1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng tâm lý học 2

85 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 19,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của Tâm lí học sư phạm: Chỉ ra các qui luật tâm lí của việc dạy học và giáo dục; Nghiên cứu những vấn đề tâm lí học của việc hình thành tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA SP TIỂU HỌC – MẦM NON

BÀI GIẢNG

(Lưu hành nội bộ)

TÂM LÝ HỌC 2

(Dành cho sinh viên ngành ĐHSP)

Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Hương

Nguyễn Thị Diễm Hằng

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 5

NHẬP MÔN TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 5

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 5

1.1.1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm 5

1.2 LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM 6

1.2.1 Khái quát chung về sự phát triển tâm lý trẻ em 6

1.2.2 Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em 10

1.2.3 Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý của trẻ 10

1.3 SỰ PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ 11

1.3.1 Quan niệm về giai đoạn phát triển tâm lý 11

1.3.2 Phân chia giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ 12

CHƯƠNG 2 13

TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 13

2.1 VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THCS 13

2 1 1 N h ữ n g y ếu t ố h o à n c ả n h k ì m h ã m s ự p h á t t ri ể n t í n h n g ư ờ i lớ n 13

2.1.2 N h ữ n g yếu t ố h o à n c ả n h t h ú c đ ẩ y s ự p há t t r i ển t í n h n g ư ờ i l ớ n 14

2.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở HỌC SINH THCS 14

2.2.1 Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lý 14

2.2.2 Sự thay đổi của điều kiện sống 16

2.3 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ “KHỦNG HOẢNG” TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THCS 17

2.4 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC SINH THCS 18

2.4.1 Đặc điểm hoạt động học tập 18

2.4.2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS 19

2.5 HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP Ở LỨA TUỔI HỌC SINH THCS 21

2.5.1 Sự hình thành kiểu quan hệ mới 21

2.5.2 Hoạt động giao tiếp với bạn bè 22

2.6 SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở HỌC SINH THCS 24

2.6.1 Sự hình thành của tự ý thức 24

2.6.2 Sự hình thành tình cảm 25

CHƯƠNG 3 28

TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 28

3.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THPT 28

3.1.1 Khái niệm tuổi thanh niên 28

3.1.2 Đặc điểm cơ thể 28

3.1.3 Điều kiện xã hội của sự phát triển 30

3.2 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC SINH THPT 30

3.2.1 Đặc điểm hoạt động học tập 30

3.2.2 Đặc điểm sự phát triển trí tuệ học sinh THPT 32

3.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CHỦ YẾU 34

3.3.1 Sự phát triển của tự ý thức 34

3.3.2 Sự hình thành thế giới quan 35

3.3.3 Giao tiếp và đời sống tình cảm của thanh niên 36

Trang 3

3.4 HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG VÀ SỰ LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT 40

3.5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH THPT 40

CHƯƠNG 4 TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC 43

4.1 GIỚI THIỆU MỘT SỐ HỌC THUYẾT VỀ TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC 43

4.1.1 Thuyết liên tưởng 43

4.1.2 Thuyết hành vi 43

4.1.3 Thuyết hoạt động 44

4.2 HOẠT ĐỘNG DẠY 46

4.2.1 Khái niệm về hoạt động dạy 46

4.2.2 Mục đích của hoạt động dạy 46

4.2.3 Con đường để đạt được mục đích của hoạt động dạy 46

4.2.4 Các yếu tố tâm lý cơ bản trong hoạt động dạy 47

4.3 HOẠT ĐỘNG HỌC 48

4.3.1 Khái niệm về hoạt động học 48

4.3.2 Bản chất của hoạt động học 49

4.3.3 Sự hình thành hoạt động học 50

4.4 SỰ HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM, KỸ NĂNG, KỸ XẢO HỌC TẬP 53

4.4.1 Sự hình thành khái niệm 53

4.4.2 Sự hình thành kỹ năng, kỹ xão 55

4.5 DẠY HỌC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ 58

4.5.1 Khái niệm về sự phát triển trí tuệ 58

4.5.2 Quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ 59

CHƯƠNG 5 TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC 60

5.1 ĐẠO ĐỨC VÀ HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 60

5.1.1 Khái niệm về đạo đức 60

5.1.2 Khái niệm về hành vi đạo đức 61

5.2 CẤU TRÚC TÂM LÝ CỦA HÀNH VI ĐẠO ĐỨC 62

5.2.1 Tri thức đạo đức và niềm tin đạo đức 62

5.2.2 Động cơ đạo đức và tình cảm đạo đức 65

5.2.3 Thiện chí, nghị lực đạo đức và thói quen đạo đức 66

5.2.4 Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý trong cấu trúc hành vi đạo đức 67

5.3.1 Tính sẵn sàng hành động có đạo đức 67

5.3.2 Ý thức bản ngã 68

5.4 VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG 69

5.4.1 Tổ chức giáo dục đạo đức cho HS trong nhà trường 69

5.4.2 Xây dựng bầu không khí đạo đức của tập thể 69

5.4.3 Tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở trong gia đình 70

5.4.4 Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua sự tự tu dưỡng, tự rèn luyện 70

CHƯƠNG 6 TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY GIÁO 72

6.1 SỰ CẦN THIẾT TRAU DỒI NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 72

6.2 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN 73

6.3 CẤU TRÚC NHÂN CÁCH CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 75

6.4 PHẨM CHẤT CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 76

6.5 NĂNG LỰC CỦA NGƯỜI THẦY GIÁO 78

6.6 SỰ HÌNH THÀNH UY TÍN NGƯỜI THẦY GIÁO 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Tâm lý học 2 là chuyên ngành tâm lý học góp phần trực tiếp hình thành quan điểm sư phạm và bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho sinh viên khối ngành sư phạm Nội dung tài liệu gồm 6 chương được quy định khác nhau về thời lượng và được trình bày khác nhau, nhưng cả bài giảng là một thể thống nhất theo quan điểm đổi mới nội dung dạy và học ở bậc đại học

Để tài liệu tiếp tục được hoàn thiện trong những năm tới, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của cán bộ giảng dạy và sinh viên

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

CHƯƠNG 1 NHẬP MÔN TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM

1.1.1 Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

1.1.1.1 Đối tượng của Tâm lý học lứa tuổi

Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu quy luật và động lực phát triển tâm lý của con người theo các lứa tuổi khác nhau và xem xét quá trình con người trở thành nhân cách như thế nào Nghiên cứu các quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý, thuộc tính tâm lý ở các lứa tuổi khác nhau và sự khác biệt của chúng ở mỗi cá nhân trong cùng một lứa tuổi Nghiên cứu các dạng hoạt động (vui chơi, học tập, lao động ) khác nhau và vai trò của chúng đối với sự phát triển tâm lý của cá nhân

Tâm lý học lứa tuổi là một chuyên ngành của TLH nó nghiên cứu các hiện tượng và các qui luật của sự phát triển tâm lý theo các thời kỳ lứa tuổi Qua đó nêu lên nguyên nhân, động lực của sự phát triển tâm lý cùng với những đặc trưng tâm lý qua các giai đoạn phát triển theo lứa tuổi Trên cơ sở đó nhà giáo dục sẽ tổ chức quá trình dạy học và giáo dục nhằm nâng cao kết quả Ngoài ra, tâm lý học lứa tuổi còn phân chia thành những chuyên ngành hẹp để nghiên cứu sâu về từng lứa tuổi

Tâm lý học Sư phạm nghiên cứu những đặc điểm và những qui luật tâm lý của quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, cũng như quá trình hình thành các phẩm chất trí tuệ và sự phát triển nhân cách của trẻ dưới sự tác động của dạy học và giáo dục Nó nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của học sinh và những đặc điểm tâm lý của những người làm công tác giáo dục Đồng thời xem xét mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với học sinh Từ đó vạch ra những yêu cầu về nhân cách của cả thầy và trò

Những quan sát hàng ngày cho ta thấy trẻ có những rung cảm và suy nghĩ không giống người lớn, có rất nhiều điều trẻ chưa làm được Nhưng vấn đề ở đây không phải là ở chỗ trẻ chưa làm được những gì, chưa nắm được gì mà ta cần phải hiểu được ở đứa trẻ hiện

có những gì, có thể làm được gì, nó sẽ thay đổi như thế nào và sẽ có được những gì trong quá trình sống và hoạt động theo lứa tuổi Có hiểu được những điều đó ta mới hiểu được nguyên nhân của những phẩm chất tâm lý mới đặc trưng cho nhân cách Mặt khác, ở mỗi lứa tuổi có những thuận lợi và khó khăn riêng đòi hỏi ta phải có phương pháp giáo dục thích hợp với từng lứa tuổi và từng cá nhân Trong quá trình dạy học và giáo dục nếu ta không chú ý tới điều đó thì dù người giáo viên có am hiểu khoa học đến đâu cũng khó có thể đạt được kết quả tốt trong công tác sư phạm của mình

1.1.1.3 Nhiệm vụ của Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm

a Nhiệm vụ của Tâm lí học lứa tuổi: Tâm lí học lứa tuổi chỉ ra các đặc điểm tâm lí của

con người được hình thành và phát triển trong từng giai đoạn lứa tuổi, những quy luật hình thành và biểu hiện tâm lí của con người trong mỗi giai đoạn phát triển tâm lí, chỉ ra các điều

Trang 6

kiện, động lực của sự phát triển tâm lí; Tâm lí học lứa tuổi cung cấp cơ sở tâm lí lứa tuổi của việc vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, biện pháp dạy học và giáo dục phù hợp với đặc điểm và quy luật tâm lí lứa tuổi, tổ chức hợp lí quá trình sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học và giáo dục

b Nhiệm vụ của Tâm lí học sư phạm: Chỉ ra các qui luật tâm lí của việc dạy học và

giáo dục; Nghiên cứu những vấn đề tâm lí học của việc hình thành tri thức khoa học, kỹ năng,

kỹ xảo, các phẩm chất nhân cách của người học; Chỉ ra cơ sở tâm lí của việc điều khiển quá trình dạy học, giáo dục trong và ngoài nhà trường, xây dựng mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh với nhau, giữa nhà trường với gia đình và các lực lượng giáo dục khác; Nghiên cứu đặc trưng lao động sư phạm của giáo viên, hệ thống phẩm chất, năng lực của người giáo viên, việc tự rèn luyện và hoàn thiện nhân cách, năng lực nghề nghiệp của người thầy giáo

1.1.2 Mối quan hệ giữa tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm

Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm là những chuyên ngành của tâm lý học, đều dựa trên cơ sở của TLH đại cương TLH đại cương cung cấp cho hai chuyên ngành này những khái niệm cơ bản về các hiện tượng tâm lý để hai chuyên ngành này sử dụng khi đi sâu vào đối tượng nghiên cứu của mình, tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm cùng có chung khách thể nghiên cứu đó là những con người bình thường ở những giai đoạn phát triển khác nhau Nếu ta nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ theo từng lứa tuổi thì nó sẽ

là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi Nếu nghiên cứu con người với tư cách là người học dưới tác động có mục đích của nhà giáo dục thì nó lại là đối tượng của tâm lý học sư phạm Tuy có đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ

và thống nhất với nhau Những kết quả nghiên cứu của tâm lý học lứa tuổi sẽ là cơ sở khoa học quan trọng để thiết kế quá trình phát triển nhân cách của trẻ Mặt khác, nhờ những thành tựu của tâm lý học sư phạm chúng ta sẽ có điều kiện cải tiến và nâng cao hiệu quả của dạy học và giáo dục, đồng thời còn tạo cơ sở khoa học để xây dựng nội dung và phương pháp dạy học và giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi Cả tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm đều nghiên cứu trẻ em trong quá trình dạy học và giáo dục và cùng phục vụ đắc lực cho sự phát triển của chính đứa trẻ đó Do đó, sự phân ranh giới giữa hai chuyên ngành là chỉ có tính chất tương đối

1.2 LÝ LUẬN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TRẺ EM

1.2.1 Khái quát chung về sự phát triển tâm lý trẻ em

1.2.1.1 Quan niệm về trẻ em

Buổi đầu của xã hội loài người, chưa thể có được khái niệm về trẻ em Thuở ấy, người ta coi trẻ em là người lớn thu nhỏ lại, nghĩa là giữa trẻ em và người lớn chỉ có sự khác nhau về số lượng, tầm cỡ, kích thước chứ không khác nhau về chất lượng của các hiện tượng tâm lý Bởi vì hoạt động của người lớn không cao hơn hẳn với hoạt động của trẻ em, cũng làm bấy nhiêu việc với những thao tác giống hệt nhau Thời bấy giờ, những thao tác lao động sản xuất không khác bao nhiêu so với thao tác sử dụng công cụ sinh hoạt Các thao tác hoạt động còn quá thô sơ, đơn điệu khiến cho sự khác biệt về tâm lý giữa trẻ em và

Trang 7

người lớn coi như không đáng kể Xã hội càng văn minh, tuổi thơ được kéo dài hơn, công cụ lao động đòi hỏi phải có những thao tác phức tạp hơn Nên những thao tác sử dụng các công

cụ lao động cao hơn những thao tác sử dụng các đồ dùng sinh hoạt Sự khác nhau đó đã làm cho tâm lý của trẻ em và người lớn có sự khác nhau về chất J.Rútxô (1712 - 1778) đã nhận xét: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ, vì “trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó” Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là

sự khác nhau về chất

TLH duy vật biện chứng cho rằng: Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, trẻ em là trẻ em, nó vận động và phát triển theo quy luật trẻ em Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời đứa trẻ là một con người, một thành viên xã hội, nó đã có nhu cầu đặc trưng của con người đó

là nhu cầu giao tiếp với người lớn Do đó, người lớn cần có những hình thức ngôn ngữ riêng để giao tiếp với trẻ, người lớn phải có cách nuôi nấng, dạy dỗ nó theo kiểu người (trẻ phải được

bú sữa mẹ, được ăn chín, được ủ ấm, nhất là cần phải được âu yếm, thương yêu…) và người lớn phải giúp trẻ tiếp thu nền văn hóa xã hội của loài người Những điều kiện sống và hoạt động ở các thời kỳ lịch sử khác nhau là rất khác nhau, mỗi thời đại khác nhau lại có sản phẩm trẻ em của riêng mình, chính vì thế mà ta không nên áp đặt những tiêu chuẩn phát triển hay phương pháp giáo dục trẻ em ở thời đại xưa cho thời đại nay

1.2.1.2 Quan niệm sai lầm về sự phát triển tâm lý của trẻ

Quan niệm duy tâm cho rằng: Sự phát triển tâm lý của trẻ chỉ là sự tăng hay giảm về số lượng mà không có sự biến đổi về chất lượng của các hiện tượng tâm lý đang được phát triển

Ví dụ: sự phát triển ngôn ngữ của trẻ chỉ là sự tăng về số lượng từ; tăng thời gian tập trung chú ý Nhìn chung, sự tăng hay giảm về số lượng các hiện tượng tâm lý cũng có ý nghĩa nhất định trong sự phát triển tâm lý của trẻ, nhưng nó không thể giới hạn toàn bộ sự phát triển tâm lý của trẻ Quan niệm này đã xem sự phát triển của mỗi hiện tượng tâm lý như là quá trình diễn ra một cách tự phát không tuân theo qui luật, con người không thể nhận thức được và không thể điều khiển được nó Có nghĩa là đứa trẻ sinh ra như thế nào thì lớn lên

nó sẽ như thế ấy theo kiểu “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính” và người ta mất lòng tin vào sự cải tạo con người Quan niệm sai lầm này được biểu hiện rõ ở nội dung của thuyết tiền định, thuyết duy cảm, thuyết hội tụ hai yếu tố

a Thuyết tiền định

Thuyết tiền định coi sự phát triển tâm lý là do các tiềm năng sinh vật gây ra và con người có tiềm năng đó ngay từ khi ra đời Mọi đặc điểm tâm lý chung và có tính chất cá thể nếu là tiền định (đều được quyết định trước), đều có sẵn trong các cấu trúc sinh vật và sự phát triển chỉ là quá trình trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết đ ịnh trước bằng con đường di truyền Gần đây, sinh học đã phát hiện ra cơ chế gen di truyền và người ta đã cho rằng: những thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng được mã hoá, chương trình hoá trong các trang bị gen Phái nhi đồng học cho rằng: Di truyền là nhân tố cơ bản quyết định “Cha mẹ ngu đần thì sinh con ngu đần” Họ coi quy luật lặp lại là quy luật cơ bản của sự phát triển Sự phát triển của giống lặp lại sự phát triển của

Trang 8

loài (Theo quan niệm của nhà tâm lý học người Đức V.Stecnơ đã so sánh sự phát triển của

cá thể với sự tiến hóa động vật và lịch sử loài người như vậy)

Thuyết tiền định đã đề cao vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền mà hạ thấp vai trò của giáo dục Họ cũng đề cập tới vai trò của giáo dục và môi trường nhưng những yếu tố đó chỉ

là yếu tố điều chỉnh làm thể hiện một nhân tố bất biến nào đó ở trẻ Do vậy, mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ là sự tùy tiện không thể tha thứ

b Thuyết duy cảm

Thuyết duy cảm giải thích sự phát triển tâm lý trẻ em bằng những tác động của môi trường xung quanh Họ cho rằng: môi trường là nhân tố quyết định sự phát triển tâm lý của trẻ Họ hiểu môi trường xã hội một cách siêu hình bất biến quyết ñịnh trước số phận con người, còn con người được xem là đối tượng thụ động trước ảnh hưởng của môi trường

Do vậy, muốn nghiên cứu tâm lý con người thì chỉ cần phân tích cấu trúc của môi trường trong đó con người đang sống và hoạt động Môi trường nào thì tạo ra con người nấy theo kiểu “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Các nhà triết học Pháp cho rằng trẻ em ngay từ lúc lọt lòng đã có những tiềm năng bẩm sinh như nhau, sự khác biệt về tâm lý là do môi trường và giáo dục khác nhau Quan điểm này bắt nguồn từ nước Anh họ coi đứa trẻ như

“tờ giấy trắng” hoặc như “tấm bảng sạch sẽ” người lớn muốn vẽ lên đó cái gì cũng được Với quan niệm như vậy, họ sẽ không giải thích được tại sao trong cùng môi trường như nhau lại

có những nhân cách rất khác nhau

Quan điểm của các nhà TLH duy vật biện chứng cho rằng: Con người sống trong môi trường đều phải chịu ảnh hưởng của môi trường, nhưng con người không thụ động chịu sự tác động của môi trường mà con người luôn thể hiện tính tích cực hoạt động để cải tạo môi trường cho phù hợp với nhu cầu lợi ích của con người C.Mác nói: Hoàn cảnh chỉ tạo ra con người trong chừng mực con người tác động lại hoàn cảnh

c Thuyết hội tụ hai yếu tố

Thuyết hội tụ hai yếu tố lại coi sự phát triển tâm lý của trẻ là do hai yếu tố bẩm sinh di truyền và môi trường quyết định Họ hiểu sự tác động của hai yếu tố đó một cách máy móc, dường như sự tác động qua lại giữa chúng có quyết định trực tiếp tới quá trình phát triển tâm

lý của trẻ, trong đó, yếu tố bẩm sinh di truyền giữ vai trò quyết định và môi trường sống chỉ là điều kiện để biến những “đặc điểm tâm lý đã được định sẵn” thành hiện thực Theo

họ thì nhịp độ và giới hạn của sự phát triển là tiền định và những đặc điểm tâm lý được thế

hệ trước truyền lại cho thế hệ sau dưới dạng có sẵn bất biến Một số người theo thuyết này cũng đề cập tới ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển tâm lý của trẻ Nhưng họ xem môi trường như là cái gì riêng biệt tách khỏi toàn bộ đời sống xã hội Môi trường xung quanh đó thường xuyên ổn định và ảnh hưởng có tính chất quyết định tới sự phát triển của trẻ, nó không phụ thuộc vào hoạt động sư phạm của nhà giáo dục, vào tính tích cực hoạt động ngày càng tăng của trẻ

Tóm lại: Cả ba thuyết trên tuy hình thức bề ngoài có vẻ khác nhau nhưng thực chất

đều có những sai lầm giống nhau là: đều thừa nhận đặc điểm tâm lý của con người là bất biến và được định trước do tiềm năng sinh vật di truyền hoặc do ảnh hưởng của môi

Trang 9

trường bất biến Các quan niệm này đánh giá không đúng vai trò của giáo dục, họ phủ nhận tính tích cực hoạt động của cá nhân, coi đứa trẻ như là một thực thể tự nhiên thụ động Vì phủ nhận tính tích cực của trẻ nên họ không giải thích được vì sao trong cùng điều kiện của môi trường xã hội hay những ñiều kiện sống khác nhau lại hình thành nên những nhân cách khác nhau

1.2.1.3 Quan niệm duy vật biện chứng về sự phát triển tâm lý của trẻ

Triết học Mác xit cho rằng: Phát triển là quá trình biến đổi của sự vật từ thấp đến cao,

từ đơn giản đến phức tạp Đó là quá trình tích lũy về số lượng dẫn đến sự thay đổi về chất lượng Là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ, do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng

TLH Mác xit cho rằng: Sự phát triển tâm lý của trẻ không phải là sự tăng hay giảm về

số lượng mà là quá trình biến đổi về chất trong tâm lý Sự thay đổi về lượng của các chức năng tâm lý dẫn tới sự thay đổi về chất và đưa đến sự hình thành cái mới một cách nhảy vọt Sự phát triển tâm lý chỉ xảy ra khi tạo được cái mới chưa hề có trong vốn liếng tâm lý của nó Sự xuất hiện cái mới về chất khiến cho những cái cũ vốn có phải được cấu tạo lại chứ không phải là sự cộng thêm vào Chính sự đấu tranh của mâu thuẫn bên trong giữa cái mới và cái cũ đã biến đứa trẻ thành người lớn Sự biến đổi về chất lượng đã tạo nên những bước nhảy vọt liên tục đánh dấu một bước chuyển biến từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác

Sự phát triển tâm lý của trẻ là quá trình trẻ lĩnh hội nền văn hóa xã hội của loài người, đó là kết quả hoạt động của chính đứa trẻ với những đối tượng mà loài người đã tạo ra Trẻ không tự lớn lên giữa môi trường sống, mà nó chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội nhờ

sự chỉ bảo, giáo dục của người lớn Người lớn giúp trẻ nắm được ngôn ngữ dân tộc, phương thức hoạt động giúp trẻ có được năng lực người Nhờ sự tiếp xúc và sự hướng dẫn của người lớn mà những quá trình nhận thức, kỹ năng kỹ xảo và cả những nhu cầu xã hội của trẻ được hình thành và phát triển

Những biến đổi về chất trong tâm lý của trẻ sẽ đưa trẻ từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác Bất cứ một mức độ nào của trình độ phát triển trước cũng là sự chuẩn bị cho trình

độ Sự phát triển tâm lý trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng Đó là một quá trình không phẳng lặng mà có khủng hoảng và đột biến Chính hoạt động của đứa trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lý của trẻ được hình thành và phát triển từ thời kỳ lứa tuổi này sang thời kì lứa tuổi khác

Các nhà tâm lý học duy vật biện chứng cũng thừa nhận rằng sự phát triển tâm lý chỉ

có thể xảy ra trên nền của một cơ sở vật chất nhất định (trên cơ thể người với những đặc điểm bẩm sinh di truyền nhất định) Không có sự phát triển cơ thể bình thường, không có hoạt động bình thường của não bộ sẽ không có sự phát triển tâm lý bình thường Những đặc điểm của cơ thể có thể qui định con đường và phương thức khác nhau của sự phát triển các thuộc tính tâm lý, có thể ảnh hưởng tới tốc độ, đỉnh cao của các thành tựu của con người trong một lĩnh vực hoạt động nào đó Những đặc điểm cơ thể là tiền ñề, là điều kiện cần thiết để phát triển tâm lý, nhưng nó không quyết định trước sự phát triển tâm lý Những đặc điểm đó chỉ là khả năng của sự phát triển tâm lý Khả năng đó có trở thành

Trang 10

hiện thực hay không còn phụ thuộc vào tổ hợp những yếu tố khác nữa là trẻ phải được sống và hoạt động trong điều kiện xã hội tương ứng thì những khả năng đó mới trở thành hiện thực và tâm lý mới được phát triển

1.2.2 Quy luật chung của sự phát triển tâm lý trẻ em

1.2.2.1 Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý

Trong những điều kiện bất kỳ hay ngay cả trong những điều kiện thuận lợi nhất của giáo dục thì những biểu hiện và những chức năng tâm lý khác nhau cũng phát triển ở những mức độ khác nhau Trong đó, có những thời kỳ tối ưu đối với sự phát triển của một hình thức hoạt động tâm lý nào đó Ví dụ: Trẻ từ 1-5 tuổi là giai đoạn thuận lợi cho sự phát triển về ngôn ngữ Tuổi học sinh tiểu học thuận lợi cho sự hình thành những kỹ xảo vận động Tính không đồng đều của sự phát triển tâm lý còn được thể hiện ở giữa các cá nhân trong cùng một

độ tuổi Ví dụ: sự phát triển về thể chất ở tuổi thiếu niên

1.2.2.2 Tính trọn vẹn của tâm lý

Cùng với sự phát triển của lứa tuổi thì tâm lý con người ngày càng có tính trọn vẹn, thống nhất và bền vững Sự phát triển tâm lý là sự chuyển biến dần các trạng thái tâm lý thành các đặc điểm tâm lý riêng của cá nhân Tâm lý trẻ nhỏ phần lớn là một tổ hợp thiếu hệ thống, những tâm trạng rời rạc khác nhau Sự phát triển thể hiện ở chỗ những tâm trạng đó dần dần chuyển thành các nét của nhân cách Ví dụ: Tâm trạng vui vẻ thoải mái nảy sinh trong quá trình lao động chung, phù hợp với lứa tuổi nếu được lặp lại thường xuyên nó sẽ chuyển thành lòng yêu lao động Tính trọn vẹn của tâm lý còn phụ thuộc nhiều vào động

cơ chỉ đạo hành vi của trẻ Dưới tác động của giáo dục làm cho kinh nghiệm sống ngày càng được mở rộng thì động cơ hành vi của trẻ ngày càng trở nên tự giác và có ý nghĩa xã hội, điều đó được bộc lộ rất rõ trong nhân cách của trẻ

1.2.2.3 Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ

Hệ thần kinh của trẻ em rất mềm dẻo, nên mọi tác động giáo dục có thể làm thay đổi tâm lý trẻ em Tính mềm dẻo cũng tạo khả năng bù trừ có nghĩa là: khi có một chức năng tâm lý hoặc sinh lý nào đó yếu hoặc thiếu thì những chức năng tâm lý khác được tăng cường, phát triển mạnh hơn để bù đắp cho hoạt động không đầy đủ của những chức năng bị yếu hoặc bị hỏng đó Ví dụ: Người khuyết tật về thị giác được bù đắp bằng sự phát triển mạnh mẽ của thính giác

Sự phát triển tâm lý trẻ em không tuân theo quy luật sinh học mà tuân theo quy luật

xã hội Cho dù bộ óc của con người có tinh vi đến đâu chăng nữa nhưng nếu không sống trong xã hội loài người, không được hưởng sự giáo dục và dạy dỗ của thế hệ trước thì đứa trẻ cũng không thể trở thành nhân cách được

1.2.3 Dạy học, giáo dục và sự phát triển tâm lý của trẻ

Sự phát triển tâm lý của trẻ là sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử Nhưng trẻ chỉ có thể lĩnh hội kinh nghiệm xã hội và phát triển tâm lý của bản thân nhờ sự tiếp xúc với người lớn Nhưng sự tiếp xúc với người lớn chỉ có thể đạt hiệu quả tốt khi nó được diễn ra

Trang 11

trong quá trình hoạt động sư phạm (dưới tác động của dạy học và giáo dục) Vì giáo dục và dạy học là con đường đặc biệt để truyền đạt kinh nghiệm xã hội, những phương tiện hoạt động cho thế hệ sau Do vậy, giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý trẻ Tính chủ đạo của giáo dục được thể hiện ở những điểm sau:

- Giáo dục vạch ra chiều hướng cho sự phát triển nhân cách và tổ chức dẫn dắt sự hình thành phát triển nhân cách của trẻ theo chiều hướng đó

- Giáo dục có thể tạo điều kiện thuận lợi để cho những tư chất của trẻ được bộc lộ, phát triển để có thể biến khả năng của trẻ thành hiện thực

- Giáo dục có thể đem lại những cái mà yếu tố bẩm sinh di truyền hoặc môi trường tự nhiên không thể đem lại được

- Giáo dục có thể bù đắp lại những thiếu hụt do khuyết tật hay do bệnh tật đem lại Đồng thời, nó có thể uốn nắn những nét tâm lý xấu được hình thành do ảnh hưởng tự phát của môi trường để nhân cách của trẻ được phát triển tốt đẹp

Khi khẳng định vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự phát triển tâm lý của trẻ ta cần lưu ý rằng: Tâm lý con người mang tính chủ thể, những tác động của điều kiện bên ngoài luôn luôn bị khúc xạ thông qua kinh nghiệm sống của con người Do vậy những học sinh khác nhau có thể có thái độ khác nhau trước cùng một yêu cầu của giáo viên Mặt khác, con người là một chủ thể tích cực hoạt động có thể tự giác thay đổi được chính bản thân mình, nên mọi tác động bên ngoài chỉ ảnh hưởng tới tâm lý con người một cách gián tiếp thông qua quá trình tác động qua lại của con người với môi trường

Giáo dục, dạy học có vai trò chủ đạo đối với sự phát triển tâm lý của trẻ, chúng có quan hệ biện chứng với nhau hai quá trình này không phải là hai quá trình diễn ra song song mà chúng thống nhất với nhau có quan hệ tương hỗ với nhau Bởi vì, sự phát triển tâm lý của trẻ chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong điều kiện dạy học và giáo dục Để giữ được vai trò chủ đạo thì giáo dục và dạy học phải luôn kích thích, dẫn dắt sự phát triển chứ không phải là sự chờ đợi sự phát triển Giáo dục phải đi trước một bước để đón bắt sự phát triển, tạo nên ở trẻ quá trình giải quyết mâu thuẫn liên tục để thúc đẩy sự phát triển Tuy vậy, trong khi kích thích sự phát triển thì dạy học và giáo dục cần phải tính đến mức độ trẻ đã đạt được, tính đến đặc điểm lứa tuổi và qui luật bên trong của sự phát triển Muốn tâm lý của trẻ phát triển đúng đắn thì bên cạnh yếu tố giáo dục rất cần sự tự giáo dục của trẻ trong tất cả các thời kỳ của cuộc đời

1.3 SỰ PHÂN CHIA CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ

1.3.1 Quan niệm về giai đoạn phát triển tâm lý

Có nhiều quan niệm khác nhau về sự phân chia giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ

Quan niệm sinh vật coi sự phát triển tâm lý như là một quá trình sinh vật tự nhiên Họ căn cứ vào những nhân tố sinh vật thuần túy (như sự thay răng hay mọc răng của trẻ ) đã khẳng định tính bất biến, tính tuyệt đối của các giai đoạn lứa tuổi Quan niệm khác lại phủ nhận khái niệm lứa tuổi, họ coi sự phát triển như là sự tích lũy tri thức, kỹ năng kỹ xảo một cách đơn giản

Quan điểm của TLH Mácxit, đại diện là L.X.Vưgốtxki coi lứa tuổi là một thời kỳ

Trang 12

phát triển nhất định đóng kín một cách tương đối Trong mỗi thời kỳ có qui luật phát triển chung và được thể hiện một cách độc đáo về chất Khi chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác bao giờ cũng xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới chưa từng có trong các thời kỳ trước Những cấu tạo mới này cải tổ lại và làm biến đổi chính tiến trình phát triển tâm lý của trẻ Những đặc điểm lứa tuổi là đặc điểm chung, đặc trưng, điển hình nhất, chỉ ra phương hướng phát triển chung Nhưng lứa tuổi không phải là phạm trù tuyệt đối, bất biến

mà giai đoạn lứa tuổi chỉ có ý nghĩa tương đối Giới hạn tuổi chỉ có ý nghĩa như là yếu tố thời gian trong quá trình phát triển của trẻ chứ nó không quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách Tuổi có thể phù hợp với trình độ phát triển tâm lý của trẻ, hoặc có thể đi nhanh hơn hay chậm hơn là do ta biết tận dụng thời gian và điều kiện giáo dục để tổ chức cuộc sống của trẻ

1.3.2 Phân chia giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ

Các nhà TLH Mác xit đã căn cứ vào sự thay đổi căn bản trong điều kiện sống và hoạt động của trẻ, vào sự phát triển về thể chất ở trẻ và sự thay đổi trong cấu trúc chức năng tâm

lý của trẻ Người ta chia sự phát triển tâm lý của trẻ như sau :

* Giai đoạn trước tuổi học:

+ Tuổi sơ sinh: 0 - 2 tháng + Tuổi hài nhi: Từ 2 - 12 tháng + Tuổi nhà trẻ: Từ 1 - 3 tuổi + Tuổi mẫu giáo: Từ 3 - 6 tuổi

Hoạt động chủ đạo trong giai đoạn này là hoạt động vui chơi

* Giai đoạn tuổi HS:

+ Tuổi nhi đồng: Từ 6 - 11 tuổi + Tuổi thiếu niên: Từ 11 - 15 tuổi + Tuổi đầu thanh niên: Từ 15 -18 tuổi

Hoạt động chủ đạo trong giai đoạn này là hoạt động học tập

Mỗi thời kỳ có một vị trí, vai trò nhất định trong quá trình chuyển từ đứa trẻ mới sinh sang một nhân cách trưởng thành Mỗi thời kỳ có những nét tâm lý đặc trưng nhất định

mà đứa trẻ phải trải qua Sự chuyển từ thời kỳ này sang thời kỳ khác bao giờ cũng gắn với

sự xuất hiện những cấu tạo tâm lý mới về chất

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN

1 Tóm tắt nội dung cơ bản của thuyết tiền định, thuyết duy cảm, thuyết hội tụ hai yếu tố

về nguồn gốc phát triển tâm lý trẻ em Những thuyết đó có điểm gì cần phê phán ?

2 Hãy phân tích nội dung của quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật về sự phát triển tâm lý của trẻ? Tại sao lại có sự khác nhau đó? Từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết

3 Phân tích vai trò chủ đạo của giáo dục đối với sự phát triển tâm lý của trẻ

Trang 13

4 Tại sao nói giai đoạn phát triển tâm lý chỉ có ý nghĩa tương đối ?

5 Các nhà tâm lí học hiện đại đã căn cứ vào những yếu tố nào để phân chia sự phát triển tâm lí của trẻ ra thành các giai đoạn theo lứa tuổi khác nhau Vai trò của hoạt động chủ đạo trong mỗi thời kì lứa tuổi đã ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lí của trẻ như thế nào?

6 Sưu tầm ca dao, tục ngữ phản ánh quan điểm của nhân dân ta xoay quanh các vấn đề:

Di truyền và sự phát triển tâm lý của trẻ em Hoàn cảnh và sự phát triển tâm lý trẻ em Giáo dục và sự phát triển tâm lý trẻ em Tính tích cực hoạt động của trẻ và sự phát triển tâm lý của chúng Vận dụng quan điểm của tâm lý học Mácxit phân tích những quan niệm đúng, sai, chưa đầy đủ của các câu ca dao, tục ngữ đó

* Thảo luận: Các điều kiện khác nhau của sự phát triển tâm lí của trẻ gồm những điều kiện nào? Vai trò của chúng ra sao? Từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết

CHƯƠNG 2 TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

2.1 VỊ TRÍ, Ý NGHĨA CỦA GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THCS

Tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS) là những học sinh từ 11-15 tuổi Các em đang học từ lớp 6-9 ở trường THCS Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng và phức tạp, đây là thời kỳ chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành Sự chuyển tiếp đó tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt so với các em ở thời kỳ lứa tuổi khác: biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ nhưng mất cân đối về cơ thể, xuất hiện sự phát dục và hình thành những phẩm chất mới về trí tuệ và đạo đức Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành là do kết quả của sự biến đổi cơ thể, của sự tự ý thức, của các kiểu quan hệ với người lớn với bạn bè và của các dạng hoạt động

Sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này diễn ra không đồng đều về mọi mặt ở giữa các cá nhân trong cùng lứa tuổi Điều đó quyết định sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con vừa tính người lớn” Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển ở các khía cạnh khác nhau về tính người lớn Sự phát triển tâm lý khác nhau giữa các cá nhân

là do hoạt động và hoàn cảnh sống của các em khác nhau

Trang 14

2.1.2 N hữ ng yế u t ố ho à n c ả nh t h ú c đ ẩy s ự p há t t r iể n t í n h ng ư ời lớ n

Mặt khác, trong hoàn cảnh sống lại chứa đựng những yếu tố thúc đẩy sự phát triển tính người lớn là do cha mẹ các em quá bận rộn, gia đình gặp nhiều khó khăn trong đời sống đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều trong đời sống nên trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn Chính sự khác nhau trong hoàn cảnh sống và hoạt động đã tạo ra sự khác biệt về tính người lớn ở thiếu niên Chính sự phát triển tính người lớn khác nhau đã làm hình thành những giá trị cuộc sống có nội dung khác nhau Đây là thời kỳ hình thành những cơ sở phương hướng của những quan điểm xã hội và đặc điểm nhân cách, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên

2.2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ Ở HỌC SINH THCS

2.2.1 Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lý

2.2.1.1 Cơ thể phát triển mạnh mẽ nhưng không cân đối

Chiều cao tăng nhanh rõ rệt, trung bình 1 năm cao khoảng từ 5- 6 cm (đối với nam) và cao từ 4-5 cm (đối với nữ) Các em nữ thường cao nhanh hơn các em nam cùng độ tuổi, nhưng đến 18 - 20 tuổi sự phát triển chiều cao của nữ dừng lại Các em nam ở độ tuổi 15 -

16 thì cao đột biến vượt các em nữ và đến 24 - 25 tuổi mới dừng lại Trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng từ 2 - 6 kg, vòng ngực cũng tăng, đó là yếu tố đặc biệt trong sự phát triển thể chất ở tuổi thiếu niên Nó đã làm cho cơ thể thiếu niên thay đổi hẳn so với tuổi nhi đồng Hệ xương phát triển mạnh đặc biệt là xương tay, xương chân phát triển rất nhanh, nhưng xương ngón tay, xương ngón chân và xương lồng ngực phát triển chậm hơn Xương sống của các

em dưới 14 tuổi còn có các đốt sụn xen kẽ giữa các đốt xương sống vì thế cột sống của các

em rất dễ bị cong vẹo Người lớn cần chú ý tư thế ngồi, không nên bắt các em làm việc quá sức Hệ cơ phát triển mạnh vào cuối tuổi dậy thì nhưng lại phát triển chậm hơn so với hệ xương nên ta thường thấy lứa tuổi này không mập mà có dáng cao gầy thiếu cân đối

Do sự mất cân đối giữa hệ cơ và hệ xương nên các em thường có vẻ lóng ngóng vụng về, khi làm việc thường thiếu thận trọng hay làm đổ bể Bản thân các em cũng ý thức được sự lóng ngóng, vụng về của mình nên cố gắng che giấu nó bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kì hoặc

có thái độ mạnh bạo can đảm để người khác không chú ý đến vẻ bề ngoài của mình Nên chỉ cần một sự mỉa mai, chế giễu nhẹ nhàng về hình thể, tư thế đi đứng của các em đều gây cho các em những phản ứng mạnh mẽ biểu hiện rõ ở các em nam Hệ thống tim mạch phát triển không đồng đều, thể tích tim tăng rất nhanh, huyết áp tim tăng, hoạt động của tim nhanh hơn, mạnh hơn nhưng đường kính của các mạch máu lại phát triển chậm tạo ra sự rối loạn tạm thời của hệ tuần hoàn máu, thiếu niên thường có biểu hiện hay nhức đầu chóng mặt, có cảm giác mệt mỏi, uể oải khi làm việc

2.2.1.2 Hệ thần kinh cao c ấp

Ở thiếu niên tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh đặc biệt là tuyến giáp trạng thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế làm cho thiếu niên khó làm chủ được cảm xúc của mình Các em dễ bị kích động, dễ mất bình tĩnh nên thường có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ nên dễ bị vi phạm kỷ luật Hệ thần kinh của thiếu niên chưa có khả năng chịu đựng được những kích thích mạnh đơn điệu

Trang 15

kéo dài Nên khi gặp những kích thích như thế sẽ làm cho các em bị ức chế hay ở tình trạng

dễ bị kích động Vì vậy, mà ta thường gặp ở lứa tuổi này biểu hiện như sự uể oải, thờ ơ, lơ đễnh, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh nên dễ vi phạm kỷ luật hoặc có những hành vi xấu không đúng với bản chất của các em Do có sự biến đổi trong các chức năng của hệ thần kinh thực vật nên đã ảnh hưởng tới hoạt động tim mạch và hô hấp, các em cảm thấy khó thở, đau ở vùng tim, trống ngực đập mạnh hơn

Ở thiếu niên, phản xạ có điều kiện đối với những tín hiệu trực tiếp được hình thành nhanh hơn là những tín hiệu từ ngữ Ngôn ngữ của thiếu niên cũng thay đổi, các em nói hậm, ngập ngừng, rất ngại nói những câu dài và thường nói “cộc lốc”, “nhát gừng”

Hoạt động hệ thần kinh của thiếu niên có sự mất cân bằng giữa hai quá trình hưng phấn

và ức chế nhưng sự mất cân đối chỉ mang tính chất tạm thời Khoảng từ 15 tuổi trở đi thì vai trò của hệ thống tín hiệu hai tăng lên, ức chế trong được tăng cường, quá trình hưng phấn và ức chế được cân đối hơn, nó tạo điều kiện phát triển hài hòa cho lứa tuổi thanh niên

2.2.1.3 Hiện tượng dậy thì

Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể của tuổi thiếu niên Đây là một chức năng sinh lý hoàn toàn mới, nhưng nó là hiện tượng bình thường diễn ra theo qui luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường sống Ở thiếu niên tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động và cơ thể các em xuất hiện những dấu hiệu phụ về giới tính như: các em nữ xuất hiện kinh nguyệt, các em nam thì mọc ria mép, mặt nổi mụn trứng cá, xuất tinh… đó là biểu hiện của tuổi dậy thì Tuổi dậy thì của các em nữ vào khoảng

từ 12 - 14, các em nam vào khoảng từ 15 -16 (các em nam bắt đầu và kết thúc chậm hơn so với các em nữ khoảng từ 1,5 - 2 năm) Đến khoảng 15 -16 tuổi thì sự phát dục kết thúc, nhưng cơ thể các em chưa hoàn toàn trưởng thành đặc biệt là sự trưởng thành về mặt xã hội Hiện tượng dậy thì và những biến đổi trong cơ thể của thiếu niên có ý nghĩa rất lớn đối với sự nảy sinh những cấu tạo tâm lý mới Vì những biến đổi đó mà thiếu niên thấy các

em đã trở thành “người lớn” một cách khách quan và là một trong những yếu tố làm nảy sinh ở thiếu niên cảm giác về tính người lớn thực sự của mình Sự phát dục đem lại một điều gì đó mới mẻ, bỡ ngỡ trong đời sống của các em, khiến các em có những suy nghĩ

và cảm xúc mới lạ mà chính các em cũng chưa ý thức được Sự phát dục kích thích các em quan tâm tới người khác giới làm xuất hiện những cảm giác, rung cảm mới Nhưng thiếu niên bị cuốn hút vào những rung động mới lạ đó đến mức nào là do điều kiện xã hội rộng lớn, hoàn cảnh sống và giáo dục cụ thể, đặc điểm giao tiếp của từng em quyết định

Vì vậy, người lớn cần quan tâm giúp đỡ các em giải quyết những khó khăn vướng mắc ở tuổi dậy thì

Ba đặc điểm nổi bật về sự phát triển sinh lý của tuổi thiếu niên đã làm cho cơ thể của các em có sự biến đổi về cả hình dáng bên ngoài và chức năng bên trong, cùng với những thay đổi về mặt xã hội sẽ tạo nên những đặc trưng tâm lý mới của thiếu niên Đây chính là khó khăn tạm thời của sự trưởng thành ở lứa tuổi này

Trang 16

2.2.2 Sự thay đổi của điều kiện sống

2.2.2.1 Đời sống gia đình của học sinh THCS

Trong gia đình vị trí của các em ít nhiều đã có thay đổi Các em được gia đình thừa nhận

là một thành viên tích cực của gia đình và được giao một số nhiệm vụ cụ thể như: Chăm sóc

em nhỏ khi cha mẹ đi vắng, nấu cơm, dọn dẹp nhà cửa Đôi khi, các em cũng được tham gia bàn bạc một số công việc của gia đình, các em đã biết quan tâm đến việc xây dựng, bảo

vệ uy tín của gia đình Những sự thay đổi đó đã động viên khích lệ thiếu niên tích cực tham gia vào hoạt động một cách độc lập tự chủ Các em có nhu cầu tách khỏi sự phụ thuộc của cha mẹ, thích được cha mẹ tôn trọng hơn là chiều chuộng

2.2.2.2 Đời sống trong nhà trường của học sinh THCS

Trong nhà trường học tập vẫn là hoạt động chủ đạo, nhưng có sự thay đổi căn bản về nội dung và phương pháp, điều đó có tác động mạnh đến việc hình thành những đặc điểm tâm lý mới ở tuổi thiếu niên Nhiệm vụ học tập có sự thay đổi về nội dung dạy học Khi đến trường, các em được tiếp xúc với nhiều môn học khác nhau, mỗi môn học có một hệ thống tri thức với những khái niệm trừu tượng, khái quát, có nội dung sâu sắc phong phú Nội dung môn học đa dạng phong phú làm cho khối lượng tri thức các em được mở rộng, nó càng tăng thêm hứng thú học tập Do đó đòi hỏi các em phải thay đổi cách học sao cho phù hợp với chương trình Các em có học thêm một số môn mới như môn Vật lý, Sinh vật Cùng với sự thay đổi về nội dung thì phương pháp dạy học và hình thức học tập cũng có sự thay đổi Các em được học nhiều môn với nhiều thầy cô giảng dạy khác nhau Mỗi môn học có phương pháp phù hợp với bộ môn đó, mỗi giáo viên lại có phương pháp trình bày độc đáo riêng của mình với việc sử dụng các hình thức dạy học khác nhau Mỗi giáo viên lại có những yêu cầu đòi hỏi khác nhau đối với các em, điều đó đã gây cho các em không ít khó khăn nhưng cũng bắt đầu hình thành ở các em khả năng nhận xét đánh giá người khác, các em muốn được các thầy cô giáo giao việc hơn là làm thay các em Nhìn chung, hoạt động ở nhà trường của thiếu niên có sự thay đổi nhiều so với tuổi nhi đồng Chính sự thay đổi đó là điều kiện rất quan trọng làm cho hoạt động nhận thức và nhân cách của thiếu niên có sự thay đổi

về chất so với các lứa tuổi trước

2.2.2.3 Đời sống của học sinh THCS trong xã hội

Thiếu niên được xã hội thừa nhận như một thành viên tích cực và được giao một số hoạt động: Tuyên truyền, cổ động, giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ Các em rất thích làm công tác xã hội vì: các em cho rằng công tác xã hội là hoạt động có tính chất tập thể, đó là việc làm của người lớn và có ý nghĩa xã hội tích cực, các em muốn được mọi người thừa nhận mình là người lớn, muốn làm những công việc được nhiều người biết đến Vì thế, các em bỏ công việc gia đình, học tập để tham gia vào hoạt động xã hội Do tham gia vào hoạt động xã hội mà quan hệ xã hội của các em được mở rộng, vốn kinh nghiệm cuộc sống phong phú, ý thức xã hội của các em được nâng cao

Trang 17

2.3 MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ “KHỦNG HOẢNG” TRONG SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THCS

Tâm lý học đã tồn tại một số quan niệm khác nhau về vấn đề “khủng hoảng” , một trong những quan điểm đã tồn tại lâu dài (gần 1/4 thế kỷ) đó là quan niệm sinh vật hóa ở lứa tuổi này Quan niệm này cho rằng, những đặc điểm phát triển đột biến ở lứa tuổi này là do nguyên nhân sinh vật

Những người đại diện cho trường phái này là C.Khôn và Z.Frơt Học ho rằng thời kì học sinh THCS là thời kì “khủng hoảng”, thời kì có những hiện tượng không tránh khỏi như “điên loạn”, “vô chính phủ”… đều do nguyên nhân sinh vật, thời kì phát dục gây ra

Vào khoảng những năm 20- 30 của thế kỷ này, các nhà tâm lý học đã tập trung nghiên cứu chống lại quan niệm trên Ở các nước khác nhau các nhà khoa học đã tập trung số liệu nghiên cứu cụ thể, đã làm sáng tỏ sự phụ thuộc nhân cách của lứa tuổi học sinh THCS vào nguyên nhân xã hội của nó Trong đó phải kể đến những nhà tâm lý học, giáo dục Liên Xô của đại diện là Macarencô

Các nhà nhân chủng học cũng góp phần đáng kể vào việc chống lại quan niệm trên Những công trình nghiên cứu của họ, có ý nghĩa rất lớn về mặt lí luận, đã chứng minh hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống quyết định:

+ Thời gian dài hay ngắn của lứa tuổi này

+ Có hay không có “cuộc khủng hoảng”, sự xung đột, những khó khăn của lứa tuổi này + Bản chất của sự chuyển từ trẻ con sang người lớn

Từ kết quả nghiên cứu, hộ đã bác bỏ quan niệm sinh của Z.Frơt, họ cho rằng bản chất tự nhiên trong con người không thể có mâu thuẫn với xã hội, bởi vì cái tự nhiên trong con người

đã mang tính xã hội

Lênin đã phát triển những tư tưởng của các nhà nhân chủng học và đã phân tích vị trí của thiếu niên trong xã hội hiện đại và thời kì xung đột từ trẻ con đến người lớn Từ đó, xác nhận rằng trong xã hội tồn tại 2 nhóm người: nhóm trẻ con và nhóm người lớn và cho rằng lứa tuổi học sinh THCS vận động từ nhóm trẻ con sang nhóm người lớn Ở lứa tuổi này có sự mong muốn chuyển vào nhóm người lớn, nhưng các em chưa được thừa nhận là người lớn vì các em

ở giữa 2 nhóm này Ông cho rằng, mức độ khó khăn, xung đột ở lứa tuổi học sinh THCS phụ thuộc vào sự phân biệt gay gắt những nhóm trẻ người lớn trong xã hội và thời kì này kéo dài, hay ngắn phụ thuộc vào khi trẻ con ở giữa 2 nhóm này

L.X Vưgôtxki khi nghiên cứu lứa tuổi học sinh THCS cũng đặt vấn đề cần thiết phải xem xét những tổ chức mới được hình thành trong nhân cách của lứa tuổi này và làm rõ hoàn cảnh xã hội của sự phát triển của nó Hoàn cảnh xã hội trong mỗi lứa tuổi có một hệ thống quan hệ không lặp lại giữa trẻ con và môi trường Sự cải tổ lại hệ thống quan hệ này tạo nên nội dung chính của “cuộc khủng hoảng” ở lứa tuổi học sinh THCS

Tóm lại, sự phát triển những tư tưởng trong sự giải thích “cuộc khủng hoảng” ở lứa tuổi học sinh THCS đã được tích lũy và khái quát dần và cho rằng những đặc điểm biểu hiện và diễn biến của thời kì này được xác định bởi hoàn cảnh xã hội cụ thể của cuộc sống, bằng vị trí

xã hội của các em trong thế giới người lớn

Trang 18

2.4 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC SINH THCS

2.4.1 Đặc điểm hoạt động học tập

Đối với học sinh, học tập là lao động nghiêm túc, cần thiết và có trách nhiệm Trẻ càng lớn lên thì hoạt động học tập càng có vị trí lớn trong cuộc sống của trẻ Học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh, nhưng bước vào tuổi thiếu niên, việc học tập của các em có những thay đổi căn bản

Việc học tập ở trường trung học cơ sở là một bước ngoặt trong đời sống của thiếu niên Học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nên đòi hỏi các em phải thực hiện nghiêm túc và có trách nhiệm hơn, nhưng việc học tập đã có sự thay đổi căn bản về nội dung và phương pháp Lúc này, học sinh chuyển sang nghiên cứu có hệ thống cơ sở của các khoa học, việc học tập

đã có sự phân môn Mỗi môn học là những khái niệm, những qui luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc và độc lập, điều này thúc đẩy khả năng tư duy trừu tượng

và tư duy khái quát của các em Do sự thay đổi về nội dung học tập đòi hỏi học sinh phải

có khả năng hoạt động tích cực độc lập hơn (từ chỗ thiếu niên chưa có kỹ năng để tổ chức việc tự học, đến chỗ các em đã độc lập làm bài tập ở nhà tới mức độ cao là các em độc lập nắm vững cả những tài liệu mới) Dần dần hoạt động học tập được xem như là hoạt động tự học nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức

Quan hệ của học sinh với giáo viên cũng khác trước Các em được học nhiều giáo viên khác nhau Mỗi giáo viên lại có phong cách giảng dạy, có trình độ nghề nghiệp, phẩm chất khác nhau, có thái độ và yêu cầu khác nhau đối với học sinh Các em phải thích nghi với những yêu cầu của giáo viên Ban đầu, sự thay đổi này sẽ tạo ra những khó khăn nhất định cho các em (nhất là trong việc học tập) Nhưng mặt khác, nó cũng tạo ñiều kiện ñể các em phát triển dần phương thức nhận thức người khác

Động cơ học tập của thiếu niên rất đa dạng phong phú nhưng chưa bền vững và có nhiều mâu thuẫn giữa mong muốn trau dồi tri thức với thái độ bàng quan, thậm chí có thái độ xấu đối với việc học tập Thái độ tự giác đối với học tập ở thiếu niên đã tăng lên rõ rệt Các

em đã có hứng thú đối với các môn học nhưng hứng thú chưa bền vững, thái độ đối với môn học cũng được phân hóa Ở nhiều em có hứng thú bền vững đối với môn học, nhưng

do tính tò mò, ham hiểu biết nhiều có thể khiến hứng thú của các em bị phân tán, không bền vững Từ đó có thể hình thành thái độ dễ dãi, không nghiêm túc đối với các lĩnh vực khác trong cuộc sống

Trong học tập, thái độ tự giác tích cực ở các em khác nhau cũng được thể hiện rất khác nhau như: Từ chỗ các em có thái độ tích cực, có trách nhiệm trong học tập đến thái độ lười biếng, thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong học tập Từ chỗ các em có tầm hiểu biết rộng đến chỗ tầm hiểu biết bị hạn chế và mức độ phát triển trí tuệ rất yếu Từ chỗ các em có kỹ năng học tập độc lập đến chỗ chỉ biết học thuộc lòng, hoặc từ chỗ các em có hứng thú đối với học tập đến chỗ các em cho rằng học tập hoàn toàn là do bị gò ép bắt buộc

Thiếu niên đã ý thức được sự cần thiết của việc học tập, nhưng các em lại có những thái độ khác nhau trong học tập Do đó, giáo viên cần phải thấy được mức độ phát triển cụ

Trang 19

thể ở mỗi em để kịp thời động viên hướng dẫn các em khắc phục những khó khăn trong học tập, nhằm khơi gợi nhu cầu tìm tòi sáng tạo và hình thành nhân cách của các em một cách tốt nhất

* Để giúp cho các em có thái độ đúng đắn đến việc học tập thì cần chú ý:

- Tài liệu học tập phải đảm bảo tính khoa học, phải gắn liền với cuộc sống của các em, làm cho các em hiểu rõ ý nghĩa của tài liệu học tập, gây cho các em hứng thú học tập

- Trình bày tài liệu phải gây cho học sinh có nhu cầu tìm hiểu tài liệu đó

- Phải giúp các em biết cách học, có phương pháp học tập phù hợp

2.4.2 Sự phát triển trí tuệ của học sinh THCS

Sự phát triển trí tuệ của thiếu niên được thể hiện ở các quá trình nhận thức sau:

Tri giác đã có tính chủ định, có kế hoạch và ngày càng hoàn thiện hơn, khối lượng tri giác tăng Các em đã có khả năng phân tích tổng hợp phức tạp hơn khi tri giác sự vật hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và hoàn thiện hơn Tuy vậy, tri giác không chủ định vẫn còn tồn tại và chi phối quá trình tri giác đối tượng của học sinh trung học cơ sở

Trí nhớ của các em cũng được thay đổi về chất Tốc độ ghi nhớ và khối lượng tài liệu được ghi nhớ tăng lên, giúp các em có thể nhớ nhanh hơn và nhiều hơn Khả năng ghi nhớ tài liệu từ ngữ trừu tượng tăng lên Ghi nhớ máy móc ngày càng giảm, ghi nhớ logic và ghi nhớ có ý nghĩa tăng Các em đã biết chọn phương pháp ghi nhớ cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng bài, từng môn học Các em đã biết thiết lập được mối liên hệ phức tạp hơn, đã biết gắn tài liệu cũ với tài liệu mới, biết liên hệ tri thức giữa các môn học với nhau Điều đó giúp các em có thể nhớ lâu hơn và đúng hơn Ghi nhớ của thiếu niên cũng còn tính chất mâu thuẫn, mặc dù các em có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa, nhưng khi gặp khó khăn là các em lại từ bỏ việc ghi nhớ có ý nghĩa Đồng thời, các em lại hiểu chưa đúng về ghi nhớ máy móc và coi thường việc ghi nhớ chính xác Giáo viên cần chú ý giúp các em kết hợp cả hai loại ghi nhớ trong mỗi môn học

* Để phát triển trí nhớ cho học sinh trung học cơ sở thì giáo viên cần chú ý:

+ Phải dạy cho học sinh phương pháp đúng đắn trong việc ghi nhớ logic: biết ôn tập, biết lập dàn bài sơ lược để ghi nhớ

+ Giải thích cho học sinh rõ sự cần thiết phải ghi nhớ chính xác những định nghĩa, những quy luật Vì nếu thiếu một từ nào đó thì ý nghĩa của nó không còn chính xác nữa + Rèn luyện cho các em kĩ năng trình bày chính xác nội dung bài học theo cách diễn đạt của mình Kiểm tra hiệu quả trí nhớ của học sinh phải bằng sự tái hiện tri thức chứ không phải là sự nhận lại

+ Giáo viên phải kết hợp việc sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình giảng dạy, phải tổ chức cho các em thực hành, hoạt động Hình thành ở các em những mối liên tưởng

ở các mức độ khác nhau giúp cho các em thấy được mối liên hệ giữa các môn học

Chú ý có chủ đinh được hình thành rõ nét, nhưng chú ý của các em còn bị ảnh hưởng của những ấn tượng và những rung động mạnh nên chú ý không bền vững Tính

Trang 20

lựa chọn của chú ý được thể hiện rõ rệt, nhưng nó lại phụ thuộc vào điều kiện làm việc, nội dung tài liệu học tập, tâm trạng và thái độ của học sinh đối với việc học tập Vì thế, chúng ta thường thấy hiện tượng ở giờ học này thì các em không tập trung chú ý, nhưng giờ học khác thì lại rất tập trung chú ý vào bài học

Khối lượng chú ý, khả năng phân phối chú ý và sự di chuyển chú ý cũng tăng lên rõ rệt Nhưng nhiều khi các em vẫn bị phân tán chú ý bởi những kích thích lạ Để tổ chức tốt

sự chú ý của thiếu niên thì giáo viên cần tổ chức giờ học sao cho có nội dung thật phong phú sinh động, đòi hỏi học sinh phải hoạt động nhận thức tích cực, không để các em có thời gian nhàn rỗi Bởi vì, những công việc hấp dẫn, giờ học hứng thú sẽ có tác dụng gây

sự say mê, tập trung chú ý của các em Nhưng cũng cần lưu ý không phải bao giờ các em cũng thích cái vui, cái dễ hiểu, mà chính những giờ học có nội dung, có sự chuyển tiếp từ hình thức làm việc này sang hình thức làm việc khác, đòi hỏi các em phải hoạt động nhận thức tích cực chính là hình thức tốt để các em tự tổ chức hoạt động chú ý của mình

Tư duy phát triển mạnh đặc biệt là tư duy trừu tượng Do nội dung môn học phong phú, đa dạng, phức tạp, nên đòi hỏi các em phải có khả năng tư duy độc lập, phán đoán, khái quát vấn đề mới rút ra được kết luận và hiểu tài liệu học tập một cách đầy đủ và chính xác hơn Ở thiếu niên tư duy trừu tượng đã phát triển nhưng mức độ và chất lượng tư duy trừu tượng ở mỗi cá nhân khác nhau thì cũng khác nhau Mặt khác, tư duy hình tượng cụ thể vẫn còn tồn tại và giữ một vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Nên trong quá trình dạy học giáo viên phải biết kết hợp cả hai loại tư duy không nên coi trọng hay xem thường loại tư duy nào

Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nhiều học sinh trung học cơ sở hiểu những dấu hiệu bản chất của đối tượng, nhưng không phải bao giờ các em cũng phân biệt được dấu hiệu đó trong tất cả các trường hợp cụ thể (Ví dụ: các em không nhận ra được tam giác vuông khi góc vuông nằm ở phía trên ) Nhiều trường hợp những tác động trực tiếp cảm tính mạnh hơn tác động từ ngữ khiến cho việc tiếp thu khái niệm không được chính xác (khái niệm bị thu hẹp hoặc mở rộng không đúng mức) Vì thế nếu chỉ dừng lại ở

tư duy trực quan hình tượng mà không chú ý đến sự phát triển tư duy trừu tượng cho các

em thì học sinh không thể nào lĩnh hội được các khái niệm khoa học trong chương trình học tập

Tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, các em đã biết lập luận giải quyết vấn

đề một cách có căn cứ, biết phân biệt được cái đúng cái sai trong khoa học, biết vận dụng

lý luận vào thực tiễn Vì thế các em đã biết nhận xét phê phán cái đúng cái sai của người lớn Nhưng không phải lúc nào tư duy của các em cũng là sự suy nghĩ có phê phán, mà đôi khi tư duy của các em cũng bướng bỉnh, tranh cãi không có căn cứ và hay nghi ngờ Điều này ta cần phải khắc phục ở các em

Tóm lại: Hoạt động nhận thức của thiếu niên đã có sự biến đổi về chất Khi đứng trước một đối tượng nào đó các em thường chú ý quan sát tìm tòi khám phá, mỗi khi khám phá được cái mới các em cảm thấy rất hứng thú

* Trong quá trình dạy học giáo viên cần chú ý một số vấn đề sau:

Trang 21

- Phát triển tư duy trừu tượng ở thiếu niên để làm cơ sở cho việc lĩnh hội khái niệm khoa học trong chương trình học tập

- Chỉ dẫn cho các em những biện pháp để rèn luyện kỹ năng suy nghĩ độc lập có phê phán Biết sử dụng những tri thức đã học để giải quyết những tình huống mới

2.5 HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP Ở LỨA TUỔI HỌC SINH THCS

2.5.1 Sự hình thành kiểu quan hệ mới

Bước sang tuổi học sinh trung học cơ sở thì quan hệ với người lớn có những biến đổi căn bản Ở thiếu niên xuất hiện một cảm giác rất độc đáo đó là “cảm giác về sự trưởng thành của bản thân” Đây là nét đặc trưng trong nhân cách của tuổi thiếu niên, nó thể hiện lập trường sống mới của thiếu niên đối với mọi người và thế giới xung quanh Cảm giác mình đã là người lớn được thể hiện rất đa dạng phong phú cả về nội dung và hình thức, các em quan tâm, chú ý nhiều đến vẻ bề ngoài của mình (như tác phong, cử chỉ ) Trong học tập các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có quan điểm lập luận riêng

Thiếu niên có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốn người lớn đối

xử với các em một cách bình đẳng như người lớn, không muốn người lớn coi các em như là đứa trẻ nữa Thiếu niên muốn cải tổ lại mối quan hệ với người lớn theo chiều hướng: tôn trọng những phẩm chất đạo đức của nhân cách, phải tin tưởng và mở rộng tính độc lập và quyền hạn của các em hơn nữa và hạn chế bớt quyền hạn của người lớn Khi giao tiếp với người lớn thiếu niên có nguyện vọng muốn được tin tưởng và độc lập hơn, muốn được quyền bình đẳng với người lớn, các em muốn được độc lập và không phụ thuộc vào người lớn ở một mức độ nhất định

+ Nếu được thỏa mãn điều ấy thì nó sẽ thúc đẩy các em hoạt động tích cực, chấp nhận những yêu cầu đạo đức và phương thức hành vi của người lớn khiến các em xứng đáng với

vị trí xã hội tích cực

+ Nếu không được thỏa mãn thì các em có thái độ bất mãn chống đối lại những yêu cầu của người lớn, chống đối lại cả những yêu cầu mà trước đây các em thực hiện một cách tự nguyện Thiếu niên cho rằng người lớn không hiểu hoặc không chịu hiểu các em và

tỏ thái độ khó chịu trước những yêu cầu đánh giá của người lớn Sự chống đối đó được các em xem như là phương tiện để thay đổi kiểu quan hệ với người lớn

Trước những biểu hiện đó, người lớn không nên coi đây là sự khủng hoảng của tuổi dậy thì, mà phải coi đây là sự khủng hoảng trong mối quan hệ giữa thiếu niên với người lớn Đ ể giải quyết được sự khủng hoảng đó thì người lớn cần phải cải thiện mối

quan hệ đối với thiếu niên trên cơ sở tôn trọng, tin tưởng và giúp đỡ các em phát triển tốt Điều đó sẽ đặt các em vào vị trí mới trong quan hệ của các em với người lớn, nó đánh dấu mức độ phát triển ở lứa tuổi này Nhưng việc thay đổi kiểu quan hệ này diễn ra thuận lợi hay khó khăn nó còn phụ thuộc vào nhu cầu cần thay đổi kiểu quan hệ của người lớn với các em Chính điều đó đã làm hạn chế sự hiểu biết và thái độ của người lớn Bởi vì, không phải bao giờ người lớn cũng thấy được sự trưởng thành và đó chính là nguyên nhân dẫn tới

Trang 22

sự xung đột với người lớn, nó có thể kéo dài hết thời kỳ phát triển của lứa tuổi này

* Người lớn cần chú ý một số điều sau:

+ Phải biết tôn trọng tính độc lập và quyền bình đẳng của thiếu niên Giữa thiếu niên

và người lớn phải có sự tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau

+ Người lớn cần phải gương mẫu, khéo léo, tế nhị Một mặt, người lớn cần tôn trọng tính tự lập của các em, nhưng mặt khác cũng làm cho thiếu niên thấy rằng: các em chưa có thể làm được tất cả mọi việc mà vẫn cần sự giúp đỡ thường xuyên của người lớn

2.5.2 Hoạt động giao tiếp với bạn bè

Nhu cầu giao tiếp với bạn bè phát triển mạnh, nó mang tính đa dạng, phức tạp và trở nên cần thiết hơn Vì khi giao tiếp với bạn bè, các em có vị trí bình đẳng với nhau về nguyên tắc, có nhu cầu tâm sự với bạn để có sự hiểu biết đầy đủ, đúng đắn hơn về bản thân cũng như về các sự kiện phức tạp trong xã hội Thiếu niên luôn có nguyện vọng được bạn bè thừa nhận và tôn trọng mình Nhu cầu có tính chất hai mặt này có vị trí quan trọng nhất trong đời sống tinh thần và tình cảm của thiếu niên Điều đó khiến các em nhạy cảm hơn đối với những

ý kiến và sự đánh giá của bạn bè, giúp các em nhận ra những thiếu sót của bản thân và có nhu cầu sửa chữa những thiếu sót nhằm đáp ứng những yêu cầu đưa ra trong quan hệ với bạn bè Qua đó, các em có khả năng giáo dục lẫn nhau và tự giáo dục, đó là nét đặc thù trong quan hệ của thiếu niên với bạn

Thiếu niên coi quan hệ với bạn bè là quan hệ riêng của cá nhân nên các em có quyền độc lập trong quan hệ với bạn Nhu cầu giao tiếp với bạn là nhu cầu chính đáng, các em mong muốn có một tình bạn riêng thân thiết để “gửi gắm tâm tình” Các em có nhiều băn khoăn về dáng vẻ bề ngoài, về tâm tư tình cảm của mình, về quan hệ với người khác và quan hệ của mọi người với nhau Vì vậy, các em không muốn người lớn can thiệp vào chuyện bạn bè của mình, nếu người lớn có sự can thiệp thô bạo vào quan hệ bạn bè của các em thì các em có thái độ chống đối lại người lớn Khi quan hệ của thiếu niên và người lớn càng “không thuận hòa” thì nhu cầu giao tiếp với bạn bè càng lớn và ảnh hưởng của bạn bè đến các em càng mạnh mẽ Nhiều khi nhu cầu giao tiếp với bạn hấp dẫn tới mức làm cho các em sao nhãng việc giao tiếp với người thân và đẩy lùi việc học tập xuống hàng thứ hai Sự bất hoà trong quan hệ với bạn bè sẽ gây ra cho các em những cảm xúc nặng

nề khó chịu

Lúc đầu phạm vi giao tiếp của các em được mở rộng, nhưng chưa bền vững Dần dần các em gắn bó với nhau trong một phạm vi hẹp hơn Khi đó, các em đã có những suy nghĩ nghiêm túc về những ưu, nhược điểm của bạn và mong muốn có được những ưu điểm như bạn Nhưng đôi khi, các em lại có thái độ dễ dãi với những nhược điểm của bạn và của chính bản thân mình

Trong quan hệ giao tiếp với bạn bè đã có sự lựa chọn Tình bạn của thiếu niên được xây dựng trên cơ sở cùng chung hứng thú hoạt động, cùng chung hoàn cảnh Các em thường kết bạn với những người có uy tín hay có sự tiến bộ rõ rệt về một mặt nào đó và được mọi người tôn trọng, yêu mến Khi chơi với bạn, các em đã chịu ảnh hưởng của nhau và

Trang 23

người này có thể trở thành hình mẫu của người kia Nhưng không phải khi nào các em lựa chọn bạn cũng đúng, nên người lớn cần quan tâm giúp đỡ các em Bởi vì, bạn bè có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của thiếu niên Các em rất coi trọng những phẩm chất của tình bạn bằng cách xây dựng“bộ luật tình bạn” Các em đòi hỏi bạn bè với nhau thì phải có thái độ tôn trọng, thẳng thắn, trung thành, cởi mở, hiểu biết, tin cậy và sẵn sàng giúp đỡ nhau đồng thời phải giữ bí mật cho nhau Nhưng đôi khi các em hiểu không đúng về biểu hiện của những phẩm chất này Vì thế, các em đánh giá không đúng thái độ, hành vi của bạn hoặc còn che giấu khuyết điểm cho bạn Các em cho rằng việc phản lại bạn là một hành vi thấp hèn cần lên án tẩy chay

Nhìn chung, giao tiếp trong nhóm bạn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nhân cách của thiếu niên Nhờ giao tiếp với bạn mà các em tiếp thu được những chuẩn mực xã hội, các em có khả năng nhận thức được người khác và bản thân Trong quá trình giao tiếp với bạn thì các kỹ năng phân tích, so sánh, khái quát hành vi thái độ của bạn và của bản thân được phát triển Tuổi thiếu niên nhu cầu về tình bạn phát triển rất mạnh và bạn bè

có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển nhân cách của thiếu niên Do vậy, sự bất hòa với bạn, sự thiếu thốn bạn thân hay tình bạn bị tan vỡ sẽ gây cho các em tâm trạng nặng nề khó chịu Sự lên án phê bình của tập thể, của bạn bè, đặc biệt là sự “tẩy chay” của bạn bè là một hình phạt nặng nề nhất đối với các em Điều đó, một mặt sẽ thúc đẩy thiếu niên sữa chữa những nhược điểm của mình để được bạn bè chấp nhận Mặt khác lại thúc đẩy các em đi tìm kiếm bạn bè bên ngoài nhà trường Người lớn cần quan tâm đến mối quan hệ bạn bè ngoài trường của các em (nhất là nhóm bạn tự phát)

- Quan hệ giao tiếp với bạn khác giới

Quan hệ giữa bạn khác giới ở thiếu niên cũng có sự thay đổi căn bản so với lứa tuổi trước Do tự ý thức phát triển các em nhanh chóng nhận thức được những đặc điểm giới tính của mình Do sự phát dục nên thiếu niên đã xuất hiện những cảm xúc mới lạ mà bản thân các

em cũng không ý thức được Đi ều đó được biểu hiện: Thiếu niên đã có sự quan tâm chú ý đến bạn khác giới và mong muốn bạn khác giới cũng quan tâm chú ý đến mình và ưa thích mình Các em bắt đầu quan tâm tới vẻ bề ngoài của mình và thường có thái độ và thể hiện dưới những hình thức khác nhau Các em nữ thường thể hiện một cách thụ động và kín đáo Các em trai thì thể hiện một cách ngang nhiên, đôi khi hơi thô bạo Ở các em đã xuất hiện sự ngượng ngùng, nhút nhát, e thẹn, một số em thì bộc lộ trực tiếp, còn số khác thì che giấu bằng thái độ thờ ơ, giả tạo, “khinh bỉ” đối với bạn khác giới Quan hệ với bạn khác giới của thiếu niên vừa mang vẻ hồn nhiên, vừa có vẻ thận trọng, kín đáo và các em có ý thức rõ rệt về giới tính của mình, có nghĩa là các em đã có sự phân biệt nam nữ

Ảnh hưởng của bạn khác giới có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển nhân cách của thiếu niên, điều đó đã động viên, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau để cùng nhau học tập, cùng làm những việc tốt để tự hoàn thiện bản thân Nhưng không phải tất cả các em đều có rung cảm đúng đắn mà đôi khi cũng có những biểu hiện lệch lạc Một số em có quan niệm về bạn khác giới không đúng mức và đi đến chỗ đua đòi, chơi bời, bỏ việc học tập và những công việc khác Vì vậy, trong công tác giáo dục cần phải thấy đ ư ợc đ i ều đ ó để hướng

Trang 24

dẫn, uốn nắn cho tình bạn giữa nam và nữ ở lứa tuổi này sao cho thật lành mạnh, trong sáng và nó là động lực để giúp nhau trong học tập, trong tu dưỡng

Nhìn chung hoạt động giao tiếp của thiếu niên với mọi người xung quanh đã được mở rộng, nó mang tính đa dạng và phức tạp hơn Chính những mối quan hệ phức tạp đó là điều kiện để giúp cho thiếu niên phát triển về thể chất, trí tuệ và cá tính của các em Nhà giáo dục phải tạo điều kiện để các em giao tiếp với nhau, hướng dẫn và kiểm tra quan hệ của các

em, tránh tình trạng ngăn cấm, hạn chế sự giao tiếp ở lứa tuổi này

2.6 SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH Ở HỌC SINH THCS

Do sự thay đổi đặc điểm sinh lý của cơ thể; sự thay đổi điều kiện sống và hoạt động;

do sự thay đổi tính chất mối quan hệ giữa thiếu niên và người lớn mà nhân cách của thiếu niên được phát triển mạnh, nó được biểu hiện ở một số điểm sau:

2.6.1 Sự hình thành của tự ý thức

Sự tự ý thức được thể hiện ở nhu cầu tự ý thức về bản thân, tự khẳng định mình, nó được coi là bước chuyển biến quan trọng của sự phát triển nhân cách của học sinh THCS Sự tự ý thức sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống tâm lý, tới tính chất hoạt động và mối quan hệ với mọi người xung quanh

Học sinh trung học cơ sở có nhu cầu tự đánh giá mình và so sánh mình với người khác Các em có nhu cầu quan tâm đến bản thân, đến những phẩm chất nhân cách của mình, bắt đầu xem xét bản thân mình, vạch ra cho mình một kiểu nhân cách trong tương lai

và cũng muốn biết được mặt mạnh, mặt yếu trong nhân cách của mình

Mức độ sự tự ý thức của thiếu niên cũng có sự khác nhau Không phải cùng một lúc các em ý thức được toàn bộ những phẩm chất của nhân cách Ban đầu các em mới chỉ nhận thức được những hành vi riêng lẻ; sau đó là nhận thức đến toàn bộ hành vi nói chung Cuối cùng là các em nhận thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình trong các phạm vi khác nhau Chẳng hạn: Lúc đầu các em chỉ ý thức được những phẩm chất liên quan đến việc hoàn thành nhiệm vụ học tập (như sự chú ý, sự chuyên cần, tính kiên trì ) Tiếp đến là những phẩm chất thể hiện thái độ đối với người khác và bản thân (như tình bạn, tính vị tha, sự ân cần, tính khiêm tốn, nghiêm khắc ) Cuối cùng mới

là những phẩm chất phức tạp thể hiện mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách (như tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng, lương tâm, danh dự )

Bên cạnh sự tự đánh giá bản thân, thiếu niên còn có sự nhìn nhận đánh giá người khác Nhưng khi đánh giá người khác các em chỉ dựa vào những hành vi, hoạt động riêng lẻ chứ chưa biết đặt những phẩm chất đó vào trong mối quan hệ với những phẩm chất khác của nhân cách Nên các em thường đánh giá người khác một cách cứng nhắc Vì vậy, khi giáo dục thiếu niên ta cần hướng dẫn cho các em biết cách phân tích, nhận xét người khác một cách đúng đắn đầy đủ chứ không chỉ dựa vào những hành vi bề ngoài

Cách thức của sự tự đánh giá của thiếu niên lúc ban đầu còn dựa vào những người gần gũi có uy tín Sau đó, các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân một cách

Trang 25

độc lập Thiếu niên có kỹ năng phân tích đánh giá đúng đắn những biểu hiện của nhân cách chưa phát triển đầy đủ Các em lại rất nhạy cảm với sự đánh giá của mọi người xung quanh, đó là tiêu chuẩn để cho các em xem xét đánh giá hành vi của mình có phù hợp với mọi người xung quanh hay không Vì sự đánh giá của xã hội, của người lớn có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với thiếu niên, nên đòi hỏi người lớn cần phải suy nghĩ chín chắn và có sự thống nhất ý kiến khi nhận xét đánh giá các em Nếu sự đánh giá của người lớn không thống nhất với nhau hay không tế nhị sẽ làm cho các em gặp khó khăn trong việc tự đánh giá mình hoặc đánh giá bản thân mình một cách sai lệch Đồng thời sẽ làm nảy sinh tính tự ái, đôi khi có phản ứng gay gắt đối với những lời nhận xét về mình Đó cùng chính là nguyên nhân gây ra xung đột giữa thiếu niên với người lớn A.G Côvaliốp đã nhận xét rằng: Sự đánh giá đúng đắn nhân cách của thiếu niên rất quan trọng, đừng gây cho các em hai rung cảm trái ngược nhau như tự cao, tự đại hay mặc cảm tự ti

Sự phát triển tự ý thức của học sinh THCS có ý nghĩa rất lớn giúp cho các em hình thành nhu cầu tự giáo dục, rèn luyện bản thân Nhưng sự tự giáo dục chưa có kế hoạch, chưa có hệ thống, các em còn lúng túng trong việc lựa chọn biện pháp tự giáo dục, nên cách thức tự giáo dục nhiều khi chưa đúng Các em chỉ chú ý khắc phục những hành vi riêng lẻ mà chưa chú ý đến việc hoàn thiện toàn bộ nhân cách Ví dụ: sự rèn luyện ý chí của thiếu niên bằng cách tạo ra những khó khăn giả tạo để vượt qua hay ñi dưới trời nắng không đội nón Sự tự giáo dục của thiếu niên còn được biểu hiện ở sự phân tích “thế giới nội tâm” của chính mình, đây là biểu hiện mới trong sự hình thành cá tính của thiếu niên

Tóm lại: Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở tuổi thiếu niên là cuộc

sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ có giá trị đúng đắn Những mối quan hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tin vào sự tự đánh giá của mình, đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ý thức của thiếu niên Trên cơ sở phát triển tự ý thức và thái độ nhận thức thực tế cùng với những yêu cầu ngày càng cao đối với chúng, với vị trí mới mẻ của các

em trong tập thể đã làm nảy sinh khát vọng tự tu dưỡng nhằm mục đích phát triển cho bản thân những nét tính cách tốt, khắc phục những nét tính cách xấu, những khuyết điểm sai lầm của mình Do vậy, người làm công tác giáo dục cần tổ chức cuộc sống hoạt động tập thể phong phú, hấp dẫn lôi kéo các em tham gia vào hoạt động chung của tập thể, tổ chức tốt mối quan hệ với mọi người tạo điều kiện cho sự phát triển tự ý thức và hướng dẫn các

em tự giáo dục có hiệu quả

2.6.2 Sự hình thành tình cảm

Đời sống tình cảm của thiếu niên mang tính phong phú đa dạng, sâu sắc bền vững và phức tạp hơn so với tuổi nhi đồng Đặc điểm nổi bật trong đời sống tình cảm của thiếu niên là tình cảm mang tính bồng bột xốc nổi, giàu cảm xúc, rất dễ xúc động và dễ bị kích động, vui buồn thay đổi dễ dàng, khó kìm chế được những xúc cảm của bản thân Điều đó là do ảnh hưởng của sự phát dục; do sự thay đổi cấu trúc và chức năng của một số cơ quan nội tạng ( tim, phổi ); do sự mất cân bằng giữa quá trình hưng phấn và ức chế trong hoạt động của hệ thần kinh gây ra Tình cảm của thiếu niên rất giàu cảm xúc và biểu hiện cảm xúc rất rõ rệt và

Trang 26

mạnh mẽ như: Khi thì hồi hộp cảm động, khi thì phấn khởi vui tươi, có khi lại la hét om sòm, khi thì vui quá trớn, lúc lại buồn ủ rũ, lúc lại quá hăng say, lúc lại quá chán nản Các nghệ

sĩ ñã nhận xét: “Thiếu niên là những khán giả ồn ào nhất và cũng đáng biết ơn nhất” Tâm trạng của các em thay đổi nhanh chóng, thất thường và có nhiều mâu thuẫn Quan hệ với người khác có lúc tỏ ra yêu thương, kính trọng nhưng có lúc lại tỏ ra bướng bỉnh, vô lễ

Tóm lại: Tình cảm của thiếu niên mang tính đa dạng sâu sắc và bền vững hơn Tuy vậy,

tình cảm vẫn còn mang tính bồng bột xốc nổi, dễ bị kích động, thay đổi dễ dàng và có nhiều mâu thuẫn Do quan hệ giao tiếp được mở rộng, vốn kinh nghiệm sống ngày càng tăng nên tính bột phát dần dần giảm đi Tình cảm đã bắt đầu phục tùng ý chí Tình cảm cao cấp, tình cảm tập thể cũng đang được phát triển mạnh Tình cảm đ ạ o đ ứ c đ ã đ ứ c phát triển mạnh

Tuổi thiếu niên là thời kỳ mà nhân cách đang có sự “rung chuyển mạnh mẽ”, nó đang được phát triển nên có nhiều đột biến mâu thuẫn, thất thường Sự phát triển nhân cách của lứa tuổi này đầy biến động để có sự mất cân đối và mang tính bùng nổ cực đoan như nhà Tâm lí học người Hunggari Gôiôsơ Êlêna ví lứa tuổi này như một xứ sở kỳ lạ, có khí hậu rất thất thường và kỳ quặc Xứ sở này không có trẻ con mà cũng chẳng có người lớn Lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi phức tạp nhất, đây là thời kỳ quá độ từ trẻ con tiến dần thành người lớn, nên phải có biện pháp giáo dục thích hợp Khi quan hệ với thiếu niên phải tế nhị khéo léo, tôn trọng tính độc lập, nhưng phải có yêu cầu cao, người lớn không nên đối xử với các em như đối với trẻ con

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1 Phân tích những điều kiện ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở Nêu ý nghĩa của những biến đổi đó đối với sự phát triển tâm lý Từ đó rút

ra kết luận cho việc giáo dục học sinh trung học cơ sở

2 Nêu đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở Phân tích nguyên nhân cơ bản của sự phát triển các đặc điểm đó?

3 Phân tích đặc điểm cơ bản trong hoạt động giao tiếp của học sinh trung học cơ sở

Từ đó rút ra kết luận sư phạm cần thiết trong công tác giáo dục ở lứa tuổi này

4 Trình bày đặc điểm của sự hình thành ý thức của tuổi thiếu niên? Nêu ý nghĩa của

nó đối với sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này

5 Một số nhà tâm lý học cho rằng: Thiếu niên là lứa tuổi khó giáo dục? Quan niệm của anh/chị về vấn đề này như thế nào?

6 Dựa vào những hiểu biết về đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi thiếu niên anh/chị hãy chứng minh: “Thiếu niên không còn là trẻ con nhưng cũng chưa hẳn là người lớn” Từ

đó anh/ chị cần chú ý gì trong công tác giáo dục lứa tuổi này

7 Anh/chị hãy lập phiếu tìm hiểu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè tới tâm lý của học sinh THCS

BÀI TẬP THỰC HÀNH

Trang 27

Bài 1 Mẹ rất muốn các con của mình giúp mẹ các công việc trong nhà (nấu cơm,

giặt quần áo ) Nhưng khi các em làm thì mẹ hay xen vào: “Phải làm thế này, lấy chừng này nước ” Mẹ còn cầm dao, cầm đũa để làm thay các em vì chưa ưng ý Những lúc như vậy các em không thích, nhưng hai em lại có phản ứng khác nhau Em thứ nhất chỉ phụng phịu đứng sang một bên hoặc có khi lại thích thú chạy ra ngoài chơi Em thứ hai thì nói lại “Mẹ cứ để con làm, ngon thì mẹ khen, không ngon thì mẹ chê” hoặc “Con làm kiểu này cũng được, cũng vậy ”

Anh/chị cho rằng các em đó thuộc lứa tuổi nào? Anh chị có nhận xét gì về các thái độ đó? Người lớn nên có thái độ như thế nào đối với mỗi lứa tuổi ?

Bài 2 Hai bà mẹ tâm sự với nhau Một bà mẹ nói: “Đứa con gái nhà tôi năm nay mới

13 tuổi mà đã cao gần bằng mẹ Cháu ăn được, ngủ thì sét đánh ngang tai chẳng dậy, nhưng sao trông nó cứ còm còm thế nào ấy” Bà mẹ thứ hai hưởng ứng ngay: “Con bé nhà tôi cũng thế Nó bằng tuổi với con Hà nhà chị đấy Nó cao vổng lên, chân ta y thì dài ngoẵng ra, làm đâu thì hỏng đó Rửa chén thì chén vỡ, lấy gạo nấu cơm thì gạo văng vãi khắp cả nhà ”

Vận dụng những hiểu biết về lứa tuổi anh/chị giải thích như thế nào cho hai bà mẹ đó hiểu để họ yên tâm về sự phát triển của con mình

Bài 3 Nhà tâm lý học người Hunggari Gôiôsơ Êlêna ví lứa tuổi này như “một xứ sở

kỳ lạ” Ở xứ sở này khí hậu rất thất thường và kỳ quặc, khi thì nóng như vùng nhiệt đới, khi thì bỗng nhiên trở lạnh như băng Xứ sở này có cả mùa xuân hoa nở ngát hương, có cả mùa thu lá vàng rụng tơi tả Nhưng hai mùa này không phải bao giờ cũng tuần tự nối tiếp nhau, lắm khi mùa đông lại đột nhập vào giữa mùa hạ, còn mùa thu lại đột nhập vào mùa xuân Dân cư ở vùng này khi thì ồn ào náo nhiệt, khi thì lặng lẽ trầm ngâm, khi thì anh hùng quả cảm, khi thì sợ sệt và yếu đuối, đôi khi họ ngờ vực và không thật tin vào mình, đôi khi lại quá tự tin và kiêu ngạo có khi lại khiêm tốn và kín đáo quá mức Trong xứ sở này không có trẻ con mà cũng chẳng có người lớn

a Đoạn văn trên mô tả đặc trưng tâm lý nào của lứa tuổi thiếu niên?

b Hãy phân tích nguyên nhân gây ra mâu thuẫn trong sự phát triển tâm lý của tuổi thiếu niên Từ đó anh/chị hãy đưa ra một số biện pháp cần thiết trong cách đối xử với lứa tuổi này

Bài 4 Trong một buổi sinh hoạt lớp, một nữ sinh lớp 8 đã tỏ ra rất nghiêm túc và

chín chắn khi nhận xét về những ưu và khuyết điểm của tổ mình Thế mà ở nhà có lúc chính

cô bé “biết suy nghĩ ấy” lại ganh tỵ với cậu em trai về việc rửa chén bát nhiều hơn đến mức cãi nhau om sòm, giận dỗi nước mắt chảy vòng quanh Còn cậu học sinh cùng lớp có lúc học hành rất nghiêm túc, có bạn nào rủ đi bắt dế, đá banh thì kiên quyết không đi Thế mà có khi anh chàng “sếu vườn” này chỉ mặc độc mỗi chiếc quần đùi leo lên chiếc xe đạp ba bánh của cậu bé 5 tuổi đạp lấy đạp để

Vận dụng kiến thức tâm lý học lứa tuổi phân tích biểu hiện tâm lý của hai em học sinh trong tình huống trên và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết

Trang 28

CHƯƠNG 3 TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

3.1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN TÂM

LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH THPT

3.1.1 Khái niệm tuổi thanh niên

Học sinh trung học phổ thông (THPT) còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn.Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15

- 25 tuổi, được chia làm 2 thời kỳ:

+ Thời kỳ từ 15 - 18 tuổi: gọi là tuổi đầu tuổi thanh niên

+ Thời kỳ từ 18 - 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)

Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng Được giới hạn ở hai mặt: giới hạn về sinh lý và giới hạn về tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy mà các nhà tâm lý học Macxit cho rằng: Khi nghiên cứu tuổi thanh niên thì cần phải kết hợp quan điểm của tâm lí học xã hội và phải tính đến qui luật bên trong của sự phát triển lứa tuổi Do sự phát triển của xã hội nên sự phát triển của trẻ em ngày càng

có sự gia tốc, trẻ em lớn nhanh hơn và sự tăng trưởng đầy đủ diễn ra sớm hơn so với các thế

hệ trước, nên tuổi dậy thì bắt đầu và kết thúc sớm hơn khoảng 2 năm Vì vậy, tuổi thanh niên cũng bắt đầu sớm hơn Nhưng sự phát triển tâm lý của tuổi thanh niên không chỉ phụ thuộc vào giới hạn lứa tuổi, mà trước hết là do điều kiện xã hội (vị trí của thanh niên trong xã hội; khối lượng tri thức, kỹ năng kỹ xảo mà họ nắm được và một loạt các nhân tố khác ) có ảnh hưởng đến sự phát triển lứa tuổi Trong thời đại ngày nay, hoạt động lao động và hoạt động

xã hội ngày càng phức tạp, thời gian học tập của các em ngày càng kéo dài nó làm cho sự trưởng thành thực sự về mặt xã hội càng đến chậm Do đó có sự kéo dài của thời kỳ tuổi thanh niên và giới hạn lứa tuổi mang tính không xác định (ở mặt này các em được coi là người lớn, nhưng mặt khác thì lại không) Điều đó cho ta thấy rằng thanh niên là một hiện tượng tâm lý xã hội

3.1.2 Đặc điểm cơ thể

Tuổi học sinh trung học phổ thông là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể

Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Ở thời kỳ lứa tuổi này quá trình phát triển thể chất đã hoàn thành

về căn bản, các cơ quan, các bộ phận của cơ thể cũng như các chức năng của nó dần dần trở nên cân đối hoàn thiện Điều đó được biểu hiện ở các đặc điểm sau:

- Chiều cao và trọng lượng đang tiếp tục phát triển nhưng tốc độ đã bắt đầu chậm lại

Trang 29

Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình vào khoảng 16, 17, các em trai khoảng

18,19 tuổi

Trọng lượng cơ thể các em gái tăng lên không đáng kể, còn trọng lượng các em trai

tăng lên đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượt lên

Sức mạnh cơ bắp tăng nhanh, lực cơ của các em trai 16 tuổi vượt lên gấp 2 lần so

với lúc 12 tuổi

Hệ cơ và hệ xương đã được cốt hóa và phát triển ở mức độ cao nên cơ thể các em trở

nên rắn chắc, nở nang, cân đối trông rất khỏe mạnh (ở các em nữ biểu hiện rõ rệt nhất) Do

cơ thể phát triển mạnh gần như người lớn nên các em có thể làm được những công việc

nặng của người lớn

- Hệ thần kinh có những thay đổi quan trong: Sự phát triển của hệ thần kinh có những

thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát

triển

- Hệ thống tín hiệu thứ 2: Hệ thống tín hiệu thứ 2 phát triển đến mức hoàn thiện cao:

không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ nói mà cả ngôn ngữ viết Thanh niên có thể diễn đạt một cách

súc tích qua lời nói và văn viết Các em có thể tư duy một cách khoa học và chặt chẽ Qúa trình hưng phấn và ức chế: Qúa trình hứng phấn và ức chế, và mối liên hệ giữa chúng

được hình thành tương đối ổn định, đã được hoàn thiện Tăng cường khả năng hoạt động

mạnh mẽ hay có thể kiềm chế khi cần thiết

- Hệ tim mạch: phát triển tạo ra ở mức tạo ra sự ổn định ở lứa tuổi này Tỉ lệ giữa khối

lượng tim và cơ cấu các mạch máu đã đạt mức tiêu chuẩn Hoạt động tim trở nên ổn định

- Hệ tuần hoàn đi vào thời kỳ hoạt động bình thường, sự mất cân đối giữa tim và

mạch đã chấm dứt Trọng lượng và chức năng hoạt động của não bộ đã đạt tới mức phát

triển tương đương như não người lớn nên hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới

mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối

liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy, ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có

ñiều kiện phát triển mạnh Tuổi đầu thanh niên đã số đã qua thời kỳ phát dục, giới tính các

em biểu hiện rõ rệt về cả hình thể bên ngoài lẫn chức năng bên trong Nhưng ở một số em do

sự phát dục kéo dài nên cơ thể các em phát triển chậm hơn so với các em khác (thể hiện

nhiều ở các em nam) Ở tuổi đầu thanh niên vẫn còn tính dễ bị kích thích và sự biểu hiện của

nó cũng giống như ở tuổi thiếu niên Tuy nhiên tính dễ bị kích thích ở tuổi thanh niên không

phải chỉ do nguyên nhân sinh lý như ở tuổi thiếu niên mà nó còn do cách sống của cá nhân ở

độ tuổi này (như hút thuốc lá, không giữ điều độ trong hoạt động học tập, lao động, vui

chơi )

Nhìn chung tuổi đầu thanh niên các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu

niên Thể chất của các em đang ở độ phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta thường

hay gọi “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng

nhất định đến sự phát triển tâm lý và nhân cách, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn

nghề nghiệp sau này của các em

Trang 30

3.1.3 Điều kiện xã hội của sự phát triển

Trong gia đình các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình (như việc chấp hành chính sách của Đả n g và nhà nước, sẵn sàng đấu tranh chống lại tư tưởng sai trái) Có thể nói rằng cuộc sống của nhiều thanh niên mới lớn là cuộc sống vừa học tập vừa lao động

Ở nhà trường học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Đòi hỏi các em tự giác tích cực ñộc lập hơn, các em phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo trong học tập Ở lứa tuổi này môi trường hoạt động chính là nhà trường, nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị tri thức và hoàn chỉnh tri thức, mà nó còn có tác dụng hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cho các em Khoảng 14 - 15 tuổi các em đủ tuổi gia nhập đ oàn Thanh niên Cộng sản trong nhà trường, đó là một tổ chức chính trị đóng vai trò tích cực đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo phải có tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình Hoạt động xã hội của thiếu niên thường mang tính chất nội bộ nhà trường Đối với tuổi đầu thanh niên lại khác, hoạt động của các em đã vượt ra khỏi phạm vi nhà trường, ảnh hưởng của xã hội đến các em rất mạnh Xã hội đã giao cho các em quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn như quyền đến 18 tuổi được bầu cử, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động Tất cả các em có suy nghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ

xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này

Tóm lại: Tuổi đầu thanh niên có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn,

nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào người lớn Cả người lớn và các em nhận thấy vai trò mà thanh niên mới lớn thực hiện khác về chất so với vai trò của người lớn Đại đa

số vẫn còn là học sinh, các em vẫn đến trường học tập dưới sự lãnh đạo của người lớn, vẫn phụ thuộc cha mẹ về vật chất Thái độ đối xử của người lớn đối với các em thường thể hiện tính chất chất hai mặt đó là: Một mặt người lớn luôn nhắc nhở các em rằng các em đã lớn

và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và có thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn

3.2 HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ SỰ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ HỌC SINH THPT

3.2.1 Đặc điểm hoạt động học tập

3.2.1.1 Động cơ học tập

Hoạt động học tập vẫn là một hoạt động chủ đạo đối với học sinh trung học phổ thông, nhưng tính chất và nội dung của nó đã khác nhiều so với hoạt động học tập của thiếu niên Sự khác biệt cơ bản là ở chỗ, hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông là đề ra những yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em

Trang 31

Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em cần phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao Những khó khăn, trở ngại mà các em thường cảm nghiệm trong quá trình học tập trước hết được gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới đó, chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Do nội dung và tính chất hoạt động học tập có sự thay đổi căn bản đòi hỏi các em phải có tính năng động, tính độc lập ở mức cao hơn so với tuổi thiếu niên Ý thức thái độ đối với học tập ngày càng phát triển cao, các em đã có thái độ lựa chọn đối với các môn học Hứng thú học tập của thanh niên mới lớn gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp, nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn

3.2.1.2 Thái độ học tập

Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh

đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát: các em ý thức được rằng các em đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các

em được tăng lên mạnh mẽ Học tập bắt đầu mang ý nghĩa sống còn trực tiếp, vì các em đã

ý thức được một cách rõ ràng rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xão hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh trung học phổ thông bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm của cái tương lai của mình Các em đã bắt đầu có thái độ lựa chọn đối với từng môn học Rất hiếm xảy ra trường hợp có thái độ như nhau đối với các môn học Nếu ở thiếu niên chất lượng, trình độ giảng dạy và nhân cách của giáo viên hầu như quyết định hoàn toàn thái độ lựa chọn của các em đối với từng môn học, thì ở học sinh trung học phổ thông lại là những hứng thú, những khuynh hướng có liên quan với xu hướng nghề nghiệp của các em Chính vì vậy, đôi khi chúng ta thấy có hiện tượng đáng buồn là: học sinh chỉ “chúi đầu” vào những môn học

có quan hệ với nghề nghiệp tương lai, còn thì dửng dưng, lơ là với các môn học còn lại Một

số em chỉ tích cực học một số môn các em cho là quan trọng và có liên quan đến việc lựa chọn ngành nghề sau này của mình, còn các môn khác chỉ cần đạt điểm trung bình Có một

số em còn cho rằng mình khó có thể vào được đại học cho nên chỉ cần học đạt yêu cầu là đủ Do vậy, giáo viên phải làm cho các em học sinh đó hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của học sinh

3.2.1.3 Hứng thú học tập

Mặt khác, ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các em thường bắt đầu có hứng thú ổn định, đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một lĩnh vực hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thức trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho sự phát triển năng lực của các em Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động học tập của học sinh trung học phổ thông, nhất là học sinh cuối cấp, để tạo ra sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc của các em

Trang 32

3.2.2 Đặc điểm sự phát triển trí tuệ học sinh THPT

Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển các năng lực trí tuệ Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ Ở học sinh trung học phổ thông tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức

Cảm giác và tri giác ở các em đạt tới mức độ của người lớn Các chỉ số khả năng cảm giác và tri giác ở các em phát triển rõ rệt: ngưỡng tuyệt đối của cảm giác, ngưỡng sai biệt phát triển cao Điều này đã làm cho năng lực cảm thụ âm nhạc và hội hoạ của các em được nâng cao Khả năng tri giác không gian và thời gian đã tốt hơn, các em đã ít mắc những sai lầm trong việc tri giác không gian và thời gian hơn các em học sinh trung học cơ sở Tri giác đã có chủ định, quan sát có tính mục đích cao, có hệ thống và mang tính toàn diện hơn Quá trình quan sát không tách rời khỏi tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát của các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát đối tượng vẫn còn mang tính đại khái phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế

Trí nhớ của học sinh trung học phổ thông cũng phát triển rõ rệt Trí nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Ghi nhớ có ý nghĩa đã tăng lên một cách rõ rệt và ngày càng chiếm ưu thế Tính có chọn lọc của ghi nhớ khá rõ ràng Các em đã biết sắp xếp lại tài liệu học tập theo một trật tự mới, có biện pháp ghi nhớ một cách khoa học Có nghĩa

là khi học bài, các em đã biết rút ra những ý chính, đánh dấu lại những đoạn quan trọng, những ý trọng tâm, lập dàn ý tóm tắt, lập bảng đối chiếu, so sánh Càng ở lớp trên, học sinh càng sử dụng các phương pháp ghi nhớ, kể cả thuật nhớ càng nhiều Các em cũng hiểu được rất rõ trường hợp nào phải học thuộc trong từng câu, từng chữ (những ñịnh nghĩa, những quy luật), trường hợp nào cần diễn đạt bằng ngôn từ của mình và cái gì chỉ cần hiểu thôi, không cần ghi nhớ Nhưng ở một số em còn ghi nhớ đại khái chung chung, cũng có khi các em có thái độ coi thường việc ghi nhớ máy móc và đánh giá thấp việc ôn lại bài Có nhiều

em lớp 12 đã tỏ ra xem thường cách học thuộc lòng, cho ñó là lối học của “trẻ con” Tuy vậy lối “học vẹt” ghi nhớ máy móc vẫn còn có ở học sinh trung học phổ thông, mặc dù không phải là phổ biến

Chú ý của học sinh trung học phổ thông cũng phát triển Tính chất phân hóa của hứng thú đã quy định tính lựa chọn của chú ý và làm tăng cường vai trò của chú ý sau chủ định ở các em Sự phân phối chú ý của các em ngày càng phát triển từ lớp 10 đến lớp 12 Chú ý có chủ định chiếm ưu thế rõ rệt, các em có khả năng tập trung chú ý cao độ trong một thời gian dài ở điều kiện hoạt động căng thẳng Tính lựa chọn của chú ý và sự ổn định của chú ý cũng phát triển cao hơn rõ rệt, các em chỉ chú ý tới những vấn ñề trọng tâm cơ bản Chẳng hạn: các em vẫn có thể tập trung chú ý vào cả những tài liệu mà các em không hứng thú vì các em hiểu được ý nghĩa quan trọng của những tài liệu đó Năng lực di chuyển và phân phối chú ý cũng được phát triển và hoàn thiện rõ rệt (Các em đã có kỹ năng vừa nghe giảng, vừa ghi chép bài, vừa theo dõi câu trả lời của bạn ) Thường học sinh lớn chỉ

có sự chú ý không chủ định khi giáo viên đề cập tới ý nghĩa thực tiễn và sự ứng dụng tri

Trang 33

thức của một bộ môn nào đó vào cuộc sống

Hoạt động tư duy của học sinh trung học phổ thông triển mạnh Do sự hoàn thiện về cấu trúc và chức năng của não bộ, do sự phát triển của các quá trình nhận thức nói chung,

do ảnh hưởng của hoạt động học tập mà tư duy của học sinh trung học phổ thông có thay đổi

về chất Các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo hơn So với thiếu niên, tư duy của học sinh trung học phổ thông có tính chặt chẽ, nhất quán hơn, có căn cứ hơn, thể hiện ở chỗ các em biết phân biệt chính xác các luận đề và chứng minh, phân biệt cái xác thực và cái còn đáng nghi ngờ hay cái có thể có, các em phán đoán có suy nghĩ và có thái độ phê phán khi phán đoán, biết tách cái bản chất trong các sự vật, hiểu được nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng gắn các chủ đề riêng lẻ với các vấn đề lớn thuộc thế giới quan Năng lực phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa phát triển cao giúp cho các em có thể lĩnh hội mọi khái niệm phức tạp và trừu tượng Nếu ña số học sinh lớp 6, lớp 7 thích thú môn học vì tính hấp dẫn của các môn học, thì học sinh lớp

10, lớp 11 lại thích môn học vì nó đòi hỏi các em phải suy nghĩ đ ộc lập Các em thích khái quát, thích tìm hiểu những qui luật và nguyên tắc chung của các hiện tượng hàng ngày, của những tri thức phải tiếp thu Năng lực tư duy phát triển đã góp phần nảy sinh hiện tượng tâm lý mới đó là tính hoài nghi khoa học Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn Thanh niên cũng thích những vấn đề có tính chất triết lý vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý Tính phê phán của tư duy cũng phát triển mạnh

Nhìn chung tư duy của học sinh trung học phổ thông phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc

và tự rút ra kết luận đúng đắn

Ở các lớp cuối cấp trung học phổ thông, do yêu cầu của nội dung chương trình, do tính chất của hoạt động học tập, học sinh cần phải nắm vững được các kĩ năng tư duy độc lập, nắm được các phương pháp và kĩ thuật hoạt động trí tuệ độc lập Các em phải biết tự học, những đòi hỏi đó đã thúc đẩy sự phát triển tư duy ở các em Tuy nhiên, số học sinh phổ thông trung học của ta hiện nay đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều Thiếu sót cơ bản hiện nay trong hoạt động tư duy của nhiều em là thiếu tính độc lập, các em chưa chú ý phát huy hết khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính hoặc thiên về tái hiện tư tưởng, cách luận chứng của người khác Vì sao có tình hình trên? Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã đi đến kết luận là: các nguyên nhân của tình hình trên một mặt có liên quan đến việc tổ chức giảng dạy

và mặt khác đến hoạt động đó Các tác giả Việt Nam cũng có những kết luận tương tự: “Sự kém sút của trẻ em ta về mức độ phổ cập các đặc điểm trí tuệ điển hình của từng lứa tuổi có thể khẳng định là do sự dạy học chưa tốt, chưa chú trọng đúng mức việc phát huy sự suy nghĩ tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và sự giáo dục chưa chú trọng đúng mức

Trang 34

việc xây dựng những phẩm chất giúp các em học tốt và phát triển trí thông minh” Do đó, phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên

Tóm lại: Hoạt động nhận thức của tuổi học sinh trung học phổ thông đã phát triển ở

mức độ cao, các em đã có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc hơn

Ở một số em khả năng nhận thức đã đạt tới đỉnh cao, hoạt động nhận thức của các em sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện của cá nhân

3.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH CHỦ YẾU

em vẫn tiếp tục chú ý đến hình dáng bên ngoài của mình Sự thay ñổi về hình thể bên ngoài là một yếu tố quan trọng của sự tự ý thức ở thanh niên mới lớn, điều đó cũng đã gây cho các em những cảm xúc lo âu

Sự tự ý thức của học sinh trung học phổ thông được biểu hiện ở nhu cầu tìm hiểu và

tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống Điều đó, khiến cho các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Sự tự ý thức của thanh niên được xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động Do địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên mới lớn phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình, tự đánh giá khả năng của mình (các em ghi nhật ký hay so sánh mình với nhân vật mà các em coi là tấm gương )

Nội dung của tự ý thức cũng khá phức tạp, các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình, mà các em còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Phạm vi của tự ý thức cũng được mở rộng, các phẩm chất bên trong đã được các em chú trọng hơn các phẩm chất bên ngoài Thanh niên không chỉ đánh giá những cử chỉ hành vi riêng lẻ, từng thuộc tính riêng biệt, mà biết đánh giá nhân cách của mình nói chung trong toàn bộ những thuộc tính nhân cách Các em ý thức rõ ràng về cá tính của mình, về những khác biệt của mình so với người khác Các em còn có thể hiểu rõ những phẩm chất phức tạp, biểu hiện mối quan hệ nhiều mặt của nhân cách như: tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng Thanh niên mới lớn không chỉ có nhu cầu đánh giá, mà còn có khả năng đánh giá sâu sắc hơn và tốt hơn thiếu niên về những phẩm chất, mặt mạnh, mặt yếu của chính mình và của người khác Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận rằng ở các em cũng có thể có sai lầm trong sự tự đánh giá Do sự phát triển về thể chất và sự tự ý thức phát triển nên ý thức làm người lớn ở thanh niên có sự thay đổi đặc biệt và mang tính độc đáo riêng Ý thức làm người lớn được thể hiện ở nhu cầu tự khẳng định mình Các em có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước

Trang 35

mọi người một cách độc đáo, các em tìm mọi cách để cho người khác phải quan tâm chú ý đến mình hoặc làm một điều gì đó để mình nổi bật trong nhóm đôi khi mang tính chất phô trương hình thức

Nhu cầu tự giáo dục thanh niên đang được phát triển mạnh Các em không chỉ hướng vào việc khắc phục một thiếu sót trong hành vi hay phát huy những mặt tốt nào đó, mà các

em đã chú ý hướng vào việc hoàn thiện toàn bộ những phẩm chất nhân cách nói chung cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, với quan điểm sống của các em

Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân mình một cách sâu sắc, nhưng đôi khi sự tự đánh giá của các em vẫn chưa đúng đắn Do vậy, các em vẫn cần có sự giúp đỡ hướng dẫn của người lớn Một mặt, người lớn phải chú ý lắng nghe ý kiến của các

em, mặt khác phải giúp các em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình, nhằm giúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản thân

3.3.2 Sự hình thành thế giới quan

Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý của thanh niên vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và qui tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người Thế giới quan của thanh niên đã được phát triển ở mức cao, nó mang tính khái quát sâu sắc và tính nhất quán Nhưng trong thế giới quan của các em vẫn còn nhiều mâu thuẫn Việc hình thành thế giới quan được dựa trên cơ sở những tri thức mà các em đã lĩnh hội được trong suốt thời gian học tập ở nhà trường phổ thông, học sinh đã lĩnh hội được những thói quen đạo đức, thấy được cái xấu cái đẹp, cái thiện cái ác dần dần ý thức và qui vào các hình thức, các tiêu chuẩn nguyên tắc hành vi xác định theo một hệ thống hoàn chỉnh Do trí tuệ của các em phát triển tương đối cao, đặc biệt là năng lực tư duy lý luận, tư duy trừu tượng nên các em không chỉ có hệ thống quan điểm về thế giới khách quan, mà các em còn xác định được thái độ của mình đối với thế giới nữa Tuổi thanh niên là thời kì thế giới quan được hình thành và mang tính hoàn thiện

Thế giới quan của thanh niên được biểu hiện ở tính tích cực nhận thức Các em đã có hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhất của vũ trụ, quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loài người Mặt khác, nó còn được thể hiện ở phạm vi nội dung của thế giới quan như các em quan tâm nhiều đến vấn đề quan

hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm Tuy vậy, một số thanh niên vẫn chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan Họ còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu của chế ñộ phong kiến như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thích có cuộc sống

xa hoa hưởng thụ hoặc sống thụ động

Thanh niên đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng đã gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày Lý tưởng của các em đã thể hiện

Trang 36

nguyện vọng được tham gia vào hoạt động xã hội, được tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Ở thanh niên có thể hiểu một cách sâu sắc và tinh tế những khái niệm, các

em biết xử sự một cách đúng đắn trong những điều kiện hoàn cảnh khác nhau, nhưng các

em lại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó Vì vậy, nhà giáo dục cần phải khéo léo tế nhị khi phê phán những hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho mình một hình ảnh lý tưởng đúng đắn để phấn đấu vươn lên

3.3.3 Giao tiếp và đời sống tình cảm của thanh niên

* Giao tiếp với người lớn

Quan hệ với bạn bè và cha mẹ Tình bạn là tình cảm quyến luyến quan trọng nhất ở đầu tuổi thanh niên và là giai đoạn tất yếu của quá trình cảm thông và hiểu biết lẫn nhau của con người Ở tuổi này quan hệ giao tiếp với những người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn chỉ chiếm một vị trí nhỏ bé Điều này chứng tỏ thanh niên khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống Cùng với sự trưởng thành về nhiều mặt, lòng khao khát này cũng ñược biểu hiện trong quan hệ của thanh niên ñối với cha mẹ, quan hệ phụ thuộc dựa dẫm vào cha mẹ dần dần được thay bằng quan hệ bình đẳng, tự lập Các em cũng thể hiện nhu cầu, thái độ khác nhau trong những mối quan hệ với người lớn

Thanh niên có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của thanh niên thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức và giá trị Vì vậy, nhiều bậc cha mẹ không thấy hết đặc điểm này của thanh niên mới lớn, nên ñã xảy ra những xung đột giữa con cái và cha mẹ, chứ hoàn toàn không phải sự “nổi loạn”, hay sự “xung đột giữa các thế hệ” là một đặc tính vốn có của tuổi thanh xuân, như một số nhà tâm lí học phương Tây quan niệm Nếu cha mẹ không cản trở sự hiện thực hóa những khát vọng bình đẳng, tự lập

đó thì, thông thường sự “xung đột giữa các thế hệ” không xảy ra

Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy thanh niên định hướng vào bạn bè cùng tuổi nhiều hơn rõ rệt so với định hướng vào cha mẹ trong những môi trường giao lưu tự do, trong hoàn cảnh rỗi rãi, tiêu khiển, trong việc định hướng nhu cầu, sở thích nghệ thuật Nhưng khi nói đến những giá trị đạo đức, thì ảnh hưởng của cha mẹ mạnh mẽ hơn và trong trường hợp có sự va chạm, thì thường là ảnh hưởng của bạn bè cùng tuổi được xem xét lại Cho nên, dù là ở tuổi thanh niên mối quan hệ qua lại giữa con cái và cha mẹ có trở nên phức tạp đến đâu, thì cái vốn tình cảm đã tích lũy được từ tuổi ấu thơ vẫn không bị biến mất ở thanh niên Chỉ có quan hệ phụ thuộc vào cha mẹ là được thay đổi dần dần cho bình đẳng hơn mà thôi

* Giao tiếp trong nhóm bạn

Ở tuổi này quan hệ với bạn bè được mở rộng và chiếm vị trí quan trọng hơn hẳn so với quan hệ với người lớn tuổi hơn hoặc ít tuổi hơn Điều này là do các em muốn có cuộc sống bình đẳng và tự lập trong cuộc sống chi phối Quan hệ với bạn bè là tình cảm quyến luyến quan trọng nhất ở tuổi đầu thanh niên và là giai đoạn tất yếu của quá trình thông cảm và hiểu biết lẫn nhau của con người Những công trình nghiên cứu xã hội học và tâm lí học hiện đại cho thấy rằng: sự giao lưu với các bạn bè cùng tuổi vẫn giữ một vai trò trọng yếu trong

Trang 37

ñời sống tình cảm của tuổi đầu thanh niên Ở tuổi này tình bạn với những người cùng tuổi có màu sắc xúc cảm đặc biệt, nó mang tính chất ổn định và sâu sắc

Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh mẽ Trong tập thể các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng “phân cực” - có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân

Tình bạn đối với thanh niên mới lớn có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì các em

có khát vọng tự khám phá bản thân mình, muốn tự kiểm tra bản thân mình Nhưng vì các em chưa có khả năng chuẩn y và hiện thực hóa các biểu tượng về bản thân mình trong hoạt động lao động thực tiễn “của người lớn” nên thanh niên muốn kiểm tra mình bằng cách so sánh với người khác, muốn nhận được ở họ sự đánh giá về mình Chính tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiệm, ước mơ, lí tưởng cho phép các

em học được cách nhận xét, đánh giá về mình

Nhu cầu tình bạn đã có từ tuổi thiếu niên và sớm hơn nữa, song nó thể hiện mạnh mẽ

và rõ rệt ở tuổi thanh niên Thiếu niên gắn bó với bạn chủ yếu bằng những hứng thú và hoạt động chung cùng nhau Tình bạn của thanh niên lại đưa sự tâm tình thân mật, tình cảm, tình cảm ấm áp, thái độ chân thành lên hàng đầu Do khả năng tự ý thức đã phát triển và do những mâu thuẫn vốn có của lứa tuổi, mà thanh niên mới lớn có nhu cầu chia sẻ những rung động của mình một cách gay gắt, các em luôn luôn muốn “dốc bầu tâm sự” với bè bạn Vì thế các em đã coi bạn như là một “cái Tôi thứ hai” (alter ego) của mình Nhu cầu này lần đầu tiên xuất hiện ở tuổi đầu thanh niên

Nhu cầu về tình bạn tâm tình tăng lên rõ rệt Các em rất thận trọng trong việc lựa chọn bạn và có yêu cầu cao hơn đối với tình bạn như: bạn bè phải chân thật, tin tưởng, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau, có nhu cầu sửa chữa khuyết điểm cho nhau Tình bạn của tuổi đầu thanh niên trở nên sâu sắc và bền vững hơn Trong tình bạn các em đã quan tâm tới những nét tính cách và bộ mặt tinh thần của bạn Tình bạn của các em rất trong sáng không mang tính ích kỷ vụ lợi Các em cũng ý thức được rằng có bạn ở bên cạnh sẽ giúp các em khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách và duy trì tình bạn lâu dài Nhưng tình bạn của các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều, nên thường có biểu hiện lý tưởng hóa tình bạn Có nghĩa là các em thường ñòi hỏi ở bạn mình phải có những cái mình muốn chứ không chú ý ñến khả năng thực tế của bạn

Các nhà tâm lí học đã nhận xét rằng, trong đa số trường hợp, thì học sinh lớp trên cũng như những người thuộc các lứa tuổi khác đều thích kết bạn với những người cùng tuổi thuộc giới mình nhiều hơn Do nhu cầu giao tiếp với bạn bè mở rộng và ảnh hưởng của nhóm bạn đến các em cũng rất lớn Nên trong công tác giáo dục cần phải chú ý tới ảnh hưởng của nhóm bạn đến các em, đặc biệt là nhóm bạn tự phát ngoài trường, để kịp thời ngăn chặn những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến các em Nhà giáo dục cần tổ chức các hoạt động của nhóm cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em nhằm thu hút các em tham gia một cách tích cực Trong đó vai trò của đoàn thanh niên có vị trí rất lớn

Trang 38

* Giao tiếp với bạn khác giới

Ở tuổi học sinh phổ thông trung học đã xuất hiện một loại tình cảm đặc biệt - tình yêu nam nữ Đây là một trạng thái tình cảm hoàn toàn mới mẻ trong đời sống tình cảm của thanh niên, mà ở thiếu niên chưa có Thực ra, ở thiếu niên đã xuất hiện sự quan tâm đến bạn khác giới, sự hấp dẫn đến say đắm, nhưng tình yêu thực sự, mạnh mẽ và sâu sắc thì chỉ xuất hiện ở đầu tuổi thanh niên

Tình yêu của thanh niên mới lớn còn được gọi là “tình yêu đương bạn bè”, bởi vì các

em thường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn, nên đôi khi các em cũng không phân biệt được đó là tình bạn hay tình yêu Do vậy, mà thanh niên mới lớn chưa nên đặt vấn dề yêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập của các em

Tình yêu nam nữ ở tuổi thanh niên là sự kết hợp hữu cơ hứng thú tính dục cảm tính với nhu cầu về sự ấm áp của cơ thể, về sự thân thiết, gần gũi của tâm hồn với người khác và nhu cầu muốn có “sự đại diện của mình” trong một người khác giới Nhưng sự hợp nhất hai loại hứng thú này là một quá trình hết sức phức tạp Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng, đối với em trai thì những hứng thú và say mê tình dục sớm hơn và chỉ sau đó mới xuất hiện khả năng kết hợp chúng với sự giao cảm sâu sắc, còn ở các em gái thì ngược lại, nhu cầu về

sự thân mật, ngọt ngào, cảm xúc nồng nàn được bộc lộ, mạnh hơn và được thức tỉnh sớm hơn những hứng thú tình dục cảm tính Ở nam giới độ kích thích tình dục xuất hiện ở độ tuổi 16-19 trong khi đó ở nữ giới lại xuất hiện chậm hơn nhiều mặc dù tuổi dậy thì ở nữ lại đến sớm hơn

Tình yêu của nam nữ thanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì sự thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị chối từ, hoặc đã bị chối từ, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương Cần thấy rằng đây là bắt đầu một giai đoạn bình thường và tất yếu trong sự phát triển của con người Tình yêu ở lứa tuổi thanh niên về cơ bản là tình cảm lành mạnh, trong trắng Bất luận trong trường hợp nào đều không được can thiệp một cách thô bạo vào thế giới tình cảm thiêng liêng này, không được phỉ báng chế nhạo, bất bình với sự xuất hiện

nó Cần phải có một thái độ trân trọng và tế nhị, đồng thời cũng không được thờ ơ, lãnh đạm Trình độ đạo đức của cá nhân học sinh sẽ quyết định tính chất và hậu quả của tình yêu Trong nhiều trường hợp, tình yêu lại ảnh hưởng tốt đến nam, nữ thanh niên, tạo ra ở các em nguyện vọng khắc phục khuyết điểm, hình thành những phẩm chất tốt đẹp, giúp các em ñấu tranh với những khó khăn ñể vươn lên trong học tập Trong trường hợp này giáo viên phải quý trọng và giữ gìn cho nó trong sáng mãi Cũng có trường hợp tình yêu phát triển không bình thường (không được đáp lại, mang tính chất không lành mạnh ), làm cản trở việc học tập, sao nhãng công việc chung, làm cho học sinh bị kích thích quá mức hoặc quá phân tán Khi đó giáo viên cần phải hướng các em tham gia vào hoạt động chung của tập thể nhằm hướng học sinh vào những hứng thú, say mê khác Ở lứa tuổi này nếu các em có những quan hệ không lành mạnh thì nhà giáo dục cần phải có những biện pháp nghiêm khắc và cứng rắn đối với những trường hợp đó để tránh tác hại của tấm gương xấu cho tập thể học sinh

Nhìn chung tình yêu của thanh niên mới lớn là một vấn đề khá phức tạp, nó đòi hỏi sự

Trang 39

khéo léo tế nhị của nhà giáo dục Một mặt, nhà giáo dục phải làm cho các em hiểu và có thái độ đúng đắn trong quan hệ tình cảm với bạn khác giới, phải làm cho các em biết kìm chế những cảm xúc của bản thân Mặt khác, nhà giáo dục cần phải nghiên cứu từng trường hợp cụ thể để đưa ra cách giải quyết thích hợp, tránh sự can thiệp một cách thô bạo hay sự ngăn cấm độc đoán Ví dụ như: Một số giáo viên lo ngại tức giận, họ cho rằng tình cảm này

là “sự đam mê có hại”, “phải chấm dứt tai họa”, nên “phải đình chỉ mọi quan hệ không được phép”

* Đời sống tình cảm của học sinh trung học phổ thông

Đời sống tình cảm của tuổi đầu thanh niên rất đa dạng phong phú, mang tính sâu sắc

và bền vững hơn so với tuổi thiếu niên, là do nó được xây dựng trên cơ sở nhận thức đầy đủ

và rõ ràng hơn Nó được gắn với thế giới quan, lý tưởng và xu hướng nghề nghiệp, đồng thời

có sự đối chiếu với những nhu cầu đạo đức xã hội

Học sinh trung học phổ thông là những người thuộc tuổi đầu tuổi thanh niên (16-18 tuổi) lứa tuổi có nhiều ñổi mới trong quá trình phát triển và xã hội hóa các xúc cảm Nội dung, chất lượng của các rung động, thể nghiệm trở nên đa dạng và phong phú hơn nhiều, phạm vi đối tượng gây nên các cảm xúc được mở rộng rõ rệt, xúc cảm được phân hóa rõ rệt Khả năng tự kiểm soát và tự điều chỉnh xúc cảm và hành vi của học sinh cũng được hình thành

Sự nhạy cảm, với các ấn tượng mới của đời sống và tính cởi mở được biểu hiện ở chỗ: các

em bắt đầu có những rung động sâu sắc đối với các quan hệ qua lại trong gia đình, trong sinh hoạt, trong nhà trường Đặc biệt lứa tuổi này rất nhạy cảm với những rung động của người khác Những rung động của các nhân vật văn học và cái đẹp trong nghệ thuật cũng gây ra cho các em một sự đáp ứng xúc cảm mạnh mẽ

Tuổi đầu thanh niên có nhu cầu muốn hiểu, muốn phân tích những tình cảm của mình và tìm cách thể hiện những tình cảm đó Khác với lứa tuổi trước, các em ở lứa tuổi này thường có sự ñấu tranh mạnh mẽ giữa những tình cảm trái ngược nhau, giữa lý trí và tình cảm trong đời sống nội tâm của các em Các em đã có khả năng kìm chế và che giấu tình cảm của mình nhiều hơn tuổi thiếu niên

Tình cảm cao cấp ở lứa tuổi này phát triển mạnh Tình cảm xã hội lành mạnh, lớn lao

đã bao trùm lên những tình cảm gia đình, cá nhân và chi phối những tình cảm đó Cùng với sự phát triển của ý thức đạo đức, các tình cảm đạo đức được hình thành và phát triển Đây là thời kì hình thành tình cảm đạo đức tích cực nhất Thế giới tình cảm của tuổi thanh niên vô cùng đa dạng và nhiều mặt

Tình cảm diễn ra ở người này và người kia rất khác nhau Có sự khác nhau đó là do xu hướng, độ sâu, tính ổn đ ịnh và tính hiệu lực của tình cảm ở mỗi người không giống nhau

Xu hướng của tình cảm giữ vai trò rất quan trọng, nó quyết định thái độ của chúng ta đối với các đối tượng xung quanh chúng ta Có những người dễ dàng vui sướng hoặc đau buồn

vì những cái nhỏ nhặt Thông thường thì đó là những người nông nổi, hời hợt Xu hướng của tình cảm phụ thuộc vào tính nguyên tắc của con người, vào thế giới quan, niềm tin của

họ Tình cảm có tính chất nguyên tắc được dựa trên cơ sở của thế giới quan và niềm tin sẽ giúp con người trở nên sáng suốt, không bị mù quáng

Trang 40

Các nhà tâm lí học đã phân chia các loại người theo các đặc điểm cảm xúc của họ như sau: loại người dễ cảm xúc, loại người đa cảm, loại người nồng nhiệt, loại người lạnh lùng Trong thực tế có những con người mà ta không thể xếp họ vào một loại nào đó trong số bốn loại trên, nhưng họ lại có nét độc đáo trong lĩnh vực cảm xúc Nét độc đáo này tuy không nằm trong quy mô của nhân cách nói chung, nhưng lại là những đặc điểm có trọng lượng và

có ý nghĩa Đó là tính vị tha, tính hiền hậu, hoặc tính ích kỉ, tính kiêu ngạo, nhẫn tâm độc ác Những phẩm chất tốt đẹp của tình cảm không phải tự nhiên mà có được ở mỗi cá nhân Chúng được hình thành do sự giáo dục và tự giáo dục Sự phát triển tình cảm của học sinh diễn ra theo nhiều mức độ khác nhau Trong điều kiện của xã hội hiện đại, có rất nhiều yếu

tố của môi trường xã hội và môi trường vật lí gây tác động xấu đến đời sống tình cảm của con người làm nảy sinh trạng thái căng thẳng (stress) Ngày nay đã có nhiều sách báo khoa học hướng dẫn các biện pháp điều khiển và điều chỉnh trạng thái căng thẳng của cảm xúc,

ví dụ phương pháp thư giãn cơ bắp, thư giãn tâm lí, phương pháp luyện tập dưỡng sinh, mà

cơ sở của chúng là sự kết hợp trùng giãn cơ bắp với tự ám thị

3.4 HOẠT ĐỘNG LAO ĐỘNG VÀ SỰ LỰA CHỌN NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH THPT

Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy Các em hiểu rằng: cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em Càng ở cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, mặc dù sự hiểu biết về yêu cầu của nghề nghiệp vẫn chưa đầy đủ Tuy vậy, sự hiểu biết về yêu cầu nghề nghiệp ở các em còn phiến diện chưa đầy đủ nên đại đa số các em chỉ hướng thi vào trường đại học hơn là học nghề Tâm thế chuẩn bị bước vào đại học như thế sẽ dễ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các em, nếu như dự định của các

em không thực hiện được Điều đó cho thấy thanh niên vẫn chưa chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với các loại ngành nghề khác nhau Vì vậy, công tác hướng nghiệp cho học sinh đầu tuổi thanh niên có ý nghĩa rất quan trọng Qua đó giúp cho học sinh lựa chọn nghề nghiệp sao cho phù hợp với hứng thú, năng lực và phù hợp với yêu cầu xã hội

3.5 MỘT SỐ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC HỌC SINH THPT

Học sinh trung học phổ thông được sinh ra trong một môi trường xã hội có nhiều thuận lợi, do đó ở các em cũng có những ưu điểm và nhược điểm mà trong công tác giáo dục cần lưu ý:

+ Ở một số thanh niên tình cảm cách mạng và ý chí phấn đấu còn yếu, trình đ ộ giác ngộ về xã hội còn thấp Các em có thái độ coi thường lao động chân tay, thích sống cuộc sống xa hoa lãng phí, đua đòi ăn chơi

+ Thanh niên là lứa tuổi mộng mơ, khát khao sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp

Ngày đăng: 10/08/2017, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Nguyễn Kế Hào (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn (2004), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào (chủ biên), Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2004
[2]. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1997), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 1997
[3]. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan (1999), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[4]. Dương Thị Diệu Hoa (2012), Tâm lý học phát triển, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Dương Thị Diệu Hoa
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2012
[5]. Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Nhân Ái, Bùi Thị Huyền (2005), Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm”, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ câu hỏi ôn tập và đánh giá kết quả học tập môn Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Phan Trọng Ngọ (chủ biên), Dương Diệu Hoa, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Nhân Ái, Bùi Thị Huyền
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w