 Khái niệm qui luật và tính qui luật
Qui luật: Phản ánh mối liên hệ bản chất, bên trong, bền vững, lặp đi lặp lại một cách tất yếu, phổ biến của sự vật, hiện tượng
Tính qui luật: Qui luật được nhận thức chưa đủ chính xác, chưa diễn đạt một cách chặt chẽ về định tính và định lượng
Tính qui luật là bước đầu của sự nhận thức qui luật Song, chúng đều là những phạm trù biểu thị mối liên hệ khách quan, phổ biến giữa các hiện tượng, sự vật, các quá trình của hiện thực
1.5.2 Một số tính quy luật của quá trình dạy học
Tính qui luật về sự qui định của môi trường (kinh tế - xã hội, văn hóa – khoa học,
kĩ thuật – công nghệ…) đối với quá trình dạy học
Tính qui luật về sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học Tính qui luật về sự thống nhất giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ của học sinh
Trang 12Tính qui luật về sự thống biện chứng giữa dạy học và giáo dục
Tính qui luật về sự thống nhất và qui định lẫn nhau giữa các thành tố của quá trình dạy học
1.6 Động lực của quá trình dạy học
1.6.1 Khái quát về sự vận động và phát triển của quá trình dạy học
Quá trình dạy học vận động và phát triển không ngừng, đó là sự vận động và phát triển đồng bộ tất cả các yếu tố của cả hệ thống nhằm đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy học đã đề ra, biểu hiện:
- Đối với hoạt động dạy: Là quá trình giáo viên không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn - nghiệp vụ của bản thân, đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển của dạy học, của thời đại nói chung, yêu cầu phát triển của học sinh và hoạt động học nói riêng
- Đối với hoạt động học: Là sự phát triển và hoàn thiện không ngừng về tâm lí – nhận thức của học sinh thông qua sự chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Là quá trình người học từ chỗ chưa biết đến biết, biết một cách đầy đủ và sâu sắc; từ chỗ nắm tri thức đến hình thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển trí tuệ, phát triển nhân cách
- Là quá trình không ngừng cải tiến và hoàn thiện nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
1.6.2 Động lực của quá trình dạy học
Nguyên nhân của sự vận động và phát triển của quá trình dạy học là sự nảy sinh
và giải quyết các mâu thuẫn của bản thân quá trình dạy học Có 2 loại mâu thuẫn:
- Mâu thuẫn bên ngoài: Là mâu thuẫn giữa các thành tố của quá trình dạy học với các thành tố của môi trường, ví dụ: Mâu thuẫn giữa điều kiện khoa học – kĩ thuật phát triển cao với một bên là nội dung, phương pháp dạy học còn lạc hậu… Việc giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn bên ngoài sẽ tạo điều kiện cho quá trình dạy học vận động và phát triển
- Mâu thuẫn bên trong: Là mâu thuẫn giữa các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học; hoặc mâu thuẫn giữa các thành phần trong từng thành tố cấu trúc, ví dụ: Nội dung
Trang 13dạy học được đổi mới mâu thuẫn với phương pháp dạy học còn lạc hậu… Việc giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn bên trong sẽ tạo động lực cho sự vận động và phát triển
- Mâu thuẫn cơ bản và động lực chủ yếu của quá trình dạy học
Mâu thuẫn cơ bản: Là mâu thuẫn tồn tại giữa một bên là hệ thống các yêu cầu – nhiệm vụ học tập đề ra ngày càng cao với một bên là trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo hiện có ở học sinh
Việc giải quyết hiệu quả mâu thuẫn cơ bản sẽ tạo động lực chủ yếu thúc đẩy mạnh
mẽ sự phát triển của quá trình dạy học
1.6.3 Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực
Mâu thuẫn phải được học sinh nhận thức đầy đủ, sâu sắc và có nhu cầu giải quyết Mâu thuẫn phải vừa sức với học sinh, nghĩa là người học phải có khả năng giải quyết mâu thuẫn
Mâu thuẫn nảy sinh một cách tất yếu trong tiến trình vận động đi lên của quá trình dạy học (do tiến trình dạy học dẫn đến, do logic nhận thức của học sinh và logic môn học qui định)
1.7 Logic của quá trình dạy học
1.7.1 Khái niệm
1.7.1.1 Định nghĩa: Logic của quá trình dạy học là trình tự vận động hợp lí các
khâu của quá trình dạy học, đảm bảo phát triển trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và năng lực trí tuệ cho học sinh theo tiến trình từ thấp đến cao của môn học, bài học
Trang 141.7.2 Các khâu của quá trình dạy học
1.7.2.1 Kích thích thái độ học tập tích cực của học sinh:
Biểu hiện của thái độ học tập tích cực: Học sinh ý thức rõ ràng nhiệm vụ học tập
và có tâm thế sắn sàng học tập, hứng thú nhận thức (có động cơ học tập đúng đắn, tập trung chú ý - tích cực tham gia vào quá trình nhận thức)
- Làm cho học sinh thấy được ý nghĩa, vai trò của nội dung học tập
- Thái độ của giáo viên phải chan hòa, đúng mực, thu hút sự chú ý của học sinh
1.7.2.2 Tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới:
Cốt lõi của giai đoạn này là giáo viên huy động mọi quá trình nhận thức của học sinh, trên cơ sở đó giúp học sinh lĩnh hội khái niệm khoa học Đây là giai đoạn trọng tâm của quá trình dạy học, gồm 2 bước thực hiện:
- Tổ chức, hướng dẫn học sinh tri giác tài liệu học tập, hình thành biểu tượng chính xác về sự vật, hiện tượng
- Tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các thao tác tư duy để tìm ra những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong mang tính qui luật của sự vật hiện tượng, từ đó hình thành nên khái niệm khoa học
Trang 151.7.2.3 Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố tri thức:
Đây là giai đoạn tiến hành tổ chức cho học sinh lặp đi, lặp lại những hành động nhất định để giúp học sinh lưu trữ các thông tin vừa nhận được một cách đầy đủ, bền vững, đồng thời có thể tái hiện nhanh chóng và chính xác khi cần thiết
* Biện pháp:
- Trong quá trình dạy học, giáo viên cần nhấn mạnh những vấn đề cơ bản, hệ thống các kiến thức trọng tâm của bài học
- Tổ chức cho học sinh làm các bài tập ứng dụng, có liên hệ thực tế để củng cố,
mở rộng, đào sâu tri thức vừa học
- Hướng dẫn học sinh sử dụng các loại trí nhớ để hệ thống hóa các tài liệu, xác định các vấn đề cốt lõi để biến nó thành kinh nghiệm của bản thân, đồng thời hướng dẫn phương pháp ôn tập thường xuyên và tích cực
1.7.2.4 Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo:
Là giai đoạn giáo viên tổ chức, điều khiển học sinh thực hiện các hành động nhận thức – thực hành để chuyển hóa tri thức lí thuyết thành kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
1.7.2.5 Kiểm tra, đánh giá và tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá:
Là giai đoạn giáo viên sử dụng các biện pháp để thu nhận thông tin cần thiết về quá trình dạy và học, làm cơ sở cho việc điều khiển, điều chỉnh quá trình dạy học một cách hợp lí
Trang 16thành một thể thống nhất, có liên hệ mật thiết, hỗ trợ nhau nhằm làm cho quá trình dạy học đạt kết quả tối ưu Tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung và điều kiện cụ thể mà giáo viên có thể thực hiện các khâu xen kẻ nhau theo trình tự thích hợp (trừ khâu cuối)
Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
1 Tại sao có thể nói, dạy học là quá trình hoạt động tương tác giữa hai chủ thể: giáo viên và học sinh?
2 Trình bày vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học?
3 Phân tích cấu trúc của quá trình dạy học Với cấu trúc này, làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông hiện nay?
4 Phân tích bản chất của quá trình dạy học, từ đó rút ra kết luận sư phạm?
5 Phân tích những nhiệm vụ dạy dạy và mối liên hệ giữa chúng?
6 Trình bày động lực của quá trình dạy học? Cho ví dụ về cách xây dựng động lực cho một tiết học cụ thể?
7 Thế nào là logic của quá trình dạy học? Tại sao nói, logic của quá trình dạy học
là sự thống nhất biện chứng giữa logic nhận thức và logic của nội dung dạy học?
8 Phân tích các khâu của quá trình dạy học và mối liên hệ giữa chúng?
Trang 17CHƯƠNG 2 NGUYÊN TẮC DẠY HỌC
2.1 Khái niệm nguyên tắc dạy học
2.1.2 Cơ sở xác định nguyên tắc dạy học
- Mục đích giáo dục tổng quát và mục tiêu giáo dục THPT
- Những tính qui luật của quá trình dạy học
- Đặc điểm tâm – sinh lí lứa tuổi học sinh
- Kinh nghiệm xây dựng hệ thống các nguyên tắc dạy học trong lịch sử
2.2 Hệ thống các nguyên tắc dạy học
2.2.1 Đảm bảo thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
2.2.1.1 Nội dung nguyên tắc:
Trong quá trình dạy học phải trang bị cho học sinh hệ thống những tri thức khoa học chân chính, hiện đại thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên – kĩ thuật, văn hóa – xã hội khác nhau
Hình thành cho học sinh phương pháp học tập, thói quen suy nghĩ và làm việc một cách có khoa học
Trên cơ sở hệ thống tri thức và sự phát triển trí tuệ của học sinh dần dần hình thành cho các em thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức cần thiết của người lao động mới
Trang 18Vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo ở học sinh Rèn luyện phong cách học tập và làm việc một cách khoa học cho học sinh
2.2.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
2.2.2.1 Nội dung nguyên tắc:
Phải giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức lí thuyết cơ bản, hiện đại thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau với hai điều kiện : 1 Tri thức phải có hệ thống ; 2 Tri thức đó có thể vận dụng vào thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo bản thân
Giúp học sinh thấy được vai trò của tri thức khoa học đối với thực tiễn cuộc sống Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề cụ thể xảy ra trong học tập và cuộc sống
2.2.2.2 Biện pháp thực hiện:
Nội dung chương trình dạy học phải đảm bảo cân đối giữa lí thuyết và thực hành Nội dung phải có tính cập nhật, chứa đựng các yếu tố của cuộc sống, gần gũi với học sinh; phải liên hệ với thực tế địa phương để học sinh thấy rõ tác dụng của tri thức đối với cuộc sống
Lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học gắn với thực tế, mang tính thực hành
Trang 192.2.3 Đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học
2.2.3.1 Nội dung nguyên tắc:
Trong quá trình dạy học phải tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật - hiện tượng, hình tượng hoặc mô hình của chúng, làm cơ sở hình thành các khái niệm khoa học
Có thể cho học sinh đi từ chỗ lĩnh hội tri thức khái quát, rồi sau đó xem xét những
Kết hợp việc trình bày phương tiện trực quan với lời nói sinh động, giàu hình ảnh
để giảng giải cho học sinh
Rèn luyện cho học sinh năng lực quan sát và tư duy khoa học
Tổ chức cho học sinh vận dụng những điều đã học vào thực tiễn
2.2.4 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và tình mềm dẻo của tư duy
2.2.4.1 Nội dung nguyên tắc:
Dạy học phải huy động các chức năng tâm lí vào việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, giúp học sinh nhớ lâu, nhớ đầy đủ và có thể tái hiện chính xác khi cần thiết
Học sinh phải nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, đồng thời phát huy kinh nghiệm
- khả năng mềm dẻo, linh hoạt của trí tuệ vào việc giải quyết các tình huống cụ thể
2.2.4.2 Biện pháp thực hiện:
Giáo viên truyền đạt những vấn đề trọng tâm, cơ bản và có hệ thống
Hướng dẫn học sinh biết kết hợp hài hòa các loại ghi nhớ chủ định và không chủ định trong quá trình lĩnh hội tài liệu học tập
Trang 20Dạy học nêu vấn đề, đòi hỏi học sinh phải tích cực hoá những tri thức đã học để giải quyết vấn đề, tránh việc học thuộc lòng không cần thiết
Hướng dẫn học sinh cách sử dụng sách và phương pháp ôn tập, luyện tập, kiểm tra - đánh giá thường xuyên, tích cực, có hệ thống
2.2.5 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và riêng trong dạy học
2.2.5.1 Nội dung nguyên tắc:
Dạy học đưa ra các yêu cầu, nhiệm vụ phù hợp với sự phát triển nhân cách nói chung và trình độ nhận thức nói riêng của học sinh, tương ứng với giới hạn cao nhất của vùng phát triển trí tuệ gần nhất
Cần vận dụng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với với đặc điểm lứa tuổi, trình độ chung của tập thể lớp và trình độ phát triển riêng của từng học sinh, đảm bảo cho mọi học sinh đều phát triển tối đa khả năng của mình
Kết hợp các hình thức tổ chức dạy học khác nhau nhằm tạo điều kiện giúp đỡ, kèm cặp học sinh cá biệt, qua đó giáo dục tinh thần tập thể cho các em
2.2.6 Đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh
2.2.6.1 Nội dung nguyên tắc:
Trong quá trình dạy học cần đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giáo viên với vai trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt động dạy và hoạt động học:
Trang 21- Giáo viên phải luôn giữ vai trò chủ đạo: Tổ chức, điều khiển quá trình dạy học; hướng dẫn, giúp đỡ học sinh giải quyết những vấn đề khó trong học tập; tạo điều kiện phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh
- Tính tự giác, tính cực, độc lập nhận thức của học sinh thể hiện: HS ý thức đầy
đủ nhiệm vụ học tập và cố gắng để hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó; tích cực huy động các chức năng tâm lí để nhận thức, phát hiện và giải quyết các vấn đề trong học tập
Thường xuyên động viên, khen ngợi những học sinh chuyên cần, tự giác, tích cực trong học tập, kích thích nhu cầu, hứng thú nhận thức và kịp thời uốn nắn những thiếu sót của học sinh
Duy trì mối liên hệ ngược (trong và ngoài) trong quá trình dạy học, trên cơ sở đó điều chỉnh hoạt động dạy và học
2.2.7 Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học
2.2.7.1 Nội dung nguyên tắc:
Trong quá trình dạy học, phải hình thành cho học sinh nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học để chuyển dần từ quá trình dạy học sang quá trình tự học
Dạy học phải lấy tự học của học sinh làm mục tiêu: Người học có thể tự mình tìm kiếm, khai thác kiến thức bằng hành động của chính mình: tự lên kế hoạch, tự thể hiện
và hợp tác với bạn, tự tổ chức, tự kiểm tra - đánh giá và tự điều khiển, điều chỉnh hoạt động học của mình
Trang 222.2.7.2 Biện pháp thực hiện
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm
Chú ý rèn luyện kĩ năng tự học: kĩ năng đọc sách, tra cứu, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng tổ chức và thực hiện kế hoạch học tập, kĩ năng kiểm tra – đánh giá
Nêu gương tự học thành công để kích thích tinh thần tự học của học sinh
Tìm hiểu và hướng dẫn học sinh tháo gỡ những khó khăn gặp phải trong quá trình
tự học
Tổ chức các phong trào tự học, các buổi trao đổi kinh nghiệm học tốt trong tập thể học sinh
2.3 Mối quan hệ giữa các nguyên tắc
Các nguyên tắc có mối quan hệ biện chứng với nhau Chúng vừa bổ sung, vừa định hướng cho các hoạt động dạy học
Cần thực hiện quán triệt các nguyên tắc theo quan điểm tổng hợp, toàn vẹn vào từng nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
Tuỳ theo bài học và tình huống dạy học cụ thể, giáo viên lựa chọn, vận dụng các nguyên tắc dạy học một cách linh hoạt và sáng tạo Có thể chú trọng một nguyên tắc nào đó trong sự kết hợp với các nguyên tắc khác
Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
1 Trình bày khái niệm nguyên tắc dạy học?
2 Phân tích các căn cứ lí luận và thực tiễn để xây dựng các nguyên tắc dạy học?
3 Phân tích nội dung và phương hướng thực hiện từng nguyên tắc dạy học?
4 Trình bày mối liên hệ giữa các nguyên tắc dạy học? Cho ví dụ minh họa?
5 Tại sao nói, nghệ thuật sư phạm chính là việc thực hiện một cách linh hoạt, hợp
lí các nguyên tắc dạy học của người giáo viên?
Trang 23CHƯƠNG 3 NỘI DUNG DẠY HỌC
3.1 Khái quát về nội dung dạy học
3.1.1 Khái niệm
Nội dung dạy học (NDDH) là hệ thống những những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và thái độ đánh giá thế giới, phù hợp về mặt sư phạm và được định hướng về mặt chính trị
Nội dung dạy học ở trường phổ thông là hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, toàn diện về tự nhiên, xã hội và nhân văn, về công nghệ và nghệ thuật… cùng với hệ thống kĩ năng tương ứng, được giảng dạy ở các trường phổ thông, nhằm giúp học sinh nắm vững, hình thành năng lực sáng tạo, để tiếp tục học lên các bậc cao hơn hoặc đi vào cuộc sống lao động
NDDH được hình thành từ những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc và nhân loại NDDH chịu sự qui định bởi mục đích, nhiệm vụ dạy học, đặc điểm học sinh, thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước nó chi phối phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học
3.2 Những thành phần của nội dung dạy học
3.2.1 Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, kĩ thuật, nghệ thuật
Đây là thành phần cơ bản của nội dung dạy học, thực hiện chức năng bản thể luận, chức năng định hướng và chức năng đánh giá
Trang 24Các dạng tri thức: Tri thức có tính chất kinh nghiệm (những sự kiện thông thường); Tri thức khoa học - lí thuyết, thực hành (khái niệm cơ bản, qui luật, định luật, cách thức hoạt động, phương pháp nhận thức, giá trị về các chuẩn mực, thái độ )
3.2.2 Kinh nghiệm thực hiện những cách thức hoạt động đã biết
Đây là hệ thống những kĩ năng, kĩ xảo hoạt động trí óc và lao động chân tay
Các dạng kĩ năng: Kĩ năng chung (nhận thức vấn đề, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, quản lí), Kĩ năng đặc thù, gắn với từng môn học (kĩ năng làm thí nghiệm, kĩ năng
giải quyết tình huống…)
3.2.3 Kinh nghiệm hoạt động sáng tạo
Đây là thành phần quan trọng nhằm chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm tòi, giải quyết vấn đề mới, cải tạo hiện thực…
Dấu hiệu đặc trưng: Phát hiện vấn đề mới trong tình huống quen thuộc → Độc lập
di chuyển tri thức, kĩ năng – kĩ xảo đã biết vào tình huống mới → Nhìn thấy những cách giải quyết khác nhau về một vấn đề và chọn cách tối ưu → Xây dựng cách giải quyết hoàn toàn mới
3.3.4 Tiêu chuẩn về thái độ đối với tự nhiên, xã hội, con người
Đây là thành phần thể hiện tính giáo dục của nội dung dạy học Hình thành cho học sinh hệ thống giá trị, thái độ cảm xúc và đánh giá đúng về thế giới, về con người;
từ đó có phương thức ứng xử thích hợp
định lẫn nhau Toàn bộ nội dung dạy học phải thể hiện đầy đủ 4 thành phần trên
3.3 Kế hoạch, chương trình dạy học, sách giáo khoa và các tài liệu khác
3.3.1 Kế hoạch dạy học
- Kế hoạch dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành, trong đó qui định các môn học, các hoạt động giáo dục cơ bản; trình tự dạy các môn qua từng năm; số tiết dành
Trang 25cho từng môn và việc tổ chức năm học (số tuần thực học, số tuần lao động và nghỉ, chế
kế hoạch chung đã quy định
- Môn học: Là lĩnh vực nội dung dạy học, được thực hiện trong nhà trường, có cấu trúc và logic phù hợp với các ngành khoa học tương ứng, phù hợp với những qui luật tâm sinh lí và vệ sinh học đường, vì vậy môn học có điểm giống nhưng không đồng nhất với khoa học tương ứng
+ Sự giống nhau giữa môn học và khoa học tương ứng: đều phản ánh một cách khách quan và có hệ thống những thành tựu khoa học mà loài người đã tích lũy, khái quát hóa, hệ thống hóa
+ Sự khác nhau giữa môn học và khoa học tương ứng: Môn học chỉ phản ánh cơ
sở của khoa học tương ứng như các khái niệm, định luật, định lý Một môn học thường bao gồm cơ sở của nhiều khoa học liên quan; Môn học có những phần nhằm quy định và hướng dẫn rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nhất định; Môn học còn yêu cầu về phát triển trí tuệ, yêu cầu giáo dục; Logic môn học được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa logic khoa học tương ứng và logic nhận thức chung của HS
3.3.2 Chương trình dạy học
Chương trình dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành, trong đó qui định một cách cụ thể: vị trí, mục đích môn học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, số tiết dành cho môn học nói chung và cho từng phần, từng chương, từng bài nói riêng
Chương trình dạy học của cấp học, bậc học được xây dựng từ chương trình dạy học của từng môn học ở các lớp cụ thể trong cấp học, bậc học đó Chương trình dạy học của từng môn học thường có cấu trúc như sau:
Trang 26- Vị trí, mục tiêu môn học
- Nội dung môn học
- Phân phối thời gian
- Giải thích và hướng dẫn thực hiện chương trình
Như vậy, chương trình dạy học là văn kiện có tính chất pháp quy do Nhà nước ban hành, vì vậy buộc giáo viên phải nghiên cứu để thực hiện đúng quy định, đồng thời Nhà nước và các cấp quản lý giáo dục căn cứ vào đó để tổ chức, quản lý, giám sát hoạt động dạy học của nhà trường và giáo viên
Trong chương trình dạy học đã quy định rõ về vị trí, mục tiêu môn học, giáo viên cần bám sát vào đó để dạy học đạt mục tiêu đã quy định
Trong một số tài liệu hiện nay có quan niệm cho rằng chương trình dạy học bao gồm cả kế họach dạy học Trên thực tế vẫn có thể thiết kế một chương trình bao gồm
cả kế hoạch trong đó Ở nước ta, kế hoạch và chương trình dạy học là hai văn bản khác nhau Khi triển khai dạy học, cần phối hợp giữa việc thực hiện chương trình và kế hoạch, chương trình được triển khai theo kế hoạch
Chương trình dạy học là một thành tố rất quan trọng Việc tổ chức đổi mới nội dung dạy học theo hướng hiện đại, cập nhập, phù hợp với thực tiễn và trình độ nhận thức của học sinh nhất thiết phải xây dựng chương trình đáp ứng được yêu cầu đó
3.3.3 Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác dùng chung trong các trường học (phổ thông) do nhà nước quy định
Sách giáo khoa là tài liệu giảng dạy và học tập chính thức của giáo viên và học sinh, trong đó trình bày nội dung của môn học một cách rõ ràng, cụ thể và chi tiết với cấu trúc xác định Sách giáo khoa là hình thái vật chất của môn học, của nội dung học vấn mà môn học thể hiện
Trang 27Sách giáo khoa trình bày những nội dung cơ bản, những thông tin cần thiết, vừa sức đối với học sinh và theo một hệ thống chặt chẽ
Sách giáo khoa giúp học sinh lĩnh hội, củng cố, đào sâu những tri thức tiếp thu được trên lớp, phát triển trí tuệ và giáo dục các phẩm chất nhân cách của học sinh Đối với giáo viên, đó là cơ sở để xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học để tổ chức tốt công tác dạy học của mình
Ngoài sách giáo khoa, ở trường phổ thông còn có những sách và các tài liệu tham khảo khác cho giáo viên và học sinh Các tài liệu này giúp học sinh mở rộng, bổ sung, đào sâu kiến thức phù hợp với trình độ và hứng thú học tập của mình
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác phải đảm bảo các yêu cầu: khoa học,
hệ thống, vừa sức học sinh, phù hợp với chương trình; giúp học sinh có phương pháp học tập độc lập, kích thích tư duy, mở rộng tầm hiểu biết cho học sinh; ngôn ngữ phải
rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn và chính xác; đảm bảo các yêu cầu sư phạm về vệ sinh và thẩm mĩ; hình thức sách phải đẹp, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của học sinh vào phần trọng tâm
3.4 Phương hướng chỉ đạo việc xây dựng nội dung dạy học ở THPT
3.4.1 Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo nói chung và mục tiêu
bậc trung học phổ thông nói riêng
3.4.2 NDDH phải đảm bảo tính giáo dục toàn diện và cân đối Trong đó coi trọng
giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống văn hóa cho học sinh
3.4.3 NDDH phải đảm bảo cho học sinh nắm vững tri thức phổ thông, cơ bản,
hiện đại Chú ý cập nhật những thành tựu mới của khoa học, phù hợp thực tiễn Việt Nam và đặc điểm tâm sinh lí, trí tuệ học sinh
3.4.4 NDDH phải đảm bảo tính kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp (nội dung dạy
học gắn với thực tế cuộc sống, thị trường lao động và điều kiện phát triển của khoa học
kĩ thuật)
Trang 283.4.5 Nội dung dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, xây dựng theo quan điểm
tích hợp và phát triển, đồng thời chú ý mối quan hệ giữa các bộ môn
3.4.6 Nội dung dạy học đảm bảo phát huy năng khiếu, sở trường cá nhân, kích
thích tính tích cực, độc lập và sáng tạo của học sinh
Những phương hướng chỉ đạo có liên quan mật thiết, đan kết vào nhau, bổ sung,
hỗ trợ cho nhau và qui định lẫn nhau Do đó, khi nghiên cứu vận dụng chúng để xây dựng nội dung dạy học phải quán triệt theo quan điểm hệ thống đối với những mối quan hệ của các phương hướng này
Câu hỏi ôn tập và thảo luận:
1 Thế nào là nội dung dạy học? Phân tích các đặc điểm của nội dung dạy học trung học phổ thông?
2 Phân tích các thành phần của nội dung dạy học và ý nghĩa của các thành phần này đối với sự phát triển nhân cách học sinh?
3 Phân tích các định hướng xây dựng nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông ở nước ta?
4 Sưu tầm và phân tích kế hoạch dạy học, chương trình và sách giáo khoa của môn học thuộc bậc, cấp học mà anh chị sẽ giảng dạy?
Trang 29CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
4.1 Khái niệm phương pháp dạy học
4.1.1 Khái niệm phương pháp
Là cách thức tiến hành hoạt động một cách tự giác, tuần tự nhằm đạt đến kết quả phù hợp với mục đích đã định
Phương pháp có cấu trúc gồm hai mặt:
- Mặt khách quan của phương pháp: Những qui luật khánh quan của đối tượng mà chủ thể tác động phải nhận thức
- Mặt chủ quan của phương pháp: Là những biện pháp, thao tác mà chủ thể sử dụng tác động lên các qui luật khách quan để nhận thức, cải biến các hiện tượng
4.1.2 Khái niệm phương pháp dạy học
4.1.2.1 Khái niệm:
Phương pháp dạy học (PPDH) là tổ hợp các cách thức hoạt động thống nhất giữa giáo viên và học sinh, trong đó giáo viên đóng vai trò chủ đạo nhằm thực hiện tối ưu các nhiệm vụ dạy học đã đề ra
Nói cách khác, phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh hệ thống tri thức khoa học, hình thành hệ thống kĩ năng, kĩ xảo, thực hành sáng tạo và thái độ chuẩn mực theo hệ thống mục tiêu của quá trình dạy học
Phương pháp dạy học tích cực: Việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp theo cách tiếp cận lấy hoạt động của người học làm trung tâm, nghĩa là việc vận dụng và phối hợp các phương pháp như thế nào đó để người học được tích cực hoạt động (nhận thức - thực hành) khám phá ra tri thức, phát triển trí tuệ
4.1.2.2 Đặc điểm của phương pháp dạy học
PPDH là thành tố của QTDH, có quan hệ chặt chẽ với các thành tố khác
PPDH chịu sự chi phối của mục đích, nội dung dạy học, tạo nên phương thức hoạt động của GV và HS, đồng thời góp phần hoàn thiện nội dung, nhiệm vụ dạy học
Trang 30PPDH bao gồm các cách thức hoạt động của GV – Chủ thể tác động: nắm vững những qui luật khách quan chi phối đối tượng tác động là học sinh và nội dung dạy học Trên cơ sở đó tổ chức hoạt động nhận thức cho HS (tổ chức, điều khiển, hướng dẫn phương pháp học…)
PPDH bao gồm các cách thức hoạt động của HS – là đối tượng đồng thời là chủ thể đối với nội dung dạy học: tự tổ chức, tự kiểm tra - đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động nhận thức bản thân
Cách thức hoạt động của GV và HS luôn phối hợp thống nhất, tương tác lẫn nhau Trong đó, phương pháp dạy đóng vai trò chủ đạo, phương pháp học chịu sự chi phối của phương pháp dạy đồng thời có ảnh huởng trở lại phương pháp dạy
PPDH thể hiện ở hai mặt bên ngoài và bên trong của phương pháp:
- Mặt bên ngoài là những cách thức, biện pháp, sự phối hợp các phương pháp, phương tiện
- Mặt bên trong của PPDH thể hiện ở mức độ tích cực nhận thức của học sinh Phương pháp dạy học rất đa dạng, ngày càng hoàn thiện và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và sự phát triển của học sinh Mỗi cấp học, ngành học, môn học, bài học, thậm chí mỗi đơn vị kiến thức, mỗi loại kĩ năng có những phương pháp đặc thù Nghệ thuật sư phạm của giáo viên chính là việc lựa chọn và phối hợp linh hoạt các phương pháp trong từng bài dạy để đạt hiệu quả dạy học cao nhất
4.1.2.3 Chức năng của phương pháp
- Chức năng nhận thức: PPDH giúp học sinh nắm vững hệ thống tri thức, kĩ năng,
kĩ xảo từ thấp đến cao: nhận biết – tái hiện – kĩ năng – biến hoá (sáng tạo)
- Chức năng phát triển: PPDH góp phần phát triển năng lực hoạt động trí tuệ cho học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo
- Chức năng giáo dục: PPDH góp phần tạo nên ý chí và khả năng hoạt động tự giác, độc lập cho học sinh; hình thành ở các em thói quen tiếp nhận các tác động một cách phê phán
Trang 314.2 Phân loại phương pháp dạy học
Cho đến nay, vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về cơ sở phân loại, về hệ thống các phương pháp cũng như tên gọi của chúng
Có nhiều cách phân loại, sau đây là một số cách phân loại tiêu biểu:
Dựa theo nguồn kiến thức và đặc điểm tri giác tài liệu (thông tin) của học sinh, S
I Petrovski và E Ia Golan đã phân loại phương pháp dạy học thành 3 nhóm: nhóm phương pháp dùng lời, nhóm phương pháp trực quan và nhóm phương pháp thực hành Dựa theo nhiệm vụ cơ bản của lí luận dạy học, M A Danhilov và B P Expov đã phân loại phương pháp thành 6 nhóm: nhóm phương pháp truyền thụ kiến thức, nhóm phương pháp hình thành kĩ năng, kĩ xảo, nhóm phương pháp ứng dụng tri thức, nhóm phương pháp hoạt động sáng tạo, nhóm phương pháp củng cố và nhóm phương pháp kiểm tra
I F Khaclamov đã phân phương pháp dạy học thành 4 nhóm: nhóm phương pháp giải thích bằng lời, nhóm phương pháp hoạt động tìm kiến tri thức mới, nhóm phương pháp vận dụng kiến thức hình thành kĩ năng, kĩ xảo và nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
Dựa theo đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh, I Ia Lecne đã chia phương pháp dạy học thành 5 nhóm: nhóm phương pháp giải thích – minh họa, nhóm phương pháp tái hiện, nhóm phương pháp trình bày nêu vấn đề, nhóm phương pháp tiềm kiếm từng phần (ơristic) và nhóm phương pháp nghiên cứu, sáng tạo
Theo quan điểm điều khiển học, Iu K Babanski đã chia phương pháp dạy học thành 3 nhóm: nhóm các phương pháp tổ chức và thực hiện hoạt động nhận thức, nhóm các phương pháp kích thích và hình thành động cơ nhận thức – học tập và nhóm các phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
Ngoài các cách phân loại ở trên, vẫn còn nhiều cách phân loại phương pháp dạy học khác nữa Trong tài liệu này, chúng tôi sẽ trình bày một cách phân loại phổ biến, đang được chấp nhận và sử dụng ở các trường phổ thông Việt Nam, đó là phân phương
Trang 32pháp dạy học thành 4 nhóm: nhóm phương pháp sử dụng ngôn ngữ, nhóm phương pháp dạy học trực quan, nhóm phương pháp dạy học thực hành và nhóm phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
4.3 Hệ thống các phương pháp dạy học
4.3.1 Nhóm phương pháp dạy học sử dụng ngôn ngữ
4.3.1.1 Phương pháp thuyết trình
a Định nghĩa: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói sinh động, giàu hình ảnh
để trình bày nội dung bài học cho học sinh một cách hệ thống và logic
- Giảng giải: Là phương pháp giáo viên dùng những luận cứ, những số liệu để giải thích, chứng minh, làm sáng tỏ các vấn đề, nguyên tắc, qui luật, định lí nào đó trong nội dung dạy học
Giảng giải thường chứa đựng các yếu tố suy luận và phán đoán, suy lí, có tác dụng kích thích sự phát triển tư duy logic cho học sinh
Giảng giải thường được kết hợp với giảng thuật để bài giảng có tính chặt chẽ và sinh động
- Giảng diễn: Là phương pháp giáo viên dùng lời nói để trình bày một vấn đề hoàn chỉnh, có tính phức tạp, trừu tượng và khái quát trong một thời gian tương đối dài (>30 phút)
Trang 33Đây là phương pháp tiết kiệm thời gian, có tính khoa học và chặt chẽ, giúp học sinh nắm vấn đề có tính logic cao Tuy nhiên ít được dùng ở phổ thông, chỉ dùng khi kết hợp với giảng giải và giảng thuật
c Cấu trúc của phương pháp thuyết trình:
- Đặt vấn đề: Giáo viên thông báo vấn đề dưới dạng tổng quát nhằm kích thích sự chú ý ban đầu của học sinh
- Phát biểu vấn đề: Giáo viên nêu lên những câu hỏi cụ thể nhằm vạch ra những vấn đề cần phải xem xét, từ đó giúp học sinh định hướng vào nội dung sẽ trình bày và các vấn đề cần giải quyết, đồng thời kích thích nhu cầu và hứng thú nhận thức cho HS
- Giải quyết vấn đề: GV kết hợp các dạng thuyết trình để giúp HS có những biểu tượng cần thiết làm cơ sở hình thành các khái niệm khoa học Có thể tiến hành theo hai cách: Logic qui nạp (là con đường nhận thức đi từ cái cụ thể đến cái chung, khái quát)
và Logic diễn dịch (là con đường nhận thức đi từ nguyên lí chung, khái quát đến cái cụ thể, đơn nhất) Logic qui nạp hay diễn dịch đều có ba kiểu trình bày: phân tích, phát triển, đối chiếu
- Kết thúc vấn đề: Là giai đoạn kết thúc bài thuyết trình nhằm tóm tắt lại những ý chính, làm nổi bật những trọng tâm, cơ bản, khái quát bản chất của vấn đề
d Ưu và nhược điểm của thuyết trình:
Trang 34- Phương pháp thuyết trình có khả năng tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, ý chí của học sinh
* Nhược điểm:
- Là phương pháp độc thoại, sinh không có cơ hội trình bày ý kiến, tranh luận hay thực hành nên lớp học thường đơn điệu, học sinh tiếp thu tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách thụ động, mệt mỏi
- HS khó nắm vững ngay tri thức ở trên lớp, do đó khó vận dụng vào thực tiễn
- Giáo viên khó đánh giá chính xác trình độ lĩnh hội, khả năng nhận thức của từng học sinh, do đó khó cá biệt hoá dạy học
e Những yêu cầu khi sử dụng thuyết trình:
- Nội dung thuyết trình phải là những vấn đề khoa học cơ bản, chính xác, vạch ra được bản chất của vấn đề, ý nghĩa tư tưởng và thực tiễn của nội dung bài học
- Cấu trúc bài thuyết trình phải đảm bảo tính hệ thống, chặt chẽ, có dàn ý rõ ràng,
dễ hiểu, đảm bảo tính tuần tự, logic
- Ngôn ngữ thuyết trình phải sinh động, giàu hình tượng và có sức thuyết phục, gợi cảm để gây chú ý, hứng thú đối với học sinh
- Thuyết trình phải đảm bảo cho học sinh ghi chép được những vấn đề cơ bản, biết kết hợp giữa nghe và ghi chép
- Cần vận dụng phối hợp với các phương pháp dạy học khác để thuyết trình thêm hấp dẫn
4.3.1.2 Phương pháp vấn đáp
a Định nghĩa: Là phương pháp giáo viên khéo léo đặt ra hệ thống câu hỏi để học
sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới, tự khám phá ra những tri thức mới bằng cách tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được từ trong cuộc sống; nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát
Trang 35hóa những tri thức đã tiếp thu và nhằm kiểm tra, đánh giá, giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức
- Phát huy tính tích cực, độc lập tư duy của học sinh
- Tạo điều kiện cho học sinh phát triển ngôn ngữ nói, rèn luyện năng lực diễn đạt vấn đề bằng lời một cách chính xác, đầy đủ, súc tích
- Tạo bầu không khí học tập sôi nổi, học sinh hứng thú học tập
- Giáo viên nhanh chóng thu được những thông tin ngược từ học sinh để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học
* Nhược điểm:
- Tốn nhiều thời gian, dễ ảnh hưởng đến kế hoạch dạy học
- Nếu sử dụng không khéo dễ dẫn đến cuộc tranh luận tay đôi, không thu hút toàn lớp tham gia vào hoạt động chung
- Nếu hệ thống câu hỏi không phù hợp sẽ làm hạn chế tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh
d Yêu cầu khi vận dụng vấn đáp:
* Yêu cầu về việc xây dựng câu hỏi:
- Câu hỏi phải phù hợp mục đích, nội dung bài học
- Nội dung câu hỏi phải chính xác, ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, thống nhất
Trang 36- Câu hỏi phải giúp HS tích cực hoá tri thức đã học đồng thời chứa đựng tình huống vấn đề để kích thích tư duy của học sinh
- Biểu đạt câu hỏi phải phù hợp đặc điểm lứa tuổi, trình độ hiểu biết của học sinh
- Tăng dần mức độ khó của các câu hỏi Xây dựng câu hỏi chính và câu hỏi phụ - gợi mở
* Yêu cầu tổ chức thực hiện vấn đáp:
- Nêu câu hỏi cho cả lớp chú ý nghe, nắm chắc trọng tâm câu hỏi, sau đó gọi học sinh trả lời
- Cần có thái độ tôn trọng và khuyến khích học sinh trả lời câu hỏi
- Cần có câu hỏi phụ, gợi mở cho học sinh trả lời để tránh thời gian “chết”
- Quan tâm, giúp học sinh biết cách diễn đạt vấn đề chính xác, rõ ràng, logic
- Điều khiển cả lớp chú ý lắng nghe câu trả lời và sẵn sàng bổ sung, góp ý kiến
- Có thể nêu những thắc mắc, khéo léo tạo tình huống có vấn đề và thu hút học sinh thảo luận để giải quyết
4.3.1.3 Phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập
a Ý nghĩa của sách giáo khoa và tài liệu
Sách giáo khoa và tài liệu học tập có ý nghĩa to lớn vì nó là nguồn tri thức phong phú, đa dạng, sinh động, hấp dẫn được trình bày chi tiết, logic, chặt chẽ
Trong sách giáo khoa, nội dung dạy học đã được lựa chọn, xây dựng một cách hệ thống, khoa học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh
Sách giáo khoa và các tài liệu học tập là căn cứ để học sinh chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chuẩn bị đề cương thảo luận, ôn tập, làm các bài tập thực hành, để tự kiểm tra,
mở rộng, đào sâu kiến thức Chính nhờ có sách giáo khoa và tài liệu tham khảo khác
mà việc học tập của học sinh trở nên hiệu quả và chất lượng hơn
Trang 37b Ưu điểm của phương pháp dạy học qua đọc sách và các tài liệu
- Phát triển kỹ năng đọc sách - một kỹ năng rất quan trọng để học tập và nhận thức thế giới
- Phát triển kỹ năng tự học, tự tra cứu, tìm kiếm và tiếp nhận thông tin hiệu quả
- Phát triển kĩ năng định hướng, xử lí, đặc biệt là kĩ năng làm việc độc lập của HS
- Cho phép học sinh chủ động học theo tốc độ riêng tùy theo khả năng mỗi người
mà không ảnh hưởng đến người khác
c Hạn chế của phương pháp dạy học qua đọc sách và các tài liệu
- Đọc sách và tài liệu học tập khác với đọc thông thường Vì có khi học sinh phải đọc những sách và tài liệu mà chúng không thật sự hứng thú Điều này ảnh hưởng tới hiệu quả học qua đọc sách và tài liệu
- Các sách và tài liệu để học hiện nay rất phong phú, trong đó có những quan điểm rất khác nhau về một vấn đề Vì vậy học sinh phải tìm đọc nhiều tài liệu và gặp khó khăn trong việc hệ thống hóa những thông tin trong nhiều sách và tài liệu học tập
- Học qua đọc là hoạt động độc lập, đòi hỏi phải phát huy trí lực, sức lực và sự tập trung cao, vì vậy cần có không gian và thời gian thích hợp
- Trong các tài liệu học tập thường trình bày thông tin ở dạng khái quát và trừu tượng, vì vậy đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, nhiều khi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới có thể hiểu được
d Yêu cầu của việc dùng sách
Trong quá trình dạy học, nhiệm vụ của giáo viên là giúp học sinh làm việc và học tập có hiệu quả thông qua đọc sách và các tài liệu tại lớp và ở nhà Để làm được điều
đó giáo viên phải:
- Nghiên cứu kỹ sách – tài liệu để xác định những nội dung học sinh tự đọc, tự nghiên cứu
- Giới thiệu những tài liệu hay, những sách cần đọc, những điều thú vị trong sách
để khơi gợi hứng thú và tính tò mò khoa học cho học sinh tìm đọc
Trang 38- Hướng dẫn học sinh kĩ năng sử dụng sách phù hợp yêu cầu học tập (ở lớp hoặc ở nhà) và đặc điểm nhận thức: đọc tài liệu gì, ở đâu, đọc như thế nào, đặc biệt là kĩ năng khai thác thông tin trên mạng và sử dụng sách điện tử…
- Hướng dẫn học sinh cách ghi chép, lập dàn ý, xây dựng đề cương, ghi tóm tắt và chú thích địa chỉ thông tin để khi cần có thể tra cứu lại mà không mất thời gian
- Yêu cầu học sinh đọc và nêu những vấn đề còn chưa rõ, chưa hiểu Giáo viên tùy theo hoàn cảnh mà gợi ý để học sinh tiếp tục suy nghĩ, tự học hoặc giải thích cho học sinh hiều rõ ngay
4.3.2 Nhóm phương pháp dạy học trực quan
Là nhóm phương pháp dạy học, giáo viên sử dụng các phương tiện kĩ thuật và đồ dùng dạy học trực quan nhằm tổ chức cho học sinh tri giác có chủ đích, có kế hoạch, tạo khả năng cho họ theo dõi tiến trình và sự biến đổi diễn ra trong đối tượng quan sát trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, củng cố, hệ thống hoá hoặc kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Ở bậc phổ thông, phương pháp dạy học trực quan có nhiều ưu điểm:
- Gây hứng thú học tập, làm giảm mệt mỏi, căng thẳng tâm sinh lí của học sinh
- Tạo điều kiện cho học sinh dễ tiếp thu tri thức, nắm vững và nhớ lâu tài liệu
- Làm tăng độ tin cậy của tri thức, giúp học sinh liên hệ tri thức với thực tiễn
- Học sinh phát triển năng lực chú ý, kĩ năng quan sát, óc tò mò khoa học, kích thích tính tích cực nhận thức – học tập
Tuy nhiên, nếu sử dụng không khéo dễ gây ra sự phân tán chú ý, học sinh không tập trung vào những dấu hiệu bản chất, thậm chí nếu lạm dụng phương pháp này sẽ làm hạn chế sự phát triển tư duy trừu tượng ở học sinh Hơn nữa, tổ chức phương pháp dạy học trực quan sẽ mất nhiều thời gian và tốn kém kinh tế Vì vậy, cần nắm vững nội dung và yêu cầu trước khi sử dụng phương pháp
Nhóm phương pháp dạy học trực quan bao gồm các phương pháp cụ thể sau:
Trang 394.3.2.1 Phương pháp quan sát
a Khái niệm: Là cách thức tổ chức, hướng dẫn học sinh trực tiếp tri giác sự vật
hiện tượng để có được những biểu tượng cảm tính cần thiết, làm cơ sở hình thành các khái niệm khoa học
b Các loại quan sát:
- Theo cách thức: quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp
- Theo thời gian: quan sát ngắn hạn và quan sát dài hạn
- Theo phạm vi: quan sát khía cạnh và quan sát toàn diện
- Theo mức độ tổ chức: quan sát tự nhiên và quan sát bố trí
c Các bước tổ chức quan sát:
- Chuẩn bị: Giáo viên cần có kế hoạch với những nội dung như: đối tượng quan sát, thời gian và thời lượng quan sát, nhiệm vụ học tập cụ thể khi quan sát, các phương tiện (nếu cần)
- Tiến hành quan sát: Giáo viên giao nhiệm vụ học tập cho học sinh → Hướng dẫn sự quan sát của học sinh → Nêu các câu hỏi kích thích suy nghĩ của học sinh → Học sinh quan sát, suy nghĩ để tìm ra bản chất, qui luật → Ghi chép tổng hợp và rút ra kết luận
- Kết thúc quan sát: Giáo viên tóm tắt các kết quả học tập được qua quan sát → Nhận xét thái độ làm việc của học sinh → Dặn dò
d Một số lưu ý khi tổ chức quan sát cho học sinh:
- Quan sát phải gắn liền với việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học cụ thể
- Công tác chuẩn bị phải chu đáo, đảm bảo sự an toàn và thành công cho buổi quan sát
- Hướng dẫn học sinh quan sát tích cực (có mục đích và sự tham gia của nhiều giác quan)
- Khuyến khích học sinh tư duy, kết hợp quan sát và ghi chép, rút ra kết luận
Trang 404.3.2.2 Phương pháp minh họa
a Khái niệm: Là phương pháp giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan, các
số liệu, các ví dụ thực tiễn… để giải thích, minh họa cho nội dung bài học, giúp học sinh hiểu chính xác các lí thuyết trừu tượng, phức tạp
b Các loại phương tiện trực quan: Vật thật (tự nhiên); Vật tượng trưng (sơ đồ,
biểu đồ…); Vật tạo hình (tranh ảnh, mô hình…); Phim minh hoạ…
c Yêu cầu đối với phương tiện trực quan:
- Phương tiện phải thật sự cần thiết giúp học sinh giải quyết các nhiệm vụ học tập
cụ thể
- Phương tiện phải rõ ràng, chính xác, không gây biểu tượng sai lệch Kích thước
đủ lớn cho cả lớp nhìn thấy
- Phương tiện phải đảm bảo tính thẩm mĩ, vệ sinh, an toàn và hiệu quả kinh tế cao
d Yêu cầu tổ chức thực hiện phương pháp minh họa:
- Lựa chọn phương tiện phù hợp mục đích, yêu cầu nội dung của bài học
- Tính toán số lượng phương tiện phù hợp, không nên lạm dụng, kéo dài thời gian
- Cho học sinh quan sát ở nhiều góc độ, khía cạnh của phương tiện, hướng dẫn học sinh biết kết hợp quan sát và ghi chép
- Sử dụng các phương tiện trực quan đúng lúc, đúng chỗ, dùng xong cất đi ngay
- Kết hợp ngôn ngữ với trình bày phương tiện trực quan, đảm bảo phát huy tính tích cực, độc lập tri giác, phát triển năng lực quan sát khoa học cho học sinh Có các cách kết hợp sau:
+ Dưới sự chỉ đạo bằng lời của giáo viên, học sinh quan sát trực tiếp đối tượng, rồi từ đó rút ra kết luận
+ Trên cơ sở quan sát các đối tượng và dựa vào tri thức đã học của HS, giáo viên hướng dẫn học sinh biện luận nêu mối quan hệ giữa các hiện tượng bằng cách qui nạp + Giáo viên trình bày các sự kiện, kết luận, rồi sau đó minh họa bằng phương tiện trực quan